1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)

99 272 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

–––––––––––––––––––––––––

HÀ THỊ NHƯỢNG

NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH NAM XUÂN LẠC, TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

–––––––––––––––––––––––––

HÀ THỊ NHƯỢNG

NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH NAM XUÂN LẠC, TỈNH BẮC KẠN

Chuyên ngành: Khoa học môi trường

Mã số: 60.44.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Chí Hiểu

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Hà Thị Nhượng

Học viên cao học khóa 23 chuyên ngành: Khoa học môi trường Niên khóa 2015 - 2017 Tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

Đến nay tôi đã hoàn thành luận văn nghiên cứu cuối khóa học Tôi xin cam đoan:

- Đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện

- Số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực

- Các kết luận khoa học trong luận văn chưa từng ai công bố trong các nghiên cứu khác

- Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên./

Thái nguyên, ngày tháng năm 2017

NGƯỜI CAM ĐOAN

Hà Thị Nhượng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành theo chương trình đào tạo cao học khoá 23 trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất tới Ban lãnh đạo

và cán bộ Ban quản lý Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc; Khoa Sau đại học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; và đặc biệt là thầy giáo

TS Nguyễn Chí Hiểu, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập và thực hiện luận văn

Mặc dù đã hết sức cố gắng nghiên cứu, làm việc để hoàn thiện luận văn, song do hạn chế về mặt thời gian và trình độ, nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cám ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Tác giả

Hà Thị Nhượng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Yêu cầu của đề tài 2

4 Ý nghĩa khoa học 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

1.1.2 Cơ sở pháp lý 5

1.2 Vấn đề Đa dạng sinh học trên thế giới và Việt Nam 6

1.2.1 Đa dạng sinh học trên thế giới 6

1.2.2 Vấn đề Đa dạng sinh học tại Việt Nam 7

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 19

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu: KBT Nam Xuân Lạc, tỉnh Bắc Kạn 19

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 19

2.3 Nội dung nghiên cứu 19

Trang 6

2.4 Phương pháp nghiên cứu 20

2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu, thông tin thứ cấp: 20

2.4.2 Phương pháp kế thừa Error! Bookmark not defined 2.4.3 Phương pháp phỏng vấn 20

2.4.4 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 21

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

3.1 Tổng quan về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc 25

3.1.1 Vị trí địa lý 25

3.1.2 Đặc điểm tự nhiên 26

3.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 28

3.2 Hiện trạng và giá trị đa dạng sinh học KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc 37

3.2.1 Hiện trạng đa dạng sinh học KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc 37

3.2.2 Giá trị đa dạng sinh học 47

3.3 Cơ hội và tiềm năng dịch vụ du lịch 47

3.4 Các nguyên nhân làm suy giảm đa dạng sinh học 50

3.4.1 Nguyên nhân do con người gây ra 54

3.4.2 Sự xâm lấn của sinh vật ngoại lai gây hại 57

3.4.3 Một số nguyên nhân gián tiếp khác 58

3.5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học KBT Nam Xuân Lạc tỉnh Bắc Kạn 63

3.5.1 Giải pháp chung 63

3.5.2 Giải pháp riêng cho KBT Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc 71

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC 85

Trang 7

NNPTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TNMT Tài nguyên và Môi trường

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Dân số, thành phần dân tộc và tình trạng đói nghèo ở các xã

xung quanh Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc dự kiến mở rộng 29Bảng 3.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp năm 2016 ở vùng đệm Khu bảo

tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc 30Bảng 3.3: Diện tích một số loài cây trồng chính ở vùng đệm thuộc Khu

bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc 31Bảng 3.4: Hiện trạng rừng và sử dụng đất của Khu bảo tồn loài và sinh

cảnh Nam Xuân Lạc 34Bảng 3.5: Thành phần thực vật trong khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam

Xuân Lạc 39Bảng 3.6: Đặc điểm khu hệ thú tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam

Xuân Lạc 43Bảng 3.7: Danh mục các loài động vật quý hiếm, nguy cấp theo NĐ

32/2006/NĐ-CP và Sách đỏ Việt Nam 44Bảng 3.8: Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức về du lịch

sinh thái trong Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc 48Bảng 3.9: Tổng hợp điều tra nhận thức của người dân về đa dạng sinh học 51Bảng 3.10: Tổng hợp công tác quản lý và bảo vệ rừng Khu bảo tồn loài và

sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 52Bảng 3.11: Các nhóm giải pháp 77

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Rừng kín thường xanh mưa mùa ở địa hình thấp 38 Hình 3.2 Rừng kín thường xanh mưa mùa cây lá rộng trên núi đá vôi ở

địa hình thấp và núi thấp 39

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự đa dạng về sinh học chính là sự đa dạng của sự sống trên Trái đất Khái niệm bao gồm các loài thực vật, động vật và vi sinh vật trên cạn, ở sông

hồ và biển Đa dạng sinh học gồm 3 mức độ: loài, hệ sinh thái và thông tin di truyền/nguồn gen

ĐDSH ở Việt Nam có ý nghĩa to lớn trong đời sống tự nhiên và con người, thể hiện qua chức năng và tầm quan trọng của các hệ sinh thái Không chỉ là nơi cư trú, môi trường sống của nhiều loài sinh vật, các HST còn có chức năng cung cấp các loại hình dịch vụ như dịch vụ cung cấp, dịch vụ văn hóa, dịch vụ điều tiết, dịch vụ hỗ trợ

Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, hiện có 03 Khu bảo tồn gồm: Vườn Quốc gia Ba Bể; Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ; Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc

Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc (KBT Nam Xuân Lạc),

là khu vực đặc trưng cho hệ sinh thái rừng trên núi đá của miền Bắc Việt Nam, hệ động thực vật ở đây đa dạng và phong phú Với vị trí của KBT Nam Xuân Lạc nằm giữa Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang và Vườn Quốc gia Ba

Bể (VQG Ba Bể) nên được coi như hành lang bảo vệ, là nơi giao lưu qua lại của các loài động vật Ngoài ra, nơi đây còn có giá trị phòng hộ đầu nguồn điều tiết nguồn nước, điều hòa khí hậu cho các xã thuộc huyện Chợ Đồn và

Ba Bể tỉnh Bắc Kạn Với những đòi hỏi về sự cần thiết bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo vệ giá trị nguồn gen của khu rừng, bảo vệ giá trị phòng hộ môi trường, an ninh quốc phòng, bảo vệ các giá trị về kinh tế du lịch, môi trường Được sự nhất trí của nhà trường, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Chí

Hiểu, Tôi tiến hành thực hiện luận văn: “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất

giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, tỉnh Bắc Kạn”

Trang 11

2 Mục tiêu của đề tài

2.1 Mục tiêu tổng quát

Góp phần bảo tồn được các hệ sinh thái đặc trưng, đặc biệt là hệ sinh thái rừng núi đá vôi; các loài động thực vật quý hiếm trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn nói chung và tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc nói riêng Khai thác và sử dụng bền vững các tiềm năng về đa dạng sinh học, cảnh quan, dịch vụ môi trường rừng, sinh thái và các công trình của KBT cho nghiên cứu khoa học, tuyên truyền giáo dục và phát triển du lịch sinh thái

3 Yêu cầu của đề tài

- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội ảnh hưởng đến bảo tồn đa dạng sinh học Khu Bảo tồn Loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc

- Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học Khu Bảo tồn Loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc

- Nghiên cứu nguyên nhân suy giảm đa dạng sinh học KBT

- Đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học KBT

- Số liệu thu được phản ánh trung thực, khách quan

- Những kiến nghị đưa ra phải có tính khả thi và phù hợp với điều kiện

thực tiễn tại địa phương

Trang 12

- Là tài liệu tham khảo quan trọng cho các ngành khoa học có liên quan như nông, lâm nghiệp, du lịch sinh thái, bảo vệ sức khỏe cộng đồng

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Góp phần vào việc đánh giá hiệu quả của việc đầu tư cho công tác bảo tồn ĐDSH của tỉnh cũng như hỗ trợ về giá trị kinh tế của tỉnh Bắc Kạn

- Góp phần nâng cao trình độ chuyên môn cho các cán bộ địa phương

có đầy đủ kiến thức để thường xuyên giám sát, đánh giá hiện trạng ĐDSH

và xu hướng biến đổi của nó, để chủ động có những biện pháp kịp thời ứng phó với BĐKH tác động đến ĐDSH nhằm bảo vệ và phát triển tài nguyên sinh vật của tỉnh

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Theo Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 được Quốc hội khóa XII,

kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, một số khái niệm cơ bản như sau [7]

Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái

trong tự nhiên

Gen là một đơn vị di truyền, một đoạn của vật chất di truyền quy định

các đặc tính cụ thể của sinh vật

Hệ sinh thái là quần xã sinh vật và các yếu tố phi sinh vật của một khu

vực địa lý nhất định, có tác động qua lại và trao đổi vật chất với nhau

Hệ sinh thái tự nhiên là hệ sinh thái hình thành, phát triển theo quy luật

tự nhiên, vẫn còn giữ được các nét hoang sơ

Bảo tồn đa dạng sinh học là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh

thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền

Khu bảo tồn thiên nhiên (sau đây gọi là khu bảo tồn) là khu vực địa lý

được xác lập ranh giới và phân khu chức năng để bảo tồn đa dạng sinh học

Loài hoang dã là loài động vật, thực vật, vi sinh vật và nấm sinh sống và

phát triển theo quy luật

Loài bị đe dọa tuyệt chủng là loài sinh vật đang có nguy cơ bị suy giảm

hoàn toàn số lượng cá thể

Trang 14

Loài bị tuyệt chủng trong tự nhiên là loài sinh vật chỉ còn tồn tại trong điều

kiện nuôi, trồng nhân tạo nằm ngoài phạm vi phân bố tự nhiên của chúng

Loài đặc hữu là loài sinh vật chỉ tồn tại, phát triển trong phạm vi phân

bố hẹp và giới hạn trong một vùng lãnh thổ nhất định của Việt Nam mà không được ghi nhận là có ở nơi khác trên thế giới

Loài ngoại lai là loài sinh vật xuất hiện và phát triển ở khu vực vốn

không phải là môi trường sống tự nhiên của chúng

Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc

gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển

Loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ là loài hoang dã, giống

cây trồng, giống vật nuôi, vi sinh vật và nấm đặc hữu, có giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môi trường hoặc văn hóa - lịch sử

mà số lượng còn ít hoặc bị đe dọa tuyệt chủng

Phát triển bền vững đa dạng sinh học là việc khai thác, sử dụng hợp lý

các hệ sinh thái tự nhiên, phát triển nguồn gen, loài sinh vật và bảo đảm cân bằng sinh thái phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

1.1.2 Cơ sở pháp lý

- Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2009

- Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 được Quốc hội thông qua

ngày 23/6/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015

- Nghị định số 65/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết về một số Điều của Luật Đa dạng sinh học

- Nghị định số 69/2010/NĐ-CP ngày 21/6/2010 về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen;

- Nghị định số 108/2011/NĐ-CP ngày 30/11/2011 của Chính phủ sửa đổi nghị định 69/2010/NĐ-CP ngày 21/6/2010 về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen;

Trang 15

- Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg ngày 31/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia về đa đạng sinh học đến năm

2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện công ước đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học”;

- Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;

- Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 08/1/2014 của Thủ tướng Chính phủ

về phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;

- Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐND ngày 11/4/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc thông qua Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Bắc Kạn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030

1.2 Vấn đề Đa dạng sinh học trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Đa dạng sinh học trên thế giới

Sự đa dạng về sinh học hay sự đa dạng sinh học nói một cách ngắn gọn chính là sự đa dạng của sự sống trên Trái đất Khái niệm bao gồm các loài thực vật, động vật và vi sinh vật trên cạn, ở sông hồ và biển Đa dạng sinh học gồm 3 mức độ: loài, hệ sinh thái và thông tin di truyền/nguồn gen [13]

Đa dạng sinh học có giá trị riêng của nó Hầu hết các nền văn hóa trên thế giới đều tôn thời giá trị tự nhiên, đất đai và cuộc sống trong truyền thống, tín ngưỡng và tâm linh, trong giáo dục, sức khỏe và các hoạt động mang tính giải trí của chúng Nhưng nhân loại cũng phụ thuộc vào đa dạng sinh học, những hàng hóa và dịch vụ mà nó cung cấp

Có khoảng 10 đến 30 triệu loài động vật, thực vật và vi sinh vật khác nhau sinh sống trên hành tinh của chúng ta, chúng sống trên cạn, trong lòng đất, vùng nước ngọt và biển khơi Khoảng 2 triệu loài thực vật và động vật được biết tới và được mô tả Hàng năm các nhà khoa học phát hiện được

Trang 16

khoảng 15.000 loài mới Một số loài phổ biến trên toàn Thế giới, còn số loài khác rất hiếm Thậm chí có một số loài chỉ tìm thấy ở một nói duy nhất Chẳng hạn như Úc là đất nước có nhiều loài chuột túi khác nhau, những loài

mà chúng ta không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác trên Hành tinh Nhiều loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng được ghi nhận chỉ sinh sống ở một khu vực duy nhất

Theo báo cáo độc lập của nhóm nghiên cứu trong khuôn khổ dự án Khắc phục trở ngại nhằm tăng cường hiệu quả quản lý các khu bảo tồn ở Việt Nam (Dự án PA), phân tích các mô hình quản lý đa dạng sinh học áp dụng tại một

số nước trên thế giới Trong khổ nghiên cứu này tập trung vào 40 quốc gia, bao gồm các quốc gia có nền kinh tế phát triển và đang phát triển, các khu vực địa lý khác nhau và các mức độ đa dạng sinh học khác nhau trên khắp các châu lục Theo kết quả nghiên cứu, mô hình quản lý đa dạng sinh học phổ biến nhất là phân cấp (chiếm 52,5% mẫu nghiên cứu) là quản lý hành chính phân cấp từ trên xuống dưới, với cơ quan quản lý cấp trên nằm ở cấp liên bang/cấp quốc gia, cơ quan quản lý bên dưới là cấp bang/tỉnh và địa phương; hơn một nửa số nước được nghiên cứu trong báo cáo quản lý rừng và bảo tồn

đa dạng sinh học trong cùng một Bộ (58%); 90% số nước được nghiên cứu quản lý các khu bảo tồn và đa dạng sinh học trong cùng một Bộ Mô hình tổ chức quản lý động vật hoang dã, nguồn gen và các nguồn tài chính rất khác nhau ở các quốc gia được nghiên cứu

Nghiên cứu này chỉ ra rằng các khu bảo tồn và đa dạng sinh học được quản lý hiệu quả nhất khi được đặt trong cùng một Bộ, do về bản chất chúng

có những mối liên kết không thể tách rời

1.2.2 Vấn đề Đa dạng sinh học tại Việt Nam

Việt Nam được xem là một trong những nước thuộc Đông Nam Á giàu

về đa dạng sinh học và là một trong số các quốc gia có đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới Do sự khác biệt lớn về khí hậu, từ vùng gần xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình, đã tạo nên tính đa

Trang 17

dạng sinh học cao ở Việt Nam Với nhiều kiểu hệ sinh thái, các loài sinh vật

và nguồn gen phong phú và đặc hữu ĐDSH ở Việt Nam có ý nghĩa to lớn, các HST với nguồn tài nguyên sinh vật phong phú đã mang lại lợi ích trực tiếp cho con người và đóng góp to lớn cho nền kinh tế quốc ga, đặc biệt là trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; duy trì nguồn gen tạo giống vật nuôi, cây trồng; cung cấp vật liệu cho xây dựng và các nguồn dược liệu, thực phẩm… Giá trị ĐDSH cung cấp khoảng 80% thủy sản ven bờ, 40% lương thực cho người dân,… Các HST

có tính ĐDSH cao đang thu hút nhiều khách du lịch, hứa hẹn đem lại nhiều giá trị về kinh tế

HST ở Việt Nam rất đa dạng, trong đó có 3 nhóm chính: HST trên cạn, HST đất ngập nước và HST biển

- HST trên cạn: Trên phần lãnh thổ vùng lục địa ở Việt Nam, có thể phân biệt các kiểu HST trên cạn đặc trưng như: rừng, đồng cỏ, savan, đất khô hạn, đô thị, nông nghiệp, núi đá vôi Trong các kiểu HST ở cạn, thì HST rừng

có tính đa dạng về thành phần loài cao nhất, đồng thời đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài động vật, thực vật hoang dã có giá trị kinh tế và khoa học Tổng diện tích hệ sinh rừng khoảng 32 triệu ha và tập trung nhiều ở các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Mục tiêu trong thời gian tới là sẽ tăng độ che phủ rừng lên 44 - 45% vào năm 2020, góp phần đáp ứng các yêu cầu về môi trường cho quá trình phát triển bền vững của đất nước

- HST đất ngập nước: ĐNN Việt Nam rất đa dạng về kiểu loại với hơn

10 triệu ha, phân bố ở hầu hết các vùng sinh thái của nước ta, gắn bó lâu đời với cộng đồng dân cư và có vai trò to lớn đối với đời sống nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội

- HST thuỷ vực nước ngọt rất đa dạng bao gồm các thuỷ vực nước đứng như hồ, hồ chứa, ao, đầm, ruộng lúa nước; các thuỷ vực nước chảy như

Trang 18

suối, sông, kênh rạch Trong đó, một số kiểu có tính ĐDSH cao như suối vùng núi đồi, đầm lầy than bùn với nhiều loài động vật mới cho khoa học

đã được phát hiện Các HST sông, hồ ngầm trong hang động cát tơ còn ít được nghiên cứu

- HST biển: Theo thống kê, Việt Nam có 20 kiểu HST biển điển hình Dựa trên kết quả những kết quả nghiên cứu và phân tích các kiểu HST biển với các đặc trung về điều kiện tự nhiên và môi trường biển, đặc biệt tính ĐDSH của rạn san hô, có thể phân chia vùng biển Việt Nam thành 6 vùng ĐDSH Các kết quả nghiên cứu cho thấy các kiểu HST rạn san hô, thảm cỏ biển quanh các đảo ven bờ là nơi có mức ĐDSH biển cao nhất đồng thời cũng rất nhạy cảm với những biến đổi của môi trường Trong các vùng biển của Việt Nam, quần đảo Trường Sa là vùng có tính đa dạng của rạn san hô cao nhất thế giới

Đa dạng sinh học ở Việt Nam có ý nghĩa to lớn, các HST với nguồn tài nguyên sinh vật phong phú đã mang lại những lợi ích trực tiếp cho con người

và đóng góp to lớn cho nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; duy trì nguồn gen tạo giống vật nuôi, cây trồng; cung cấp vật liệu cho xây dựng và các nguồn dược liệu, thực phẩm… Giá trị ĐDSH cung cấp khoảng 80% thủy sản khai thác ven bờ, 40% lượng protein cho người dân Các HST có tính ĐDSH cao đang thu hút nhiều khách du lịch, hứa hẹn đem lại nhiều giá trị về kinh tế 70% tăng trưởng du lịch là từ các vùng duyên hải giàu tính ĐDSH Ngoài ra, trong bối cảnh ô nhiễm ngày càng gia tăng, BĐKH đang trở nên khắc nghiệt hơn thì vai trò ứng phó với BĐKH của các HST càng quan trọng ĐDSH ở Việt Nam có ý nghĩa to lớn trong đời sống tự nhiên và con người, thể hiện qua chức năng và tầm quan trọng của các HST Không chỉ là nơi cư trú, môi trường sống của nhiều loài sinh vật, các HST còn có chức năng cung cấp các loại hình dịch vụ như sau:

Trang 19

Dịch vụ cung cấp: HST mang đến những lợi ích trực tiếp cho con

người, thường có giá trị kinh tế rõ ràng, đóng góp lớn cho nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp thủy sản; là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực của đất nước; duy trì nguồn gen tạo giống vật nuôi, cây trồng; cung cấp các vật liệu xây dựng và các nguồn nguyên liệu, dược liệu; cung cấp 80% lượng thủy sản khai thác từ vùng biển ven bờ và đáp ứng 40% lượng protein cho người dân Nghề thủy sản đem lại nguồn thu nhập chính cho khoảng 8 triệu người và một phần thu nhập cho khoảng 12 triệu người

Dịch cụ văn hóa: HST không chỉ cung cấp những lợi ích vật chất trực

tiếp mà còn đóng góp vào những nhu cầu lớn hơn của xã hội Các HST có tính ĐDSH cao cung cấp giá trị vô cùng to lớn cho ngành giải trí ở Việt Nam với các loại hình du lịch sinh thái đang dần dần phát triển, hứa hẹn đem lại nhiều giá trị kinh tế và góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của ĐDSH và công tác bảo tồn thiên nhiên Theo báo cáo của 14/30 VQG và các khu BTTN, năm 2011 đã đón tiếp 728.000 lượt khách, với tổng doanh thu trên 30 tỷ đồng

Dịch vụ điều tiết: Dịch vụ điều tiết bao gồm: sự điều hòa khí hậu thông

qua lưu trữ cacbon và kiểm soát lượng mưa, lọc không khí và nước, phân hủy các chất thải trong môi trường, giảm nhẹ những tác hại của thiên tai như lở đất hay bão lũ Giá trị lưu giữ và hấp thụ cacbon của rừng Việt Nam là rất đáng kể, đặc biệt là rừng tự nhiên Giá trị này tỷ lệ thuận với trữ lượng và sinh khối rừng Kết quả nghiên cứu đã xác định: Giá trị lưu trữ cacbon của rừng tự nhiên là 35 - 38 triệu đồng/ha/năm và giá trị hấp thụ cacbon hàng năm khoảng 0,4 - 1,3 triệu đồng/ha/năm với miền Bắc Ở miền Trung giá trị lưu trữ cacbon

từ 37 - 91 triệu đồng/ha/năm và giá trị hấp thụ cacbon là 0,5 - 1,5 triệu đồng/ha/năm Ở miền Nam giá trị lưu trữ cacbon là 46 - 91 triệu đồng/ha/năm

và giá trị hấp thụ cacbon là 0,6 - 1,5 triệu đồng/ha/năm

Trang 20

Dịch vụ hỗ trợ: Đây là yếu tố thiết yếu trong các chức năng của HST và

gián tiếp ảnh hưởng đến tất cả các loại dịch vụ khác Có thể ví dụ về dịch vụ

hỗ trợ như sự hình thành đất hay quá trình sinh trưởng của thực vật Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm phải chịu từ 5 đến 8 cơn bão và

áp thấp nhiệt đới kèm theo mưa lớn Các nghiên cứu cho thấy, hệ thống rễ dày đặc của các loài cây rừng ngập mặn có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ đất ven biển và vùng cửa sông Chúng vừa ngăn chặn hiệu quả sự công phá bờ biển của sông, vừa làm vật cản cho trầm tích lắng đọng như giữ hoa lá, cành rụng trên mặt bùn và phân hủy tại chỗ nên bảo vệ được đất Một số loài cây tiên phong như Mắm biển, Mắm trắng, Bần trắng sinh trưởng trên đất bồi non

có khả năng giữ đất phù sa, mở rộng đất liền ra phía biển như ở vùng Tây Nam mũi Cà Mau, dọc sông Đồng Tranh, Cần Giờ, TP.Hồ Chí Minh, các bãi bồi ở cửa sông Hồng

a Quy hoạch các hệ sinh thái quan trọng ở Việt Nam

Quy hoạch tổng thể bảo tồn ĐDSH của cả nước đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 08/01/2014 (sau đây gọi tắt là Quy hoạch tổng thể) đã quy hoạch các HST tự nhiên, quan trọng trên cả nước như sau:

- Vùng Đông Bắc: Bảo vệ các HST rừng tự nhiên lưu vực sông Hồng, sông Lô, sông Gâm; HST núi đá vôi tại Tuyên Quang, Hà Giang, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Cao Bằng, Quảng Ninh; HST đất ngập nước tại Đầm Hà, Yên Hưng (Quảng Ninh)

- Vùng Tây Bắc: Bảo vệ các HST rừng tự nhiên lưu vực sông Đà, sông Mã; rừng ở các đai cao trên 1.500 m tại Lào Cai, Sơn La

- Vùng Đồng bằng sông Hồng: Bảo vệ HST rừng ngập mặn tự nhiên tại Hải Phòng, Thái Bình; các HST đất ngập nước quan trọng tại Ninh Bình, Nam Định

Trang 21

- Vùng Bắc Trung Bộ: Bảo vệ HST rừng nguyên sinh tại Nghệ An, Hà Tĩnh; rừng tự nhiên lưu vực sông Mã, sông Cả, sông Gianh; rừng ngập mặn ven biển tại Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa; HST núi đá vôi ở Thanh Hoá và Quảng Bình; HST đầm phá Tam Giang - Cầu Hai tại Thừa Thiên Huế

- Vùng Nam Trung Bộ: Bảo vệ các hệ sinh thái rừng tự nhiên lưu vực sông Cái (tỉnh Phú Yên, Ninh Thuận, Khánh Hòa), sông Côn, sông Đà Rằng, sông Ba, sông Trà Khúc, sông Thu Bồn; HST rừng khộp tại Ninh Sơn (Ninh Thuận), Hoàn Giao (Khánh Hòa); các rạn san hô, thảm cỏ biển tại Cù Lao Chàm, Ninh Hải, vịnh Vĩnh Hy, vịnh Cam Ranh, đầm Thủy Triền, vịnh Vân Phong; HST đất ngập nước khu vực đầm Thị Nại, Trà Ổ, Cù Mông, Ô Loan, Nha Phu

- Vùng Tây Nguyên: Bảo vệ HST rừng nguyên sinh gồm: rừng trên núi trung bình (Ngọc Linh, Chư Yang Sin), rừng nửa rụng lá (rừng bằng lăng), rừng rụng lá cây họ Dầu (rừng khộp); rừng tự nhiên lưu vực sông Sê San, sông Ba, sông Đồng Nai

- Vùng Đông Nam Bộ: Bảo vệ HST rừng nguyên sinh; các HST rạn san

hô, thảm cỏ biển tại Cà Ná, Côn Đảo; HST đất ngập nước tại đầm Thị Nại, rừng ngập mặn Cần Giờ

- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Bảo vệ và phát triển bền vững 30.000 ha HST rừng ngập mặn tự nhiên; HST các rạn san hô, thảm cỏ biển tại Phú Quốc; các HST rừng ngập mặn và HST rừng tràm tại Tràm Chim, U Minh, Trà Sư

b Hiện trạng thành lập và quản lý khu bảo tồn ở Việt Nam

Trong vài thập kỷ qua, các khu bảo tồn thiên nhiên trên thế giới đang có xu hướng tăng cả về số lượng và diện tích, Việt Nam cũng nằm trong xu hướng đó Năm 2005, nước ta có số lượng các khu bảo tồn (rừng đặc dụng) là 126 khu thì

Trang 22

đến năm 2015, số lượng này tăng lên là 166 khu, trong đó vườn quốc gia tăng

1 khu, nâng tổng số vườn quốc gia lên 31 khu

* Hiện trạng thành lập các khu bảo tồn ở Việt Nam

Năm 1962, khu bảo tồn (KBT) đầu tiên được thành lập trong hệ thống KBT của Việt Nam có tên gọi là khu “rừng cấm” Cúc Phương Từ đó đến nay, hệ thống các KBT trên cạn đã được thiết lập và quản lý theo Luật Bảo vệ

và Phát triển rừng với 180 khu bao gồm: 30 vườn quốc gia, 58 khu dự trữ thiên nhiên, 16 KBT loài - sinh cảnh, 56 khu bảo vệ cảnh quan và 20 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm Các HST ở vùng ĐNN và vùng biển có giá trị ĐDSH cao đã được Chính phủ quy hoạch thành 45 KBT vùng nước nội địa tại Quyết định số 1479/QĐ-TTg ngày 13/10/2008, 16 KBT biển tại Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 26/5/2010 và 47 KBT ĐNN tại Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 08/01/2014 Tuy nhiên, đến nay chỉ có sáu (06) KBT biển được thành lập với mục tiêu bảo tồn ĐDSH biển Một số KBT vùng nước nội địa đã được quy hoạch chi tiết nhưng chưa được thành lập Các KBT ĐNN đã hình thành và nhiều khu tồn tại dưới hình thức là KBT rừng đặc dụng như VQG Xuân Thuỷ, Mũi Cà Mau, U Minh Thượng; KBT thiên nhiên Tiền Hải, Thạnh Phú, Láng Sen Các KBT trên được thành lập và quản lý theo cả Luật Thuỷ sản và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng Năm 2008, Luật ĐDSH ra đời đã

bổ sung thêm hành lang pháp lý quan trọng cho công tác quản lý ĐDSH và KBT của Việt Nam Đây cũng là văn bản pháp lý cao nhất quy định trực tiếp

về phân cấp, phân hạng KBT thống nhất trên toàn quốc [18]

Căn cứ vào tiêu chí KBT theo quy định của Luật ĐDSH, Bộ Tài nguyên

và Môi trường đã xây dựng báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả rà soát KBT và ban hành danh mục KBT của Việt Nam tại Quyết định số 1107/QĐ-BTNMT ngày 12/5/2015 của Bộ trưởng Bộ TNMT, bao gồm 166 khu được phân hạng như sau: 31 vườn quốc gia, 64 khu dự trữ thiên nhiên, 16 khu bảo

Trang 23

tồn loài - sinh cảnh và 55 khu bảo vệ cảnh quan Trong đó, đề xuất nâng cấp

01 khu dự trữ thiên nhiên Núi Phia Oắc thành Vườn quốc gia Phia Đén - Phia Oắc; nâng cấp 01 KBT loài sinh cảnh Lung Ngọc Hoàng và 02 KBT biển Bạch Long Vĩ và Cù Lao Chàm thành khu dự trữ thiên nhiên [18]

* Hiện trạng thể chế, chính sách quản lý khu bảo tồn ở Việt Nam

Hệ thống thể chế chính sách về quản lý KBT ở Việt Nam đang ngày càng được hoàn thiện và góp phần quan trọng trong công tác bảo tồn ĐDSH của Việt Nam như: Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Quyết định số 218/QĐ-TTg ngày 07/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quản lý hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 5/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2030 và nhiều văn bản, Nghị định hướng dẫn Luật có liên quan Tuy nhiên, quá trình thực thi các chính sách và văn bản này còn gặp nhiều khó khăn, bất cập Nguyên nhân chủ yếu là sự khác biệt về quy định phân hạng, phân khu chức năng trong khu bảo tồn và các bất cập trong quy định quản lý khu bảo tồn [14]

Hiện nay, một số KBT đất ngập nước tồn tại trong hệ thống rừng đặc dụng và đang được điều chỉnh bởi cả 03 Luật (Luật Thuỷ sản năm 2003, Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật ĐDSH năm 2008) Mặc dù, vùng nước nội địa là một hợp phần của vùng đất ngập nước (đất ngập nước bao gồm đất ngập nước nội địa và đất ngập nước ven biển) nhưng các quy định về quản lý vùng nước nội địa, vùng đất ngập nước và các KBT của loại hình HST này khác biệt nhau trong Luật Thuỷ sản, Luật ĐDSH và các Nghị định hướng dẫn các Luật này [14]

Trang 24

Như vậy, cùng một đối tượng là các KBT thuộc các HST trên cạn, đất ngập nước, biển nhưng đều được quản lý bởi các Bộ, ngành khác nhau và văn bản khác nhau, đặc biệt là chưa thống nhất trong loại hình KBT vùng nước nội địa và KBT đất ngập nước, dẫn đến việc thành lập KBT đất ngập nước trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn và do vậy, các giá trị ĐDSH tại các vùng đất ngập nước đã và đang có nguy cơ suy thoái rất nhanh [14]

Qua thực tế nêu trên cho thấy, đến nay các quy định về KBT và quản lý KBT vẫn chưa được thực hiện thống nhất trong các Luật và văn bản hướng dẫn Luật có liên quan [18]

* Một số khó khăn, vướng mắc trong quản lý khu bảo tồn

Mặc dù Việt Nam đã có nhiều thành công trong việc quy hoạch, thiết lập

và quản lý hệ thống KBT nhằm đẩy mạnh công tác bảo tồn ĐDSH trên cả nước Tuy nhiên, công tác quản lý KBT hiện nay đang gặp nhiều thách thức:

- Các KBT được phân hạng và quản lý theo loại hình HST khác nhau, nên dẫn tới sự chồng chéo và mâu thuẫn về phân hạng trong hệ thống các KBT, sự không thống nhất về phân khu chức năng và vùng đệm của các KBT Qua đó, cho thấy việc xây dựng và ban hành các quyết định quản lý, đặc biệt

cơ chế, chính sách cho từng kiểu loại KBT là việc không thể thực hiện được, đặc biệt trong điều kiện kinh tế-xã hội Việt Nam

- Về tiêu chí, tiêu chuẩn để xác lập các KBT thiên nhiên thiếu và chưa

rõ ràng, khó áp dụng

- Hệ thống các văn bản điều chỉnh các KBT thiếu, chưa đồng bộ và có những quy định chưa rõ ràng, khó khả thi và việc phân công, phân cấp quản

lý KBT thiên nhiên còn chia cắt, chưa rõ về quyền hạn, trách nhiệm

- Việc thành lập các KBT còn nặng về quy mô diện tích mà chưa cân đối được khả năng quản lý, đáp ứng các nguồn lực tương ứng

Trang 25

- Tổ chức bộ máy quản lý KBT còn nhiều bất cập, đây là một trong những nguyên nhân chính hạn chế hiệu quả quản lý các KBT hiện nay ở Việt Nam

- Việc quản lý, vận hành các KBT chưa hoặc ít tiếp cận phương pháp,

kỹ thuật bảo tồn hiện đại

- Nhận thức về tầm quan trọng của các KBT chưa thực sự đầy đủ do thiếu thông tin về giá trị của ĐDSH và dịch vụ HST của KBT

- Nguồn lực đầu tư cho KBT hạn chế

Ở Việt Nam hiện nay, Bộ NNPTNT quản lý lâm nghiệp và phần lớn các khu bảo tồn trong khi đa dạng sinh học lại do Bộ TNMT quản lý

c Hiện trạng loài tại Việt Nam

* Nơi cư trú của động vật hoang dã vẫn bị thu hẹp do thay đổi phương thức sử dụng đất và số lượng cá thể các loài quý, hiếm có nguy cơ tuyệt chủng giảm

Trên cạn, các HST rừng tự nhiên, trong đó, các loại rừng giàu, trung bình thường xanh là nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang dã do vậy ĐDSH ở đây cao Nếu hoạt động chặt phá rừng tự nhiên còn tiếp tục cho các mục đích khác thì nơi cư trú của động vật hoang dã càng bị thu hẹp hoặc mất

đi Hiện tượng quần thể voi rừng hung dữ phá hoại nhà cửa, mùa màng và nghiêm trọng hơn là giết hại dân ở một số địa phương miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên có thể xem là phản ứng tự nhiên của bầy voi hoang dã khi nơi cư trú của chúng đã bị xâm hại và thu hẹp Hầu hết các loài thú hoang dã khác như hổ chỉ còn thấy dấu vết phân bố ở các khu bảo tồn Theo một số nguồn thông tin, hiện Việt Nam chỉ còn khoảng 30 cá thể hổ trong tự nhiên

Tổng số các loại động-thực vật được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam 2007 là

882 loài (418 loài động vật và 464 loại thực vật), tăng 161 loài so với giai đoạn 1992-1996 (Lần xuất bản thứ nhất của các tập Sách Đỏ Việt Nam) Trong giai đoạn này mức độ bị đe dọa của các loài chỉ mới dừng lại ở hạng

Trang 26

“nguy cấp-EN”, thì hiện nay đã có tới 10 loài động vật được xem đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên (EW) tại Việt Nam [18]

Số lượng các loài thuỷ sinh vật, đặc biệt các loài tôm, cá có giá trị kinh

tế bị giảm sút nhanh chóng Số lượng cá thể các loài cá nước ngọt quý hiếm,

có giá trị kinh tế, các loài có tập tính di cư bị giảm sút

Thống kê về hiện trạng các loài động vật nguy cấp, quý hiếm cho thấy nhiều loài đang ở mức báo động, đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao do nguyên nhân chính là việc khai thác quá mức và mất môi trường sống, đặc biệt trong đó có nhiều loài đặc hữu như: Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) ước tính chỉ còn khoảng 190 cá thể Đầu thế kỷ 20, loài này phân

bố ở rừng núi của 4 tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn và Thái Nguyên Hay loài voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) chỉ phân bó ở VQG Cúc Phương, khu BTTN Văn Long (Ninh Bình) và hiện chỉ còn khoảng 100

cá thể Tê giác Java Việt Nam (Rhinoceros sondaicus annamiticus) là một trong hai quần thể tê giác duy nhất còn sót lại trên Trái đất đã được xác nhận

bị tuyệt chủng tại Việt Nam vào năm 2010 [18]

* Các kết quả chính đã đạt được trong công tác bảo vệ các loài hoang

dã, loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ của Tổng cục Môi trường: Bảo tồn loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ là một trong những nhiệm vụ quan trọng đã được quy định trong Luật ĐDSH năm 2008

Để thực hiện quy định của Luật, Tổng cục Môi trường đã triển khai nhiều giải pháp cụ thể như: kiện toàn khung pháp lý, tăng cường giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức, tăng cường hợp tác quốc tế và thu hút sự quan tâm của các Bộ, ngành hữu quan đối với hoạt động bảo tồn các loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ Tổng cục Môi trường đã xây dựng và trình phê duyệt nhiều văn bản quan trọng nhằm tăng cường công tác bảo tồn và quản lý, bảo vệ hiệu quả các loài hoang dã, loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo

vệ như Nghị định số 160/2013/NĐ-CP; Thực hiện rà soát hệ thống pháp luật

Trang 27

hiện hành về quản lý, bảo tồn các loài nguy cấp, quý, hiếm nhằm xác định lộ trình chỉnh sửa và kiện toàn khung pháp lý và chính sách về bảo tồn các loài hoang dã, đặc biệt là loài nguy cấp, quý, hiếm [18]

- Về mặt quản lý: các chính sách, quy định pháp luật chưa đồng bộ, công tác bảo tồn ĐDSH nói chung và bảo tồn loài nói riêng chưa được quan tâm đúng mức Vấn đề bảo vệ các loài hoang dã, đặc biệt là các loài nguy cấp, quý, hiếm còn có sự chồng chéo về phân quyền, trách nhiệm quản lý giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường Chính

vì vậy, trong quá trình xây dựng văn bản triển khai Luật ĐDSH còn chưa đạt được sự thống nhất dẫn đến sự chậm ban hành các văn bản hướng dẫn, quản

lý, bảo tồn các loài Bên cạnh đó, vấn đề bảo tồn các loài hiện cũng được quy định rải rác tại nhiều văn bản liên quan đến bảo tồn ĐDSH và quản lý bảo vệ rừng đã gây khó khăn, thiếu hiệu quả trong quá trình quản lý, thực thi pháp luật Nguồn lực đầu tư cho công tác bảo tồn loài còn rất hạn chế, thiếu sự quan tâm hỗ trợ Lực lượng tài nguyên môi trường ở địa phương chưa được tăng cường năng lực để triển khai các quy định của Luật ĐDSH

- Nhận thức của toàn xã hội đối với công tác bảo tồn loài, bảo tồn ĐDSH còn nhiều hạn chế, một số bộ phận người dân vẫn có thói quen sử dụng các loài ĐVHD nguy cấp dẫn đến nạn săn bắt, buôn bán, tiêu thụ gia tăng và trở thành vấn đề nóng, bức xúc trong xã hội; nhận thức của các cấp, các ngành đã được nâng lên nhưng chưa đủ và chưa quyết liệt nhằm góp phần bảo tồn các loài nguy cấp, quý, hiếm một cách hiệu quả và toàn diện

Trang 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Hiện trạng đa dạng sinh học tại KBT Nam Xuân Lạc, tỉnh Bắc Kạn Các nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học tại KBT Nam Xuân Lạc, tỉnh Bắc Kạn

Công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học tại KBT Nam Xuân Lạc, tỉnh Bắc Kạn

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu: KBT Nam Xuân Lạc, tỉnh Bắc Kạn

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

+ Nghiên cứu được tiến hành từ 06/2016 - 08/2017

+ Nguồn cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu từ năm 2011 - 2015

2.3 Nội dung nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu 4 nội dung sau:

Nội dung 1: Đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, bao gồm:

- Vị trí địa lý

- Đặc điểm tự nhiên

- Đặc điểm kinh tế - xã hội

Trang 29

Nội dung 2: Phân tích, đánh giá hiện trạng và giá trị đa dạng sinh học KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, bao gồm:

- Phân tích, đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc

- Phân tích, đánh giá giá trị đa dạng sinh học KBT Nam Xuân Lạc

- Phân tích, đánh giá cơ hội và giá trị tiềm năng phát triển dịch vụ du lịch Nội dung 3: Phân tích, đánh giá các nguyên nhân dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học, bao gồm:

- Nguyên nhân do con người gây ra

- Nguyên nhân do sự xâm lấn của sinh vật ngoại lai gây ra

- Một số nguyên nhân gián tiếp khác

Nội dung 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần bảo tồn đa dạng sinh học KBT Nam Xuân Lạc tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập, kế thừa tài liệu, số liệu, thông tin thứ cấp

- Thu thập các tài liệu tổng quan về điều kiện kinh tế xã hội Khu bảo tồn

loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc

- Thu thập các kết quả điều tra đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn loài và

sinh cảnh Nam Xuân Lạc

- Các văn bản pháp quy về bảo tồn đa dạng sinh học, về công tác quản lý

bảo tồn đa dạng sinh học, … và các tài liệu có liên quan

- Kế thừa có chọn lọc các nghiên cứu trước đây về động, thực vật trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn do các tác giả trong và ngoài nước đã công bố, kết quả điều tra, thống kê đa dạng sinh học tỉnh Bắc Kạn năm 2014 - 2015 Tập trung

rà soát, tổng hợp số liệu đã có về tài nguyên sinh vật tỉnh Bắc Kạn

2.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp

Tiến hành phỏng vấn người dân, đại diện chính quyền địa phương, các cán bộ quản lý để thu thập các thông tin và số liệu cần thiết

Trang 30

+ 90 người dân trên địa bàn nghiên cứu

- Đối với Ban quan lý Khu bảo tồn: Lựa chọn 01 lãnh đạo Ban quản lý;

01 cán bộ hạt kiểm lâm, 01 cán bộ phụ trách mảng bảo tồn đa dạng sinh học

để phỏng vấn

- Đối với các xã nằm trong Khu bảo tồn: Lựa chọn 01 lãnh đạo UBND

xã, 01 cán bộ địa chính xã; 01 cán bộ phụ trách lâm nghiệp

- Lựa chọn ngẫu nhiên các hộ dân sống trong vùng lõi Khu bảo tồn loài

và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, cụ thể là 90 người dân sống tại các thôn của 03

xã vùng lõi Khu bảo tồn gồm: Xã Bản Thi, xã Đồng Lạc, xã Xuân Lạc Do những người dân sống trong vùng lõi tác động rất lớn đến bảo tồn đa dạng sinh học của Khu bảo tồn, và những người dân ở vùng lõi này cũng được hưởng lợi từ lợi ích của Khu bảo tồn

2.4.3 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu

Số liệu và thông tin tổng hợp về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội có liên quan đến bảo tồn ĐDSH của địa phương; Thông tin về tình hình quản lý, bảo vệ ĐDSH của địa phương; Các vấn đề ưu tiên đối với bảo tồn ĐDSH ở địa phương

Trang 31

Phương pháp điều tra, phân tích số liệu về hiện trạng ĐDSH: Nghiên cứu một số phương pháp đã thực hiện trong quá trình thực hiện nhiệm vụ điều tra, đánh giá đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn được thực hiện năm 2014-2015

Phương pháp nghiên cứu lưỡng cư, bò sát:

Phương pháp điều tra theo tuyến

Các tuyến và điểm điều tra được chọn đi qua các sinh cảnh đặc trưng nhất của khu vực nghiên cứu và được xác định trước vào ban ngày cho các chuyến đi đêm vì khoảng 90% thời gian nghiên cứu được tiến hành vào ban đêm (khoảng từ 18-19 giờ đến 23-24 giờ) Thường các tuyến nghiên cứu dựa theo các con suối nhỏ, các đường mòn hay khu vực có các vũng, ao, bãi lầy (là sinh cảnh đặc trưng cho các loài Bò sát, Lưỡng cư) Các nghiên cứu ban ngày chủ yếu tập trung vào việc xác định các tuyến làm đêm dựa vào việc đánh giá các dạng sinh cảnh, các đặc điểm sinh thái cũng như tập tính các loài

Bò sát, Lưỡng cư và tiến hành chụp ảnh chi tiết sinh cảnh sống của từng loài cũng như bản thân con vật khi thu được mẫu Những công việc trên được tiến hành với sự giúp đỡ của người địa phương thông thạo địa bàn

Phương pháp điều tra quan sát

Quan sát các dấu vết hoạt động của từng loài, sinh cảnh sống của nhiều loài được chụp ảnh và mô tả chi tiết: Hang ổ, thời gian, vị trí nơi tìm thấy con vật (trên cành, thân cây, độ cao cách mặt đất, khoảng cách đến mặt nước ), các yếu tố liên quan đến tập tính sinh sản của con vật mà ta có thể quan sát được như: mầu sắc ổ bọt trứng, hình dáng, kích thước, vị trí, số lượng trứng trong ổ

Điều tra phỏng vấn

Phỏng vấn là phương pháp rất có hiệu quả trong việc xác định sự có mặt của nhiều loài Bò sát, Lưỡng cư tại địa phương nhất là các loài có giá trị kinh tế, đang bị săn bắt Việc phỏng vấn được tiến hành chủ yếu nhằm vào các đối tượng hay tiếp xúc với các loài động vật hoang dã: Dân địa phương, thợ săn, những người buôn bán động vật sống, cán bộ kiểm lâm, dân đánh cá, Khi phỏng vấn chúng tôi dùng bộ ảnh mầu và những câu hỏi về những đặc điểm đặc trưng nhất về hình thái, mầu sắc, các đặc điểm sinh học, sinh thái của từng loài

Trang 32

Điều tra thống kê thông tin đã có

Các thông tin đã có được thu thập từ nhiều nguồn (công bố của các tác giả hay các dự án đã tiến hành có liên quan) được xử lý trong phòng thí nghiệm Mẫu vật được nhận dạng, so sánh với các tài liệu đã có hoặc các thông tin đã thu thập được để có một danh lục về thành phần loài, về phân bố của các loài theo các cảnh quan trong khu vực, về mật độ, giá trị kinh tế và khoa học, Các thông tin về các loài có giá trị kinh tế, về số lượng, mùa vụ, quy mô săn bắt, phương pháp săn bắt, được phân tích để có thể đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển

Định loại mẫu vật

Mẫu vật phần lớn có thể định loại ngay trên thực địa bởi các chuyên gia

về bò sát và lưỡng cư Những mẫu còn nghi ngờ được xem xét tại phòng thí nghiệm bằng cách tra cứu tài liệu, so sánh mẫu bảo tàng, trao đổi với chuyên gia Chúng tôi sử dụng các tài liệu về định loại, về thành phần loài của các tác giả: Orlov N L et al, 2002; Nguyễn Văn Sáng và cs., 2005; Nguyễn Văn Sáng, 2007; Frost D R et al, 2006

Đánh giá loài có giá trị bảo tồn

Các loài có giá trị bảo tồn được đánh giá dựa theo các tiêu chuẩn quốc gia theo Sách Đỏ Việt Nam, 2007 và tiêu chuẩn quốc tế theo Danh lục Đỏ IUCN, 2014

Phương pháp nghiên cứu thú:

Quan sát trong thiên nhiên

Các tuyến khảo sát thú đã được thiết lập ở các dạng sinh cảnh chính trong khu vực nghiên cứu Thời gian quan sát được tiến hành trong ngày từ 5h sáng đến 11h, chiều từ 4h đến 21h tối Sử dụng ống nhóm và mắt thường để quan sát sự hoạt động của các loài thú ngoài thiên nhiên cũng như dấu vết hoạt động của thú (dấu chân, phân, hang, tổ, vết xước cọ trên thân cây)

Trang 33

Sưu tầm mẫu vật

- Đối với các loài thú nhỏ (chuột, sóc, dơi ) mẫu được thu thập bằng cách sử dụng lưới mờ, bẫy thụ cầm, bẫy hộp, bấy đập victor và bẫy hố Các mẫu bắt sống sau khi định loại và được thả trở lại thiên nhiên, nơi bẫy bắt và thu thập mẫu vật trong dân như: mẫu nhồi, đầu, sọ, sừng, xương, da,

Phỏng vấn

Đối tượng phỏng vấn là nhân dân địa phương và cán bộ làm công tác bảo tồn Phỏng vấn bao gồm các bước sau: Nghe nhân dân và cán bộ làm công tác bảo tồn mô tả về những đặc điểm của loài thú họ thường xuyên bắt gặp, tên địa phương của những loài đó

Quan sát xác định các mẫu vật thú bị nhân dân địa phương săn bắt đang được nuôi tại nhà hoặc những di vật (xương, sừng, da, lông, vẩy, móng, ) của chúng ở các thôn, các mẫu vật đều được chụp ảnh làm tư liệu

Định loại mẫu vật

- Định loại và tên khoa học tham khảo theo các tài liệu sau: Corbet, G.B and J.B.Hill, 1992; Lekagul B., McNeely, 1988 Tên Việt Nam theo Đặng Huy Huỳnh và cs, 1994; Đặng Ngọc Cần và cs, 2008

- Nhận diện trên hiện trường bằng sách có hình ảnh hoặc hình vẽ màu của Francis, C.M., 2001; Nguyễn Vũ Khôi, Julia C Shaw, 2005; Phạm Nhật, Nguyễn Xuân Đặng, G Polet, 2001

- Phân tích trong phòng thí nghiệm dựa vào các tài liệu Động vật chí Việt Nam, 2007 Tập 25; Lekagul B., McNeely, 1988

Đánh giá giá trị bảo tồn

- Mức đa dạng về thành phần loài: Xác định tỷ lệ % các taxon (họ, loài) ghi nhận ở Khu vực nghiên cứu so sánh với một số khu vực có địa hình và sinh cảnh tương tự và tổng số taxon thú đã ghi nhận ở Việt Nam

- Các loài quý hiếm: Theo Sách đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục đỏ IUCN (2014)

Trang 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đánh giá về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc

3.1.1 Vị trí địa lý

Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc được UBND tỉnh Bắc Kạn phê duyệt tại Quyết định số 342/QĐ-UBND ngày 17/3/2004 với tổng diện tích tự nhiên là 1.788 ha nằm trên địa phận hai thôn Nà Dạ và Bản Khang thuộc xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, cách trung tâm thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn 35 km

Ngày 14/01/2014, UBND tỉnh Bắc Kạn ban hành Quyết định số 109/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2013-2020, theo đó Khu bảo tồn có diện tích 4.150,21 ha, trong đó Phân khu Bảo vệ nghiêm ngặt 2.552,50 ha; Phân khu phục hồi sinh thái 1.586,12 ha; Phân khu dịch vụ - hành chính 9,04 ha; Vùng đệm trong 8,01 ha, nằm trên địa bàn các xã: Xuân Lạc, Bản Thi, Đồng Lạc huyện Chợ Đồn Vùng đệm ngoài 16.371,53 ha nằm trên địa bàn 4 xã Xuân Lạc, Bản Thi, Đồng Lạc và Yên Thịnh, huyện Chợ Đồn

Về ranh giới hành chính, KBT Nam Xuân Lạc tiếp giáp như sau:

- Phía Đông giáp thôn Nà Áng, xã Đồng Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

- Phía Tây giáp xã Thanh Tương, xã Vĩnh Yên, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

- Phía Nam giáp thôn Phia Khao và thôn Khuổi Kẹn, xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

- Phía Bắc giáp thôn Bản Eng, Bản Tưn xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

Trang 35

KBT Nam Xuân Lạc nằm trong tọa độ địa lý: từ 22o17’-22o19’; 120 45' -

130 10' vĩ độ Bắc và từ 105o28’-105o33’ kinh độ Đông

Với diện tích 4.150,21 ha và chứa đựng hàng loạt các giá trị đa dạng sinh học có ý nghĩa quốc tế bao gồm cả những khu rừng đá vôi có chất lượng cao cuối cùng giữa Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang (tỉnh Tuyên Quang) và KBT Nam Xuân Lạc và VQG Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn)

3.1.2 Đặc điểm tự nhiên

* Đặc điểm địa hình và địa mạo

KBT Nam Xuân Lạc có địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh, chủ yếu là rừng trên núi đá vôi ở miền Bắc - Việt Nam, với độ cao trung bình từ 400 m đến 800 m so với mực nước biển, đỉnh Tam Sao cao nhất 1.159 m và chia thành 2 vùng rõ rệt:

- Vùng núi đá: Đây là vùng rừng phân bố tập trung trên núi đá vôi, nơi

có địa hình phức tạp, gồm nhiều đỉnh núi cao, dốc lớn từ 25 ÷ 300, có nơi đến

450, tài nguyên rừng khu vực này nhìn chung là ít bị tác động bởi người dân địa phương

- Vùng núi đất: Nằm tập trung ở các thung lũng giữa các đỉnh núi cao, độ cao trung bình từ 400 ÷ 600 m

* Đặc điểm địa chất và thổ nhưỡng

Địa chất có nguồn gốc trầm tích với các sản phẩm chủ yếu là kết von cùng với đá vôi khó phong hoá Khu vực này còn tiếp giáp với khu quặng (Chì và Kẽm) hiện đang được khai thác

Thổ nhưỡng: Trong khu vực gồm có hai nhóm đất chính sau: Đất thung lũng dốc tụ: hình thành ở các thung lũng thấp giữa các dãy núi, hứng các sản phẩm xói mòn rửa trôi từ trên xuống, đất tốt tầng đất dày; Đất nâu đỏ trên núi

đá vôi: tầng đất dày tơi xốp, đất có hàm lượng dinh dưỡng cao, tầng đất mỏng

Trang 36

* Đặc điểm khí hậu

Theo số liệu thống kê của trạm Khí tượng thuỷ văn huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn cho thấy KBT nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Một năm chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa nóng ẩm, mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10 Mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

- Nhiệt độ: Trung bình năm dao động từ 20 - 22oC Nhiệt độ tối cao

30oC, tối thấp 4oC Nhiệt độ trung bình mùa đông là 11oC, mùa hè 25oC

- Mưa: Lượng mưa trung bình năm từ 1.153 - 1.528 mm Tập trung chủ yếu vào tháng 6 và tháng 7 trong năm, tháng có lượng mưa lớn nhất đạt trên

320 mm Mùa khô lượng mưa trung bình không vượt quá 60 mm/tháng

- Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình khoảng 1.450 giờ/năm

- Gió: Hướng gió thịnh hành vào mùa hạ là hướng Đông - Nam, về mùa đông là hướng Đông - Bắc Tốc độ gió trung bình đạt 1m/s, song vào những lúc có dông, bão tốc độ gió có thể đạt 27-28 m/s

- Độ ẩm không khí: Dao động khoảng 75 - 82%, cao nhất là 88% tập trung vào tháng 7 trong năm

- Sương muối: Thường xuất hiện từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau nhưng mức độ không cao, ít gây ảnh hưởng đến sản xuất nông-lâm nghiệp

* Đặc điểm thủy văn

Trong khu vực có 1 con suối chính bắt nguồn từ xã Sơn Phú, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang chảy theo hướng Tây Bắc qua các thôn Nà Dạ, Bản Eng, Bản Tưn… của xã Xuân Lạc rồi đổ ra hồ Ba Bể, có chiều dài khoảng 9

km Ngoài ra còn suối Tả Han và các khe nhỏ bắt nguồn từ các đỉnh núi đổ vào suối Tả Han Do hiện tượng Caxtơ nên một số khe, suối chảy ngầm trong lòng núi đá

Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên Khu bảo tồn:

- Với diện tích đồi núi chiếm 80% diện tích tự nhiên, địa hình hiểm trở là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đa dạng sinh học Núi đá vôi với vách núi

Trang 37

dựng đứng cheo leo, đỉnh lởm chởm, răng cưa nhọn Đây chính là nơi cư trú, sinh sống của nhiều loài động vật Hệ sinh thái trên rừng núi đá vôi là những nguồn gen vô cùng quý báu Ngoài khả năng cung cấp gỗ, tre, nứa còn nhiều loài động vật, thực vật quý hiếm, có giá trị và được coi là một trung tâm bảo tồn nguồn gen thực vật của vùng Đông Bắc

- Khí hậu tỉnh Bắc Kạn có sự phân hóa theo mùa Mùa hạ nhiệt độ cao, mưa nhiều Mùa đông nhiệt độ thấp, mưa ít và chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Khí hậu phân hóa theo mùa là tiền đề cho đa dạng loài trên địa bàn Trong vài thập kỷ trở lại đây, biểu hiện và các ảnh hưởng do biến đổi khí hậu gây ra không ít thiệt hại cho các ngành kinh tế cũng như cho tự nhiên Sự thay đổi về điều kiện môi trường sống, các yếu tố khác về thức ăn, nơi trú ngụ dẫn đến nhiều sự thay đổi trong thành phần, cấu trúc loài Phần lớn các loài bị tác động sẽ biến đổi thích nghi hoặc tìm kiếm một môi trường sống mới phù hợp hơn Điều này có thể tạo nên sự đa dạng về thành phần loài, phong phú trong kiểu hình trên một đơn vị không gian nhất định hoặc là sự suy giảm về số lượng và thành phần loài

3.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Khu bảo tồn cách trung tâm thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn 35 km

về phía Bắc, giao thông đi lại khó khăn Khu bảo tồn Nam Xuân Lạc dự kiến

mở rộng nằm trên địa bàn của xã Xuân Lạc, Đồng Lạc và Bản Thi, với tổng

số 1.804 hộ, 8.018 khẩu, phần lớn là đồng bào Dao, Tày và H’mông

Theo quy hoạch của UBND tỉnh Bắc Kạn thì vùng đệm của KBT có diện tích 7.508 ha thuộc 9 thôn: Nà Dạ, Bản Eng, Bản Tưn (xã Xuân Lạc), Khuổi Kẹn, Kéo Nàng, Phia Khao (Bản Thi) và Nà Áng, Cốc Tộc (xã Đồng Lạc) Dân số vùng đệm là 1.709 người, 410 hộ Mật độ dân số ở xã Bản Thi là

29 người/km2, Xuân Lạc là 35 người/km2 và Đồng Lạc là 65 người/km2

Trang 38

Bảng 3.1: Dân số, thành phần dân tộc và tình trạng đói nghèo

ở các xã xung quanh Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc

dự kiến mở rộng

Diện tích

tự nhiên (ha)

Số thôn

Dân số

Số hộ nghèo

Thành phần dân tộc

khẩu

Kinh (%)

Thiểu

số (%)

Tên dân tộc thiểu

số

1 Bản Thi 6.498,81 8 418 1.879 38

(9,1%) 35,7 64,3

Dao, H’mông, Tày, Nùng, Hoa

2 Đồng

Lạc 3.662 10 586 2.397

89 (15,2%) 5,5 94,5

Dao, H’mông, tày

3 Xuân Lạc 8.421,50 14 800 3.742

380 (47,5%) - 100

Tày, Dao, H’mông

1980 bắt đầu định canh tập trung thành bản làng theo chương trình Định canh định cư của Chính phủ Mỗi dân tộc có đặc trưng văn hóa riêng và có nhiều điểm tương đồng nên các sinh hoạt văn hóa ở vùng đệm khá phong phú

Ở 9 thôn vùng đệm của KBT người Kinh chiếm 5% còn lại là dân tộc thiểu số Các hộ người Kinh chủ yếu là buôn bán, khai thác khoáng sản, công nhân viên nhà nước Các hộ người Kinh tập trung ở xã Bản Thi với 35% chủ yếu là công nhân khai thác khoáng sản nơi có mỏ quặng Sunfua Kẽm lộ thiên với trữ lượng lớn Các hộ sinh sống bên trong vùng lõi của KBT đều là người Dao, họ sống và canh tác bên trong KBT từ lâu đời, chủ yếu là làm rẫy và thu

Trang 39

hái lâm sản theo mùa Ở xã Đồng Lạc chỉ có 19 hộ người Kinh chiếm 3% còn lại xã Xuân Lạc gần như 100% là người dân tộc thiểu số

* Tình hình kinh tế và thu nhập của người dân sống ở Khu bảo tồn

Nguồn thu nhập chính của cư dân vùng đệm là lúa nước và các loại cây trồng nông nghiệp như ngô, sắn, khoai tàu, các loại đậu Do địa hình đất dốc nên loài hình canh tác chính là rẫy Mặc dù nông dân có kinh nghiệm trồng lúa nước nhưng năng xuất nhìn chung không cao Năng suất lúa và một số cây trồng chính ở vùng đệm trong năm 2016 như sau:

Bảng 3.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp năm 2016

ở vùng đệm Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc

Diện tích (ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

Diện tích (ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

Đất cho trồng lúa và các loại cây hoa màu chiếm 7% diện tích tự nhiên (chưa đến 0,2 ha/người) Đất cho các loại cây lâu năm chỉ có 18 ha dùng để trồng cây Hồng không hạt Các loại cây lâm nghiệp được trồng xen ở khu vực canh tác nương rẫy và trong rừng sản xuất

Đất rừng chiếm 70% diện tích tự nhiên ở 3 xã vùng đệm với đầy đủ 3 loại rừng, trong đó rừng đặc dụng KBT Nam Xuân Lạc chiếm 14% diện tích

Trang 40

đất lâm nghiệp Rừng sản xuất có diện tích lớn nhất, chiếm 56% diện tích đất lâm nghiệp (7.147 ha) còn lại là rừng phòng hộ chiếm 30%

Phần lớn diện tích đất canh tác ở vùng đệm chưa có sổ đỏ, công tác đo đạc và cấp sổ đỏ tiến hành chậm nên nhiều hộ không có sổ đỏ không tiếp cận được với các nguồn tín dụng thế chấp tại địa phương

Bảng 3.3: Diện tích một số loài cây trồng chính ở vùng đệm thuộc

Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc

Diện tích trồng cây lương thực,

hoa màu (ha)

Cây ăn quả, cây lâm nghiệp (ha)

Lúa Ngô Sắn Khoai Rau Đậu… Hồng Xoan

1 Bản Thi 61 91 6 5 - 14 10 20

2 Đồng Lạc 222 79 25 23 - 18 8 13

3 Xuân Lạc 183 206 23 2 28 115 - 30

Nguồn: Báo cáo Kinh tế xã hội năm 2016 của UBND các xã vùng đệm.

Bảng trên cho thấy 2 loại cây lương thực chính được trồng ở cả vùng đệm là lúa và ngô Diện tích lúa rẫy chiếm số lượng lớn đất canh tác nhưng thiếu số liệu thống kê, các diện tích này do việc phát nương làm rẫy bị nghiêm cấm Phần lớn lúa rẫy được canh tác ở khu vực rừng sản xuất Các loại đậu là cây trồng mang lại thu nhập cao nhất trong các loại cây trồng nông nghiệp ở vùng đệm Các loại rau chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của người dân vùng đệm, được trồng nhiều ở xã Đồng Lạc, ở các xã khác có diện tích không đáng kể

* Tập quán sinh hoạt, sản xuất

Một số hộ sinh sống trong KBT, họ phát nương rẫy để canh tác nông nghiệp và sử dụng nhiều tài nguyên từ KBT Gồm 4 hộ người Dao xã Bản Thi

và 2 hộ người Dao xã Xuân Lạc (6 hộ trong KBT với 21 nhân khẩu) Các hộ này vẫn còn săn bắt như dựng những lều lán để tiếp tay cho những thợ săn,

Ngày đăng: 15/03/2018, 14:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w