1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của thảo quả trong sinh kế và kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số huyện xín mần, tỉnh hà giang

77 184 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, cây thảo quả của huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang đã trở thành cây trồng có giá trị kinh tế cao, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh; từ việc

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Giảng viên hướng dẫn : PGS TS Dương Văn Sơn

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đề tài luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức và bậc đào tạo nào Mọi sự giúp

đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

Hạng Thanh Tùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ

nhiệm khoa Kinh tế & PTNT em đã tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu “Vai trò

của thảo quả trong sinh kế và kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang”

Vì đề tài còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý và phê bình từ quý thầy cô giáo, các bạn sinh viên để đề tài của em được hoàn thiện hơn

Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy, cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói chung, thầy cô giáo khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn nói riêng đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức cơ sở lý luận rất quý giá giúp cho em nâng cao được nhận thức trong quá trình thực tập cũng như quá trình nghiên cứu

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn tới thầy giáo PGS.TS Dương Văn Sơn đã

tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, dìu dắt em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành

đề tài này

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn các bác, cô, chú, anh chị ở UBND huyện Xín Mần và bà con trong huyện đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu và áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng 10 năm 2017

Tác giả

Hạng Thanh Tùng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Ý nghĩa của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 3

1.1.1 Cây thảo quả và ý nghĩa của phát triển cây thảo quả 3

1.1.2 Một số khái niệm về sinh kế, hộ nông dân và kinh tế nông hộ 5

1.1.3 Phân loại hộ nông dân 9

1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của thảo quả trong sinh kế và kinh tế nông hộ 10

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 13

1.2.1 Tình hình phát triển và vai trò thảo quả trên thế giới 13

1.2.3 Tình hình phát triển và vai trò thảo quả ở tỉnh Hà Giang 18

1.3 Xu hướng phát triển kinh tế nông hộ và những bài học kinh nghiệm rút ra 20

1.3.1 Xu hướng phát triển trong kinh tế nông hộ 20

1.3.2.Những bài học kinh nghiệm rút ra đối với phát triển thảo quả trong kinh tế nông hộ ở Việt Nam nói chung và huyện Xín Mần nói riêng 20

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23

Trang 6

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 23

2.1.2.Về thời gian 23

2.2 Nội dung nghiên cứu 23

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Xín Mần 23

2.2.3 Thực trạng sản xuất thảo quả của hộ đồng bào tại huyện Xín Mần 23

2.2.4 Những khó khăn và thách thức trong phát triển thảo quả tại huyện Xín Mần 24

2.2.5 Giải pháp phát triển cây thảo quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Xín Mần 24

2.3 Phương pháp nghiên cứu 24

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 24

2.3.2 Phương pháp phân tích, xử lý thông tin số liệu 25

2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 27

2.4.1 Một số chỉ tiêu phản ánh về thông tin chủ hộ 27

2.4.2 Chỉ tiêu phản ánh phát triển sản xuất cây thảo quả 27

2.4.3 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất cây thảo quả 27

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang 28

3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 28

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 30

3.2 Thực trạng sản xuất thảo quả của hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại địa bàn huyện Xín Mần 34

3.2.1 Tình hình sản xuất thảo quả tại huyện Xín Mần 34

3.2.2 Thông tin cơ bản của hộ trồng thảo quả 36

3.2.3 Vai trò của thảo quả trong sinh kế nông hộ 38

3.3 Những khó khăn và thách thức trong phát triển thảo quả tại địa bàn huyện Xín Mần 52

3.3.1 Khó khăn 52

3.3.2 Thách thức 52

3.3.3 Phân tích SWOT 53

Trang 7

3.4 Định hướng và một số giải pháp phát triển thảo quả, góp phần phát triển kinh tế

nông hộ trên địa bàn huyện Xín Mần 54

3.4.1 Định hướng phát triển thảo quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông hộ trên địa bàn huyện Xín Mần 54

3.4.2 Một số giải pháp phát triển thảo quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông hộ trên địa bàn huyện Xín Mần 56

3.4.3 Giải pháp cụ thể đối với từng nhóm hộ trồng thảo quả 58

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60

1 Kết luận 60

2 Kiến nghị 61

2.1 Đối với nhà nước 61

2.2 Đối với địa phương 61

2.3 Đối với hộ nông dân 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNH : Công nghiệp hóa

CN-TTCN : Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

GAP : Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt

GACP : Các nguyên tắc, tiêu chuẩn thực hiện tốt trồng trọt và thu hái thảo quả theo khuyến cáo của tổ chức y tế thế giới

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Địa điểm điều tra phân theo nghề nghiệp 24

Bảng 3.1: Tình hình sản xuất cây thảo quả của huyện Xín Mần qua 3 năm 2014 – 2016 36

Bảng 3.2: Thông tin chung hộ trồng thảo quả phân theo kinh tế hộ 37

Bảng 3.3: Số hộ trồng và diện tích cây trồng phân theo kinh tế hộ 38

Bảng 3.4: Giá trị sản xuất một số cây trồng phân theo kinh tế hộ 40

Bảng 3.5: Số hộ trồng và diện tích cây thảo quả phân theo dân tộc và nhóm hộ 41

Bảng 3.6: Diện tích trồng thảo quả phân theo kinh tế hộ 42

Bảng 3.7: Chi phí cho 1 ha trồng thảo quả 43

Bảng 3.8: Sản lượng thảo quả đã bán năm 2016 phân theo kinh tế hộ 45

Bảng 3.9: Sản lượng thảo quả bán năm 2016 phân theo dân tộc và nhóm hộ 46

Bảng 3.10: Thu nhập từ thảo quả bán năm 2016 phân theo kinh tế hộ 47

Bảng 3.11: Một số thông tin về giá cả và thu gom thảo quả 49

Bảng 3.12: Phân tích SWOT 53

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài

Là tỉnh vùng cao biên giới nằm ở cực Bắc của Tổ quốc, Hà Giang có nhiều yếu tố phù hợp về khí hậu, thổ nhưỡng để trồng các loài cây dược liệu có giá trị kinh tế cao Trong giai đoạn 2015-2020, tỉnh Hà Giang đang tập trung đẩy nhanh tiến độ triển khai phát triển cây dược liệu gắn với xóa đói giảm nghèo tại các huyện nghèo 30a

Xín Mần hiện là một trong những huyện được lãnh đạo chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm đến phát triển kinh tế cũng như an ninh, văn hóa, xã hội Đảm bảo các lợi ích kinh tế cho người dân kết hợp với phát triển văn hóa ổn định cho

sự phát triển của toàn tỉnh Hà Giang nói chung và huyện Xín Mần nói riêng

Trong những năm gần đây, cây thảo quả của huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang

đã trở thành cây trồng có giá trị kinh tế cao, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh; từ việc trồng, chăm sóc, thu hoạch, đã tạo ra nhiều việc làm có thu nhập ổn định, góp phần xóa đói giảm nghèo cho một bộ phận nông dân

Văn Sơn, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: "Vai trò của thảo quả trong sinh kế và

kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang"

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hoá một số cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của thảo quả trong

sinh kế và kinh tế nông hộ

Trang 11

- Đánh giá vai trò của cây thảo quả trong sinh kế và kinh tế nông hộ, sự đóng

góp của thảo quả trong kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại địa bàn nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng sản xuất thảo quả trên địa bàn nghiên cứu

- Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển thảo quả tại địa bàn nghiên cứu

- Đề xuất giải pháp phát triển thảo quả theo hướng bền vững, góp phần phát

triển kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn nghiên cứu

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Cập nhật và hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn vai trò của thảo quả trong sinh kế và kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao

3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

- Giải pháp phát triển thảo quả một cách bền vững, góp phần phát triển kinh

tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang Tác giả hy vọng rằng những giải pháp được đề xuất trong luận văn này sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị đối với chính quyền địa phương huyện Xín Mần và các địa phương khác có điều kiện tương tự có thể tham khảo và vận dụng vào điều kiện thực tế của địa phương nhằm phát triển kinh tế nông hộ

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Cây thảo quả và ý nghĩa của phát triển cây thảo quả

1.1.1.1 Đặc điểm sinh vật học của cây thảo quả

Thảo quả còn có tên là Đò Ho, thảo đậu khấu, thường được người dân tộc dùng làm thuốc chữa đau bụng, giải độc,…

Thảo quả tên khoa học là Amomum aromaticum Roxb, thuộc họ Thảo quả

(Zingiberaceae) Thảo quả là cây thân thảo sống lâu năm, mọc thành bụi cao 2 – 3 mét, thân ngầm, mọc ngang, có nhiều đốt, đường kính cây to từ 2,5 – 4 cm Lá màu xanh nhạt mọc so le, có cuống hoặc không, không có lá kèm, bẹ lá dài có khía dọc

ôm lấy thân, phiến lá dài 30- 70 cm

Cụm hoa dạng bông mọc từ gốc, dài 12 – 20 cm, đường kính có thể tới 10cm, cuống cụm hoa dài 2- 4cm, đường kính 1,5- 2cm, đỏ, được phủ bởi nhiều bẹ hình bầu dục, nâu, xếp thành 2 dãy Hoa màu vàng, dài 4- 6cm, rộng 3- 4cm

Quả tròn hơi dài hình trứng, màu đỏ sẫm, đường kính quả 2 – 3 cm, chia thành 3 ngăn, mỗi ngăn có khoảng 15 hạt Hạt có áo hạt và có mùi thơm, hình tháp đẹp.[2]

1.1.1.2 Đặc điểm sinh thái học của cây thảo quả

Thảo quả là cây ưa ẩm, mát chỉ có thể sinh trưởng và phát triển tốt dưới tán rừng có độ tán che 0,4 - 0,7; ở độ cao từ 1300 - 2200m so với mực nước biển, nơi thường xuyên có mây mù, ẩm ướt, mát với nhiệt độ trung bình khoảng 150C, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất khoảng 90C và nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là

200C Lượng mưa trung bình năm trên 1800mm, độ ẩm không khí trong rừng trên 90% Đất ferralit mùn trên núi cao, tầng đất mặt có mầu xám đen, hàm lượng mùn trên 7%, thành phần cơ giới trung bình, tơi xốp, độ ẩm cao, chủ yếu (pH từ 4,2 - 5,3) Thảo quả đặc biệt thích hợp khi sống dưới tán rừng trồng, rừng tự nhiên, có

Trang 13

nhiều cây lá rộng, thường xanh che bóng, chiều cao vút ngọn trên 12m, chiều cao dưới cành trung bình trên 8m.[11]

1.1.1.3 Phân bố địa lý

Thảo quả có nguồn gốc ở vùng cận Himalaya, phân bố ở Đông bắc Ấn Độ, Nepal, Tây nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam là các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu… Ngoài ra thảo quả mọc tự nhiên phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như vùng Đông Nam Á, Malaysia, Australia…

Ở Việt Nam, Thảo quả phân bố ở các huyện vùng cao thuộc các tỉnh phía Bắc như huyện Bát Xát, Sa Pa, Văn Bàn, Bảo Thắng – Lào Cai; huyện Mù Cang Chải – Yên Bái; huyện Hoàng Su Phì, Quản Bạ, Xín Mần - Hà Giang; huyện Tuần Giáo – Điện Biên; huyện Phong Thổ, Tam Đường, Than Uyên – Lai Châu,…[12]

1.1.1.4 Giá trị sử dụng

Hạt thảo quả có hàm lượng tinh dầu 1 – 1,5% có mùi thơm, vị nóng cay, dùng làm gia vị ăn liền với thịt cá Ngoài ra nó còn được dùng trong sản xuất bánh kẹo Thảo quả là một loại dược liệu để chữa bệnh đau bụng, đầy chướng, đau ngực, tiêu chảy, nách to và bệnh sốt rét Nó cũng dùng để chữa ho, hôi miệng, đau răng, viêm lợi,…

Thảo quả được sử dụng nhiều trong nước và xuất khẩu Ở nước ta hàng năm sản xuất được trên 300 tấn thảo quả khô, riêng tỉnh Lào Cai đã sản xuất được trên

200 tấn thảo quả khô/năm

Trồng thảo quả dưới tán rừng sau 4- 5 năm cho năng suất ước đạt 200- 350kg quả khô/ha Năm 2015 giá 1 kg Thảo quả khô giao động từ 100.000 – 120.000 đ Thảo quả là cây trồng lâu năm, nếu chăm sóc, bón phân đúng quy trình kỹ thuật thời gian thu hoạch có thể đạt 35- 40 năm Thị trường thảo quả rất lớn, sản phẩm dễ bán, giá tương đối ổn định

Do đó cây thảo quả được coi là cây xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái, là cây trồng thay thế cây thuốc phiện có hiệu quả nhất của đồng bào dân tộc miền núi vì ngoài giá trị kinh tế ra, muốn trồng được thảo quả thì người dân phải giữ lấy rừng.[13]

Trang 14

1.1.1.5 Ý nghĩa của việc sản xuất cây thảo quả

Vị trí cây thảo quả trong phát triển kinh tế - xã hội

- Thảo quả là một loại sản phẩm lâm sản ngoài gỗ làm gia vị được ưa chuộng

và sử dụng phổ biến ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới Sản xuất kinh doanh thảo quả có vị trí quang trọng góp phần cải thiện sinh kế vùng cao Sản xuất thảo quả có thể coi là một nghề truyền thống của một số đồng bào dân tộc vùng miền núi phía Bắc, đặc biệt là vùng Tây Bắc

- Thảo quả là cây trồng quan trọng ở vùng cao Theo thống kê chưa đầy đủ, đến năm 2015, tổng diện tích rừng có trồng thảo quả tại Việt Nam là trên 22.000 ha Trong đó trồng nhiều nhất là tỉnh Lào Cai với diện tích trên 8.000 ha, diện tích còn lại là các tỉnh khác Thảo quả là cây có giá trị kinh tế cao, phù hợp với kinh tế vùng cao, vùng sâu vùng xa Phát triển cây Thảo quả hợp lý, bền vững sẽ tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc nâng cao đời sống, góp phần xóa đói giảm nghèo Nhu cầu thị trường của cây thảo quả là rất lớn, hàng năm sản lượng thảo quả xuất khẩu khoảng 3.000 tấn sang Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, với giá trị xuất khẩu khoảng trên 30 triệu đô la.[16]

Đặc điểm kỹ thuật sản xuất thảo quả

Thảo quả là loài cây ưa bóng, ưa ẩm,kém chịu nóng, chịu được khí hậu lạnh Điểm đặc biệt của cây thảo quả là chỉ phát triển bình thường và cho ra quả nếu được trồng dưới những tán cây lớn trong rừng nguyên sinh ở một số huyện vùng cao như tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang, Yên Bái, Sơn La nơi có độ tán che 30 - 50%, ở độ cao 1.000 – 2.0000 m, nhiệt độ bình quân 170C - 210C, lượng mưa trên 2.000 mm/năm Mùa hoa bắt đầu từ tháng 2 – 4, quả chín vào tháng 10 – 11 Mỗi chùm quả

có từ 10 – 20 quả Thảo quả sau khi trồng đến năm thứ 3, thứ 4 bắt đầu ra hoa kết quả

Hiện nay cây thảo quả được gây trồng nhiều các tỉnh vùng Tây Bắc Đây là một nguồn thu nhập đáng kể của bà con dân tộc bản địa miền núi, thảo quả là loài cây dễ trồng và chăm sóc nên phù hợp với trình độ canh tác của bà con dân tộc.[13]

1.1.2 Một số khái niệm về sinh kế, hộ nông dân và kinh tế nông hộ

Khái niệm sinh kế

Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm phát triển vào những năm đầu 1990 Tác giả Chambers và Conway (1992)[23] định

Trang 15

nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực

và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ Ba khía cạnh tài sản

là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội Sinh kế bền vững khi

nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào

và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai [9]

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sinh kế Theo một số tác giả, sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (gồm các nguồn lực vật chất và xã hội như: cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, nước mặt, đường xá,…) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện để kiếm sống của con người

Sinh kế của nông hộ là hoạt động kiếm sống của con người, được thể hiện qua hai lĩnh vực chính là nông nghiệp và phi nông nghiệp

Hoạt động nông nghiệp bao gồm: (1) Trồng trọt: Lúa, ngô, khoai, sắn, lạc, cây ăn quả, rau màu,…, (2) Chăn nuôi: Lợn, gà, trâu, bò, cá,…, và (3) Lâm nghiệp: Trồng cây keo, bạch đàn, mỡ, rừng,…

Hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu bao gồm các dịch vụ, buôn bán, làm thuê và các ngành nghề khác Như vậy, trong phạm vi luận văn này, sinh

kế của người dân nông thôn được hiểu là các hoạt động sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp để nuôi sống cho chính gia đình họ

Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai Trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng

và mang lại những điều tố đẹp cho tương lai Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này, phải hội đủ những nguyên tắc sau: Lấy con người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của người dân, xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, tổng thể, thực hiện ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác, bền vững và năng động.[9]

Trang 16

Về cơ bản, các loại vốn sinh kế có 5 loại cơ bản là: vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội, vốn con người và vốn tự nhiên Sinh kế bền vững của đồng bào dân tộc thiểu số là sinh kế có thể đương đầu với khủng hoảng và phục hồi sau khủng hoảng, duy trì hoặc nâng cao năng lực, tài sản và cung cấp những cơ hội sinh kế bền vững cho những thế hệ tương lai của họ và đóng góp lợi ích lâu dài cho những nghề nghiệp khác ở các cấp địa phương, quốc gia trong một thời gian ngắn và dài hạn Như vậy, phương pháp tiếp cận sinh kế là một trong các phương pháp tiếp cận mới trong phát triển nông thôn nhằm không chỉ nâng cao mọi mặt đời sống của hộ gia đình mà còn phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững và hiệu quả Ta thấy sinh kế bao gồm toàn bộ những hoạt động của con người để đạt được mục tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có của con người như các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, trình độ phát triển của khoa học công nghệ.[10]

Khái niệm hộ

- Trong từ điển ngôn ngữ Mỹ (Oxford Press-1987) “Hộ là tất cả những người sống chung một mái nhà Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm ăn chung” [23]

- Theo liên hợp quốc: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”[10]

- Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế [9]

- Các nhà kinh tế ở Việt Nam định nghĩa: “Hộ là một nhóm người có cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc, cùng sống chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm, cùng tiến hành sản xuất chung và có chung một ngân quỹ…”[9]

Trên mỗi góc độ khác nhau thì có những quan điểm khác nhau về hộ, tuy nhiên có thể kết luận hộ có chung các đặc điểm sau:

- Là tập hợp những người cùng huyết thống, và một số người không cùng huyết thống, sống chung trong một mái nhà

- Cùng tiến hành sản xuất chung, có nguồn lao động, có vốn và kế

hoạch sản xuất kinh doanh chung

Trang 17

- Có ngân quỹ chung và được phân phối theo lợi ích thỏa thuận của các thành viên trong gia đình

- Là một đơn vị cơ bản của xã hội

• Khái niệm hộ nông dân

- Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất [9]

- Hộ nông dân vừa là đơn vị sản xuất cơ bản, vừa là người sản xuất vừa là người tiêu dùng nông sản [9]

- Nguyễn Sinh Cúc (2001) định nghĩa: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn

bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc tham gia gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp và thông qua nguồn sống chính của họ dựa vào nông nghiệp”[7]

Từ những khái niệm tiêu biểu trên, có thể kết luận được rằng:

- Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính

là nông nghiệp Ngoài ra còn có các hoạt động phi nông nghiệp như tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại…

- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở

Ngày nay, trong giai đoạn CNH-HĐH, thị trường ngày càng mở rộng, các hộ nông dân phụ thuộc nhiều và hệ thống kinh tế thế giới chứ không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước

• Khái niệm kinh tế nông hộ

Theo Đỗ Trung Hiếu thì: “Kinh tế nông hộ là đơn vị khai thác kinh doanh nông nghiệp của những người cùng chung sống chung một mái nhà Người chủ sản xuất là trưởng giả, là chủ hộ cùng những nhân thân sử dụng tổng hợp những yếu tố lao động, đất, vốn, phương tiện sản xuất tác động vào môi trường sinh thái ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống vật chất của gia đình và cộng đồng”[9]

Theo Nguyễn Văn Huân thì: “Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế

cơ bản tự chủ trong nông- lâm nghiệp được hình thành và tồn tại trên cơ sở sử dụng đất đai, sức lao động, tiền vốn…, của gia đình mình là chính”[10]

Trang 18

Kinh tế nông hộ có vai trò rất quan trọng trong việc ổn định và phát triển kinh tế- xã hội Phát triển kinh tế nông hộ gắn liền với phát triển nông htoon bền vững tức là phát triển theo hướng CNH-HĐH đất nước, giữ vững hiệu quả kinh tế,

xã hội và môi trường dựa theo cơ chế thị trường và có sự quản lý của nhà nước nước nhằm đảm bảo được nhu cầu hiện tại nhưng không làm giảm khả năng đáp ứng trong tương lai

1.1.3 Phân loại hộ nông dân

1.1.3.1 Phân loại theo mức thu nhập của hộ

- Quyết định số 59/2015/QĐ-TTG ngày 19/11/2015 của thủ tướng Chính phủ: Về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020

+ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 700.000đ/người/tháng trở xuống

+ Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 1.000.000đ /người/tháng

+ Hộ trung bình ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 1.000.000đ đến 1.500.000 đồng/người/tháng

+ Hộ khá giàu ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân cao hơn 1.500.000 đồng/người/tháng.[6]

1.1.3.2 Theo hình thức tổ chức quản lý

Nông hộ gia đình: Là loại hình thức phổ biến nhất cả nước Đó là kiểu nông

hộ sản xuất kinh doanh do người chủ hộ hay một người thay mặt gia đình đứng lên quản lý Thông thường, mỗi nông hộ là của một hộ gia đình, nhưng có nơi quan hệ huyết thống còn đậm nét thì vài gia đình cùng quản lý kinh doanh một cơ sở

Nông hộ liên doanh: Do 2-3 nông hộ gia đình hợp thành một nông họ lớn,tuy nhiên mỗi nông hộ thành viên vẫn có quyền tử chủ điều hành sản xuất

Đối tượng liên doanh thường là anh em, họ hàng hay bạn bè thân thiết

Nông hộ hợp doanh: Tổ chức theo nguyên rắc công ty cổ phần hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản Loại nông hộ này thường

có quy mô lớn, thực hiện chuyên môn hóa sản xuất, sử dụng lao động làm thuê là

Trang 19

chủ yếu Bao gồm hai loại: Nông hộ hợp doanh gia đình và nông hộ hợp doanh phi gia đình.[10]

1.1.3.3 Phân loại theo hình thức sở hữu tư liệu sản xuất

Chủ nông hộ cũng là chủ của toàn bộ tư liệu sản xuất từ đất đai, công cụ máy móc đến chuồng trại, kho bãi, nói cách khác tất cả tài sản đó đều thuộc quyền sở hữu của chủ hộ

Chủ nông hộ chỉ sở hữu một phần tư liệu sản xuất, một phần phải đi thuê, mượn của hộ khác để phục vụ sản xuất của hộ

Chủ nông hộ hoàn toàn không có tư liệu sản xuất mà phải đi thuê, mượn tư liệu sản xuất của hộ khác hoặc của Nhà nước để sản xuất.[10]

1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của thảo quả trong sinh kế và kinh tế nông hộ

1.1.4.1.Nhóm yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý và đất đai:

Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và sự phát triển của kinh tế hộ nông dân Những hộ nông dân có vị trí thuận lợi như: gần đường giao thông, gần các cơ sở chế biến nông sản, gần thị trường tiêu thụ sản phẩm, gần trung tâm các khu công nghiệp, đô thị lớn, sẽ có điều kiện phát triển kinh tế

Sản xuất chủ yếu của hộ nông dân là nông nghiệp Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế trong quá trình sản xuất Do vậy quy mô đất đai, địa hình và tính chất nông hoá thổ nhưỡng có liên quan mật thiết tới từng loại nông sản phẩm, tới số lượng và chất lượng sản phẩm, tới giá trị sản phẩm và lợi nhuận thu được

Khí hậu thời tiết và môi trường sinh thái: Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Điều kiện thời tiết, khí hậu, lượng mưa, độ ẩm, nhiệt

độ, ánh sáng, có mối quan hệ chặt chẽ đến sự hình thành và sử dụng các loại đất Thực tế cho thấy ở những nơi thời tiết khí hậu thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi sẽ hạn chế những bất lợi và rủi ro, có cơ hội để phát triển kinh tế

Trang 20

Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến phát triển hộ nông dân, nhất là nguồn nước Bởi vì những loại cây trồng và gia súc tồn tại theo quy luật sinh học, nếu môi trường thuận lợi cây trồng, con gia súc phát triển tốt, năng suất cao, còn ngược lại sẽ phát triển chậm, năng suất chất lượng giảm từ đó dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp kém.[12]

1.1.4.2 Nhóm nhân tố thuộc kinh tế và tổ chức, quản lý

Đây là nhóm yếu tố có liên quan đến thị trường và các nguồn lực chủ yếu có

ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế

hộ nông dân nói riêng

- Trình độ học vấn và kỹ năng lao động: Người lao động phải có trình độ học

vấn và kỹ năng lao động để tiếp thu những tiến hộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến Trong sản xuất, phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật, trình độ quản lý mới mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm mang lại lợi nhuận cao Điều này là rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả trong sản xuất kinh doanh của hộ, ngoài ra còn phải có những tố chất của một người dám làm kinh doanh [15]

- Vốn: Trong sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, vốn là

điều kiện đảm bảo cho các hộ nông dân về tư liệu sản xuất, vật tư nguyên liệu cũng như thuê nhân công để tiến hành sản xuất Vốn là điều kiện không thể thiếu, là yếu

tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa

- Công cụ sản xuất: Công cụ lao động có vai trò quan trọng đối với việc thực

hiện các biện pháp kỹ thuật sản xuất Muốn sản xuất có hiệu quả, năng suất cao cần phải sử dụng công cụ phù hợp Do đó, công cụ sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và hiệu quả trong sản xuất của các nông hộ

Cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông nghiệp nông thôn bao gồm: đường giao thông, hệ thống thuỷ lợi, hệ thống điện, nhà xưởng, trang thiết bị nông nghiệp, Đây là những yếu tố quan trọng trong phát triển sản xuất của kinh tế hộ nông dân, thực tế cho thấy, nơi nào cơ sở hạ tầng phát triển nơi đó sản xuất phát triển, thu nhập tăng, đời sống của các nông hộ được ổn định và cải thiện

Trang 21

- Thị trường: Nhu cầu thị trường sẽ quyết định hộ sản xuất sản phẩm gì? với

số lượng bao nhiêu và theo tiêu chuẩn chất lượng như thế nào? Trong cơ chế thị trường, các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn loại sản phẩm mà thị trường cần trong điều kiện sản xuất của họ

- Hình thức và mức độ liên kết hợp tác trong mối quan hệ sản xuất kinh doanh

Để đáp ứng yêu cầu của thị trường về sản phẩm hàng hoá, các hộ nông dân phải liên kết hợp tác với nhau để sản xuất, hỗ trợ nhau về vốn, kỹ thuật và giúp nhau tiêu thụ sản phẩm Nhờ có các hình thức liên kết, hợp tác mà các hộ nông dân

có điều kiện áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, con gia súc và năng suất lao động.[15]

1.1.4.3 Nhóm nhân tố thuộc khoa học kỹ thuật và công nghệ

* Kỹ thuật canh tác:

Do điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng khác nhau, với yêu cầu giống cây, con khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác khác nhau Trong nông nghiệp, tập quán, kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông hộ

- Ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ:

Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ thuật, vì nó đã tạo ra cây trồng vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt Thực tế cho thấy những hộ nhạy cảm với tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ sản xuất, hiểu biết thị trường, dám đầu tư lớn và chấp nhận những rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, họ giàu lên rất nhanh Nhờ có công nghệ mà các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, sinh vật, máy móc và thời tiết khí hậu kinh tế kết hợp với nhau để tạo

ra sản phẩm nông nghiệp Như vậy, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp có tác dụng thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển.[15]

1.1.4.4 Nhóm nhân tố thuộc quản lý vĩ mô của Nhà nước

Nhóm nhân tố này bao gồm chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước như: chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ, trợ giá nông sản phẩm, miễn thuế cho sản phẩm mới, chính sách cho vay vốn, giải quyết việc làm,

Trang 22

chính sách đối với đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới, Các chính sách này có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế nông hộ và là công cụ đắc lực để Nhà nước can thiệp có hiệu quả vào sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho các hộ nông dân phát triển kinh tế

Tóm lại: từ các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân, có thể khẳng định: hộ nông dân sản xuất tự cấp tự túc muốn phát triển kinh tế cần phải phá

vỡ kết cấu kinh tế khép kín của hộ để chuyển sang sản xuất với quy mô lớn và chính sách kinh tế là tiền đề, là môi trường để đầu tư, đưa tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất để kinh tế hộ nông dân hoạt động có hiệu quả.[15]

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Tình hình phát triển và vai trò thảo quả trên thế giới

Thảo quả là loài cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị dược liệu và giá trị kinh tế cao đó được con người biết đến từ lâu Ở Trung Quốc, thảo quả được gây trồng và

sử dụng cách đây hàng trăm năm Nhưng những nghiên cứu về thảo quả còn rất hạn chế Kết quả nghiên cứu thảo quả ban đầu được trình bày trong cuốn sách về công dụng và giá trị của một số loại cây dược liệu do các nhà y học của Trung Quốc biên soạn và xuất bản vào đầu thế kỷ 19 Năm 1968, một số nhà nghiên cứu cây thuốc tại Vân Nam, Trung Quốc đó xuất bản cuốn sách "Kỹ thuật gây trồng cây thuốc ở Trung Quốc" Cuốn sách đó đề cập đến cây thảo quả với một số nội dung chủ yếu sau:

- Phân loại thảo quả: gồm có tên khoa học (Amomum tsao-ko Crevost et Lemaire), tên họ (Zingiberaceae)

- Hình thái: dạng sống, thân, gốc, rễ, lá, hoa, quả

- Vùng phân bố ở Trung Quốc

- Đặc điểm sinh thái: khí hậu và đất đai

- Kỹ thuật trồng: Nhân giống, làm đất, trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại

- Thu hoạch và chế biến: phẩm chất quy cách, bao gói, bảo quản

- Công dụng: dùng làm thuốc trị các bệnh đường ruột, bệnh hàn

Đây là cuốn sách tương đối hoàn chỉnh đó giới thiệu một cách tổng quát và có

hệ thống về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học, kỹ thuật gây trồng, thu hái chế biến

Trang 23

và bảo quản Tuy nhiên, đây là cuốn sách viết cho cho nhiều loài cây dược liệu nên cây thảo quả được giới thiệu ngắn gọn dưới dạng tóm tắt của bản hướng dẫn kỹ thuật cho một số vùng ở Trung Quốc Vì vậy, khi áp dụng ở Việt Nam, một số đặc điểm cũng như biện pháp kỹ thuật có nhiều thay đổi để phù hợp với điều kiện ở nước ta Đây vẫn

là cuốn sách ghi lại một cách hệ thống những kiến thức về cây thảo quả

Trong những năm gần đây, khi con người nhận thức được tầm quan trọng của lâm sản ngoài gỗ nói chung và thảo quả nói riêng, một số nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu về thảo quả Năm 1992[39], J.H de Beer - một chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của tổ chức Nông lương thế giới - khi nghiên cứu về vai trò và thị trường của lâm sản ngoài gỗ đó nhận thấy giá trị to lớn của thảo quả đối với việc tăng thu nhập cho người dân sống trong khu vực vùng núi nơi có phân bố thảo quả nhằm xoá đói giảm nghèo, đồng thời là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh kinh tế xã hội vùng núi và bảo tồn phát triển tài nguyên rừng Về nhu cầu thị trường của thảo quả là rất lớn, chỉ tính riêng ở Lào, hàng năm xuất khẩu khoảng 400 tấn sang Trung Quốc và Thái Lan Đây là công trình nghiên cứu tổng kết về vai trò thảo quả đối với con người, xã hội cũng như tình hình sản xuất buôn bán và dự báo thị trường, tiềm năng phát triển của thảo quả

Năm 1996, Tiền Tín Trung, một nhà nghiên cứu về cây thuốc dân tộc tại viện

Vệ sinh dịch tễ công cộng Trung Quốc biên soạn cuốn sách "Bản thảo bức tranh màu Trung Quốc" Cuốn sách đã mô tả tới hơn 1000 loài cây thuốc ở Trung Quốc, một trong số đó là thảo quả Nội dung đề cập là:

- Tên khoa học

- Một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học cơ bản

- Công dụng và thành phần hóa học của thảo quả

Nhìn chung, nội dung có liên quan đến thảo quả trong cuốn sách đề cập tương đối ngắn gọn, nó cho biết một số đặc điểm cơ bản về tỷ lệ thành phần các chất chứa trong thảo quả nhưng đề cập rất ít đến đặc điểm sinh thái cũng như biện pháp kỹ thuật gây trồng và phát triển thảo quả Ở đây tác giả đã đề cập đến đặc điểm phân loại của thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật học và

Trang 24

sinh thái học của thảo quả Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sóc bảo vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn bán thảo quả trên thế giới.[25]

1.2.2 Tình hình phát triển thảo quả ở trong nước

Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, ẩm và là một trong những nơi phân bố tự nhiên của thảo quả Từ lâu đời, nhân dân ta đó biết tìm kiếm và khai

thác thảo quả để làm thức ăn, thuốc chữa bệnh và coi thảo quả là cây "truyền

thống" Theo tài liệu của Pháp, thì công trình đầu tiên đề cập đến thảo quả là công

trình nghiên cứu về hệ thực vật Đông Dương của Lecomte et al gồm 7 tập với tên cuốn sách "Thực vật chí đại cương Đông Dương" Tác giả đó thống kê được toàn Đông dương có hơn 7000 loài thực vật, trong đó 1350 loài cây thuốc nằm trong 160

họ thực vật mà thảo quả là một trong những loài cây có giá trị cao

Năm 1999 [15], khi nghiên cứu những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, tác giả Đỗ Tất Lợi đó cho rằng: Thảo quả là loài cây thuốc được trồng ở nước ta vào khoảng năm 1890 Trong thảo quả có khoảng 1-1.5% tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm, ngọt, vị nóng cay dễ chịu có tác dụng chữa các bệnh đường ruột Đây là một công trình nghiên cứu khẳng định công dụng của thảo quả ở nước ta Tuy nội dung nghiên cứu về thảo quả của công trình còn ít, nhưng nó đã phần nào mở ra một triển vọng cho việc sản xuất và sử dụng thảo quả trong y học ở nước ta Vào những năm

1960 đến những năm 1980, một số nhà khoa học khi nghiên cứu về cây thuốc ở

nước ta có đề cập đến thảo quả Do thảo quả là cây "truyền thống", có đặc thù

riêng khác với một số loài lâm sản ngoài gỗ là có phạm vi phân bố hẹp, chúng được trồng chủ yếu dưới tán rừng ở các tỉnh phía Bắc như Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang nên các nhà khoa học ít quan tâm Các công trình nghiên cứu liên quan còn tản mạn Năm 1982[19], Đoàn Thị Nhu công bố kết quả nghiên cứu của mình về "Bảo vệ, khai thác nguồn tài nguyên cây thuốc thiên nhiên và phát triển trồng cây thuốc trên đất rừng ở Việt Nam" Trong đó tác giả kết luận: thảo quả là cây dược liệu quý và thích nghi tốt ở điều kiện dưới tán rừng, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về kỹ thuật gây trồng thảo quả dưới tán rừng Năm 1994, nhận thức được

Trang 25

tiềm năng nâng cao đời sống kinh tế xã hội của người dân vùng núi từ nghề rừng Tỉnh Lào Cai đã xác định thảo quả là loài cây giá trị cao cần được phát triển Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Lào Cai đó phối hợp với các nhà khoa học tại Trung tâm nghiên cứu lâm đặc sản tiến hành tổng kết các kinh nghiệm gây trồng, thu hái và chế biến bảo quản thảo quả trong nhân dân Sau gần 2 năm điều tra thu thập, tổng hợp kết hợp với một số kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước, bản hướng dẫn kỹ thuật tạm thời gây trồng thảo quả ra đời Nội dung bản hướng dẫn là: xác định tên khoa học loài thảo quả phân bố trong địa phương, mô tả một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học cơ bản, kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sóc và thu hái Đây là bản hướng dẫn kỹ thuật về gây trồng và thu hái thảo quả ở nước ta Do chủ yếu là tổng kết kinh nghiệm trong nhân dân và kế thừa một số kết quả nghiên cứu trong nước và trên thế giới cho nên các biện pháp kỹ thuật như chọn vùng trồng, điều kiện lập địa trồng, nhân giống, chọn giống, trồng, còn chưa cụ thể, vẫn mang tính chất định tính Các căn cứ để xác định điều kiện lập địa trồng thích hợp, thời vụ trồng, mật độ trồng, để nâng cao năng suất và tính ổn định của mô hình trồng thảo quả còn nhiều thiếu sót nên hiệu quả của mô hình thử nghiệm còn thấp

và chưa đảm bảo tính bền vững Vì vậy, thực chất bản hướng dẫn kỹ thuật này chỉ là tạm thời cần nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện

Trong công trình "Đa dạng sinh học có mạch vùng núi cao Sa pa", các tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Thời (1998) [29] đã phân loại lâm sản ngoài gỗ theo hệ thống sinh thái và thống kê được tập đoàn đông đảo thực vật có giá trị làm thuốc ở địa phương Các tác giả đưa ra một số loài cây làm thuốc có thế mạnh của khu vực không chỉ có giá trị sử dụng mà còn có giá trị xuất khẩu, tăng thu nhập như

củ hoàng liên, thảo quả, cỏ xước, Trong đó cần đặc biệt chú trọng phát triển cây thảo quả Bên cạnh một số nghiên cứu về hình thái và sinh thái, để phát hiện tiềm năng công dụng của thảo quả trong lĩnh vực y dược, một số công trình nghiên cứu

về thành phần hoá học như: công trình về thành phần hoá học của thảo quả, công trình đã đưa ra một cách khái quát về vai trò của thảo quả đối với người dân cũng như địa phương, tình hình gây trồng, sản xuất, tiềm năng thị trường và hiệu quả của

Trang 26

thảo quả tại một số địa phương ở nước ta Công trình này đã vẽ nên một bức tranh khái quát về hiện trạng và xu hướng phát triển của thảo quả ở nước ta Đồng thời cho thấy tiềm năng về thảo quả ở nước ta rất lớn nhưng trong quá trình phát triển và mở rộng gây trồng thảo quả cho năng suất cao còn gặp một số khó khăn Khó khăn lớn nhất là về lĩnh vực kỹ thuật như khi phát triển mở rộng cần trả lời một số câu hỏi: thảo quả được trồng ở đâu và như thế nào cho năng suất chất lượng cao nhất và không ảnh hưởng đến bảo tồn rừng

Năm 2000, để đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật gây trồng cây đặc sản dưới tán rừng của người dân, Cục Khuyến Nông và Khuyến Lâm biên soạn tài liệu "Trồng cây nông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưới tán rừng" Nội dung tài liệu đã nêu giá trị kinh tế, đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố và kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và chế biến thảo quả dưới tán rừng

Trong những năm gần đây cũng xuất hiện một số tài liệu có trình bày những thông tin về thảo quả như "Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam" (1999) [6] của tác giả Lê Trần Chấn; Năm 1990[28], khi nghiên cứu về giá trị của lâm sản ngoài gỗ đối với người dân ở Sa Pa, Nguyễn Tập đã kết luận: nhờ trồng thảo quả mà hầu hết các gia đình ở thôn Seo Mi Tỷ xã Tả Van, Sa Pa, Lào Cai

đã trở nên giầu có Trước đây, nếu trồng lúa nương mỗi gia đình chỉ thu khoảng 1 tấn lúa/năm, giá trị khoảng 2 triệu đồng Nay chuyển sang trồng thảo quả, mỗi gia đình hàng năm thu bình quân 2-3 tạ quả, tương đương với giá trị 20 - 40 triệu đồng, gấp 10-20 lần giá trị của trồng lúa trước đây

Nhìn chung những nghiên cứu về thảo quả đã cho thấy đây là loài cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị cần được phát triển như một yếu tố góp phần phát triển kinh

tế xã hội, xoá đói giảm nghèo và bảo vệ rừng ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu về thảo quả chủ yếu thông qua điều tra nhanh

và mang tính chất của những tổng kết kinh nghiệm là chính Những đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, chủ yếu phát hiện ở mức định tính Vì vậy, các hướng dẫn

kỹ thuật thường có tính chất gợi ý, không cụ thể, chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất hiện nay.[25]

Trang 27

1.2.3 Tình hình phát triển và vai trò thảo quả ở tỉnh Hà Giang

Là tỉnh vùng cao biên giới nằm ở cực Bắc của Tổ quốc, Hà Giang có nhiều yếu tố phù hợp về khí hậu, thổ nhưỡng để trồng cây thảo quả có giá trị kinh tế cao Trong giai đoạn 2016-2020, tỉnh Hà Giang đang tập trung đẩy nhanh tiến độ triển khai phát triển cây thảo quả gắn với xóa đói giảm nghèo tại các huyện nghèo 30a

Theo kết quả điều tra, hiện toàn tỉnh có 184 họ, 662 chi, 1.101 loài, trong đó

có 51 loài cây thuốc quý hiếm có nguy cơ bị đe dọa trong sách đỏ Việt Nam Tiêu biểu như các loại: Thảo quả, hương thảo, giảo cổ lam, đỗ trọng, đương quy, thiên niên kiện, được phân bố tại tất cả các huyện trong tỉnh, trong đó tập trung tại một

số xã vùng cao, vùng sâu, biên giới của tỉnh như: Lao Chải, Xín Chải (thuộc huyện

Vị Xuyên); Tả Ván, Tùng Vài, Thái An (thuộc huyện Quản Bạ); Pờ Ly Ngài, Tả Sử Choóng, Ðản Ván (thuộc huyện Hoàng Su Phì); Quảng Nguyên, Nà Chì, Nấm Dẩn, Chế Là, Nàn Sỉn (thuộc huyện Xín Mần) Với 19 dân tộc cùng sinh sống, Hà Giang có nhiều cây thuốc, bài thuốc dân gian quý hiện đang lưu truyền trong nhân dân chưa được khai thác

Hà Giang có diện tích đất lâm nghiệp và rừng rộng lớn chiếm tới 69% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó diện tích đất có rừng chiếm khoảng 445 nghìn ha, nên rất có điều kiện cho việc phát triển thảo quả, đồng thời là tỉnh có đường biên giới giáp với nước bạn Trung Quốc, là nước tiêu thụ thảo quả lớn nên việc tiêu thụ sản phẩm không gặp nhiều khó khăn Ngoài ra thảo quả luôn có thị trường tốt, nông dân dễ bán sản phẩm ngay tại các chợ của xã vào bất cứ thời điểm nào trong năm Theo đó, trong những năm gần đây, một số huyện xác định thảo quả là cây xóa đói giảm nghèo nên đã có chủ trương hỗ trợ trồng mới được từ 100-200 ha mỗi năm với mức hỗ trợ 1 triệu đồng/ha… Tuy nhiên cây thảo quả hiện nay vẫn chưa được phát huy đúng lợi thế, việc canh tác chưa thực sự bền vững Các nguyên nhân chủ yếu được cho là: chưa có vườn ươm và nhân giống đầu dòng thảo quả; kỹ thuật chăm sóc chủ yếu dựa trên kinh nghiệm thực thế; đa số các hộ trồng thảo quả đều không đầu tư phân bón, số lần chăm sóc hàng năm ít; trình độ sản xuất, thâm canh của nông dân còn hạn chế, thiếu kiến thức, kỹ thuật canh tác hiệu quả bền vững.[27]

Trang 28

Theo đánh giá của cơ quan chức năng tỉnh Hà Giang, trong những năm gần đây tỉnh Hà Giang có khoảng 50% số hộ trồng thảo quả có thu nhập từ 25-30 triệu đồng/năm; 10% số hộ trồng thảo quả có thu nhập trên 60 triệu đồng/năm, số còn lại

có thu nhập bình quân từ 30 – 40 triệu động/năm, cá biệt có một số hộ gia đình có thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm từ thảo quả Vì vậy, có thể khẳng định, thảo quả thực sự là cây trồng thế mạnh mang lại nguồn thu nhập cao, góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội, xóa đói giảm nghèo cho một bộ phận không nhỏ đồng bào các dân tộc thiểu số ở các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa của tỉnh Do ảnh hưởng của đợt rét hại và sương muối vào cuối tháng 1/2016, trên địa bàn Hà Giang có gần 5.000 ha cây thảo quả bị ảnh hưởng và bị chết; những diện tích thảo quả bị chết đã được người dân tại các huyện khắc phục trồng lại Đến thời điểm tháng 8/2016, toàn tỉnh có tổng diện tích thảo quả đạt gần 8.000 ha, trong đó

có khoảng 3.200 ha cho thu hoạch

Trong năm 2016, ngành Nông nghiệp tỉnh đã tiến hành triển khai xây dựng Chuỗi giá trị cây thảo quả thuộc Chương trình giảm nghèo dựa trên phát triển hàng hóa (CPRP) tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016 - 2020 Chuỗi giá trị nhằm phân tích thực trạng và xây dựng kế hoạch nâng cao giá trị của cây thảo quả giai đoạn 2016 - 2020 Đây chính là nền tảng quan trọng nhằm nâng cao giá trị của cây thảo quả - góp phần thúc đẩy quá trình xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn của tỉnh.[24]

Tỉnh Hà Giang đã và đang đẩy mạnh công tác thu hút đầu tư vào phát triển thảo quả tại Hà Giang UBND tỉnh cam kết sẽ tạo điều kiện tốt nhất để các nhà đầu

tư sản xuất, kinh doanh phát triển Đồng thời đẩy nhanh tiến độ triển khai lập dự án phát triển cây thảo quả gắn với xóa đói giảm nghèo tại 6 huyện nghèo 30a theo chủ trương của Chính phủ Ngay trong quý II/2016, các ngành chức năng của tỉnh Hà Giang sẽ phối hợp với các công ty tiến hành tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc cho

bà con nông dân vùng dự án; tăng cường công tác sản xuất giống, để đảm bảo kế hoạch trồng từ nay đến năm 2020, phấn đấu đưa Hà Giang trở thành vùng trọng điểm Quốc gia về thảo quả, góp phần nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu

Trang 29

số, đẩy nhanh công cuộc xóa đói giảm nghèo nhanh, bền vững tại 6 huyện nghèo 30a của Hà Giang.[25]

1.3 Xu hướng phát triển kinh tế nông hộ và những bài học kinh nghiệm rút ra

1.3.1 Xu hướng phát triển trong kinh tế nông hộ

- Xu hướng phát triển có thể được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau

tuy nhiên dưới góc độ hàng hóa trong sinh kế nông hộ thì sẽ phát triển theo ba xu hướng chính như sau:

- Xu hướng thứ nhất: Những hộ gia đình sản xuất kinh doanh nhưng không

đủ tiêu dùng, họ không có khả năng tái sản xuất giản đơn Sự phát triển của nhóm

hộ này theo hai xu hướng có thể họ sẽ trở thành lao động làm thuê hoặc họ sẽ quay lại cuộc sống sinh tồn

- Xu hướng thứ hai: Những hộ gia đình sản xuất kinh doanh chỉ đủ tiêu

dùng lượng sản phẩm để bán của họ là không nhiều hoặc không đáng kể, sự phát triển của họ có thể trở thành nhóm hộ sản xuất hàng hóa Tuy nhiên để làm được như vậy cần có sự hỗ trợ hợp tác từ bên ngoài

- Xu hướng thứ ba: Những hộ sản xuất hàng hóa sản phẩm của họ để bán họ

có thể có những lợi thế về đất đai, lao động, vốn, lợi thế về lưu thông hàng hóa hay khả năng tiếp cận khoa học

1.3.2.Những bài học kinh nghiệm rút ra đối với phát triển thảo quả trong kinh tế nông hộ ở Việt Nam nói chung và huyện Xín Mần nói riêng

Đối với Việt Nam

Chủ trương, chính sách về giao quyền sử dụng đất lâu dài cho nông dân (đất nông nghiệp 20 năm, đất lâm nghiệp 50 năm) đã nhanh chóng đi vào cuộc sống của hàng triệu người dân Việt Nam.Có như vậy các hộ nông dân mới yên tâm sản xuất

và tập trung đầu tư trên đất đai được giao sử dụng lâu dài của mình

Từ đó diện mạo của việc phát triển thảo quả trong sinh kế nông hộ Việt Nam

đã thay đổi một cách cơ bản, nhất là ngày càng có nhiều đóng góp cho việc giải phóng sức sản xuất, nâng cao sản lượng thảo quả, mở mang ngành nghề mới, nâng cao thu nhập

Trang 30

Trong kinh tế thị trường, việc tìm ra cây gì, con gì để cho sản xuất hàng hóa lớn đã khó, thì việc tiếp cận đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp mấy năm gần đây cũng đang khó khăn không kém Đã thế, thị trường đầu vào của sản xuất nông nghiệp biến động rất bất lợi cho các hộ nông dân, giá lên cao liên tục, giao thông khó khăn, vốn ít nên khó khăn trong việc mua giá thấp với khối lượng lớn (mua buôn), mua lẻ thì giá lại rất cao, thiếu những nhà cung cấp tin cậy và ổn định,

và còn thiếu cả thông tin để có cơ hội lựa chọn phương án tối ưu Vì thế để thúc đẩy phát triển thảo quả nhà cần có chính sách hỗ trợ của nhà nước cho người nông dân

về vốn,giá vật tư nông nghiệp và thông tin về nhu cầu của thị trường,…

Cần phá vỡ tính tự phát trong sản xuất nông nghiệp của người nông dân, để làm được điều này nhà nước cần định hướng, hỗ trợ, tư vấn cho người nông dân trong phát triển sản xuất.[26]

Đối với huyện Xín Mần

Phát triển thảo quả trong sinh kế và kinh tế nông hộ phải gắn liền với giải quyết các vấn đề xã hội, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần Coi phát triển con người là động lực để phát triển sản xuất, phát triển xã hội và tiến bộ xã hội thực hiện mục tiêu cơ bản mà Nhà nước đã đặt ra: "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh"

Nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng và vận dụng sáng tạo vào tình hình thực tế của huyện để đẩy mạnh phát triển sản xuất và kinh tế nông hộ Trong quá trình phát triển sản xuất và kinh tế nông hộ, Đảng bộ, UBND xã đã chỉ đạo các ban ngành tìm mọi cách góp phần tăng năng suất cây trồng vật nuôi, xây dựng cơ cấu giống hợp lý, phù hợp với từng loại đất, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong canh tác

Huyện có chủ trương, giải pháp đúng đắn là khuyến khích nông dân tích cực sản xuất, khai thác triệt để nguồn đất hiện có, có chính sách vay vốn hợp lý để người dân yên tâm đầu tư sản xuất Tập trung thực hiện, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, thực hiện mở rộng diện tích trồng thảo quả, thực hiện đa dạng cây trồng, vật nuôi

Trang 31

Phát triển các ngành dịch vụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp để thúc đẩy nền kinh tế của toàn huyện phát triển

Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây thảo quả trong sinh kế người dân tộc thiểu

số ở huyện Xín Mần

Hội Đông y huyện Xín Mần đã điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng, thành phần, loài tài nguyên cây thuốc; tình hình gây trồng, thu hái, chế biến, sử dụng tại địa phương,… Qua đó đã tìm ra những khoảng trống và điểm yếu cần khắc phục, tạo cơ sở đề xuất giải pháp và các hoạt động tiếp theo Thông qua đánh giá thực trạng tài nguyên cây thuốc ở huyện, đã cơ bản xác định được thành phần loài, bộ phận sử dụng và nơi phân bố của các loại cây thuốc bản địa khá phong phú Đây là điều kiện tốt để phát triển các loài cây thuốc có triển vọng ở địa phương Tài nguyên cây thuốc có trữ lượng ngoài tự nhiên còn không đáng kể nên cần phải gây trồng

Tại huyện hiện đã có nhiều cây thuốc quý, có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng cao được gây trồng theo hướng tự phát, trong đó có nhiều loài quý hiếm như: Lá khôi, Hoàng tinh hoa trắng, Củ dòm, Đinh lăng, Mạch môn,… Một số hộ có vườn sưu tập mô phỏng rừng tự nhiên nhiều tầng thứ, nhiều loài hỗn giao hoặc trồng dưới tán cây ăn quả cần phát triển thành mô hình điểm và nhân rộng

Tuy nhiên, đa số người gây trồng cây thuốc còn manh mún Kinh nghiệm trồng, thu hái, sơ chế và làm các bài thuốc mới chỉ tập trung vào một số ông lang,

bà mế và chưa có tổ chức khai thác tiềm năng hoặc xác lập cơ chế hưởng lợi cho các bài thuốc gia truyền ở địa phương Việc tiêu thụ chưa ổn định, chủ yếu bán các sản phẩm thô, tươi chưa qua chế biến tại địa phương nên giá trị kinh tế thấp, bị tư thương ép giá Trong khi đó, thị trường tiềm năng ngay tại tỉnh và ngoại tỉnh rất rộng mở nên cần thiết lập tổ chức thị trường, thành lập chuỗi thị trường cây thảo

quả [25]

Trang 32

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những liên quan đến sinh kế và kinh tế của các hộ nông dân tham gia sản xuất thảo quả trên địa bàn huyện Xín Mần, tỉnh

Hà Giang Đối tượng điều tra khảo sát là hộ đồng bào dân tộc thiểu số trồng thảo quả tại huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

2.1.2.1 Không gian

Nghiên cứu tại 3 xã của huyện Xín Mần: xã Quảng Nguyên, xã Chế Là, xã Nấm Dẩn là những xã mang những đặc trưng về sinh thái và có diện tích trồng thảo quả lớn trong huyện Xín Mần

2.1.2.Về thời gian

- Đề tài tập trung nghiên cứu, thu thập số liệu về sự phát triển kinh tế từ năm

2014 - 2016

- Thực hiện điều tra, thu thập số liệu sơ cấp 150 hộ dân từ ngày 15/01/2017 đến ngày 15/6/2017

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Xín Mần

2.2.2 Vai trò của cây thảo quả trong sinh kế và kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Xín Mần

+ Thảo quả trong cơ cấu cây trồng, sinh kế và kinh tế nông hộ tại địa bàn nghiên cứu

+ Thu nhập về cây thảo quả và đóng góp về kinh tế của cây thảo quả trong kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại địa bàn nghiên cứu

2.2.3 Thực trạng sản xuất thảo quả của hộ đồng bào tại huyện Xín Mần

+ Thực trạng sản xuất thảo quả tại địa bàn nghiên cứu: Hệ thống sản xuất, loại cây thảo quả, kỹ thuật canh tác, sơ chế,…

Trang 33

+ Sản lượng thảo quả, chi phí sản xuất thảo quả, thu nhập từ thảo quả, + Giá cả, thu gom,

2.2.4 Những khó khăn và thách thức trong phát triển thảo quả tại huyện Xín Mần

+ Thách thức + Khó khăn

2.2.5 Giải pháp phát triển cây thảo quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Xín Mần

+ Giải pháp chung + Giải pháp cụ thể đối với từng nhóm hộ

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.1.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

- Thu thập các số liệu đã được công bố liên quan đến vấn đề nghiên cứu tại

địa bàn huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang

+ Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Xín Mần

+ Báo cáo các giai đoạn thực hiện và báo cáo tổng kết hàng năm của UBND huyện Xín Mần

2.3.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Thu thập số liệu sơ cấp được thực hiện qua những phương pháp sau:

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Bảng 2.1: Địa điểm điều tra phân theo nghề nghiệp

Trang 34

+ Chọn hộ điều tra: Sau khi khảo sát điều tra tình hình kinh tế, dân số, chính trị - xã hội của huyện Xín Mần tôi chọn 3 xã để nghiên cứu Đây là những xã có diện tích trồng cây thảo quả lớn của huyện nên tiến hành chọn để điều tra

Kết quả chọn hộ: Tiến hành nghiên cứu 150 hộ trong các thôn của 3 xã trên, đây đều là những hộ trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất cây thảo quả Trong tổng số 150 hộ điều tra thì có tới 126 hộ thuộc nhóm hộ thuần nông chiếm 84% và

24 hộ thuộc nhóm hộ hỗn hợp chiếm 16%

+ Xây dựng phiếu điều tra: Phiếu điều tra được xây dựng cho hộ điều tra, nội dung phiếu điều tra bao gồm những thông tin về tên, tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, tình hình hoạt động sản xuất, giá cả, đời sống cũng như nhận thức của hộ

+ Phân tích SWOT

Xác định những thuận lợi và khó khăn bằng cách phân tích những ảnh hưởng bên trong (mặt mạnh, mặt yếu) và những ảnh hưởng bên ngoài (cơ hội, thách thức)

mà nó tác động đến quá trình phát triển

2.3.2 Phương pháp phân tích, xử lý thông tin số liệu

Từ các nguồin số liệu điều tra thu thập được trên địa bàn nghiên cứu, tiến hành tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu

Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá và tổng hợp, phương pháp

so sánh, các số liệu, các chỉ tiêu nghiên cứu được tiến hành trên máy tính bằng các phần mềm Excel trên công cụ PivotTable

+ PivotTable, còn gọi là bảng dữ liệu tổng hợp, là một bảng tính được tạo ra

từ một cơ sở dữ liệu của Excel hay từ nguồn dữ liệu bên ngoài

+ Pivotable là công cụ mạnh để kết nối và phân tích các số liệu tưởng như không có mối liên hệ thành các số liệu có mối quan hệ chặt chẽ và mật thiết với nhau

+ Phương pháp thống kê mô tả: Thống kê mô tả được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau Thống kê mô tả và thống kê suy luận cùng cung cấp những tóm tắt đơn giản về mẫu và các thước đo Cùng với phân tích đồ họa đơn giản,

Trang 35

chúng tạo ra nền tảng của mọi phân tích định lượng về số liệu Để hiểu được các hiện tượng và ra quyết định đúng đắn, cần nắm được các phương pháp cơ bản của

mô tả dữ liệu.[1] Có rất nhiều kỹ thuật hay được sử dụng Có thể phân loại các kỹ thuật này như sau:

 Biểu diễn dữ liệu bằng đồ họa trong đó các đồ thị mô tả dữ liệu hoặc giúp

so sánh dữ liệu;

 Biểu diễn dữ liệu thành các bảng số liệu tóm tắt về dữ liệu;

 Thống kê tóm tắt (dưới dạng các giá trị thống kê đơn nhất) mô tả dữ liệu Khi tạo các trị thống kê mô tả, người ta có thể nhằm 2 mục tiêu:

1 Chọn một trị thống kê để chỉ ra những đơn vị có vẻ giống nhau thực ra

có thể khác nhau thế nào Các giáo trình thống kê gọi một giải pháp đáp ứng mục tiêu này là thước đo khuynh hướng trung tâm

2 Chọn một trị thống kê khác cho thấy các đơn vị khác nhau thế nào Loại trị thống kê này thường được gọi là một thước đo phân tán thống kê + Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp chủ yếu dùng trong phân tích hoạt động kinh doanh để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích Để tiến hành được cần xác định số gốc để so sánh, xác định điều kiện để

- Điều kiện để so sánh được các chỉ tiêu kinh tế:

+ Phải thống nhất về nội dung kinh tế của chỉ tiêu

+ Đảm bảo tính thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu

+ Đảm bảo tính thống nhất về đơn vị tính, các chỉ tiêu về cả số lượng, thời gian và giá trị

Trang 36

2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

2.4.1 Một số chỉ tiêu phản ánh về thông tin chủ hộ

Nhóm chỉ tiêu này bao gồm:

- Độ tuổi bình quân,

- Số nhâu khẩu,

- Số lao động,

- Trình độ học vấn

2.4.2 Chỉ tiêu phản ánh phát triển sản xuất cây thảo quả

Chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất cây thảo quả bao gồm:

- Diện tích đất/hộ, lao động/hộ

- Số hộ trồng thảo quả Diện tích trồng thảo quả bình quân mỗi hộ

- Diện tích các cây trồng và cơ cấu các cây trồng của hộ

- Thu nhập về cây thảo quả và cơ cấu thu nhập từ các cây trồng của hộ

- Sản lượng thảo quả đã bán bình quân/hộ

2.4.3 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất cây thảo quả

- Giá trị sản xuất (GO): Là giá trị tính bằng tiền của toàn bộ các loại sản phẩm trên một đơn vị diện tích

Trong đó: Qi : Khối lượng sản phẩm loại i

Pi : Đơn giá sản phẩm loại i

- Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ các chi phí vật chất thường xuyên như nguyên liệu, nhiên liệu, dịch vụ, … được sử dụng trong quá trình sản xuất

- Giá trị gia tăng (VA): Là phần chênh lệch giữa giá trị sản xuất ra trên một đơn vị diện tích và phần chi phí vật chất thường xuyên sử dụng trong quá trình sản xuất VA = GO - IC

+ Thu nhập hỗn hợp: Là phần thu nhập thuần túy của người sản xuất

MI = VA - (A + T + L)

Trang 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Xín Mần tỉnh Hà Giang

3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

Xín Mần là huyện vùng cao biên giới, nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Hà Giang

có toạ độ địa lý từ 220 27'55" đến 220 40' 45" vĩ độ Bắc, 1040 10' 12" đến 1040 40' 45" kinh độ Đông Trung tâm huyện lỵ là Thị trấn Cốc Pài, cách thị xã Hà Giang

146 km về phía Tây Bắc theo Quốc lộ 2 và đường tỉnh lộ 176 Phía Bắc giáp Nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, phía Đông giáp huyện Hoàng Su Phì; phía Tây giáp tỉnh Lào Cai; phía Nam giáp huyện Quang Bình

Tổng diện tích tự nhiên là 58.702,22 ha với 19 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, trong đó có 4 xã giáp với Trung Quốc là Pà Vầy Sủ, Chí Cà, Xín Mần và Nàn Xỉn (có 31 km đường biên giới)

Xín Mần là huyện vùng cao núi đất, độ cao địa hình nghiêng dần từ Bắc xuống Nam Nhìn chung, địa hình khá phức tạp chia cắt mạnh tạo thành các khe suối, có

độ dốc lớn Chính vì vậy giao thông đi lại, giao lưu bên ngoài cũng như trong nội huyện giữa các xã với nhau còn rất khó khăn

Để đánh giá mức độ khác nhau về địa hình, tiến hành điều tra khảo sát và xác định trên nền bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000 theo 6 cấp độ dốc

Khí hậu của huyện mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, tuy nhiên do nằm sâu trong lục địa nên ảnh hưởng của mưa bão mùa hè và gió đông bắc trong mùa đông ít hơn các nơi khác thuộc Bắc Bộ

Khí hậu huyện Xín Mần chia thành 2 tiểu vùng: Vùng cao khí hậu cận nhiệt đới, vùng thấp chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa và chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa đông khô và lạnh, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều Mùa khô từ tháng 11 đến tháng

4 năm sau,nhiệt độ trung bình 140C - 190C, lượng mưa tháng biến động từ 17,8 - 56,3 mm đối với các xã từ tiểu vùng 1 đến tiểu vùng 3, các xã thuộc tiểu vùng 4 và

5 có nhiệt độ trung bình cao hơn Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, với lượng mưa

Trang 38

trung bình/tháng dao động từ 85-331mm Các tháng mùa mưa có lượng mưa chiếm trên 90,6% tổng lượng mưa cả năm Nhiệt độ trung bình các tháng mùa mưa từ 22,80C - 26,20C

Độ ẩm không khí trung bình tháng biến thiên từ 70 - 80%, chênh lệch độ ẩm lớn giữa mùa mưa và mùa khô Về mùa mưa do ảnh hưởng của gió mùa, mưa nhiều nên độ ẩm khá cao 85 - 90%, mùa khô độ ẩm thấp hơn từ 60 - 65%, về mùa khô chế

độ ẩm thấp, cây trồng thường thiếu nước vào vụ đông Lượng bốc hơi không vượt quá 1.200mm, tỷ lệ bốc hơi so với lượng thì lượng bốc hơi lại ít và ngược lại những tháng khô hanh mưa không đáng kể nhưng lượng bốc hơi lại cao

Từ các yếu tố khí hậu đặc trưng trên cho thấy: khí hậu, thời tiết trong vùng thích hợp trồng các loại cây có nguồn gốc ôn đới như: chè, trẩu, thông, thảo quả, ngô, lúa nước Chăn nuôi đại gia súc như: trâu, ngựa, dê, Tuy nhiên do lượng mưa lớn nên gây không ít khó khăn trong việc đi lại, đất đai bị xói mòn Mùa khô lạnh, nhiệt độ thấp gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp

Hệ thống thủy văn của huyện tương đối phong phú, mạng lưới sông suối của huyện phân bố khá đồng đều, có một sông lớn chảy qua địa bàn huyện là sông Chảy

có lưu lượng nước tương đối lớn Ngoài ra, còn có hệ thống các suối nhỏ và các khe lạch cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt Tuy nhiên do địa hình của huyện có độ dốc lớn, bị chia cắt mạnh nên khả năng khai thác để phục vụ sản xuất nông nghiệp bị hạn chế, đồng thời dễ bị cạn kiệt nước trong mùa khô gây khó khăn cho sản xuất và đời sống

Theo số liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2016, tổng diện tích tự nhiên huyện Xín Mần 58.702,22 ha, trong đó: sử dụng vào mục đích nông nghiệp là 35.726ha, chiếm 60,86%; sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp là 13.293 ha chiếm 22,64%; đất chưa sử dụng còn 9.682 ha chiếm 16,50% diện tích tự nhiên

Kết quả điều tra phân loại đất trên bản đồ toàn huyện có 7 loại đất chính phân thành 4 nhóm, đó là: nhóm đất phù sa; nhóm đất đỏ vàng; nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi và nhóm đất mùn trên núi cao

Ngày đăng: 15/03/2018, 15:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w