Tiêm truyền là một trong các biện pháp đưa thuốc, hoá chất hoặc dịch truyền vào cơ thể người bệnh nhằm mục đích chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh. Truyền dịch tĩnh mạch là qui trình kỹ thuật mà điều dưỡng thường thực hành trong điều trị, chăm sóc bệnh nhân1. Hiệu quả chăm sóc điều trị cao do thuốc được đưa nhanh vào cơ thể, nhưng cũng hay có những tai biến, biến chứng..... Do đó việc đánh giá thực hiện quy trình kỹ thuật truyền dịch bằng đường tĩnh mạch của điều dưỡng sẽ giúp cho các nhà quản lý xây dựng được kế hoạch đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ với đội ngũ điều dưỡng của đơn vị trong thời gian tới. Xuất phát từ nhu cầu trên chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng thực hiện qui trình kỹ thuật truyền dịch cho người bệnh của Điều dưỡng Bệnh ……” MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Đánh giá việc thực hiện quy trình kỹ thuật truyền dịch bằng đường tĩnh mạch của Điều dưỡng viên; 2. Đánh giá kết quả thực hiện quy trình kỹ thuật truyền dịch bằng đường tĩnh mạch của điều dưỡng viên sau tập huấn.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiêm truyền là một trong các biện pháp đưa thuốc, hoá chất hoặc dịchtruyền vào cơ thể người bệnh nhằm mục đích chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh.Truyền dịch tĩnh mạch là qui trình kỹ thuật mà điều dưỡng thường thực hànhtrong điều trị, chăm sóc bệnh nhân[1] Hiệu quả chăm sóc điều trị cao do thuốcđược đưa nhanh vào cơ thể, nhưng cũng hay có những tai biến, biến chứng
Trong điều trị, truyền dịch là kỹ thuật[2] có vai trò rất quan trọng tại các
cơ sở y tế, đặc biệt là trường hợp người bệnh nặng Truyền không đúng kỹthuật có thể gây ra những nguy cơ có hại đối với cơ thể người bệnh như: sốcphản vệ, áp xe tại vị trí truyền, nhiễm khuẩn…Theo Tổ chức Y tế Thế giới tiêmtruyền thực hiện không đúng qui trình kỹ thuật đã trở thành phổ biến trên phạm
vi nhiều nước ước tính có tới 50% các mũi tiêm truyền ở các nước đang pháttriển không thực hiện đúng qui trình kỹ thuật và là nguyên nhân chính làm lâytruyền các bệnh: viêm gan B, viêm gan C và lây nhiễm HIV và nghiêm trọnghơn là vấn đề nhiễm trùng bệnh viện
Theo kết quả nghiên cứu về thực hiện kỹ thuật tiêm truyền tại các bệnhviện thuộc 3 khu vực Bắc, Trung, Nam của Việt Nam cho thấy chỉ có 10,9%mũi tiêm tĩnh mạch và truyền tĩnh mạch đạt tối đa số điểm chuẩn Các thao tác
kỹ thuật sai sót hay gặp trong khi tiến hành qui trình kỹ thuật tiêm, truyền là:không rửa tay trước khi tiêm 43,9%, không sát khuẩn đầu, nắp ống thuốc khilấy thuốc 70,7% không sát khuẩn da nơi tiêm đúng kỹ thuật: 27,5%, dùng tay đểtháo, lắp kim tiêm 14% Do các trang thiết bị tại cơ sở Y tế còn đang trongtình trạng thiếu, không đồng bộ, số lượng người bệnh đông thêm vào đó trình
độ chuyên môn của đội ngũ Điều dưỡng chưa đồng đều, chưa được cậpnhật kiến thức chuyên môn thường xuyên nên đã ảnh hưởng không nhỏ đếnchất lượng chăm sóc người bệnh
Bệnh viện …… là bệnh viện hạng II trực thuộc sở y tế … , cơ cấu giườngbệnh với nhiệm vụ thu dung và điều trị là các bệnh nhân … Bệnh viện … tiếpnhận hơn 11.491 vào viện điều trị trong một năm, với tính chất người bệnh nặng
Trang 2và diễn biến rất phức tạp Đội ngũ Điều dưỡng viên Bệnh viện mặc dù đã cơ bảnđáp ứng được yêu cầu và tính chất công việc, nhưng khi cấp cứu người bệnh,thực hiện y lệnh điều trị, điều dưỡng phải tiến hành thực hiện nhiều thao tác kỹthuật, để đảm bảo thuốc được đưa vào người bệnh một cách nhanh chóng vàchính xác nhất Do đó việc đánh giá thực hiện quy trình kỹ thuật truyền dịchbằng đường tĩnh mạch của điều dưỡng sẽ giúp cho các nhà quản lý xây dựngđược kế hoạch đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ với đội ngũ điều dưỡngcủa đơn vị trong thời gian tới Xuất phát từ nhu cầu trên chúng tôi nghiên cứu đềtài:
“Đánh giá thực trạng thực hiện qui trình kỹ thuật truyền dịch cho người
bệnh của Điều dưỡng Bệnh viện …… ”
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Đánh giá việc thực hiện quy trình kỹ thuật truyền dịch bằng đường tĩnh mạch của Điều dưỡng viên;
2 Đánh giá kết quả thực hiện quy trình kỹ thuật truyền dịch bằng đường tĩnh mạch của điều dưỡng viên sau tập huấn.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Đại cương
- Truyền dung dịch vào tĩnh mạch là đưa vào cơ thể bệnh nhân quađường tĩnh mạch một khối lượng lớn dung dịch và thuốc
- Truyền dịch tĩnh mạch là qui trình kỹ thuật điều dưỡng thường đượcthực hành trong điều trị, chăm sóc người bệnh Hiệu quả chăm sóc điều trị cao
do thuốc được đưa nhanh vào cơ thể, nhưng cũng hay có những tai biến, biếnchứng
1.2 Quy trình kỹ thuật truyền dịch tĩnh mạch [3]
Thực hiện kỹ thuật truyền dịch bằng đường tĩnh mạch đúng quy trình làmột trong những nội dung của chương trình tiêm an toàn Theo tài liệu hướngdẫn tiêm an toàn, nội dung quy trình kỹ thuật truyền tĩnh mạch bao gồm
1.2.1 Chuẩn bị người điều dưỡng
Trong thủ thuật người điều dưỡng cần phải có trang phục đầy đủ, gọngàng (mũ, áo, khẩu trang) và thực hiện rửa tay thường quy[4] để đảm bảo vôkhuẩn, phòng chống nhiễm khuẩn không những cho người bệnh mà còn chochính người điều dưỡng
- Nhắc người bệnh đi đại, tiểu tiện trước khi truyền
- Lấy các dấu hiệu sinh tồn trước khi truyền: mạch, huyết áp, nhiệt độ,nhịp thở
- Đặt bệnh nhân ở tư thể thoải mái
- Nơi truyền dịch cho người bệnh phải sạch sẽ, thoáng khí, đủ ánh sángcần thiết; phải đảm bảo điều kiện vô khuẩn tuyệt đối
Trang 4- Có thể thực hành ngay trên giường người bệnh, trên bàn mổ, trongphòng cấp cứu hồi sức, phòng lưu người bệnh.
- Khay vô khuẩn để đựng bơm, kim tiêm, gạc, dây truyền
- Kìm Kocher vô khuẩn có mấu, không mấu để gắp bơm, kim tiêm, bông
- Bộ dây truyền: Dài 1,0 - 1,4m, một đầu có kim to có bầu đếm giọt đểcắm vào chai dung dịch, một đầu có ambu lắp kim tiêm
Ở giữa có bầu đếm giọt (có loại 10 - 15 giọt/ml), có thể có thêm bầu lọc,một khóa điều chỉnh tốc độ nhỏ giọt (kẹp Mohr), nút thông khí, hoặc kim thôngkhí
Tất cả bộ dây truyền được hấp và đựng trong hộp vô khuẩn hoặc bộ dâytruyền được vô khuẩn đóng sẵn trong túi nilon, khi dùng cắt túi và đổ vào khay
vô khuẩn để lắp vào chai dịch truyền
- Bơm tiêm: 5ml, 10ml vô khuẩn
- Kim tiêm đã vô khuẩn dài 3cm đường kính 5/10 - 8/10mm, kim cánhbướm, kim luồn
- Bát mạ kền, cốc đựng bông cồn iod 1%, cồn 700
1.2.3.2 Các dụng cụ khác
- Cọc truyền, giá treo, quang treo để treo chai dung dịch cách giường bệnhnhân 0,8 - 1m
- Keo, băng dính, băng cuộn, để cố định kim và chi của bệnh nhân
- Bộ gối kê tay, tấm nilon nhỏ để lót dưới vùng truyền dịch, dây cao su đểgaro chi cho tĩnh mạch nổi rõ, nẹp có độn bông để cố định tay bệnh nhân
- Huyết áp, ống nghe, đồng hồ bấm giây
- Phiếu truyền dịch, bảng theo dõi dấu hiệu sinh tồn
- Hộp thuốc, chống sốc
Trang 5- Khay quả đậu, túi giấy: đựng bông gạc bẩn.
Truyền vào tĩnh mạch mắt cá trong của bàn chân: Kéo quần lên quá gối,không cần nẹp, chỉ cố định đầu gối và cổ chân bằng băng cuốn vào thànhgiường
Người bệnh hôn mê, giãy giụa: Phải cố định chân tay vào thành giường
1.2.3.4 Truyền dịch tĩnh mạch bằng kim luồn
- Truyền dịch tĩnh mạch bằng kim luồn có ưu điểm: Không bị chệch kim
ra khỏi tĩnh mạch, người bệnh có thể cử động tay truyền dịch; đặc biệt thuận tiệntrong vận chuyển người bệnh, cấp cứu người bệnh hàng loạt
- Kim luồn là một ống polyten mềm, mỏng, có độ dài và cỡ nòng như kimtruyền dịch tĩnh mạch, đầu kim tù; trong nòng kim có một kim khác bằng kimloại đầu vát nhọn (nòng thông kim)
- Các bước thực hành kỹ thuật như truyền dịch tĩnh mạch bằng kim thôngthường, nhưng chọc kim vào tĩnh mạch trước, sau đó mới lắp dây truyền dịchvào đốc kim
- Khi có máu chảy ra theo kim thì dùng ngón tay cái và ngón trỏ tay phảirút nòng thông kim, máu tràn ra đến đốc kim thì nhanh chóng lắp đầu ambu dâytruyền dịch vào đốc kim, không được để không khí lọt vào kim, mở khoá dâytruyền cho dịch chảy vào tĩnh mạch
1.2.3.5 Trường hợp mạch nhỏ, xẹp, khó truyền
Trường hợp mạch nhỏ phải dùng bơm tiêm lấy 5 - 10ml dung dịch huyếtthanh mặn đẳng trương lắp kim và cầm bơm tiêm, chọc vào tĩnh mạch, khi máuvào bơm tiêm tháo dây garo, đổi tay bơm thuốc vào tĩnh mạch
Trang 6- Khi hết thuốc: tay trái dùng ngón nhẫn đè lên mũi vát của kim để máukhông theo kim chảy ra và khí không lọt vào tĩnh mạch.
- Ngón trỏ và ngón cái giữ đốc kim thật chặt
- Tay phải nhẹ nhàng xoáy và tháo bơm tiêm bỏ vào khay quả đậu đựngnước lạnh
- Lắp đầu ambu của dây truyền vào đốc kim
- Mở khoá cho dịch chảy
- Dùng gạc tam giác lót dưới đốc kim, bọc đốc kim lại và cố định băngdính vào da người bệnh
- Điều chỉnh khóa cho dịch chảy nhỏ giọt theo y lệnh dùng đồng hồ bấmgiây để theo dõi tốc độ nhỏ giọt trong 1 phút
- Rút gối kê tay, nilon, dây garo ở dưới tay hoặc chân người bệnh rồi đặtnẹp cố định lại, truyền dịch bằng kim luồn thì không cần nẹp cố định
- Phủ gạc vô khuẩn lên vùng truyền
- Ghi phiếu tiêm truyền: họ tên, tuổi bệnh nhân, số giường, tên thuốc, tốc
độ truyền, thời gian bắt đầu truyền, tên người truyền; gài phiếu vào cạnh chaidịch để tiện theo dõi
- Theo dõi sát người bệnh: Cứ 15 phút đến quan sát 1 lần để phát hiệnnhững bất thường có thể xảy ra trong suốt quá trình truyền
- Nếu không có tai biến xảy ra, khi chai dung dịch còn khoảng 10ml thìngừng truyền, khóa dây truyền lại và rút kim ra
- Sát khuẩn lại nơi tiêm bằng bông cồn 700 Nếu chảy máu, đặt bông vôkhuẩn băng dính lại
- Trường hợp bệnh nhân còn tiếp tục truyền phải nhẹ nhàng thay sang chaikhác, khóa dây dẫn lại và kiểm tra dây dẫn không có bọt khí mới tiếp tục truyềndịch
- Thu dọn y dụng cụ, lau chùi, đánh rửa sạch, gửi đi hấp sấy dụng cụ
- Ghi vào phiếu tiêm truyền giờ kết thúc, số lượng dịch đã truyền
- Ghi vào hồ sơ tình trạng bệnh nhân trước, trong và sau khi truyền dịch,những diễn biến bất thường và xử trí trong khi truyền dịch
Trang 7- Cách tính thời gian truyền dịch:
Tổng số dịch truyền x giọt/ml
Tổng số thời gian (phút) = Số giọt / phút
1 3 Theo dõi truyền dịch
- Trong 15 phút đầu điều dưỡng phải đứng tại chỗ quan sát sắc mặt, vùngtiêm, mạch, huyết áp, nhịp thở của người bệnh Nếu có những biến đổi khácthường phải báo cáo bác sĩ
- Quan sát lưu thông dịch
- Nếu không có diễn biến bất thường, điều dưỡng có thể đi làm việc khácnhưng cứ 10 - 15 phút phải trở lại kiểm tra 1 lần
- Kiểm tra người bệnh truyền dịch:
+ Phồng chỗ truyền dịch, người bệnh có cảm giác đau buốt tại chỗ truyền,nhìn thấy nổi cục dưới da nơi truyền Nguyên nhân là đã bị vỡ mạch, hoặc kimchệch ra khỏi lòng mạch làm dịch thoát ra ngoài, phải truyền lại
+ Dây truyền bị tuột ra khỏi đốc kim, làm chảy dịch ra ngoài
+ Kim bị tắc, dịch không chảy có thể do tắc kim thì gập đoạn dây truyềnbóp vài lần hoặc kim bị chệch, đầu vát đè vào thành mạch thì xoay nhẹ kim hoặc
kê lại đốc kim là dịch có thể chảy đều Nếu dịch vẫn không thông thì rút kim ratruyền lại
+ Kiểm tra khí trong dây truyền Nếu có phải rút kim ra ngay và đuổi hếtkhí trong dây mới được truyền tiếp
+ Dịch truyền đã gần hết chưa?
+ Theo dõi mạch, huyết áp, nhịp thở, sắc mặt, tình trạng chung Chú ýphát hiện sớm tình trạng sốc do truyền dịch, nếu để muộn có thể gây nguy hiểmđến tính mạng người bệnh
1.4 Các nghiên cứu trước đây [8,9,10]
Các nghiên cứu tại một số bệnh viện trên cả nước trong các năm trước đâycho thấy, tỷ lệ lan truyền an toàn (đạt yêu cầu 100% các tiêu chí) mới đạt 20 -22% Nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ truyền an toàn thấp là điều dưỡng chưa cập
Trang 8nhật kiến thức; chưa tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật và các thao tác kiểm soátnhiễm khuẩn, thu gom, xử lý và quản lý chất thải y tế sắc nhọn.
Một điều dưỡng trưởng đánh giá: “Để có kỹ thuật truyền an toàn, cácđiều dưỡng cần được trang bị cập nhật đầy đủ kiến thức nhanh nhạy, kịp thờiđầy đủ; được trang bị đầy đủ các phương tiện về dụng cụ, điều kiện thực hành
kỹ thuật truyền an toàn”
1.5 Nội dung về truyền an toàn
1.5.1 Mục đích
Thực hiện truyền an toàn nhằm đảm bảo cho người bệnh, nhân viên y tế
và cộng đồng không bị mắc các bệnh lây nhiễm và tránh được các biến chứng docác thủ thuật gây nên
1.5.2 Nguyên tắc
- Dây truyền và dịch truyền và khuẩn riêng cho mỗi lần truyền
- Tuân thủ tuyệt đối các quy trình kỹ thuật truyền và chuẩn mực về vôkhuẩn
- Đảm bảo an toàn không có tai biến, nhầm lẫn khi truyền thuốc chongười bệnh
- Không nên lạm dụng thuốc bằng phương pháp truyền
- Phân loại và cô lập ra các vật sắc nhọn sau khi truyền theo quy chế xử lýchất thải
1.5.3 Các chỉ số truyền đảm bảo an toàn, vô khuẩn
- Rửa tay trước khi thực hiện kỹ thuật truyền, kể cả khi thay dây dịch
truyền hoặc mỗi khi phát thuốc cho mỗi người bệnh
- Truyền thuốc đúng theo y lệnh
- Sử dụng dây truyền dịch mới, vô khuẩn cho mỗi lần truyền
- Sát khuẩn nắp lọ thuốc trước khi lấy thuốc.
- Xác định đúng vị trí truyền, góc đâm kim và độ sâu của kim, tuân thủ vô
khuẩn tuyệt đối khi thực hiện kỹ thuật
- Sát khuẩn da vùng truyền bằng cồn iode 0.1% hay betadine 10% theo
hình xoáy chôn ốc, từ trong ra ngoài
Trang 9- Kiểm tra lại công tác chuẩn bị: Địa điểm, dụng cụ, bệnh nhân, chai dungdịch Thực hiện 3 kiểm tra, 5 đối chiếu, 5 đúng.
- Điều dưỡng rửa tay sạch bằng xà phòng, sau đó sát khuẩn tay bằng cồn,
đi găng tay
- Sát khuẩn nút chai; pha thuốc vào chai, nếu có chỉ định
- Lắp quang treo vào chai dung dịch, đâm kim của dây truyền qua tâm củanút chai, khoá dây truyền lại, treo chai dịch lên giá cọc truyền
- Mở nút thông khí cho dung dịch chảy qua dây truyền dịch, đuổi khôngkhí trong dây truyền ra bằng cách:
+ Tay trái nâng nghiêng bầu nhỏ giọt, tay phải mở khoá dây truyền; khidịch chảy được 1/3 bầu thì nhanh tay hạ thẳng bầu đếm giọt xuống để cho dịchchảy tiếp tục xuống đoạn dây dưới Khi dịch chảy thông suốt đến đầu ambu thìcho dịch chảy ra khay quả đậu hoặc bát mạ kền, tránh không để chảy nhiều dịch
- Khoá dây truyền
- Lắp vỏ kim để tránh nhiễm khuẩn
- Đặt nẹp, gối và tấm nilon dưới vùng truyền
Chọn tĩnh mạch để truyền dịch và buộc dây garo cách vị trí tiêm từ 3 5cm
Sát khuẩn rộng và sạch vùng tiêm theo chiều xoáy ốc từ trong ra ngoàibằng cồn iod, sau đó sát khuẩn lại bằng cồn 700, đặt gạc tam giác dưới nơi tiêm
- Tay phải cầm đầu dây truyền có gắn kim, tay trái tháo vỏ kim tiêm
- Tay phải đưa kim vào tĩnh mạch, mũi vát kim ngửa lên trên, chếch vớimặt da 15 - 300 khi có máu phụt vào dây thì tháo dây garo mở khoá cho dịchchảy vào tĩnh mạch Đúng kỹ thuật tiêm truyền (2 nhanh – 1 chậm: đâm kimnhanh, rút kim nhanh, bơm thuốc chậm)
- Quan sát người bệnh trong khi truyền
- Băng gạc vô khuẩn nơi tiêm truyền tĩnh mạch, thay băng mỗi 24h haythay ngay khi ẩm ướt, dơ, các dấu hiệu nhiễm trùng
- Dây dịch truyền, chai dịch truyền thay mỗi 24h
Trang 10- Không đặt kim Catheter quá 72h Sát khuẩn Catheter (xung quanh nơibơm thuốc) trước khi bơm qua dây dịch truyền.
- Thay ngay lập tức hệ thống dây truyền sau khi truyền máu hay lipid nếutiếp tục truyền các dịch khác
- Mang theo hộp thuốc chống shock khi đi truyền (thuộc phác đồ chốngshock và biết cách xử trí)
1.5.4 Biện pháp đề phòng chung cho người chăm sóc
- Rửa tay thường quy trước và sau khi truyền
- Mang găng khi tiếp xúc với máu
- Không vội vàng thao tác liên quan đến vật sắc nhọn như kim tiêm, ốngthuốc thủy tinh
- Không đậy nắp kim truyền sau khi sử dụng xong
- Không được uốn cong, bẻ gãy kim trước khi vứt bỏ vào thùng đựng vậtsắc nhọn
- Không được dùng pank hay tay không để bẻ ống thuốc
- Đảm bảo thu gom, xử lý an toàn bơm kim tiêm, dây truyền dịch, vật sắcnhọn vào thùng chứa, không chọc thủng, để gần khu vực thuận tiện như xe tiêm,buồng tiêm theo quy định
- Mang găng dầy khi rửa vật sắc nhọn
- Ngay lập tức sau khi phơi nhiễm với máu do kim đâm: Rửa tay dưới vòinước và dung dịch rửa tay rồi sát khuẩn lại bằng cồn iode 0.1%
1.5.5 Không để chất thải sắc nhọn gây nguy hại cho người khác.
Áp dụng đề phòng chung ở mọi lúc, mọi nơi, hiểu nguy cơ cao do kimtiêm, vật sắc nhọn không xử lý an toàn Thực hiện nghiêm ngặt từ việc phânloại, thu gom và xử lý chất thải đúng theo quy định Đã là trách nhiệm của mọingười
1.6 Các tai biến xảy ra khi truyền dịch
1.6.1 Dịch không chảy
Trang 11Dịch không chảy ra, thuốc không vào được cơ thể bệnh nhân có thể gâynguy hiểm cho tính mạng bệnh nhân, đặc biệt là trong những trường hợp cấpcứu, bệnh nhân nặng Những nguyên nhân dẫn đến dịch không chảy bao gồm:
- Do kim bị lệch, lỗ kim áp sát vào thành mạch, cần điều chỉnh lại kim và
kê lại đốc kim
- Do mạch xẹp: Dùng bàn tay vuốt nhẹ theo đường về của tĩnh mạch đểdồn máu
- Do tắc kim: tạm thời gập 1 - 2 khúc của đoạn dây truyền rồi buông taynhanh dung dịch sẽ dồn mạnh xuống làm thông kim, nếu không được phải thaykim khác và truyền lại
1.6.2 Phồng nơi tiêm
Phồng nơi tiêm do thuốc thoát ra ngoài vì kim tiêm ra ngoài thành mạchhoặc kim chưa vào sâu trong lòng mạch, do tĩnh mạch bị vỡ phải truyền lại,hoặc truyền chỗ khác Dung dịch ưu trương thoát ra ngoài thì phải ngừng truyềnngay, báo cho bác sĩ
- Triệu chứng: Chỗ truyền phồng to, người bệnh kêu đau buốt
- Xử trí: Rút ra truyền lại
1.6.3 Bệnh nhân bị sốc
- Sốc có thể do dịch, do những yếu tố gây sốc của dây truyền, hoặc do tốc
độ truyền quá nhanh
- Triệu chứng: Người bệnh đang truyền thấy khó thở, rét run, vã mồ hôi,sắc mặt tái nhợt, mạch nhanh, huyết áp tụt (huyết áp tâm thu ≤ 80mmHg)
- Xử trí: Ngừng truyền, ủ ấm cho bệnh nhân, báo cáo ngay và cùng bác sĩ,chuẩn bị thuốc xử trí, thuốc trợ tim mạch, kháng histamin và tìm nguyên nhângây sốc
Trang 12- Xử trí: Ngừng truyền ngay, cùng với bác sĩ chuẩn bị phương tiện cấpcứu, Garo tứ chi 5 phút/lần, dùng lợi tiểu, trích máu nếu cần thiết, xử trí tìnhtrạng suy tim, suy hô hấp, trụy tim mạch
1.6.5 Tắc mạch phổi
- Tắc mạch phổi do không khí trong dây truyền lọt vào lòng mạch
- Triệu chứng: Người bệnh đau ngực đột ngột, dữ dội, khó thở, có thể gây