1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

An toàn nợ công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

196 180 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 196
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 29 Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN TOÀN NỢ CÔNG TRONG NỀN

Trang 1

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các số liệu, trích dẫn trong luận án là trung thực, có xuất

xứ rõ ràng và không trùng lặp với những công trình đã công bố.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

NCS Tạ Đức Thanh

Trang 2

Trang TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề

1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề

1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã

công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 29

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN TOÀN NỢ CÔNG

TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM VÀ

2.1 Nợ công và tác động của nợ công đối với sự phát triển

2.2 Quan niệm, tiêu chí đánh giá và nhân tố tác động đến an toàn

nợ công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

2.3 Khủng hoảng nợ công ở Châu Âu và bài học rút ra cho

Chương 3 THỰC TRẠNG AN TOÀN NỢ CÔNG TRONG NỀN

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI

3.1 Thành tựu và hạn chế về an toàn nợ công trong nền kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 86 3.2 Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra từ thực trạng an toàn

nợ công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM AN TOÀN

NỢ CÔNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 132 4.1 Quan điểm cơ bản bảo đảm an toàn nợ công trong nền kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 132 4.2 Giải pháp chủ yếu nhằm bảo đảm an toàn nợ công trong nền

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 136

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

Trang 3

Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt

Cục Quản lý nợ và Tài chính Đối Ngoại DMEFĐánh giá môi trường thể chế và Chính sách Quốc gia CPIA

Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính DMFAS

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Liên Hiê ̣p quốc OECD

Tổ chức Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc UNCTAD

Trang 4

STT Tên bảng Trang

01 Bảng 2.1: Nợ công và tình hình kinh tế các nước Châu Âu 2010 50

02 Bảng 2.2: So sánh rủi ro nợ công các nước 75

03 Bảng 3.1: Tỷ suất nợ công trên GDP của Việt Nam giai đoạn

04 Bảng 3.2: Tỷ suất nợ công so với kim ngạch xuất khẩu 88

05 Bảng 3.3: Tỷ lệ tiết kiệm so với GDP của Việt Nam từ 2011-2015 96

06 Bảng 3.4: Nợ công trên đầu người của một số quốc gia năm 2015 101

08 Bảng 3.6: ICOR Việt Nam và một số nước 113

09 Bảng 3.7: Quy mô dự trữ ngoại hối theo tuần nhập khẩu 116

10 Bảng 3.8: Quy mô dự trữ ngoại hối trên nợ nước ngoài ngắn hạn 116

11 Bảng 3.9: Quy mô dự trữ ngoại hối trên lượng cung tiền M2 117

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

01 Hình 2.1: Nợ công trong hệ thống nợ quốc gia 37

02 Hình 2.2: Biểu đồ các thành phần của khu vực công theo IMF 40

03 Biểu đồ 2.1: Lãi suất trái phiếu Chính phủ Hy Lạp kỳ hạn 2 năm 45

04 Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng nợ công của Hy Lạp theo kỳ hạn 75

05 Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam so với các

nước trong khu vực và trên thế giới năm 2013 87

06 Biểu đồ 3.2: Nợ công bình quân đầu người một số nước Đông

07 Biểu đồ 3.3: Nợ nước ngoài so với tổng nợ công Việt Nam

08 Biểu đồ 3.4: Cơ cấu dư nợ nước ngoài của Chính phủ phân

09 Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ bội chi NSNN 2000 - 2015 93

10 Biểu đồ 3.6: Tốc độ tăng trưởng kinh tế 2006 - 2015 94

11 Biểu đồ 3.7: Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015 95

12 Biểu đồ 3.8: Quy mô dự trữ ngoại hối Việt Nam 2008 - 2014

13 Biểu đồ 3.9: Cơ cấu giữa ngoại tệ và vàng trong dự trữ ngoại 98

Trang 5

15 Biểu đồ 3.11: Tỷ trọng ngoại tệ trong tổng dự trữ ngoại hối

16 Biểu đồ 3.12: Tỷ trọng ngoại tệ trong tổng dự trữ ngoại hối

17 Biểu đồ 3.13: Cơ cấu thanh toán nợ gốc và nợ lãi của Việt Nam 110

18 Biểu đồ 3.14: Thu, chi ngân sách nhà nước và nợ công 2011-2015 111

19 Biểu đồ 3.15: Dự trữ ngoại hối của các quốc gia ASEAN năm

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Trong điều kiện là một nước đang phát triển, nền kinh tế hội nhập ngàycàng sâu rộng, nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển tăng cao, nợ công đối vớiViệt Nam vẫn là nguồn tài chính quan trọng bù đắp thâm hụt ngân sách để chiđầu tư cho các mục tiêu tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững

Chúng ta đều biết, nguyên tắc cơ bản của nợ công an toàn đó là nợcông ngày hôm nay phải được bảo đảm bằng thặng dư ngân sách ngày mai.Nhưng thực tế tại Việt Nam, thâm hụt ngân sách đã trở thành kinh niên vàmức thâm hụt đã vượt xa ngưỡng “báo động đỏ” 5% theo thông lệ quốc tế, đedọa trực tiếp đến sự an toàn của nợ công

Hơn nữa, cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu đang đặt ra nhiều vấn đềmới đối với an toàn nợ công của Việt Nam Theo công bố của Cục quản lý nợvà tài chính đối ngoại tại bản tin nợ công số 5 [12], đến hết ngày 31-12-2015,

tỉ lệ nợ công của Việt Nam ở mức 62,2% GDP và năm 2016 là 64,7% Nhưvậy, tỷ lệ nợ này đã áp sát mức trần 65% mà Quốc hội cho phép, vượt quámức 60% GDP theo cách tính chỉ tiêu tỷ lệ nợ công trên GDP của Liên hiệpquốc, và nó quá cao so với mức phổ biến được khuyến cáo ở các nền kinh tếđang phát triển (từ 30-40%) và so với một số nền kinh tế mới nổi như TrungQuốc (20,9%), Indonesia (26,8%)… Theo đồng hồ nợ công toàn cầu TheGlobal Debt Clock trên trang Economist.com, tính đến cuối năm 2015, mức

nợ công tính trên đầu người của Việt Nam là 1.039 USD Nếu so sánh với1.145 USD (Philippines), 1.489 USD (Trung Quốc), 2.977 USD (Thái Lan),6.106 USD (Malaysia) thì đây là con số không cao Tuy nhiên, nếu so mức nợcông bình quân đầu người của Việt Nam vào năm 2001 xấp xỉ 112 USD; thìtrong vòng 14 năm, con số này đã tăng gấp 9,3 lần, cho thấy gánh nặng nợtương lai đổ lên đầu người dân ngày càng tăng Tính ra từ năm 2011 đến cuối

Trang 7

năm 2016, nợ công của Việt Nam đã tăng khoảng 108% (trung bình20%/năm), từ 1,3 triệu tỷ VNĐ năm 2011 lên gần 2,8 triệu tỷ VNĐ năm

2016 Với khoản nợ này, căn cứ vào thời điểm đáo hạn thì mỗi năm Việt Namphải trả nợ gốc và lãi cho nước ngoài gần 1,5 tỉ USD và mức trả nợ cao nhất

sẽ rơi vào năm 2020 với con số lên đến 2,4 tỉ USD Tuy nhiên, cho đến trướckhi cuô ̣c khủng hoảng nợ công Châu Âu xảy ra đẩy nền kinh tế thế giới vàotình trạng suy thoái nghiêm trọng, vấn đề về an toàn nợ công chưa được quantâm đúng mức và thực sự chưa được xem trọng Khi cuô ̣c khủng hoảng nợcông Châu Âu xảy ra, nó đã đánh mô ̣t đòn thức tỉnh vào tất cả các quốc gia,hàng loạt các quốc gia rơi vào tình trạng báo đô ̣ng về nợ công mất an toàn,Viê ̣t Nam cũng rơi vào nhóm các quốc gia có tỷ lê ̣ nợ công cao và an toàn nợcông mới thực sự trở thành vấn đề quan trọng

Vì vậy, an toàn nợ công là mô ̣t vấn đề có tính cấp thiết hàng đầu đối

với Viê ̣t Nam hiê ̣n nay Với lý do đó, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “An toàn nợ công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” làm luận án Tiến sỹ kinh tế của mình.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích: Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về an

toàn nợ công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam; trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm an toàn nợcông ở Việt Nam trong thời gian tới

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về an toàn nợ công trong nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa; nghiên cứu khủng hoảng nợ công Châu Âu

để rút ra bài học cần thiết đối với an toàn nợ công ở Việt Nam

- Phân tích, đánh giá thực trạng an toàn nợ công trong nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Trang 8

- Đề xuất các quan điểm cơ bản, giải pháp chủ yếu nhằm bảo đảm antoàn nợ công ở Việt Nam trong thời gian tới.

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: An toàn nợ công trong nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa

Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Về nội dung: Nghiên cứu an toàn nợ công trong nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa dưới góc nhìn của khoa học kinh tế chính trị tậptrung vào các khía cạnh chủ yếu sau:

Quy mô nợ công được xem xét ở 3 tiêu chí thành phần: Tỷ suất nợcông trên GDP, tỷ suất nợ công so với kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch

vụ và tỷ suất nợ công so với thu NSNN

Cơ cấu nợ công được đánh giá thông qua tỷ trọng các loại nợ, kỳ hạntrả nợ, cơ cấu lãi suất và dự trữ ngoại hối

Năng lực kinh tế vĩ mô được xem xét ở các tiêu chí: Tỷ lệ thâm hụt ngânsách, năng suất các nhân tố tổng hợp, tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát, hiệu quả

sử dụng vốn, mức tiết kiệm nội địa, mức đầu tư xã hội và dự trữ ngoại hối

Không gian: Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam

Thời gian: Nghiên cứu, khảo sát từ năm 2006 đến nay.

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luâ ̣n của luâ ̣n án

Luận án dựa trên cơ sở, nền tảng lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam vềvấn đề nợ công, an toàn nợ công

Cơ sở thực tiễn của luâ ̣n án

Luận án được thực hiện dựa trên sự kế thừa những thành tựu từ cáccông trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về nợ công,

Trang 9

khủng hoảng nợ công, đặc biệt là an toàn nợ công và thực trạng an toàn nợcông ở Viê ̣t Nam từ năm 2006 đến nay.

Phương pháp nghiên cứu của luâ ̣n án

Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học kinh

tế chính trị Mác - Lê nin, tập trung chủ yếu vào các phương pháp sau:

Phương pháp duy vật biện chứng: Đây là phương pháp nghiên cứu

chung cho toàn bộ luận án

Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Với phương pháp này, luận án

không đi sâu nghiên cứu những nhân tố cụ thể liên quan đến an toàn nợ côngtrong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Tỷ suất nợ côngtrên GDP, tỷ suất nợ công so với thu ngân sách, tỷ trọng các loại nợ, kỳ hạntrả nợ, thâm hụt ngân sách, tốc độ tăng trưởng kinh tế, hiệu quả sử dụng vốncủa nền kinh tế, năng suất các nhân tố tổng hợp, mức tiết kiệm nội địa, mứcđầu tư xã hội, dự trữ ngoại hối, lạm phát, tỷ giá, lãi suất…) mà thông qua sốliệu thực tế của các nhân tố này làm cơ sở đánh giá an toàn nợ công trên 3 tiêuchí: về quy mô nợ công, về cơ cấu nợ công và về năng lực kinh tế vĩ mô

Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh: Tác giả sử dụng

phương pháp này để xử lý các số liệu thực tiễn đã thu thập được, từ đó làmnổi bật lên những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu vàhạn chế trong bảo đảm an toàn nợ công trong nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Phương pháp chuyên gia: Tác giả trao đổi với các nhà quản lý, nhà khoa

học và xin ý kiến các chuyên gia để đánh giá thực trạng, đề xuất các quan điểmvà giải pháp bảo đảm an toàn nợ công trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Trang 10

5 Những đóng góp mới của luận án

Đưa ra quan niệm, tiêu chí đánh giá an toàn nợ công trong nền kinh tếthị trường ở Việt Nam dưới góc độ tiếp cận của kinh tế chính trị Mác - Lê nin

Đánh giá thực trạng an toàn nợ công trong nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và chỉ rõ nguyên nhân thành tựu và hạn chế;đồng thời làm rõ những vấn đề đặt ra cần giải quyết nhằm bảo đảm an toàn nợcông trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Đề xuất các quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu góp phần bảo đảm

an toàn nợ công ở Việt Nam

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

Luận án bước đầu cung cấp những luận cứ khoa học có thể kế thừatrong nghiên cứu về an toàn nợ công; có thể làm tài liệu tham khảo phục vụcông tác giảng dạy trong các học viê ̣n, nhà trường trên cả nước; làm tài liệutham khảo cho các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách nhằm bảo đảm antoàn nợ công ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay

Luận án hoàn thành cũng sẽ góp phần cung cấp những số liệu thực tếvà các giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra về an toàn nợcông trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận án

Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương 10 tiết, kết luận, danh mục các côngtrình của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Các công trình khoa học nghiên cứu về nợ công và quản lý nợ công

Francis X Cavanaugh (1996), “Truth about the National debt: Five myths and one reality” (Sự thâ ̣t về nợ quốc gia: lý thuyết và thực tế) , Boston

(Massa.), [58], Harvard business school press, tác giả cho rằng vấn đề là chi tiêuchính phủ không có kỷ luâ ̣t, không phải là cách trả tiền cho họ - dù thông qua việctăng các khoản nợ hoặc nâng cao các loại thuế Qua công trình nghiên cứu, tác giả

đề xuất xác định lại thâm hụt ngân sách liên bang để khôi phục lại kỷ luật và lòngtin trong việc quản lý tài chính của chính phủ Giải thích những tác động của nợđến các thế hệ tương lai, đầu tư tư nhân, lãi suất, an sinh xã hội, đầu tư nước ngoàivà đổi mới cái gọi là mô ̣t ngân sách liên bang cân bằng

T.K Jayaraman, Chee-Keong Choong (2006), “Public debt and economic growth in The South Pacific Islands: a case study of Fiji”( Nợ công và tăng trưởng kinh tế ở các đảo Nam Thái Bình Dương: Nghiên cứu trường hợp của Phi-gi), [75] Thực hiê ̣n phân tích định lượng với mô ̣t mô

hình đa biến, xác định nợ công trong quá khứ đã dẫn đến sự tăng trưởng kinh

tế ở Fiji Nghiên cứu sử dụng dữ liệu hàng năm trong khoảng thời gian 34năm từ 1970 đến 2003 Qua đó trình bày xu hướng của nợ công ở Fiji trong

ba thập kỷ qua, đưa ra kết luâ ̣n về tác đô ̣ng của chính sách

The World Bank (2007), Managing public debt: “From diagnostics to reform implementation”(Quản lý nợ công: Từ chẩn đoán đến thực hiện cải cách), [78]: Thiết kế chương trình cải cách và các chương trình xây dựng

Trang 12

năng lực trong mười hai quốc gia Kinh nghiệm từ các nước Bulgari,Colombia, Costa Rica, Crô-a-ti-a, In-đô-nê-xi-a, Kenya, Lebanon, Nicaragua,Pakistan, Sri Lanka, Tunisia và Zambia cho thấy: Một trong những thách thứclớn nhất cho nâng cao chất lượng quản lý nợ công ở hầu hết các quốc gia nàylà: việc tuyển dụng và giữ chân nhân viên có tay nghề cao và giàu kinhnghiệm Một thách thức phổ biến nữa là vấn đề tổng hợp dữ liệu từ các hệthống riêng biệt Qua đó, nghiên cứu chỉ ra các yếu tố cần thiết trong quản lý

nợ công như: phối hợp hiệu quả với chính sách tài khóa và tiền tệ, quản trị tốt,năng lực thể chế và năng lực nhân viên, đồng thời nghiên cứu cũng nhấnmạnh, hiệu quả thực hiện các chiến lược quản lý nợ cũng đòi hỏi một thịtrường nợ chính phủ trong nước phát triển

The World Bank (2007), “Developing the domestic government debt market: From diagnostics to reform implementation”(Phát triển thị trường

nợ chính phủ trong nước: Từ chẩn đoán để thực hiện cải cách), [79], nêu lên

tầm quan trọng của thị trường tiền tệ đối với sự phát triển của thị trườngchứng khoán chính phủ Các bước để cơ quan có thẩm quyền thực hiê ̣n vaytrong thị trường nội địa, bao gồm việc lựa chọn các công cụ, kỹ thuật pháthành, và các mối quan hệ với các tổ chức trung gian tài chính Nghiên cứunhấn mạnh sự phức tạp của chương trình cải cách, sự tương tác giữa các thịtrường nợ, và mức đô ̣ phụ thuô ̣c trong phát triển thị trường nợ

Arjan Lejour, Jasper Lukkezen, Paul Veenendaal (2010), Sustainability

of government debt in the EU (Tính bền vững của nợ Chính phủ ở EU), Theconference “The Economic Crisis and the Process of European Integration”,[50]; các tác giả khảo sát các tài liệu về nợ chính phủ bền vững và tác độnglan tỏa của nợ chính phủ qua biên giới, đồng thời, sử dụng các nghiên cứuthực nghiệm để đánh giá sự phù hợp của các yếu tố quyết định Từ việc xemxét tài liệu về mức nợ bền vững, các tác giả lấy được bốn chỉ số có thể coi là

Trang 13

hữu ích cho việc đánh giá tính bền vững của nợ công: (1) Chỉ số khoảng cáchphát triển bền vững tương lai (cho thấy khoảng cách về thặng dư cơ bảnchiếm bao nhiêu phần trăm GDP từ một tỷ lệ nợ ổn định); (2) Chỉ số khoảngcách phát triển bền vững quá khứ (chỉ ra mức độ nợ hiện nay tương ứng với tỷ lệbền vững nếu thặng dư chủ yếu gia tăng, lãi suất và tăng trưởng GDP duy trì ởmức trung bình của chúng trong thời gian gần đây); (3) Chỉ số nợ so với tổng thucủa Chính phủ (trung bình trên 350% cho các nước có nền kinh tế thị trường mớinổi vào thời kỳ 1998 và 250% cho các nước khác (Callen et al., 2003)); (4) Tỷ lệ

nợ so với GDP (ngưỡng 90% tương ứng với mức GDP tăng trưởng dưới trungbình (Reinhart and Rogoff, 2010))

Sử dụng bốn chỉ số phát triển bền vững, các tác giả đưa ra kết luận vềthực trạng nợ công các nước EU: chỉ một vài trong số các quốc gia thành viênxem xét ở vị thế khó khăn về nợ, hầu hết các nước đang xem xét thuộc nhóm

nợ không bền vững

Paolo Mauro (2011), “Chipping away at public debt: Sources of failure and keys to success in fiscal adjustment”(Bào mòn nợ công: Nguyên nhân thất bại và chìa khóa thành công trong điều chỉnh tài chính), [68]: Xem xét

kế hoạch điều chỉnh tài chính trong các nền kinh tế tiên tiến, so sánh giữa kếhoạch giảm nợ công và thâm hụt ngân sách với thu nhâ ̣p thực tế Đồng thờixem xét khi chi tiêu vượt quá hoă ̣c thu nhâ ̣p thấp hơn kỳ vọng, và giải thích lý

do kế hoạch giảm nợ công tiến hành nhanh hơn hoă ̣c châ ̣m hơn so với dựkiến Bài học kinh nghiệm và giải pháp để điều chỉnh tài chính thành công

Terry Miller, Kim R Homles, Edwin J Feuln, Anthony B Kim, Bryan

Riley, James M Roberts (2012), “2012 index of economic freedom”(Chỉ số

tự do kinh tế 2012), [73] Phân tích những vấn đề về nợ, mối quan hê ̣ giữa nợ

và tự do kinh tế, nợ chính phủ và gánh nă ̣ng của thế hê ̣ tương lai, nợ công và

Trang 14

tăng trưởng, nợ và người nghèo Nghiên cứu khủng hoảng nợ công Châu Âuvà đưa ra khuyến nghị.

Ugo Panizza, Andrea F Presbitero (2012), “Public debt and economic growth: Is there a causal effect?”(Nợ công và tăng trưởng kinh tế: Có quan hê ̣ nhân quả?), [76] Sử dụng cách tiếp câ ̣n công cụ biến để nghiên cứu mối liên hệ

nhân quả giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế trong đó sử dụng mẫu là các nướcOECD Nghiên cứu cho thấy mối tương quan tiêu cực giữa nợ và tăng trưởng vànhững kết quả này phù hợp với các tài liệu hiện có

Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập những vấn đề lý luận vàthực tiễn về nợ công cũng như các nội dung liên quan đến nợ công như quản

lý nợ công, cơ cấu nợ công và tác động của nợ công đến nền kinh tế cũng nhưthế hệ tương lai, nghiên cứu nợ công, khủng hoảng nợ công ở một số quốcgia, khu vực từ đó đưa ra những khuyến nghị Những vấn đề lý luận mà cáccông trình nghiên cứu nêu ra đều được khái quát từ thực tiễn tại các quốc giaphát triển và đang phát triển, tuy nhiên các quốc gia này đều có những đặcđiểm kinh tế cũng như xu hướng chính trị - xã hội khác với Việt Nam, do vậychỉ mang tính tham khảo đối với đề tài luận án Đề tài mà nghiên cứu sinh lựachọn không trùng lặp với các công trình nghiên cứu nêu trên

1.1.2 Các công trình khoa học nghiên cứu về an toàn nợ công

Marek Dabrowski (2014), Factors Determining a ‘Safe’ Level of PublicDebt (Các yếu tố xác định mức an toàn nợ công), [65] Theo tác giả tỷ lệ nợcông so với GDP không phải là yếu tố duy nhất xác định các rủi ro tiềm năng

vỡ nợ Tác giả đã chỉ ra một số yếu tố và hoàn cảnh nên xem xét khi xác địnhmức an toàn của nợ công:

Nợ động: nếu nó gia tăng nhanh chóng nó sẽ tạo thêm một yếu tố nguy cơ;

Trang 15

Dư nợ đến hạn: nếu đây là nợ ngắn hạn nó có thể là nguyên nhân của

nợ quá hạn;

Sẵn có của tài sản tài chính lỏng, tức là, sự khác biệt giữa tổng và nợ ròng;

Tỷ lệ người không cư trú trong số các chủ nợ: tỷ lệ thành phần này cao

có thể tăng rủi ro thoái vốn đột ngột khi họ rút khỏi thị trường trái phiếu chínhphủ trong trường hợp khủng hoảng toàn cầu và khu vực;

Tỷ lệ các nhà đầu tư ngắn hạn trong số các chủ nợ (điều này cũng làmtăng rủi ro vốn chảy tháo ra ngoài trong các trường hợp sốc bất lợi);

Những chia sẻ các nghĩa vụ nợ bằng đồng ngoại tệ (quan trọng trongtrường hợp đồng tiền mất giá);

Sự hiện diện của các khoản nợ tiềm tàng, đặc biệt là trong hệ thốngngân hàng và tài chính;

Uy tín tài chính quốc gia (quá trình trải qua các vụ vỡ nợ trong quákhứ, lạm phát cao và lạm phát phi mã, khủng hoảng ngân hàng, sự ổn định và

độ tin cậy của đồng tiền quốc gia, vv);

Ổn định chính trị và năng lực chính trị của những quyết định cần thiết

để củng cố tài chính, khả năng dự đoán của chính sách kinh tế của đất nước;

Tiềm năng thuế của quốc gia; tính sẵn có của các nguồn thu phi thuế,bao gồm cả doanh thu tiền cho thuê liên quan đến tài nguyên thiên nhiên;

Mức độ phát triển thị trường tài chính và tính thanh khoản của nó;Nhu cầu bên ngoài đối với khoản nợ quốc gia và các công cụ tài chínhkhác và vai trò quốc tế của tiền tệ quốc gia; yếu tố này giải thích sự sẵn sàngcủa các thị trường tài chính để tài trợ cho mức độ nợ công của các nước như

Mỹ, Anh, Nhật Bản và Đức;

Tình hình trên thị trường tài chính quốc tế; thay đổi trong thanh khoảntoàn cầu, những thay đổi trong tâm lý của nhà đầu tư, phản ứng của họ vớicác cú sốc bất ngờ

Trang 16

Tác giả đưa ra kết luận, không có một tiêu chuẩn duy nhất của “antoàn” nợ công Mỗi quốc gia phải xác định cho mình mức tối đa của nợ côngdựa trên lịch sử kinh tế vĩ mô và tín dụng riêng của mình và kinh nghiệm củacác nước khác, nhưng có tính đến điều kiện cụ thể của riêng mình Khi nguy

cơ vỡ nợ được xác định bởi quá nhiều yếu tố và đôi khi hoàn cảnh không thểđoán trước (ví dụ, các cú sốc toàn cầu và hoảng loạn trên thị trường quốc tế),trần nợ công nên được xác định ở mức tương đối thấp với biên độ đủ an toàn

Magnus Saxegaard (2014), Safe Debt and Uncertainty in EmergingMarkets: An Application to South Africa (An toàn nợ và sự không chắc chắn

ở các thị trường mới nổi: ứng dụng trường hợp của Nam Phi), [63] Các tácgiả đề xuất một phương pháp đơn giản để xác định một mức nợ an toàn mà sẽcho phép các nước vẫn dưới một hạn mức nợ bền vững tối đa, có tính đến tácđộng của các cú sốc cho nền kinh tế Trong đó, đóng góp chính của các tácgiả là kết hợp phương pháp hiện có để ước lượng trần nợ và dự báo nợ ngẫunhiên để ước lượng khoảng cách giữa trần nợ bền vững và mức độ an toàncủa các khoản nợ mà chính sách tài khóa nên nhắm mục tiêu (điểm chuẩn nợ).Như lập luận của Mendoza và Oviedo (Oviedo, P Marcelo and EnriqueMendoza (2009), “Public Debt, Fiscal Solvency and MacroeconomicUncertainty in Latin America The Cases of Brazil, Colombia, Costa Rica andMexico” (Nợ công, khả năng thanh toán tài chính và tính bất định kinh tế vĩ

mô ở Mỹ Latinh: Các trường hợp của Brazil, Colombia, Costa Rica vàMexico), [67]), một vị trí tài chính bền vững là khi chính phủ có thể cam kếtthanh toán nợ ngay cả khi nền kinh tế đang phải chống chọi những cú sốc,hoặc khi các rủi ro tài chính trở thành hiện thực Phân tích của các tác giả ngụ

ý rằng chính sách tài khóa nên nhắm mục tiêu một mức nợ thấp hơn mức trần

nợ tạo khoảng trống cho phép hấp thụ những cú sốc có khả năng làm tổnthương nền kinh tế Ví dụ, ở các nước tính không ổn định cao, do các thànhphần và mức độ nợ hoặc do biến động kinh tế vĩ mô lớn có ảnh hưởng đến

Trang 17

năng lực trả nợ - sự phân biệt một trần nợ và một chuẩn mực nợ là đặc biệtquan trọng Trong đó, mức biến động cao hơn đòi hỏi một chính sách tài khóacho phép thêm không gian dưới trần nợ để duy trì khả năng trả nợ ngay cả khinền kinh tế đang phải chịu những cú sốc.

Để minh họa cho nghiên cứu của mình, các tác giả áp dụng các phươngpháp để ước tính mức nợ an toàn cho Nam Phi Qua việc sử dụng một loạt cácphương pháp, các tác giả ước tính rằng một trần nợ khoảng 60% GDP là phùhợp với tính bền vững nợ ở Nam Phi Theo mô hình đơn giản ngẫu nhiênVector Auto-Regression (VAR) cho thấy một điểm chuẩn khoảng 40% GDP

sẽ cho phép Nam Phi giữ cho nợ dưới trần với một mức độ tin cậy cao trongtrung hạn (đến năm 2020), ngay cả khi nền kinh tế phải gánh chịu những cúsốc lớn Để đạt chuẩn này sẽ đòi hỏi một nỗ lực tài chính đáng kể và có thểtrong trường hợp không có những cải cách cơ cấu tăng trưởng kinh tế - tạothêm áp lực lên nền kinh tế vốn đã yếu

Jonathan D Ostry, Atish R Ghosh, and Raphael Espinoza (2015),When Should Public Debt Be Reduced? (Khi nào nợ công có thể giảm?), IMFStaff discussion note, [61] Các tác giả xem xét nợ công tối ưu và chính sáchđầu tư trong những hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Bài viếttóm tắt những rủi ro tái đầu tư mà các quốc gia phải đối mặt khi gần giới hạn

nợ của họ, và cũng từ những cân nhắc mang tính chu kỳ ngắn hạn

Về mức độ an toàn của nợ công, theo các tác giả rất khó để xác địnhmột mức chính xác trong thực tế, và không bao giờ có thể được thiết lậpthông qua một số nguyên tắc hoặc ngưỡng máy móc Kiểm tra sự căng thẳngbảng cân đối của khu vực công là điều cần thiết để hình thành án quyết ở cấpquốc gia về những gì cấu thành một mức nợ công an toàn Điều này có thểhữu ích để nghĩ về các mức nợ nếu rơi vào ba khu vực: khu vực màu xanh lácây, trong đó khả năng tài chính dồi dào; khu vực màu vàng, trong đó khả năngtài chính là tích cực nhưng nổi lên vấn đề rủi ro chủ quyền; và khu vực màu đỏ,

Trang 18

trong đó khả năng tài chính đã không còn Trong bài viết này, các tác giả chủyếu phân tích trường hợp khu vực màu xanh lá cây Giảm nợ trong trường hợpnhư vậy có thể sẽ là chuẩn mực không mong muốn nếu các chi phí liên quan sẽlớn hơn so với lợi ích thu được.

Các công trình nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm của mình về antoàn nợ công, nhưng cũng khuyến cáo không có một chuẩn chung về an toàn

nợ công đối với mọi quốc gia và đưa ra những gợi ý có thể xem xét khi đánhgiá mức an toàn của nợ công Đây là những tài liệu tham khảo hữu ích cho đềtài luận án để xây dựng một khung đánh giá an toàn của nợ công ở Việt Nam

1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài luận án

1.2.1 Các công trình nghiên cứu về nợ công và quản lý nợ công

Lê Thị Minh Ngọc (2011), “Nợ công - Sự tác động đến tăng trưởngkinh tế và gánh nặng của thế hệ tương lai”, [31]: trong bài phân tích tác giả đãđưa ra một số quan niệm về nợ công trong đó đề cập đến quan niệm của WB,IMF và của Việt Nam qua Luật Quản lý nợ công Trọng tâm bài phân tích đềcập về tác động của nợ công đến nền kinh tế, trong đó tác giả chỉ ra vẫn tồntại nhiều quan điểm khác nhau, trong đó có 2 quan điểm chủ đạo: quan điểmtruyền thống, đại diện là J.Keynes cho rằng: khi Chính phủ vay nợ để bù đắpcho thâm hụt ngân sách do cắt giảm các nguồn thu từ thuế trong khi mức chitiêu công không thay đổi sẽ tác động tới hành vi tiêu dùng của người dân.Tuy nhiên, về dài hạn, làm cho tiết kiệm quốc gia giảm và kèm theo đó lànhững hệ lụy khác Quan điểm của David Ricardo lại cho rằng mức thuế cắtgiảm được bù đắp bằng nợ chính phủ sẽ không tác động đến tiêu dùng nhưquan điểm truyền thống, kể cả trong ngắn hạn Hai quan điểm này luôn tồn tạisong song, tuy nhiên quan điểm nào phù hợp với từng thời điểm của quốc giacòn phụ thuộc vào nhân tố: hành vi người tiêu dùng

Trang 19

Nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra những tác động của nợ công đến nềnkinh tế: (1) Nợ công lớn làm giảm tích lũy vốn tư nhân, dẫn đến hiện tượngthoái lui đầu tư tư nhân; (2) Nợ công làm giảm tiết kiệm quốc gia; (3) Nợcông tạo áp lực gây ra lạm phát; (4) Nợ công làm méo mó các hoạt động kinh

tế, gây tổn thất phúc lợi xã hội; (5) Những tác động khác: Thay đổi quy trìnhquản lý Nhà nước, tổn hại hệ số tín nhiệm quốc gia, nguy cơ suy giảm chủquyền, giảm sự độc lập về chính trị hoặc khả năng lãnh đạo quốc gia… Theotác giả, gánh nặng của nợ công lên thế hệ tương lai đó là: giảm trợ cấp chonhững người đóng thuế trong tương lai, chịu sự sụt giảm về chất lượng cuộcsống do hệ quả của nợ công gây ra Qua đó, tác giả khuyến nghị, việc đánhgiá đúng tình trạng nợ công và tác động của nó lên nền kinh tế không chỉ dựavào quy mô khoản nợ công mà còn cần phải xét đến cơ cấu nợ, chất lượng,hiệu quả các dự án đầu tư công được tài trợ bằng vốn vay, năng lực kinh tế,tài chính và khả năng trả nợ của quốc gia trong tương lai

Nguyễn Thị Kim Thanh (2011), “Vai trò của Ngân hàng Nhà nước trong quản lý nợ công”, [39] Tác giả nêu lên 2 lý do chính phải quản lý nợ

công được rút ra từ thực tế đó là: (1) Danh mục nợ của Chính phủ ngày cànglớn và phức tạp, nó có thể gây ra những rủi ro lớn đối với sự bất ổn vĩ mô,như mất khả năng thanh toán quốc gia đối với phần còn lại của thế giới vàtình trạng ổn định của tài chính quốc gia; (2) Việc quản lý nợ công hợp lý cóthể làm giảm thiểu chi phí và rủi ro Về nội dung quản lý nợ công, tác giả theoLuật Quản lý nợ công năm 2009 trên cơ sở đó tác giả cũng nêu lên bốn vai tròcủa Ngân hàng Nhà nước: (1) Góp phần giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực củathâm hụt ngân sách đến các lĩnh vực khác của nền kinh tế thông qua việc điềutiết dòng tiền giữa các lĩnh vực của nền kinh tế một cách hợp lý bằng cáccông cụ của chính sách tiền tệ; (2) Hỗ trợ tích cực việc huy động vốn cho bùđắp thâm hụt ngân sách, thông qua việc góp phần thúc đẩy sự phát triển thị

Trang 20

trường trái phiếu Chính phủ; (3) Có vai trò quan trọng trong việc tham giachiến lược quản lý nợ nước ngoài của quốc gia, trong đó, có nợ công củaChính phủ; (4) Giảm thiểu rủi ro nợ Chính phủ

Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP tại Việt Nam (2013), “Nợ côngvà tính bền vững ở Việt Nam: Quá khứ, hiện tại và tương lai”, [46]: thực hiệnđánh giá tính bền vững (Debt Sustainability Analysis - DSA) và những rủi rotài khóa đi kèm của nợ công Việt Nam Việc phân tích này được dựa trênphương pháp luận do WB (2006) và IMF (2011) xây dựng dành cho các nước

có thu nhập thấp Các tác giả thực hiện xây dựng khung phương pháp đánhgiá tính bền vững của nợ công Việt Nam: Đánh giá hiện trạng nợ công baogồm việc xem xét quy mô hiện tại, cơ cấu kì hạn, cơ cấu lãi suất cố định haythả nổi, cơ cấu tiền tệ và chủ nợ; Xác định tính dễ tổn thương của cơ cấu nợhiện tại hoặc rủi ro chính sách để từ đó khuyến nghị những điều chỉnh thíchhợp (trong đó có đưa ra các khuyến cáo về tính minh bạch thông tin nhằmphục vụ cho công tác quản lý, theo dõi và đánh giá nợ sau này)

Bài viết cũng nêu ra những khó khăn trong việc thực hiện phân tích nợcông Việt Nam như: việc tiếp cận các nguồn thông tin chính thống và cậpnhật về nợ công (quy mô, mức lãi suất từng khoản nợ, các dòng chi trả nợ gốcvà lãi trong tương lai), nợ nước ngoài và nợ của DNNN ở Việt Nam

Nghiên cứu cũng chỉ ra, rủi ro tiềm tàng lớn nhất đối với nợ công của ViệtNam có lẽ không phải ở những khoản nợ được ghi nhận trên sổ sách Nhữngkhoản nợ xấu của khu vực DNNN mà rất có thể sẽ phải dùng ngân sách nhànước để trả mới là mầm mống đe dọa đến an toàn của nợ công Việt Nam

Qua phân tích, nghiên cứu chỉ ra: rủi ro nợ công của Việt Nam chủ yếuđến từ phần nợ trong nước Nợ nước ngoài tuy quy mô khá lớn nhưng nhờđược hưởng lãi suất thấp và kì hạn dài nên gánh nặng trả nợ hàng năm làtương đối thấp trong những năm tới Tuy nhiên, trạng thái an toàn này chỉ

Trang 21

được đảm bảo nếu như Việt Nam ổn định được tỉ giá hối đoái Điều này, đếnlượt nó lại được quyết định bởi việc liệu chúng ta có cải thiện được cán cânvãng lai và duy trì được môi trường lạm phát thấp trong tương lai hay không?Ngược với nợ nước ngoài, gánh nặng nợ công trong nước đang đè nặng lêncán cân tài khoá hàng năm.

Phạm Thị Thanh Bình (Chủ biên) (2013), “Vấn đề nợ công ở một sốnước trên thế giới và hàm ý chính sách đối với Việt Nam”, [2]: cung cấp mộtcách nhìn tổng quát vấn đề nợ công dưới góc độ kinh tế Tác giả tập trungphân tích vấn đề nợ công, nguyên nhân và bản chất của nợ công; thực trạng

nợ công của các nước phát triển như Mỹ, Nhật, đặc biệt đi sâu tìm hiểu cuộckhủng hoảng nợ công Châu Âu; Bên cạnh đó, tác giả cũng đi sâu phân tích,đánh giá về thực trạng nợ công của một số nền kinh tế mới nổi và đang phát triển

ở Châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN Từ việc phân tích, đánh giá vềthực trạng nợ công của các nhóm nền kinh tế, tác giả đưa ra những giải pháp ứngphó nợ công của các nhóm tương ứng Đồng thời tác giả cũng đưa ra nhữngđánh giá về các giải pháp ứng phó nợ công này Tác giả cũng thực hiện việcđánh giá thực trạng một số vấn đề nợ công của Việt Nam; nguyên nhân vànhững rủi ro tiềm ẩn Trên cơ sở đó, rút ra một số bài học kinh nghiệm và đềxuất giải pháp quản lý nợ công ở Việt Nam trong thời gian tới

Phan Đình Nguyên (2013), “Quản lý nợ công ở Việt Nam từ năm 2006 đếnnay”, [32] Bài viết nghiên cứu thực trạng quản lý nợ công ở Viê ̣t Nam từnăm 2006 đến nay bằng phương pháp định tính: về giá trị tuyệt đối, mức nợbình quân trên đầu người, tỷ lệ nợ công trên GDP Qua đó tác giả đã chỉ ramột số hạn chế trong công tác quản lý nợ công ở Việt Nam: khung thể chếluật pháp còn rườm rà chồng chéo; khâu đánh giá nợ có độ trễ nhất định sovới thực tế; và việc quản lý sử dụng nợ công chưa hợp lý

1.2.2 Các công trình nghiên cứu về khủng hoảng nợ công

Trang 22

Chu Đức Dũng, Nguyễn Mạnh Hùng (Chủ biên) (2011), Bùi Ngọc Sơn,

“Khủng hoảng nợ công trên thế giới và hàm ý đối với Việt Nam”, [18]: Cung

cấp thông tin về nguy cơ khủng hoảng nợ công trên thế giới hiện nay và tìnhtrạng nợ công của các nền kinh tế lớn như Liên minh Châu Âu (EU), Mỹ,Nhật Bản và Trung Quốc, từ đó rút ra một số hàm ý cho vấn đề nợ công củaViệt Nam 9 vấn đề của các tác giả đã không chỉ chia sẻ những điểm tươngđồng mà còn nêu ra những cách tiếp cận khác nhau ngay cả đối với cùng mộtchủ đề như nợ công của một nước, từ đó cho thấy được tính chất đa chiều củavấn đề nợ công trên thế giới

Tạ Thị Lệ Yên (2011), “Tài chính công Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng nợ công thế giới”, [44]; Khái quát về tài chính công và khủng hoảng

nợ công, nguyên nhân, dấu hiệu nhận diện khủng hoảng nợ công, ảnh hưởngcủa khủng hoảng nợ công đến tài chính công của các quốc gia Phân tíchThực trạng khủng hoảng nợ công trên thế giới, tình hình nợ công và tàichính công ở Việt nam thời gian qua Từ đó đưa ra Giải pháp cho tài chínhcông ở Việt Nam trước nguy cơ khủng hoảng nợ công

Vũ Minh Long (2013), “Khủng hoảng nợ công tại một số nền kinh tế trên thế giới nguyên nhân, diễn biến, hậu quả, biện pháp khắc phục và những hàm ý chính sách cho Việt Nam”, [26]: Bài Nghiên cứu NC-28, Trung tâm

Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốcgia Hà Nội, trong công trình nghiên cứu tác giả trình bày một cách khái quátmột số vấn đề lý luận về nợ công: định nghĩa nợ công theo pháp luật Việt Namvà theo thông lệ quốc tế (của Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc

tế (IMF)), bản chất kinh tế của nợ công và 3 rủi ro của nợ công: rủi ro thanhtoán, rủi ro thanh khoản và rủi ro từ bất ổn vĩ mô Tác giả cũng đã phân tích

một số cuộc khủng hoảng trong lịch sử và đặc biệt phân tích khủng hoảng nợ

công Châu Âu - cuộc khủng hoảng đang tác động mạnh mẽ đến kinh tế toàncầu hiện nay về thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và phản ứng chính sách

Trang 23

Về phân tích nợ công ở Việt Nam, tác giả thực hiện phân tích về: thu vàchi ngân sách nhà nước, thâm hụt ngân sách và nợ công, rủi ro nợ công ViệtNam Trên cơ sở các phân tích trên, tác giả gợi ý một số chính sách về sửdụng và quản lý hiệu quả nguồn vốn hiện nay để Việt Nam tránh được nhữngrủi ro về khủng hoảng như: Công khai minh bạch thông tin về ngân sách nhànước và nợ công; Tăng nguồn thu ngân sách và cắt giảm chi tiêu công; Nângcao hiệu quả kinh tế; Phát triển thị trường nợ trong nước.

Những công trình nghiên cứu nêu trên đã phân tích lý luận chung về nợcông, quản lý nợ công, vai trò của nợ công trong quá trình phát triển kinh tế - xãhội ở nước ta; phân tích cơ cấu nợ công, thực trạng nợ công Việt Nam dướinhiều góc độ Một số công trình đi sâu phân tích những bài học kinh nghiệm rút

ra đối với Việt Nam từ các cuộc khủng hoảng nợ công trên thế giới Các côngtrình, bài viết đã chỉ ra những thách thức mà nợ công Việt Nam đang phải đốimặt trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu cũng như cuộckhủng hoảng tài chính toàn cầu trong xu thế Việt Nam ngày càng hội nhập sâuhơn vào nền kinh tế thế giới Các công trình nghiên cứu này là những tài liệutham khảo hữu ích cho đề tài luận án

1.2.3 Các công trình khoa học nghiên cứu về an toàn nợ công

Nguyễn Đức Thành (Chủ biên) (2011), Phạm Thế Anh, Từ Thuý Anh,

“Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2011: Nền kinh tế trước ngã ba đường”, [40] Đây là Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam 2011 do Trung

tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), Trường Đại học Kinh tế, Đạihọc Quốc gia Hà Nội thực hiện Các tác giả đã thực hiện phân tích tổng quankinh tế thế giới và những vấn đề trọng tâm của kinh tế Việt Nam trong năm

2010 trong đó có nội dung liên quan đến đề tài mà tác giả luận án đang thựchiện: nợ công ở Việt Nam Trong phần tổng quan kinh tế thế giới 2010, cáctác giả có đề cập đến khủng hoảng nợ công Châu Âu, trong đó phân tích

Trang 24

nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nợ công của Hy Lạp Về nợ công ở ViệtNam, các tác giả cho thấy vấn đề hiện nay về những con số không nhất quángiữa Bộ Tài chính (MoF) và các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Phát triểnchâu Á (ADB) hay Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) do cách hạch toán đã gây ranhiễu loạn thông tin cho những người tham gia thị trường, đồng thời khiếncho việc so sánh quốc tế, đánh giá và quản lý rủi ro nợ công của Việt Namgặp khó khăn.

Để đánh giá rủi ro nợ công của Việt Nam, các tác giả dựa trên nghiêncứu của Manasse và Roubini (2005) theo các thước đo: khả năng thanh toán

nợ, khả năng thanh khoản và sự bất ổn của những biến vĩ mô quan trọng Cácthước đo khả năng thanh toán nợ của Việt Nam cho thấy, ước tính cho tới hếtnăm 2010, tỷ lệ nợ công/GDP, nợ nước ngoài/GDP và nợ công nướcngoài/GDP của Việt Nam lần lượt ở mức trên 50%, 40% và 30% Theo cáctác giả, rất khó có thể đưa ra được ngưỡng an toàn với các chỉ tiêu này do mỗinghiên cứu thường đưa ra các khuyến cáo khác nhau với từng quốc gia cụ thể.Tuy nhiên, từ số liệu của MoF, xu hướng hai năm từ 2008-2010, tỷ lệ nợcông/GDP đã tăng khoảng 15 điểm phần trăm, từ 36.2% lên 52.6%, tỷ lệ nợcông nước ngoài/GDP cũng tăng hơn 5 điểm phần trăm, từ 25.1% lên hơn30.5%, xu hướng này cho thấy khả năng thanh toán nợ của Việt Nam đanggiảm nhanh và ảnh hưởng nghiêm trọng tới an toàn tài chính Tương tự, tỷ lệ

nợ công/tổng thu ngân sách nhà nước cũng tăng nhanh, trong khi đó cán cânngân sách liên tục thâm hụt cao trong những năm gần đây Về khả năng thanhkhoản, với trên 80% nợ nước ngoài là nợ dài hạn và với lãi suất ưu đãi nênkhả năng thanh khoản nợ nước ngoài của Việt Nam là khá an toàn Tỷ lệ nợnước ngoài ngắn hạn/dự trữ ngoại hối xấp xỉ 20% trong khi nghĩa vụ trả nợnước ngoài/dự trữ ngoại hối hàng năm cũng ở mức thấp, dưới 10%, so vớingưỡng an toàn được khuyến cáo thì các chỉ tiêu này còn thấp hơn khá nhiều

Trang 25

Theo tính toán của các tác giả, từ năm 2011 đến 2013, nghĩa vụ nợ củaChính phủ chủ yếu là từ nợ trong nước Nghĩa vụ nợ nước ngoài tương đối ổnđịnh trong thời gian tới, tuy nhiên thâm hụt thương mại kéo dài đang là nguy cơlàm thâm thủng dự trữ ngoại hối và đe dọa đến an toàn nợ nước ngoài ngắn hạncủa Việt Nam trong dài hạn.

Về thước đo bất ổn vĩ mô, bức tranh vĩ mô của Việt Nam đang xấunhanh hơn dự kiến: tăng trưởng chậm lại, thâm hụt cán cân vãng lai tăng vọt(xấp xỉ 10% GDP) kéo theo sự mất giá liên tiếp của đồng nội tệ, thâm hụtngân sách kéo dài, cung tiền trong nước tăng mạnh khiến vòng xoáy tăng giákhó kiểm soát Lạm phát và lãi suất trái phiếu Chính phủ của Việt Nam hiện

đã vượt 11%/năm, một dấu hiệu thường xảy ra ở các nước trước khi có khủnghoảng nợ Những bất ổn vĩ mô đã khiến Việt Nam liên tiếp bị hạ bậc xếp hạngtín nhiệm và triển vọng kinh tế bởi các tổ chức quốc tế

Bên cạnh đó, các tác giả cũng đi sâu vào phân tích một số chỉ tiêu quantrọng trong các thước đo đánh giả rủi ro nợ công của Việt Nam như: tổng thucủa Chính phủ, lãi suất và tỷ giá Các tác giả cũng đưa ra dự báo về nợ côngcủa Việt Nam giai đoạn 2011-2020

Nguyễn Quốc Nghi (2011), “Luận bàn vấn đề nợ công ở Việt Nam”,

[28]: bài viết phân tích khái quát về thực trạng nợ công Việt Nam Theo xếphạng nợ công của nhiều tổ chức tài chính quốc tế, năm 2008, nợ công củaViệt Nam tương đương 52.6%GDP, đứng thứ 44 về nợ công trong tổng sốgần 200 nền kinh tế được xếp hạng và thấp hơn mức bình quân của thế giới là56%GDP Đến năm 2010, nợ công của Việt Nam đã tăng lên 56.7%GDP Sosánh với nhiều nước, kể cả những nền kinh tế hàng đầu thế giới như Mỹ(58.9%GDP), Nhật Bản (192%GDP, năm 2010 là 225.8%GDP), Italia(118.1%GDP), Pháp (83.5%GDP), Đức 78.8%GDP)… thì nợ công của ViệtNam được xem là khá an toàn Tuy nhiên, bài viết cũng chỉ ra cách tính nợ

Trang 26

công của Việt Nam so với cách tính của Tổ chức Thương mại và Phát triểnLiên Hợp quốc (UNCTAD) được nhiều nước trên thế giới sử dụng có sựchênh lệch khá lớn Điều này cho thấy, chỉ riêng việc tính toán nợ công cũng

đã gây ra nhiều bất cập, cách đánh giá, thống kê thiếu thống nhất, chặt chẽ vàliên kết giữa các cơ quan quản lý nợ công Bên cạnh đó, giai đoạn 2008 -

2010 nợ được Chính phủ bảo lãnh - một bộ phận của nợ công - tăng liên tụcqua các năm Bài viết đưa ra nhận định: Tuy vẫn còn trong tầm kiểm soát,nhưng vấn đề nợ công cũng là một yếu tố nhất định không được xem nhẹ nếumuốn duy trì sự ổn định nền kinh tế vĩ mô và đảm bảo phát triển bền vững Dùhiện tại các số liệu về nợ công còn chưa thống nhất, do cách tính toán có khácnhau, nhưng mức nợ công “thật” lại không vì cách tính toán mà suy giảm

Nguyễn Thị Như Nguyệt (2012), “Duy trì tính bền vững nợ công ở Việt Nam”, [33]: Phân tích thực trạng nợ công tại Việt Nam về: Quy mô nợ; Cơ

cấu nợ; Tính thanh khoản của các khoản nợ; Chi phí vay nợ và Về tiền vay

nợ Để xem xét nợ công, theo tác giả ngoài phân tích quy mô nợ công trênGDP cần phân tích những tiêu chí như: giới hạn nợ, cơ cấu nợ công, tỷ trọngcác loại nợ, cơ cấu lãi suất, thời gian trả nợ…(i) Giới hạn nợ công không vượtquá 50% - 60% GDP hoặc không vượt quá 150% kim ngạch xuất khẩu; (ii)Dịch vụ trả nợ công không vượt quá 15% kim ngạch xuất khẩu và không vượtquá 10% chi ngân sách Ngoài ra, để đánh giá mức nợ công thế nào là an toànvà bền vững còn phải xem xét một cách toàn diện trong mối liên hệ với hệthống các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như: Tỷ lệ thâm hụt ngân sách, năng suất laođộng tổng hợp, tốc độ tăng trưởng GDP, hiệu quả sử dụng vốn của nền kinhtế… Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số đề xuất để duy trì bền vững cho nợcông của Việt nam

Vũ Thành Tự Anh (2012), “Tính bền vững của nợ công ở Việt Nam, Chính sách công và phát triển bền vững Cán cân thanh toán, nợ công và đầu

Trang 27

tư công”, [1]: trong bài viết tác giả đề cập đến khái niệm nợ công theo nghĩa

rộng và nghĩa hẹp, trong đó khái niệm nợ công theo nghĩa hẹp được bộ Tàichính của Việt Nam sử dụng, còn khái niệm nợ công theo nghĩa rộng là của

Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính - DMFAS - của UNCTAD Vềkhái niệm tính bền vững của nợ công, theo tác giả hiện nay vẫn chưa có mộtkhái niệm thống nhất, và việc đưa ra chính xác khi nào ngưỡng bền vững bịphá vỡ rất khó khăn do 3 nguyên nhân chính: (1) Nợ công và tính bền vữngcủa nó phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố; (2) Sự tương tác của những nhân tốnày rất phức tạp và hàm chứa nhiều sự bất định; (3) Đánh giá tính bền vữngcủa nợ công còn phụ thuộc vào khung thời gian được sử dụng

Trong bài viết, tác giả cũng đưa ra thảo luận về một số nhân tố ảnhhưởng đến tính bền vững của nợ công Việt Nam gồm 2 nhóm chính: Nhómcác nhân tố nằm trong ràng buộc ngân sách bao gồm tốc độc tăng trưởngGDP, lãi suất, tỷ lệ nợ công hiện tại, tốc độ tăng nợ công, thu - chi và thâmhụt ngân sách; Nhóm các nhân tố nằm ngoài ràng buộc ngân sách bao gồmmức độ chặt chẽ của kỷ luật tài khóa, mối quan hệ giữa chính sách tài khóa vàtiền tệ, lạm phát và tỷ giá, nghĩa vụ tương lai, nghĩa vụ phát sinh…

Với những nội dung đã phân tích, tác giả kết luận: tình trạng nợ công liêntục tăng trong khi các điều kiện bảo đảm tính bền vững của nợ công đang theochiều hướng bất lợi làm cho yêu cầu nâng cao chất lượng quản lý nợ công của nhànước càng trở nên cấp thiết, để quản lý nợ công tốt, cần có sự phối hợp giữa các cơquan hữu quan dưới sự điều hành chung một cách hiệu quả của Chính phủ

Hoàng Ngọc Nắng Hồng (2013), “Thực trạng nợ công và quản lý nợ công ở Việt Nam”, [23]: Tác giả phân tích thực trạng nợ công Việt Nam và

nêu ra 7 kết quả đạt được: (1) Đáp ứng được nhu cầu bổ sung vốn cho đầu tưphát triển và cân đối NSNN; (2) Các chỉ số nợ công hiện nay nếu theo chiếnlược dài hạn và chương trình nợ công trung hạn thì đang trong giới hạn an

Trang 28

toàn; (3) Các khoản vay nước ngoài của Chính phủ có kỳ hạn dài, lãi suất cốđịnh và ưu đãi nên áp lực nợ công không lớn lắm và có thể nói là nằm trongtầm kiểm soát được; (4) Cơ cấu đồng tiền vay đa dạng; (5) Xu hướng giảm tỷtrọng nợ nước ngoài trong cơ cấu nợ Chính phủ với tiêu chí: tỷ trọng hàngnăm là nợ trong nước tăng lên và nợ nước ngoài giảm đi; (6) Hình thức huyđộng vốn ngày càng đa dạng, linh hoạt; (7) Thể chế chính sách dần được hoànthiện, công tác quản lý nợ ngày càng tốt hơn và tiếp cận được thông lệ quốc

tế Và tác giả cũng nêu ra 6 hạn chế cơ bản: (1) Nhu cầu vốn của Việt Nam rấtlớn nhưng khả năng ngân sách không đủ do đó bắt buộc chúng ta phải đi vaynên đã tạo sức ép rất lớn, thúc đẩy tăng nợ công; (2) Thị trường trái phiếutrong nước cũng chưa phát triển, huy động vốn trong nước còn hạn chế, tínhthanh khoản thấp; (3) Hiệu quả sử dụng vốn ODA và các chính sách sử dụngvốn ODA chưa được cao và chưa gắn với chính sách huy động vốn đối ứng;(4) Các chỉ tiêu nợ trong tầm kiểm soát nhưng một số rủi ro thị trường chưađược tính toán kỹ càng; rủi ro tín dụng chưa được phản ánh trong phí cho vaylại và phí bảo lãnh của Chính phủ; (5) Cơ chế cảnh báo sớm còn hạn chế,chẳng hạn như trường hợp của Vinashin, Vinaline là một bài học lớn chochúng ta; (6) Quyền hạn của các cơ quan còn chồng chéo, phân tán Tác giảcũng đưa ra nhận định: Việt Nam được đánh giá là có mức nợ nằm trong tầmkiểm soát và không nằm trong nhóm các nước có gánh nặng về nợ và các chỉ

số nợ công của Việt Nam hiện nay vẫn đang ở dưới ngưỡng an toàn Trên cơ

sở những kết quả, hạn chế và khuyến nghị của quốc tế về nợ công Việt Nam,tác giả đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nợ công

Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2013), “Đầu tư công,

nợ công và mức độ bền vững ngân sách ở Việt Nam”, [49]: Trong phần tổng

quan về nợ công, trên cơ sở các quan niệm nợ công của WB, IMF và quy định

Trang 29

Pháp luật của Việt Nam, nghiên cứu đã đưa ra cách hiểu khái quát về nợ côngtheo quan điểm của mình và thực hiện phân loại nợ công, đưa ra một số đặctrưng, bản chất của nợ công Nghiên cứu đã đưa ra những tiêu chí phổ biếnhiện nay để đánh giá mức an toàn của nợ công gồm: Giới hạn nợ công; Dịch

vụ trả nợ công Đồng thời nghiên cứu cũng khuyến nghị: để đánh giá đúngmức độ an toàn của nợ công không chỉ quan tâm đến tỷ lệ nợ/GDP mà cầnphải xem xét nợ một cách toàn diện trong mối liên hệ với các chỉ tiêu kinh tế

vĩ mô như: tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động tổnghợp, hiệu quả sử dụng vốn, tỷ lệ thâm hụt ngân sách, mức tiết kiệm nội địa vàmức đầu tư xã hội… Bên cạnh đó những tiêu chí như: cơ cấu nợ công, tỷ trọngcác loại nợ, cơ cấu lãi suất, thời gian trả nợ… cũng cần được xem xét khi đánh giábản chất nợ công, tính bền vững của nợ công

Về đánh giá thực trạng nợ công của Việt Nam, nghiên cứu phân tíchdiễn biến nợ công trên các phương diện: chính sách quản lý nợ công, thựctrạng nợ công giai đoạn 2006-2012, tình hình trả nợ của Việt Nam, tình hìnhquản lý nợ công và đưa ra những mặt tích cực và hạn chế trong việc sử dụng

nợ công Nghiên cứu cũng phân tích khái quát mối quan hệ giữa nợ công, đầu

tư công và mức độ bền vững NSNN qua mối quan hệ giữa: (1) Đầu tư côngvà nợ chính phủ và thâm hụt NSNN; (2) Đầu tư công và nợ chính phủ bảolãnh; (3) Đầu tư công và nợ chính quyền địa phương và kiến nghị một số giảipháp nhằm sử dụng hiệu quả nguồn nợ công

Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đưa ra những đánh giá về an toàn của

nợ công ở Việt Nam theo nhiều cách khác nhau Các tác giả cũng khẳng định đánhgiá an toàn nợ công không chỉ dựa vào một tiêu chí duy nhất mà cần xem xét rấtnhiều yếu tố, tuy không đưa ra một khung lý thuyết cụ thể nào, nhưng các tác giảcũng đã bước đầu đưa ra những gợi ý về những nội dung có thể xem xét khi đánh

Trang 30

giá an toàn của nợ công ở Việt Nam Đồng thời, cũng chưa có công trình nào đi sâunghiên cứu về an toàn của nợ công ở Việt Nam dưới góc độ kinh tế chính trị.

1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết

1.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố

* Các công trình nghiên cứu về nợ công và quản lý nợ công

Các tác giả đã đưa ra những quan điểm về nợ công của các tổ chứcquốc tế WB, IMF, của Việt Nam qua Luật Quản lý nợ công, nguyên nhân vàbản chất của nợ công; đồng thời các tác giả cũng đã thực hiện phân tíchnhững vấn đề về nợ, mối quan hê ̣ giữa nợ và tự do kinh tế, nợ chính phủ vàgánh nă ̣ng của thế hê ̣ tương lai, nợ công và tăng trưởng, nợ và người nghèo,đầu tư tư nhân, lãi suất, an sinh xã hội, đầu tư nước ngoài,… tác động lan tỏaxuyên biên giới của các khoản nợ cả về lý thuyết và thực nghiệm, cả định tínhvà định lượng ở một số nền kinh tế mới nổi và đang phát triển ở Châu Á nhưTrung Quốc, Ấn Độ và ASEAN,các nước OECD, Châu Âu

Về quản lý nợ công, một số công trình đã nêu lên lý do phải quản lý nợcông được rút ra từ thực tế trong đó có 2 lý do chính: (1) Danh mục nợ củaChính phủ ngày càng lớn và phức tạp, nó có thể gây ra những rủi ro lớn đốivới sự bất ổn vĩ mô, như mất khả năng thanh toán quốc gia đối với phần cònlại của thế giới và tình trạng ổn định của tài chính quốc gia; (2) Việc quản lý

nợ công hợp lý có thể làm giảm thiểu chi phí và rủi ro, từ đó chỉ ra vai trò củaNgân hàng Nhà nước trong quản lý nợ công ở Việt Nam Qua đó, tác giả chỉ

ra các yếu tố cần thiết trong quản lý nợ công trong đó có vấn đề phối hợpchính sách (tài khóa và tiền tệ), vấn đề quản trị, năng lực thể chế, năng lựcnhân viên hay một thị trường nợ chính phủ trong các nước phát triển…

Một số nghiên cứu đã thực hiện phân tích thực trạng quản lý nợ công ởViê ̣t Nam và đã chỉ ra một số hạn chế trong công tác quản lý nợ công ở Việt

Trang 31

Nam: khung thể chế luật pháp còn rườm rà, chồng chéo; khâu đánh giá nợ có

độ trễ nhất định so với thực tế; và việc quản lý sử dụng nợ công chưa hợp lý.Các tác giả cũng đã chỉ ra nguyên nhân và những rủi ro tiềm ẩn của nợ côngViệt Nam Trên cơ sở đó, rút ra một số bài học kinh nghiệm và đề xuất giảipháp quản lý nợ công ở Việt Nam trong thời gian tới

Những vấn đề lý luận mà các công trình nghiên cứu nêu ra đều đượckhái quát từ thực tiễn tại các quốc gia phát triển và đang phát triển, tuy nhiêncác quốc gia này đều có những đặc điểm kinh tế cũng như xu hướng chính trị

- xã hội khác với Việt Nam, do vậy chỉ mang tính tham khảo đối với đề tàiluận án Tuy nhiên, đây là những cơ sở lý thuyết quan trọng, tạo tiền đề chonghiên cứu sinh tham khảo, nghiên cứu, kế thừa và phát triển phần cơ sở lýluận của đề tài luận án

* Các công trình nghiên cứu về khủng hoảng nợ công

Các công trình đã khái quát về tài chính công và khủng hoảng nợcông, nguyên nhân, dấu hiệu nhận diện khủng hoảng nợ công, ảnh hưởngcủa khủng hoảng nợ công đến tài chính công của các quốc gia Các tác giảcũng đã phân tích một số cuộc khủng hoảng trong lịch sử, thực trạng khủnghoảng nợ công trên thế giới hiện nay và tình trạng nợ công của các nền kinh

tế lớn như Liên minh Châu Âu (EU), Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc, tình hình

nợ công và tài chính công ở Việt Nam thời gian qua Từ đó đưa ra một sốhàm ý và giải pháp cho vấn đề nợ công của Việt Nam, tài chính công ở ViệtNam trước nguy cơ khủng hoảng Những vấn đề mà các tác giả nêu ra đãkhông chỉ chia sẻ những điểm tương đồng mà còn nêu ra những cách tiếp cậnkhác nhau ngay cả đối với cùng một chủ đề như nợ công của một nước, từ đócho thấy được tính chất đa chiều của vấn đề nợ công trên thế giới

Các công trình đã đi sâu phân tích những bài học kinh nghiệm rút ra đốivới Việt Nam từ các cuộc khủng hoảng nợ công trên thế giới theo nhiều cách

Trang 32

tiếp cận, góc độ khác nhau Tuy nhiên vấn đề khủng hoảng nợ công Châu Âu,nguyên nhân và những bài học đối với Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra màcác công trình chưa phản ánh hết được, đây là cơ sở để nghiên cứu sinh tiếp tụcnghiên cứu và phát triển phục vụ cho đề tài mà mình lựa chọn.

* Các công trình khoa học nghiên cứu về an toàn nợ công

Các nghiên cứu đã đưa ra những tiêu chí phổ biến hiện nay để đánh giámức an toàn của nợ công gồm: Giới hạn nợ công; Dịch vụ trả nợ công.Nhiều công trình nhận định tỷ lệ nợ công so với GDP không phải là yếu tốduy nhất xác định các rủi ro tiềm năng vỡ nợ, rất khó để xác định mộtmức chính xác trong thực tế cho mức độ an toàn của nợ công và không cómột tiêu chuẩn duy nhất của “an toàn” nợ công Theo các tác giả, để đánhgiá mức nợ công thế nào là an toàn và bền vững còn phải xem xét mộtcách toàn diện trong mối liên hệ với hệ thống các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.Qua đó các tác giả cũng đã đưa ra một số yếu tố và hoàn cảnh nên xemxét khi xác định mức an toàn của nợ công

Một số công trình thực hiện đánh giá rủi ro nợ công của Việt Nam dựatrên nghiên cứu của các tác giả nước ngoài sử dụng các thước đo: khả năngthanh toán nợ, khả năng thanh khoản và sự bất ổn của những biến vĩ mô quantrọng Một số công trình phân tích thực trạng nợ công tại Việt Nam về: Quy

mô nợ; Cơ cấu nợ; Tính thanh khoản của các khoản nợ; Chi phí vay nợ và Vềtiền vay nợ Các tác giả cũng đưa ra dự báo về nợ công của Việt Nam giaiđoạn 2011-2020

Các công trình đã đưa ra những kết quả nghiên cứu về an toàn nợ công,tính bền vững của nợ công Tuy nhiên, các tác giả cũng nhận định, không cómột công thức chung hay tiêu chuẩn duy nhất của an toàn nợ công Nhữngđánh giá an toàn nợ công của các công trình đều được thực hiện với một quốcgia hoặc một nhóm quốc gia nhất định, còn đối với việc đánh giá an toàn nợ

Trang 33

công ở Việt Nam vẫn chỉ dừng lại ở gợi ý nghiên cứu Đây là cơ sở để nghiêncứu sinh tham khảo, kế thừa phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình.

Các công trình đều là những thành tựu quan trọng mà các nhà khoa học

đã đạt được trong lĩnh vực nghiên cứu về nợ công, quản lý nợ công, an toàn

nợ công Những thành tựu này là cơ sở quan trọng, tạo tiền đề cho nhữngnghiên cứu tiếp theo đi sâu hơn về lĩnh vực này Các công trình có nhiều cáchtiếp câ ̣n khác nhau: dưới góc đô ̣ của mô ̣t nhà khoa học đô ̣c lâ ̣p hay góc đô ̣ của

mô ̣t nhà quản lý, trực tiếp hay gián tiếp phân tích, đưa ra những giải pháp chovấn đề nợ công, phân tích định tính hay định lượng về nợ công, an toàn nợcông và những tác đô ̣ng của nợ công, khủng hoảng nợ công

Tác giả xin kế thừa, tiếp thu chọn lọc những thành tựu của các nhàkhoa học, lấy đó làm gợi ý quan trọng để phục vụ quá trình nghiên cứu vàhoàn thiê ̣n đề tài: An toàn nợ công trong nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa ở Việt Nam

1.3.2 Những vấn đề đă ̣t ra luâ ̣n án tập trung giải quyết

Từ việc khái quát kết quả chủ yếu của các công trình khoa học đã công

bố, tác giả xác định những vấn đề đặt ra cần tập trung giải quyết trong luận án là:

* Phần lý luận: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của an toàn nợ công

trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dướigóc độ nghiên cứu của kinh tế chính trị Cụ thể:

- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận có liên quan trực tiếpđến an toàn nợ công

- Đưa ra quan niệm và tiêu chí đánh giá an toàn nợ công trong nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

- Phân tích làm rõ các nhân tố tác động đến an toàn nợ công trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

- Khảo cứu cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu và rút ra bài học trongthực hiện an toàn nợ công ở Việt Nam

Trang 34

Những vấn đề nêu trên là những nội dung mới mà phần lý luận củaluận án sẽ tập trung nghiên cứu để làm cơ sở cho việc khảo sát và đánh giáthực trạng an toàn nợ công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa ở Việt Nam.

* Phần thực trạng: Tiến hành khảo sát đánh giá đầy đủ, khách quan về thực

trạng an toàn nợ công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam từ năm 2006 đến nay

Căn cứ vào bộ tiêu chí đánh giá an toàn nợ công đã được xây dựngtrong phần lý luận, luận án tiến hành khảo sát, đánh giá đúng thực trạng antoàn nợ công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam Để thực hiện được nội dung này, luận án đã sử dụng tổng hợp cácphương pháp nghiên cứu của khoa học kinh tế chính trị Quá trình đánh giáthực trạng không chỉ dừng lại ở việc đưa ra những con số thống kê đơn thuầnmà luận án sẽ đánh giá an toàn nợ công một cách toàn diện theo các chỉ tiêucủa bộ tiêu chí đánh giá được xây dựng Đồng thời, luận án còn làm rõnguyên nhân của những thành tựu, hạn chế và chỉ ra mô ̣t số vấn đề cơ bản cầnđược giải quyết để đảm bảo an toàn nợ công ở Viê ̣t Nam

* Phần quan điểm giải pháp: Đề xuất các quan điểm cơ bản và giải

pháp chủ yếu nhằm bảo đảm an toàn nợ công trong nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời gian tới

Để có thể bảo đảm an toàn nợ công trong nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa không chỉ dựa vào một hoặc một vài giải pháp có tínhchất riêng lẻ mà cần phải có một hệ thống giải pháp mang tính đồng bộ vàtoàn diện

Với hướng nghiên cứu và cách tiếp cận như trên, đề tài “An toàn nợ công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”

Trang 35

là một công trình nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với các công trình khoahọc đã công bố.

Trang 36

Kết luận chương 1

Các công trình khoa học nêu trên, tuỳ theo dung lượng và phạm vinghiên cứu đã bước đầu tiếp cận được một số nội dung cơ bản của luận ánnhư quan niệm về nợ công, an toàn nợ công Phân tích, luận giải và làm nổibật những tác động của nợ công tới sự phát triển kinh tế - xã hội quốc gia vànhững kết quả để lại cho nền kinh tế cũng như cho thế hệ tương lai khi nợcông vượt quá tầm kiểm soát Các nghiên cứu cũng chỉ ra xác định an toàn nợcông không chỉ dựa trên một yếu tố duy nhất là nợ công trên GDP mà cầnphải xem xét đến nhiều yếu tố khác, trong đó cũng đã chỉ ra một số các yếu tố

có thể xem xét khi xác định mức an toàn của nợ công

Tuy nhiên, do không thuộc đối tượng hay phạm vi nghiên cứu, nên cáccông trình khoa học trên đã không đi sâu phân tích về an toàn của nợ côngtrong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Trongkhi đó, việc xác định mức an toàn nợ công ở Việt Nam hiện nay đang đặt rahết sức bức thiết trong bối cảnh khủng hoảng nợ công đang diễn biến rất phứctạp ở Châu Âu, đe dọa trực tiếp tới các nền kinh tế trên thế giới Những tácđộng mặt trái của nợ công là rất rõ, đặc biệt khi nợ vượt quá tầm kiểm soátcủa chính phủ, điều đó đòi hỏi cần được nghiên cứu, luận giải cả trên góc độ

lý luận và thực tiễn

Cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách

đầy đủ, toàn diện và có hệ thống dưới góc độ kinh tế chính trị về “An toàn nợ công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”.

Do vậy, việc lựa chọn hướng nghiên cứu của tác giả luận án là hoàn toàn mới,không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố

Trang 37

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN TOÀN NỢ CÔNG

TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở

VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 2.1 Nợ công và tác động của nợ công đối với sự phát triển kinh tế -

xã hội của quốc gia

2.1.1 Khái niệm nợ công

Vay nợ là một trong những hoạt động nhằm thu hút nguồn vốn nhànrỗi từ các cá nhân và tổ chức trong xã hội để đáp ứng nhu cầu về vốn của cácchủ thể kinh doanh trong nền kinh tế Từ việc vay nợ hình thành nên nghĩa vụtrả nợ, bao gồm cả gốc, lãi vay và chi phí liên quan tới khoản vay Việc vayvốn của các chủ thể kinh doanh đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại.Tuy nhiên, việc vay nợ của chính phủ ở các quốc gia được hình thành muộnhơn, gắn với nhu cầu chi tiêu trong các thời kỳ có chiến tranh, hoặc sau cáccuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế Theo nghiên cứu của hai chuyên gia về

nợ công là Carmen M Reinhart - Viện Kinh tế quốc tế Petersen và Kenneth

S Rogoff - Trường đại học Harvard, chuyên gia của IMF, nợ công đã xuất

hiện từ rất lâu trên thế giới Trong công trình Thập niên của nợ (Growth in

a Time of Debt) [52] hai chuyên gia này đã lựa chọn và nghiên cứu nợ côngtại hơn 20 nước gồm Mỹ, Anh, Tây Ban Nha, Hy Lạp và một số nước khác.Kết quả cho thấy, nợ công bình quân của các nước này vào những năm 1900

đã ở mức trên 60% GDP, những năm sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhấtkhoảng 75% và đạt tới đỉnh cao gần 90% vào những năm sau Chiến tranh thếgiới lần thứ hai Nợ công ở nhiều nước trên thế giới đặc biệt tăng nhanh từnhững năm 1930, sau Đại khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) Từ đó,hình thành nên một loại hình vay mới, một khái niệm mới ra đời - nợ công(public debt, liabilities )

Trang 38

Như vậy, sự hình thành nợ công gắn liền với sự gia tăng vai trò của nhànước trong nền kinh tế trên thế giới Đến nay, nợ công đã trở thành thuật ngữkhá phổ biến trên toàn cầu Tuy nhiên, hiện có nhiều cách hiểu khác nhau về nợcông và có khá nhiều thuật ngữ tương đồng, dễ gây nhầm lẫn như: nợ quốc gia,

nợ chính phủ, Việc đưa ra khái niệm và nội hàm phù hợp có ý nghĩa rất lớntrong việc xác định, tính toán, quản lý và kiểm soát nợ công một cách hiệu quả

Trước hết, cần phân biệt giữa nợ (debt) và nghĩa vụ nợ (liabilities) của

khu vực công Nói đến nợ công (public debt) là nói đến khoản nợ hoặc số nợ

cụ thể phải trả, bao gồm cả gốc, lãi vay và chi phí phát sinh từ khoản vay nợ.Còn nói đến nghĩa vụ nợ (liabilities) của khu vực công là nói đến cả các khoản

nợ cụ thể và các khoản nợ tiềm tàng Chẳng hạn, các khoản vay của doanhnghiệp được chính phủ bảo lãnh là khoản nợ thực tế của doanh nghiệp nhưngchỉ là khoản nợ tiềm tàng của chính phủ Một phần khoản vay này (trong phạm

vi trách nhiệm bảo lãnh) sẽ biến thành nợ thực tế của chính phủ nếu người đượcbảo lãnh (doanh nghiệp) không trả được nợ Và ngược lại, nếu doanh nghiệp trảđược nợ bình thường thì khoản vay này không phải là nợ chính phủ Do cáckhoản nợ tiềm tàng này rất khó xác định (lúc nào thì trở thành nợ và lúc nào thì

không) nên nói đến nợ công, người ta thường tách bạch ra nợ công và nợ do khu vực công bảo lãnh Điều này thể hiện rõ trong Luật Quản lý nợ công năm 2009

hay trong thống kê nợ công của Việt Nam hiện nay, đồng thời đó cũng là quyđịnh của một số tổ chức tài chính quốc tế như WB và IMF

Thứ hai, cần phân biệt giữa nợ công và nợ quốc gia Nợ công (public

debt) thường được hiểu là nợ của khu vực công Nợ quốc gia hiểu một cáchrộng rãi là nợ của các đối tượng mang quốc tịch của một quốc gia - bao gồmcả nợ trong nước, nợ nước ngoài của khu vực công và khu vực tư nhân

Nợ của khu vực công: bao gồm nợ của Chính phủ, nợ của chính

quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nợ của các doanh nghiệp

Trang 39

nhà nước, các tổ chức tài chính, tín dụng nhà nước và các tổ chức kinh tế nhànước trực tiếp vay trong và ngoài nước.

Nợ của khu vực tư nhân: là nợ của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế

thuộc khu vực tư nhân trực tiếp vay trong và ngoài nước Nợ nước ngoàicủa khu vực tư nhân là các nghĩa vụ nợ của các doanh nghiệp, tổ chức kinh

tế thuộc khu vực tư nhân với nước ngoài

Như vậy, có thể thấy rằng, nợ công là một bộ phận cấu thành của nợquốc gia (Hình 2.1)

Hình 2.1 Nợ công trong hệ thống nợ quốc gia

Nguồn: Tác giả tự xây dựng dựa trên các quy định hiện hành.

Thứ ba, cần phân biệt giữa nợ công và nợ chính phủ (trung ương), nợ

của chính quyền địa phương, nợ của NHNN, nợ của DNNN và nợ của các

tổ chức nhà nước khác

Nợ chính phủ: là một bộ phận cơ bản của nợ công, do chính phủtrung ương hoặc do cơ quan nhà nước được chính phủ ủy quyền vay trực

Trang 40

tiếp trong và ngoài nước Luật Quản lý nợ công 2009 của Việt Nam quy

định: “Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước,

nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chínhphủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyềnphát hành theo quy định của pháp luật” [37]

Nợ chính phủ được sử dụng để (1) đầu tư phát triển; (2) bù đắp thiếuhụt tạm thời NSNN; (3) cơ cấu lại nợ; (4) cho vay lại; (5) mục đích khác Nợchính phủ được hình thành thông qua: phát hành công cụ nợ (tín phiếu, hốiphiếu, trái phiếu, công trái ) và thông qua thỏa thuận vay (gồm cả hiệp định,hợp đồng vay) trong và ngoài nước

Nợ của chính quyền địa phương: cũng là một bộ phận của nợ công,

do chính quyền địa phương vay trực tiếp trong nước bằng trái phiếu, vay từcác tổ chức tài chính hợp pháp và vay lại các nguồn vốn nước ngoài củaChính phủ Luật Quản lý nợ 2009 quy định: “Nợ chính quyền địa phương làkhoản nợ do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ký kết, phát hànhhoặc uỷ quyền phát hành” Chỉ có UBND cấp tỉnh mới có quyền vay nợ,còn chính quyền các cấp dưới không được vay nợ

Nợ NHNN: là nợ do ngân hàng nhà nước phát hành nhằm thực hiệnchính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Loại nợ này không đưa vào nợ chínhphủ mà được tính thành mục riêng

Nợ của DNNN và các tổ chức kinh tế khác của Nhà nước Về mặtpháp lý, DNNN và các tổ chức kinh tế nhà nước là những định chế công.Tuy nhiên, nợ của DNNN và các tổ chức này do doanh nghiệp và các tổchức chịu trách nhiệm tự vay, tự trả Nguồn trả nợ không phải từ NSNN mà

từ lợi nhuận của chính doanh nghiệp và thu nhập của tổ chức Hơn nữa, doDNNN chịu trách nhiệm hữu hạn nên chủ doanh nghiệp là Nhà nước chỉchịu trách nhiệm trong phần vốn góp vào doanh nghiệp đó Do vậy, trong

Ngày đăng: 15/03/2018, 12:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w