Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản Khả năng sinh sản của gia cầm được thể hiện bởi các tiêu chí về sản lượng, khối lượng, hình dạng, chất lượng trứng, kết quả thụ tinh và ấp nở.. Vì v
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
DƯƠNG XUÂN TĨNH
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ MÓNG HẠT NHÂN THẾ HỆ 4 NUÔI TẠI TIÊN PHONG, DUY TIÊN, HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
DƯƠNG XUÂN TĨNH
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ MÓNG HẠT NHÂN THẾ HỆ 4 NUÔI TẠI TIÊN PHONG, DUY TIÊN, HÀ NAM
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS NGÔ THỊ KIM CÚC
2 TS HÀ VĂN DOANH
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn có các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2017
Người thực hiện
Dương Xuân Tĩnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt 2 năm học tập, với nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay luận văn
của tôi đã được hoàn thành Nhân dịp này, cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn
và cảm ơn chân thành tới:
TS Ngô Thị Kim Cúc, TS Hà Văn Doanh đã tận tình, chu đáo, luôn cổ
vũ tinh thần, động viên, hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên,
Phòng Đào tạo, khoa Chăn nuôi - Thú y, các thầy cô giáo trong phòng thí
nghiệm đã giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi học tập, tiếp thu kiến thức của chương
trình học
Tôi xin chân thành cảm ơn Trang trại Bảo tồn gà móng của anh chị
Thắm Tuyết, đội 6 thôn Dưỡng Thọ, xã Tiên Phong, Duy Tiên, Hà Nam
giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Ban Lănh đạo và toàn thể cán bộ nơi tôi công tác tại Chi cục Thú y Hà Nội
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn sâu
sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi vượt qua
mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện đề tài
Một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới những
tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Dương Xuân Tĩnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu đề tài 2
3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Chương 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học 4
1.1.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu ngoại hình của Gà Móng 4
1.1.2 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng 5
1.1.3 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản 7
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 12
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 12
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 16
Chương 2 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
2.1.1 Đối tượngnghiên cứu 24
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
2.2 Nội dung nghiên cứu 24
2.2.1 Đánh giá đặc điểm ngoại hình và kích thước các chiều đo của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4 24
Trang 62.2.2 Đánh giá khả năng suất sản xuất của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ
thứ 4 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Bố trí thí nghiệm 24
2.3.2 Đánh giá đặc điểm ngoại hình và kích thước các chiều đo của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4 26
2.3.3 Đánh giá khả năng sản xuất của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4 27
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 31
Chương 3 : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Đánh giá đặc điểm ngoại hình và kích thước các chiều đo của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4 32
3.1.1 Đánh giá đặc điểm ngoại hình của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4 32
3.1.2 Kích thước các chiều đo của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4 38
3.2 Đánh giá khả năng sản xuất của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4 40
3.2.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4 40
3.2.2 Đánh giá năng suất sinh sản của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4 50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
1 Kết luận 59
2 Đề nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Cs : Cộng sự ĐVT : Đơn vị tính FAO : Food anh Agriculure Organization (Tổ chức Nông
nghiệp và Lương thực Liên Hiệp Quốc)
HU : Đơn vị đo Haugh
XP : Xuất phát
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Chế độ chăm sóc gà nuôi sinh sản 25
Bảng 2.2 Giá trị dinh dưỡng của khẩu phần ăn cho gà Móng sinh sản 25
Bảng 2.3 Quy trình thú y cho gà giai đoạn sơ sinh - 20 tuần tuổi 26
Bảng 3.1 Đặc điểm ngoại hình của gà Móng 32
Bảng 3.2 Kích thước một số chiều đo (cm) của đàn gà Móng sinh sản 38 tuần tuổi 38
Bảng 3.3 Tỷ lệ nuôi sống từ 01 ngày tuổi đến 20 tuần tuổi 41
Bảng 3.5 Khối lượng cơ thể từ 8 đến 20 tuần tuổi 44
Bảng 3.6 Khối lượng cơ thể của đàn hạt nhân gà Móng thế hệ 4so với các thế hệ trước 46
Bảng 3.7 Lượng thức ăn tiêu thụ tính chung từ 1 ngày tuổi đến 20 tuần tuổi 48
Bảng 3.8 Tuổi đẻ, khối lượng trứng ở các giai đoạn đẻ 50
Bảng 3.9 Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng 53
Bảng 3.10 Một số chỉ tiêu sinh sản của đàn hạt nhân gà Móng thế hệ 4 so với các thế hệ trước 54
Bảng 3.11 Chất lượng trứng của gà Móng thế hệ 4 56
Bảng 3.12 Tỷ lệ phôi và kết quả ấp nở 57
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành chăn nuôi gia cầm của Việt Nam trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến và phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng Về số lượng, tổng đàn gia cầm cả nước năm 2016 là 361,7 triệu con, tăng hơn 5,5% so với năm 2015 (341,9 triệu con), trong đó đàn gà chiếm 3/4 số lượng đàn gia cầm được nuôi Sản lượng thịt năm 2016 đạt 961,938 tấn tăng 5,6% so với năm 2015
và sản lượng trứng đạt 9,5 tỷ quả tăng 6,1% (Tổng cục thống kê năm 2016) Chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng sẽ vẫn tiếp tục tăng trưởng trong tương lai Điều này được thể hiện rõ trong Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16 tháng 01 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược phát triển ngành chăn nuôi Việt Nam đến năm 2020
Các giống gà bản địa của Việt Nam bao gồm các giống gà như: gà Ri, Mía, Móng, Hồ, Đông Tảo, H’Mông Đặc điểm nổi bật của các giống gà địa phương
là thích nghi tốt với điều kiện môi trường sống, khả năng chống chịu bệnh tật tốt, chất lượng phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, tuy nhiên những giống
gà địa phương này có năng suất thấp Vì vây, để nâng cao năng suất chăn nuôi, nhiều giống gà có năng suất cao đã được nhập về nước ta Điều này dẫn đến hiện tượng lai tạp, suy thoái và mất dần tính đa dạng di truyền của các giống gà bản địa Nhiều giống gà đang bị thoái hóa, lai tạp, thậm chí một số giống đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) thông báo rằng, việc các nước nghèo nhập khẩu ồ ạt các giống cao sản chính là mối đe dọa lớn nhất đối với sự đa dạng các giống vật nuôi bản địa hiện nay Việc sử dụng các giống gà cao sản nhập nội cho lai tạo với các giống gà nội nhiều, thậm chí không kiểm soát đã dẫn đến nguy cơ biến mất của các giống bản địa
Gà Móng Tiên Phong, là giống gà bản địa, có nguồn gốc từ xã Tiên Phong, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Mặc dù là giống gà quý, nhưng các tài liệu khoa học về giống gà này còn rất hạn chế Do vậy, chọn lọc, nhân thuần nhằm mục đích duy trì nguồn gen, tránh cận huyết và nâng cao năng suất của giống đóng vai trò quan trọng trong định hướng cho việc xây dựng nguồn vật liệu di truyền
Trang 11giống gà Móng, nhằm tạo ra được đàn giống thuần có năng suất cao có thể sử dụng đa mục đích Đến nay, đã có một số tài liệu công bố trước đây về các kết quả về giống gà này như kết quả nghiên cứu của Đỗ Văn Diện (2004) [6]; Hồ Xuân Tùng và cs (2011) [32] Tuy nhiên các nghiên cứu này được tiến hành với
số lượng ít (Đỗ Đức Diện, 2004) [6] và được tiến hành trong điều kiện chuồng nhốt ở các trang trại chăn nuôi tập trung (Hồ Xuân Tùng và cs 2011) [32] Nghiên cứu gần đây của Ngô thị kim Cúc (2016) [4] trên 4 thế hệ của đàn hạt nhân gà Móng từ nhiệm vụ quỹ gen cấp nhà nước "khai thác và phát triển nguồn gen giống gà Mía và gà Móng" đã cho thấy khối lượng của gà Móng trống lúc 8 tuần tuổi là 663,05g ở thế hệ xuất phát và 692,08g ở thế hệ 3 Gà mái Móng lúc
8 tuần tuổi có khối lượng 575,28g ở thế hệ xuất phát và 598,05g ở thế hệ 3 Năng suất trứng đến trứng/mái/năm đạt tương đương qua các thế hệ và đạt 85,79 quả đến 86,65 quả/mái Nhiệm vụ đã tiến hành chọn lọc nhân thuần đàn hạt nhân được 4 thế hệ (thế hệ xuất phát, thế hệ 1, thế hệ 2 và thế hệ 3) Tuy nhiên
để một chương trình giống có hiệu quả thì việc tiếp tục nghiên cứu về khả năng sản suất của thế hệ 4 của đàn hạt nhân để đánh giá mức độ ổn định về năng suất qua các thế hệ là cần thiết
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Đánh giá đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà Móng hạt nhân thế hệ thứ
4 nuôi tại Tiên Phong, Duy Tiên, Hà Nam”
Trang 123 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được tiến hành trên đàn hạt nhân gà Móng thế hệ thứ 4 có nguồn gốc từ xã Tiên Phong - huyện Duy Tiên - tỉnh Hà Nam, trong thời gian từ tháng
06 năm 2016 đến tháng 06 năm 2017
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Góp phần bảo vệ và khai thác nguồn gen động vật nuôi đặc hữu của Việt Nam Xây dựng tài liệu khoa học cơ bản và đầy đủ các thông tin về đặc điểm ngoại hình và khả năng sản suất của đàn hạt nhân gà Móng thế hệ thứ 4
Kết quả của đề tài còn là nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, các sinh viên và những người quan tâm về gia cầm
Nghiên cứu này là cơ sở khoa học để xây dựng thương hiệu gà Móng Giúp các cơ sở chăn nuôi có thông tin khoa học cơ bản về giống gà Móng nhằm phát triển giống gà này thành sản phẩm hàng hóa có năng suất và chất lượng cao
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu ngoại hình của Gà Móng
Các đặc điểm về ngoại hình là những đặc trưng cho giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất, thị hiếu và giá trị kinh tế của vật nuôi Các đặc điểm này gồm: tầm vóc cơ thể, đầu, mào, mỏ, bộ lông, chân
- Hình dáng, kích thước cơ thể: Tùy mục đích sử dụng, các dòng gà được
chia thành 3 loại hình: Hướng trứng, hướng thịt và hướng kiêm dụng Gà hướng trứng có thân hình thon nhỏ, cổ dài, nhẹ cân, dáng nhanh nhẹn Gà hướng thịt có thân hình to thô, cổ dài trung bình, ngực nở, dáng đi nặng nề, khối lượng lớn Gà kiêm dụng có hình dáng trung gian, cơ thể có hướng kiêm dụng trứng thịt hoặc thịt trứng
- Đầu: Cấu tạo xương đầu được coi như có độ tin cậy cao nhất trong việc
đánh giá đầu gia cầm Da mặt và các phần phụ của da dầu cho phép rút ra kết luận
về sự phát triển của mô đỡ và mô liên kết Gà trống có ngoại hình đầu giống gà mái
sẽ có tính sinh dục kém, gà mái có ngoại hình đầu giống gà trống sẽ không cho năng suất cao, trứng thường không phôi (Nguyễn Chí Bảo, 1978) [1]
- Mào: Theo hình dáng của mào, mào dưới ta có thể biết được trạng thái
sức khỏe và điều kiện sống của gà Mào và mào dưới thuộc về các đặc điểm sinh dục phụ,
- Mỏ: Chắc chắn và ngắn Gà có mỏ dài và mảnh không có khả năng sản
xuất cao Những giống gà da vàng thì mỏ cũng vàng, ở gà mái màu sắc này có thể bị nhạt đi ở cuối thời kỳ đẻ trứng
- Bộ lông: Thể hiện đặc điểm di truyền của giống và có ý nghĩa quan
trọng trong phân loại Khi mới nở, gia cầm con được lông tơ che phủ, trong quá trình phát triển lông tơ dần được thay thế bằng lông cố định Tốc độ mọc lông là
sự biểu hiện khả năng mọc lông sớm hay muộn Gà mái mọc lông đều hơn gà trống trong cùng một dòng và ảnh hưởng của hoocmon có tác dụng ngược với
Trang 14gen liên kết quy định tốc độ mọc lông Màu lông do một số gen quy định, phụ thuộc vào sắc tố chứa trong bào tương của tế bào Lông gia cầm có màu sắc khác nhau là do tốc độ oxy hóa các chất tiền sắc tố melanin trong các tế bào lông Nếu các chất sắc tố là nhóm lipocrom thì lông có màu vàng, xanh tươi hoặc màu đỏ, nếu không có chất sắc tố thì lông màu trắng
- Chân: Gà giống tốt phải có chân chắc chắn nhưng không được thô Gà
có chân hình chữ bát, các ngón cong, xương khuyết tật không nên sử dụng làm giống Đặc điểm chân cao liên quan đến khả năng cho thịt thấp và phát dục chậm (Nguyễn Chí Bảo (1978) [1]
1.1.2 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) [Error! Reference source not f ound.] sinh trưởng là quá trình tích lũy hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính di truyền của đời trước Sinh trưởng là sự tích lũy dần các chất, chủ yếu là protein cũng là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể Đối với gia cầm, sự sinh trưởng được chia làm hai giai đoạn chính: thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành Như vậy, sinh trưởng sẽ thông qua 3 quá trình: phân chia tế bào để tăng số lượng, tăng thể tích tế bào và tăng thể tích giữa các tế bào Khi nghiên cứu về sinh trưởng không thể không nói đến phát dục Phát dục là quá trình thay đổi về chất tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các bộ phận của cơ thể Phát dục của cơ thể con vật hình thành từ khi trứng thụ tinh, trải qua nhiều giai đoạn phức tạp cho đến khi trưởng thành
1.1.2.1 Cách đánh giá khả năng sinh trưởng
Để đánh giá khả năng sinh trưởng chúng ta còn sử dụng tốc độ sinh trưởng tuyện đối và tốc độ sinh trưởng tương đối
- Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng cơ thể trong khoảng
thời gian giữa hai lần khảo sát Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol, sinh trưởng tuyệt đối thường tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần
Trang 15- Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng cơ
thể từ lúc kết thúc khảo sát so với lúc bắt đầu khảo sát Đồ thị sinh trưởng tương đương đối so dạng Hyperbol Sinh trưởng tương đối giám dần qua các tuần tuổi
- Đường cong sinh trưởng: Đường cong sinh trưởng biểu thị tốc độ sinh
trưởng của vật nuôi Theo Chambers (1990) [Error! Reference source not found.] đường cong sinh trưởng của gà có 4 điểm chính gồm 4 pha sau:
+ Pha sinh trưởng tích lũy tăng tốc độ nhanh sau khi nở
+ Điểm uốn của đường cong tại điểm có tốc độ sinh trưởng cao nhất + Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn
+ Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành
Thông thường, người ta sử dụng khối lượng ở các tuần tuổi, thể hiện bằng
đồ thị sinh trưởng tích lũy và được thể hiện đơn giản theo đường cong sinh trưởng
Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng: yếu tố di truyền của giống; giới tính; tuổi; tốc độ mọc lông; chế độ dinh dưỡng; khí hậu thời tiết
1.1.2.2 Cơ sở nghiên cứu tỷ lệ nuôi sống
Tỷ lệ nuôi sống là một chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng Chỉ tiêu này không những là thước đo việc thực hiện quy trình chăm sóc, quản lý, nuôi dưỡng mà còn dùng để đánh giá sức sống, sức sản xuất, khả năng thích nghi của mỗi dòng, giống gia cầm Tỷ lệ nuôi sống phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: giống, trạng thái cơ thể, điều kiện môi trường và chế độ dinh dưỡng,… Marco (1982) [Error! Reference source not found.] c
ho biết, sức sống được thể hiện ở thể chất và được xác định bởi tính di truyền, có thể chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường, cũng như ảnh hưởng đến khác dịch bệnh Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể có tác động của các gen nửa gây chết, nhưng chủ yếu là do tác động của môi trường Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh kí sinh trùng cao hơn so với các giống vật nuôi ở xứ lạnh (Trần Đình Miên và cs., 1992) [Error! Reference s
Trang 16ource not found.] Theo Nguyễn Văn Thạch (1996) [Error! Reference source not found.],
hệ số di truyền sức sống của gà là 0.13, còn Nguyễn Văn Thiện (1995) [Error! R eference source not found.] cho biết hệ số di truyền sức sống của gà là 0.33
1.1.2.3 Cơ sở tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng
Cơ sở tiêu tốn thức ăn /1 kg tăng khối lượng là tỷ lệ chuyển hóa thức ăn
để đạt được tốc độ tăng trọng Trong chăn nuôi hàng hóa, thức ăn chiếm 65-70% giá thành các loại sản phẩm động vật Do vậy nếu tiêu tốn thức ăn lớn thì hiệu quả kinh tế thấp và ngược lại Tiêu tốn thức ăn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: con giống, tỷ lệ máu lai, quy mô, mật độ nuôi, thức ăn, chuồng trại, khí hậu, tình trạng vệ sinh, dịch bệnh, kỹ thuật…
1.1.3 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản
Khả năng sinh sản của gia cầm được thể hiện bởi các tiêu chí về sản lượng, khối lượng, hình dạng, chất lượng trứng, kết quả thụ tinh và ấp nở Đối với các giống gia cầm khác nhau, khả năng sinh sản cũng khác nhau
1.1.3.1 Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên
Tuổi để quả trứng đầu tiên: Được xác đinh bằng ngày tuổi của đàn gà mái khi bắt đầu có 5% tổng số mái đẻ trứng Mỗi giống gà có tuổi đẻ quả trứng đầu tiên khác nhau
đỏ, còn các bộ phận khác như: lòng trắng, màng vỏ và vỏ do ống dẫn trứng tạo nên Nhiều tài liệu nghiên cứu đều xác định ở gà mái, trong quá trình phát triển
từ phôi hai bên phải, trái đều có buồng trứng, nhưng sau khi nở buồng trứng bên phải mất đi, còn lại buồng trứng bên trái Số lượng tế bào trứng của gà mái ở
Trang 17thời kỳ đẻ trứng có thể đếm được 3.600 trứng, nhưng chỉ có 1 số lượng rất hạn chế được chín và rụng (Phùng Đức Tiến, 1996) [Error! Reference source not found.]
Những yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng:
Theo Nguyễn Trọng Thiện (2008) [22], sức sản xuất trứng chịu sự chi phối của các tập hợp gen khác nhau: các gen quy định tính trạng này nằm trên nhiêm sắc thể thường và bị hạn chế bởi giới tính Sản lượng trứng được truyền lại cho đời sau từ bố mẹ Hayer và Carthy (1970) [41] cho rằng sức đẻ trứng của
gà mái chịu sự ảnh hưởng của 5 yếu tố di truyền cá thể là: thời gian kéo dàu chu
kỳ đẻ trứng sinh học, cường độ đẻ, tính nghỉ đẻ mùa đông, tính ấp bóng, tuổi thành thục sinh dục
về sức đẻ trứng người ta thường tính SLT 3-4 tháng đầu để có phán đoán sớm và kịp thời trong công tác giống Nguyễn Chí Bảo (1978) cho biết hệ số di truyền của tính trạng tuổi đẻ quả trứng đầu tiên 0.14-0.15 Tuổi thành thục sinh dục sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, loài, giới tính, thời gian nở trong năm… Cụ thể, giống gà hướng trứng có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn giống gà hướng thịt, gà thành thục sinh dục sớm hơn các mùa khác trong năm
Cường độ đẻ: cường độ đẻ trong 3-4 tháng đầu có tương quan rất chặt chẽ
với sản lượng trứng của gia cầm Nếu cường độ đẻ trứng càng cao thì sản lượng trứng cao và ngược lại
Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học: chu kỳ đẻ trứng sinh học
được tính từ khi gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên đến khi gia cầm nghỉ đẻ để thay
Trang 18lông, đó là chu kỳ thứ nhất và lại tiếp tục chu kỳ thứ hai Sản lượng trứng phụ thuộc vào thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học, thời gian này càng dài càng tốt Chỉ tiêu này có tương quan dương với tuổi thành thục sinh dục, sức bền
đẻ trứng, chu kỳ đẻ trứng khác nhau tùy từng cá thể Những gia cầm đẻ tốt có chu kỳ đẻ trứng dài, nhịp độ đẻ trứng đều và thời gian nghỉ đẻ ngắn, còn những gia cầm đẻ kém có dấu hiệu ngược lại Nói chung thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học có tính di truyền và phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau, nhất là chế
độ chăm sóc, dinh dưỡng, mùa vụ
Tính nghỉ đẻ mùa đông: vào mùa đông nhiệt độ thấp nên cơ thể phải huy
động năng lượng để chống rét Tuy nhiên, với những giống gà tốt thì thời gian nghỉ
đẻ rất ngắn thậm chí là không có Tính nghỉ đẻ có mối tương quan nghịch với NST, tính nghỉ đẻ mùa đông càng dài thì năng suất trứng càng thấp
Tính ấp bóng: ấp bóng là gà mái ấp không có trứng tính theo tập tính, tính
ấp bóng càng dài thì năng suất càng thấp Hiện nay quá trình chọn lọc nghiêm ngặt nên đã loại trừ bản năng ấp trứng của gà mái
Ngoài 5 yếu tố di truyền cá thể, sức đẻ trứng còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau như giống, dòng gia cầm, tuổi gia cầm, dinh dưỡng, chế độ chăm sóc, tiểu khí hậu chuồng nuôi
- Giống, dòng ảnh hưởng lớn đến sức sản xuất trứng của gia cầm Giống
gia cầm khác nhau sức sản xuất trứng khác nhau Trong cùng một giống các dòng khác nhau cho năng suất trứng khác nhau; những dòng được chọn lọc kỹ thường cho sản lượng trứng cao hơn những dòng chưa được chọn lọc kỹ khoảng 15-20%
- Tuổi gia cầm có liên quan đến năng suất trứng Ở gà, sản lượng trứng
giảm dần theo tuổi, trung bình năm thứ hai giảm 15-20% so với năm thứ nhất
- Mùa vụ ảnh hưởng rõ rệt đến sức đẻ trứng của gia cầm Ở nước ta, mùa
hè sức đẻ trứng giảm xuống nhiều so với mùa xuân và đến mùa thu sức đẻ trứng lại tăng lên
Trang 19- Nhiệt độ môi trường cũng ảnh hưởng đến sản lượng trứng Nhiệt độ thích
hợp đối với gia cầm đẻ trứng là 14-22oC Khi nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ giới hạn thấp, gia cầm phải huy động năng lượng để chống ret; nếu nhiệt độ cao hơn nhiệt độ giới hạn trên, gia cầm thải nhiệt nhiều làm giảm sản lượng trứng
- Ánh sáng ảnh hưởng đến sản lượng trứng qua thời gian chiếu sáng và
cường độ chiếu sáng Yêu cầu thời gian chiếu sáng với gà đẻ là 12-16 giờ với cường độ chiếu sáng là 3.0-3.5 W/m2 Ở nước ta cường độ đẻ cao nhất vào khoảng 8-12 giờ, chiếm hơn 60-70% (Nguyễn Mạnh Hùng và cs 1994) [12]
- Thay lông cũng biểu thị sự ảnh hưởng đến năng suất trứng vì sau mỗi
chu kỳ đẻ trứng sinh học gia cầm nghỉ đẻ và thay lông Trong điều kiện bình thường, lúc thay lông lần đầu tiên là thời điểm quan trọng để đánh giá gia cầm
đẻ tốt hay đẻ xấu Những đàn gà thay lông sớm, thời giant hay lông bắt đầu từ tháng 6-7 và quá trình thay lông diễn ra chậm kéo dài 3-4 tháng là những đàn gà
đẻ kém Ngược lại, có những đàn gà thay lông muộn thời gian thay lông bắt đầu
từ tháng 10-11, quá trình thay lông diễn ra nhanh là những đàn gà đẻ tốt Đặc biệt ở một số đàn cao sản, thời gian nghỉ đẻ chỉ 4-5 tuần và đẻ lại ngya khi chưa hình thành xong bộ lông mới, có những con đẻ ngày trong thời gian thay lông Như vậy, thay lông liên quan mật thiết đến sản lượng trứng của gia cầm
Trong chăn nuôi có một yếu tố ảnh hưởng rất quan trọng đến hiệu quả kinh tế suốt cả quá trình chăn nuôi là tác động của con người Ngày nay, mô hình chăn nuôi từng bước đã thay đổi, dù là cơ sở chăn nuôi lớn hay chăn nuôi nhỏ đều rất quan tâm đến các tiến bộ kỹ thuật về mọi lĩnh vực trong chăn nuôi như: con giống, dinh dưỡng, quy trình chăn nuôi… Dưới ảnh hưởng của công tác giống, điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng đã không ngừng nâng cao hiệu quả của chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng
Vì vậy nghiên cứu sản lượng trứng gia cầm một mặt cung cấp cho chúng
ta những thông tin đánh giá phẩm chất giống, so sánh năng suất, chất lượng trứng với tiềm năng khai thác của giống, nghiên cứu lai tại giống, dòng mới; mặt khác giúp cho nhà nghiên cứu, người chăn nuôi xây dựng quy trình chăm sóc
Trang 20nuôi dưỡng, xây dựng khẩu phần thức ăn trong các giai đoạn gà cn, dò, hậu bị và sinh sản nhằm khai thác tối đa tiềm năng sản xuất của từng giống gà
1.1.3.3 Khối lượng trứng
Sau sản lượng trứng, thì khối lượng trứng là chỉ tiêu quan trọng cấu thành năng suất của đàn gà bố mẹ Khi cho lai hai dòng gia cầm có khối lượng trứng lớn và bé, thì trứng của con lai thường có khối lượng trứng trung gian (Khavecman, 1972) [43] Tính trạng khối lượng trứng có hệ số di truyền cao, do
đó có thể đạt được nhanh chóng thông qua con đường chọn lọc Kushner, 1974) [44] Khối lượng trứng mang tính đặc trưng của từng loài và mang tính di truyền cao Hệ số di truyền của khối lượng trứng là 40-80% (Nguyễn Chí Bảo (1978) [1] Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [Error! Reference source not found.], hệ số di truyền về khối lượng trứng của gà là 60-74% Trong cùng giống, cùng đàn, nhóm
có khối lượng trứng lớn nhất hoặc bé nhất đều cho tỷ lệ nở thấp
tế lớn Tỷ lệ nở là một chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của phôi, sức sống của gia cầm non
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở như: chất lượng trứng, thời gian và chế độ bảo quản trứng, chế độ độ ấp (nhiệt độ, ẩm độ, thông thoáng, đảo trứng…) Hệ số di truyền về tỷ lệ trứng thụ tinh là 11-13%, hệ số di truyền của
tỷ lệ ấp nở 10-14% (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [Error! Reference source not found.] Đ
a số các giống gà giống địa phương có khả năng thích nghi cao, chất lượng thịt
và trứng thơm ngon nhưng năng suất thường không cao vì nhiều lí do trong đó
có nguyên nhân là do đẻ ít, chu kì đẻ muộn, tỷ lệ ấp nở thấp… Vì vậy, các giống
Trang 21gà địa phương này ngày càng được nghiên cứu nhiều hơn nhằm khai thác nhiều hơn nữa tiềm năng sản xuất của các giống gà địa phương này
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hiện nay dân số thế giới ngày một tăng, trong những thập kỷ tiếp theo ước tính dân số thế giới tăng 1% mỗi năm Dân số tăng gây áp lực lớn lên nhu cầu về nguồn thực phẩm nói chung và nguồn thực phẩm động vật nói riêng Theo tổ chức FAO (2015) [38], tiêu thụ thịt toàn cầu sẽ tăng 1,6% mỗi năm trong thập kỷ tới Tiêu thụ thịt gia cầm hiện đang ở vị trí thứ hai sau thịt lợn Mức tiêu thụ thịt gia cầm toàn cầu năm 1999 là 10,2 kg/người/năm đến năm 2016 tăng lên 13,8 kg/người/năm và ước tính năm 2030 sẽ là 17,2 kg/người/năm
Chăn nuôi gia cầm có nhiều lợi thế hơn so với các gia súc khác như chúng sinh trưởng nhanh hơn, số lượng đầu con nhiều, có thời gian nuôi ngắn và quay vòng vốn nhanh Chính vì có lợi thế như vậy nên ngành chăn nuôi gà trên thế giới đã phát triển rất nhanh Năm 2000 số lượng gà giết mổ trên thế giới đạt 40,635 tỷ con đến năm 2014 tổng gà giết mổ trên thế giới đã đạt 59,861 tỷ con (FAO, 2015) [38] Khối lượng giết mổ của gia cầm tăng từ 1,44 kg đến 1,55 kg
Quần thể gà nội ở hầu hết các nước được ước tính khoảng hơn 60% tổng
số gia cầm quốc gia (FAO, 2015) [38] Tuy nhiên với sự thiếu quan tâm trong công tác đánh giá nguồn gen và việc xây dựng chiến lược giống chưa phù hợp
đã dẫn đến hậu quả là nhiều giống có năng suất thấp có nguy cơ bị tiệt chủng (FAO, 2011; Hoffmann, 2011) [37] Bên cạnh đó, một số quần thể có năng suất thấp hoặc vừa phải nhưng tồn tại với số lượng ít đang bị đối mặt với sự sói mòn
di truyền mà có thể dẫn đến mất biến dị di truyền của loài FAO (2011) [37] đã kêu gọi sự quan tâm đặc biệt về tình trạng báo động tiệt chủng của một số lượng lớn các giống gia cầm bản địa và ước tính có khoảng 40 giống gà bản địa đã bị tiệt chủng Trên thế giới, có khoảng 25% các giống gà đang được bảo tồn Tuy nhiên các thông tin về hiệu quả của các chương trình bảo tồn còn hạn chế
Trang 22(Hoffmann, 2009; 2011) [Error! Reference source not found.] Dựa vào các thông báo c
ủa các nước thì chỉ có 15% các nước (trong đó 1/2 là các nước đang phát triển)
có chương trình bảo tồn các giống gia cầm Các chương trình này đã bảo tồn được khoảng 63% các giống nội và 11% tổng số gia cầm quốc gia (Singh và Fotsa, 2011) [49]
Ngành chăn nuôi gà thịt trên thế giới đạt tốc độ phát triển nhanh như vậy nhờ có sự tiến bộ vượt bậc về khoa học công nghệ trong lĩnh vực chọn lọc và lai tạo giống cùng với kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và thú y phù hợp
1.2.1.2 Nghiên cứu khả năng sản xuất của các dòng, giống gà lông màu
Một số hăng gia cầm lớn trên thế giới đồng thời nghiên cứu đánh giá khả năng sản xuất để chọn tạo và phát triển các giống gà công nghiệp chuyên thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh (như Cobb, Ross, Lohman, ISA, Avian…) và chuyên trứng có khả năng sinh sản cao (Hyline, Goldline, Brownick…) còn đầu tư nghiên cứu các giống gà lông màu hướng thịt, trứng có năng suất, chất lượng cao phù hợp với nhiều phương thức chăn nuôi, đặc điểm khí hậu của các châu lục và nhu cầu của người tiêu dùng
Bang Newhamshire, Mỹ có giống gà Newhamshire có khối lượng gà mái trưởng thành nặng 2,3 - 3,0 kg Gà trống nặng 3,5 - 4 kg Phẩm chất thịt thơm ngon Năng suất trứng đạt khoảng 200 - 220 quả /năm Khối lượng trứng khoảng
60g Gà Newhamshire được sử dụng để tạo ra các giống gà chuyên trứng có sức
sống cao
Hang Hyline của Mỹ có bộ giống gà chuyên trứng gồm bốn dòng với các chỉ tiêu về khả năng sản xuất như sau:
Variety Brown: có năng xuất trứng đến 65 tuần tuổi đạt 249 quả/mái Tỷ
lệ đẻ đỉnh cao: 92% (28 tuần tuổi) Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng là 1,65 kg Tỷ
lệ nuôi sống (19-65 tuần tuổi) là 91% Khối lượng gà 18 tuần tuổi con mái là 1,44 kg; con trống là 2,2 kg Khối lượng gà 65 tuần tuổi: con mái là 1,88 kg; con trống là 2,80 kg Tiêu thụ thức ăn giai đoạn 1-18 tuần tuổi là 6,55 kg
Trang 23Variety W-36: năng suất trứng đến 65 tuần tuổi đạt 262 quả/mái đầu kỳ
Tỷ lệ đẻ đỉnh cao: 91% (27 tuần tuổi) Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng là 1,48 kg
tỷ lệ nuôi sống (19-65 tuần tuổi) là 96% Khối lượng gà 18 tuần tuổi con mái là 1,20 kg; con trống là 1,56 kg Khối lượng gà 65 tuần tuổi: con mái là 1,59 kg; con trống là 2,12 kg Tiêu thụ thức ăn giai đoạn 1-18 tuần tuổi là 5,58 kg (Hy- Line International, 2010)
Variety Silver Brown: năng suất trứng đến 65 tuần tuổi đạt 260 quả/ mái
tỷ lệ đẻ đỉnh cao: 91% (30 tuần tuổi) Khối lượng trứng 65g/quả tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng là 1,65 kg Tỷ lệ nuôi sống (19-65 tuần tuổi) là: 92% Khối lượng gà 18 tuần tuổi con mái là 1,46 kg; con trống là 2,13 kg Khối lượng gà 65 tuần tuổi: con mái là 2,06 kg; con trống là 2,70 kg Tiêu thụ thức ăn giai đoạn 1-
18 tuần tuổi là 6,55 kg (Hy- Line International, 2008)
Ở Pháp: Công ty Sasso đã tiến hành đánh giá khả năng sản xuất của các dòng trong quá trình nhân giống, chọn lọc và lai tạo ra giống gà Sasso có khả năng thích nghi cao, dễ nuôi ở các điều kiện nóng ẩm, sức kháng bệnh tốt, chất lượng thịt thơm ngon và hăng này đã tạo ra được 18 dòng gà có mục đích sử dụng khác nhau Dòng bà cũng có 6 dòng, trong đó có 2 dòng sử dụng rộng rãi Các dòng mái có năng suất trứng/mái/năm đạt 180 - 188 quả và nuôi lấy thịt đến
63 ngày tuổi đạt 2,2 - 2,3kg và TTTA/kg tăng khối lượng cơ thể từ 2,4 - 2,45 kg (nuôi thâm canh) và từ 3,1 - 3,5 kg (nuôi bán thâm canh)
1.2.1.3 Nghiên cứu đánh giá khả năng sản suất của các giống gà bản địa
Bên cạnh các giống gà lông màu thì nhiều quốc gia trên thế giới đã sử dụng nguồn gen gà bản địa để chọn tạo các dòng, giống theo mục đích khác nhau đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng trong nước Thống kê của FAO cho thấy, ở Châu Phi và Châu Á 80% các giống gà được nuôi tại các quốc gia là các giống gà bản địa Mặc dù các nhà chăn nuôi, các doanh nghiệp có nhập khẩu các giống gà công nghiệp năng suất cao từ các nước phát triển nhưng tâm lý và thị hiếu của người tiêu dùng bản địa vẫn sử dụng các giống nội là chủ yếu (Teklewold và cs., 2006) [50]
Trang 24Ở Trung Quốc, công ty gia cầm Bạch Vân đã đánh giá khả năng sản xuất của giống gà Tam Hoàng nổi tiếng với 2 dòng là dòng Tam Hoàng 882 và Tam Hoàng Jangcun Giống gà này có thể nuôi công nghiệp hoặc bán công nghiệp kết hợp với nuôi thả trong vườn để tận dụng thức ăn, giảm chi phí Khối lượng
cơ thể lúc hai tháng tuổi đạt 1,7 - 1,8 kg/con, tiêu tốn thức ăn: 2,4 - 2,6kg thức ăn/kg tăng trọng Tỷ lệ nuôi sống đạt 95%
Tại Indonesia, một số giống gà nội nổi tiếng như gà Kampung, Black Kedu, White Kedu, Nunukan và gà Peling (Tike Sartika và Ronny Rachman Noor, 2005) [51] đã được đánh giá khả năng sản xuất qua các thế hệ Các giống gà này có khối lượng lúc 20 tuần tuổi đạt lần lượt là 1719; 1753; 1575;
1507 và 2290g/con Trong đó, gà Kampung nuôi ở 3 phương thức khác nhau
là chăn thả47 quả/mái/năm, bán chăn thả 59 quả/mái/năm và nuôi nhốt hoàn toàn cho năng suất trứng 146 quả/mái/năm Giống gà Kampung cũng là gà nguyên liệu quan trọng trong các công thức lai tạo giống của các công thức lai tại quốc gia này
Lwelamira và Kifaro (2010) [47] khi nghiên cứu để xây dựng chương trình giống quốc gia cho các giống gà nội Tanzania đã chỉ ra rằng để đạt được mục đích của chương trình giống quốc gia là nhằm nâng cao năng suất của nhóm các giống gà nội nuôi chăn thả lúc 16 tuần tuổi có khối lượng cơ thể lớn từ
1394 đến 1800g (tăng 29%) cần khoảng 5 đến 6 thế hệ chọn lọc Đối với nhóm giống gà có năng suất trứng cao, để chọn lọc nhằm nâng cao năng suất trứng của
90 ngày đẻ đầu tiên từ 49 quả lên 68 quả (38,7%) cần chọn lọc từ 8 - 11 thế hệ
Giống gà nội nặng cân của Nigeria đã được nghiên cứu đánh giá năng suất qua các thế hệ Kết quả cho thấy khối lượng cơ thể lúc 12, 16, 20 và 39 tuần tuổi của con trống tăng lần lượt từ 791,40g; 932,25g; 1112,60g; 1693,75g ở thế hệ xuất phát lên lần lượt là 825,28g; 1027,83g; 1156,69g và 2000,00g ở thế hệ 2 Khối lượng cơ thể lúc 12, 16, 20 và 39 tuần tuổi của con mái tăng lần lượt từ 667,98g; 791,52g; 911,59g và 1330,44g ở thế hệ xuất phát lên lần lượt là 673,94g; 812,54g; 939,64g và 1428,48g Năng suất trứng và khối lượng trứng
Trang 25lúc 16 tuần đẻ cũng tăng lần lượt từ 75,60 quả và 41,27g ở thế hệ xuất phát lên 79,38 quả và 43,18g ở thế hệ 2 (Ogbu, 2010) [48]
Ở Iran, giống gà nội Mazadarani đã được nghiên cứu đánh giá về năng suất qua 18 thế hệ Kết quả đã cho thấy hệ số di truyền về khối lượng cơ thể ở các tuần là từ 0,24 - 0,47 Khối lượng cơ thể lúc 08 tuần tuổi là 563,7 gam Nhóm tác giả cũng chỉ ra rằng tương quan nghịch với mức độ thấp giữa khối lượng cơ thể và năng suất trứng (Niknafs và cs., 2012) [46]
Bangladesh đã nghiên cứu đánh giá khả năng sản xuất của 3 giống gà nội được nuôi trong hệ thống chăn nuôi thâm canh ở 08 và 16 tuần tuổi Khối lượng
cơ thể con trống của thế hệ 1 đã tăng hơn so với đàn quần thể từ 11,50 đến 81,56 gam Khối lượng cơ thể con mái của thế hệ 1 đã tăng hơn so với đàn quần thể từ 15,82 đến 53,81 gam (Faruque và cs 2017) [39]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong cơ cấu đàn gà cả nước, khoảng 60% là gà lông màu mang gen bản địa Các giống gà lông màu hiện đang thống trị thị trường Việt Nam chủ yếu đều
có nguồn gốc từ giống gà bản địa Các giống gà bản địa của Việt Nam mặc dù
đẻ kém, tốc độ sinh trưởng chậm, dài ngày nhưng đổi lại khả năng chống chịu, thích nghi với thời tiết tốt, thịt thơm ngon hợp khẩu vị người Việt Do đó, để phát huy tối đa lợi thế của các giống gà bản địa các nhà khoa học đã sử dụng các giống gà này như là nguồn di truyền quan trọng trong công tác giống
1.2.2.1 Nghiên cứu đánh giá khả năng sản xuất của các giống gà nhập nội và các dòng mới được tạo ra ở Việt Nam
Song song với việc nghiên cứu và phát triển các giống gà nội, trong những năm qua nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm lớn ở trong nước nên hầu hết các giống gà hướng thịt và hướng trứng có năng suất cao đều được nhập vào nuôi ở nước ta Bên cạnh đó đã có nhiều giống, dòng mới được tạo ra và đã được chọn lọc có định hướng nâng cao năng suất qua các thế hệ để tạo các dòng có khối lượng lớn hoặc năng suất trứng cao đáp ứng yêu cầu của sản xuất
Trang 26Trần Công Xuân và cs., (2004) [34] đã nghiên cứu đánh giá khả năng sản xuất của 3 dòng gà lông màu LV1, LV2 và LV3 Kết quả cho thấy dòng LV1 có năng suất trứng/mái/68 tuần tuổi đạt 145,49 -152,51 quả; LV2 157,2-165,3 quả/mái; LV3 158,34 -172,3 quả/mái Tỷ lệ phôi đạt tương ứng 96,56; 96,67 và 96,89% Tỷ lệ nở đạt tương ứng 84,65; 85,77 và 85,8% Gà LV12 thương phẩm đạt khối lượng 1738-1956g/con/10 tuần; gà LV13 đạt 1822-2017g/con, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng 2,60-2,71kg
Phùng Đức Tiến (2004) [27] nghiên cứu đánh giá khả năng sản suất của gà
Ai cập qua 6 thế hệ cho biết gà Ai Cập có qua 6 thế hệ có năng suất trứng/mái/61 tuần tuổi từ 149,79 quả đến 175,48 quả Khối lượng ở 9 tuần tuổi là từ 644gam đến 706 gam và đến 19 tuần tuổi là từ 1.304gam đến 1.400 gam
Phùng Đức Tiến (2009) [28] cho thấy 2 dòng gà HA1 và HA2 từ nguồn nguyên liệu gà Ai Cập và gà Hyline có khối lượng ở 19 tuần tuổi đạt 1428,67-1480,90g/con mái Năng suất trứng đạt 229,48-234,73 quả/mái/72 tuần tuổi
Phạm Công Thiếu và cs (2009) [25] khi nghiên cứu trên 3 giống gà nhập nội HW, RID và PGI qua 4 thế hệ Kết quả cho thấy khối lượng cơ thể lúc 9 tuần tuổi gà trống HW đạt 650 - 660 g, lúc 19 tuần tuổi gà trống đạt 1480 - 1500g, gà mái đạt 1210 - 1230g Gà Ri lúc 19 tuần tuổi gà trống đạt 1860- 1880g, gà mái đạt 1470 - 1480g Gà PGI lúc 19 tuần tuổi gà trống đạt 1755- 1880g, gà mái đạt
1490 - 1510g Quá trình chọn lọc nhân thuần đã năng cao năng xuất trứng đến
72 tuần tuổi của gà HW từ 191,71 quả lên 259,44 quả Gà RID từ 155,79 lên 211,18 quả và gà PGI là từ 140,34 lên 207,48 quả
Nguyễn Thanh Sơn và cs (2017) [19] đã nghiên cứu trên 3 dòng gà lông màu VP3, VP4 và VP5 Kết quả chọn lọc cho thấy gà VP3 có khối lượng cơ thể lúc 8 tuần tuổi tương đối ổn định con trống đạt 1268,3g ở thế 1 và 1235,8g ở thế
hệ 3; con mái có khối lượng là 974,8g ở thế 1 và 1028,2g ở thế hệ 3 Gà VP4 có khối lượng cơ thể lúc 8 tuần tuổi con trống đạt 954,8g ở thế 1 và 925,3g ở thế hệ 3; con mái có khối lượng là 696,3g ở thế 1 và 747,5g ở thế hệ 3 Gà VP4 có khối lượng cơ thể lúc 8 tuần tuổi con trống đạt 954,3g ở thế 1 và 912,7g ở thế hệ 3; con mái có khối lượng là 696,6g ở thế 1 và 725,3g ở thế hệ 3 Năng suất trứng
Trang 27đến 38 tuần tuổi gà VP3 của thế hệ 1 là 53,39 quả và thế hệ 3 là 54,36 quả Gà VP4 của thế hệ 1 là 55,71 quả và thế hệ 3 là 54,78 quả Dòng VP5 của thế hệ 1
là 55,12 quả và thế hệ 3 là 56,58 quả
Kết quả đánh giá năng suất của dòng gà trống TN1 cho thấy khối lượng
cơ thể gà lúc 8 tuần tuổi gà trống tăng từ 2262,38g ở thế hệ 1 lên 2830,67g ở thế
hệ 4, gà mái đạt 2120,22g ở thế hệ 1 và 2298,75g ở thế hệ 4 Năng suất trứng lúc
64 tuấn tuổi đạt ổn định (149,41 quả ở thế hệ 1 và 150,86 quả ở thế hệ 4) Dòng mái TN2 có khối lượng cơ thể gà lúc 8 tuần tuổi ổn định từ 1846,29g ở thế hệ 1 đến 1879,78g ở thế hệ 4, Năng suất trứng lúc 64 tuấn tuổi tăng từ 175,10 quả ở thế hệ 1 lên 178,05 quả ở thế hệ 4 (Nguyễn Quý Khiêm và cs, 2017a) [15]
Kết quả nghiên cứu đánh giá năng suất 3 dòng gà lông màu hướng thịt TP4, TP1 và TP2 từ thế hệ 4 đến thế hệ 8 cho thấy dòng gà TP4 được chọn lọc theo hướng khối lượng cơ thể lớn khối lượng cơ thể gà lúc 8 tuần tuổi gà trống tăng từ 2262,38g ở thế hệ 1 lên 2830,67g ở thế hệ 4, gà mái tăng từ 1726,67g ở thế hệ 1 lên 1731,85g ở thế hệ 4 Năng suất trứng lúc 68 tuấn tuổi ổn định từ 165,97 - 166,87 quả Gà TP1 và TP2 được chọn lọc theo hướng có năng suất trứng cao Gà TP1 có năng suất trứng lúc 68 tuần tuổi tăng từ 181,43 quả ở thế
hệ 1 lên 182,88 quả ở thế hệ 8 và ổn định từ 165,97 - 166,87 quả Gà TP2 có năng suất trứng lúc 68 tuấn tuổi tăng từ 177,58 quả ở thế hệ 1 lên 179,78 quả ở thế hệ 8 (Phùng Đức Tiến và cs, 2017) [29]
Đánh giá khả năng sản suất của 4 dòng gà chuyên thịt cao sản ở Việt nam qua 4 thế hệ cho thấy dòng gà RTP1 có khối lượng cơ thể lúc 4 tuần tuổi gà trống tăng từ 1172,75g ở thế hệ xuất phát lên 1532,25g ở thế hệ 3, gà mái tăng
từ 1032,62g ở thế hệ xuất phát lên 1288,70 ở thế hệ 3 Năng suất trứng lúc 40 tuần đẻ tăng từ 100,38 quả ở thế hệ xuất phát lên 105,74 quả ở thế hệ 3 Dòng gà RTP2 có khối lượng cơ thể lúc 4 tuần tuổi gà trống tăng từ 1109,50g ở thế hệ xuất phát lên 1507,53g ở thế hệ 3, gà mái tăng từ 974,30g ở thế hệ xuất phát lên 1225,67g ở thế hệ 3 Năng suất trứng lúc 40 tuần đẻ tăng từ 105,13 quả ở thế hệ xuất phát lên 111,18 quả ở thế hệ 3 Dòng gà RTP3 có khối lượng cơ thể lúc 4 tuần tuổi gà trống tăng từ 1044,00g ở thế hệ xuất phát lên 1282,13g ở thế hệ 3,
Trang 28gà mái tăng từ 950,12g ở thế hệ xuất phát lên 1015,52g ở thế hệ 3 Năng suất trứng lúc 40 tuần đẻ tăng từ 131,04 quả ở thế hệ xuất phát lên 141,41 quả ở thế
hệ 3 Dòng gà RTP4 có khối lượng cơ thể lúc 4 tuần tuổi gà trống tăng từ 952,50g ở thế hệ xuất phát lên 1149,50g ở thế hệ 3, gà mái tăng từ 906,41g ở thế
hệ xuất phát lên 961,41g ở thế hệ 3 Năng suất trứng lúc 40 tuần đẻ tăng từ 150,09 quả ở thế hệ xuất phát lên 167,85 quả ở thế hệ 3 (Lê Thị Nga và cs., 2017) [16]
Nghiên cứu đánh giá năng suất của 4 dòng gà chuyên trứng cao sản qua 4 thế hệ cho thấy năng suất trứng lúc 38 tuần tuổi của dòng gà GT1 có tăng 12,07 quả qua 4 thế hệ (từ 94,4 quả thế hệ xuất phát lên 106,47 quả thế hệ 3) Dòng gà GT2 có tăng 11,89 quả qua 4 thế hệ (từ 96,17 quả thế hệ xuất phát lên 107,06 quả thế hệ 3) Dòng gà GT3 có năng suất trứng từ 103,50 - 105,48 quả Dòng gà GT4 có tăng 6,07 quả (từ 98,73 quả thế hệ xuất phát lên 104,80 quả thế hệ 3) (Nguyễn Quý Khiêm và cs., 2017b) [15]
Hồ Xuân Tùng và cs (2017) [32] đã nghiên cứu đánh giá khả năng sản suất của hai dòng gà Ri cải tiến VP2 qua 5 thế hệ (từ thế hệ 4 đến thế hệ 8) Kết quả cho thấy khối lượng cơ thể lúc 8 tuần tuổi của con trống là 1215,14 - 1295,0 g; con mái là 907,17 - 988,0g Năng suất trứng đến 68 tuần đẻ tăng từ 139,83 quả ở thế hệ 4 lên 143,23 quả ở thế hệ 8
1.2.2.2 Nghiên cứu đánh giá khả năng sản suất của các giống gà nội
Nhiều công trình nghiên cứu đã tiến hành đánh giá khả năng sản suất của các giống gà nội Kết quả nghiên cứu đã cho thấy năng suất của các giống gà nội được cải thiện một cách rõ rệt qua các thế hệ
Nguyễn Huy Đạt và Hồ Xuân Tùng (2005) [7] đã nghiên cứu trên giống
gà Ri Kết quả cho thấy khối lượng cơ thể 9 tuần tuổi gà mái tăng từ 642g đến 686g, gà trống tăng từ 785g đến 863g; 19TT gà mái 1241 - 1256g, trống 1735 - 1747g Năng suất trứng/68 tuần tuổi của thế hệ 1 là 124,5 quả và thế hệ thứ 3 là 129,01 quả, tăng 4,5 quả (3,6%) so với thế hệ xuất phát Khối lượng trứng lúc 38 tuần tuổi của 3 thế hệ là ổn định từ 43,26 đến 43,50 gam Tiêu tốn thức ăn cho
Trang 2910 quả trứng 3 thế hệ từ 2,59 - 2,61kg Tỷ lệ gà con loại I/trứng ấp bình quân đạt 76,69 - 77,86% Đối với gà thịt thương phẩm (nuôi 12TT) đạt khối lượng mái là 950,2 - 970,4g; trống là 1138,4 - 1156,4g Tỷ lệ nuôi sống cao 96 - 96,5% và tỷ
lệ thân thịt chung cho trống mái 77,8%
Phạm Công Thiếu và cs (2009) [25] đã tiến hành đánh giá khả năng sản suất và chất lượng của gà H’Mong qua 4 thế hệ Kết quả cho thấy lúc 9 tuần tuổi
gà trống có khối lượng là 836,70 - 860,50g, gà mái có khối lượng 676,00 - 684,50g Đến 20 tuần tuổi gà trống có khối lượng ở thế hệ xuất phát là 1710,40g
và ở thế hệ 3 là 1785,9g, gà mái có khối lượng ở thế hệ xuất phát là 1227,5g và
ở thế hệ 3 là 1276,9g Năng suất trứng của gà H’Mong tăng dần qua các thế hệ Năng suất trứng đến 72 tuần tuổi là từ 104,40 quả ở thế hệ xuất phát và 114,32 quả ở thế hệ 3
Ngô Thị Kim Cúc và cs, (2014) [1] đã đánh giá khả năng sản suất để tiến hành chọn lọc nhân thuần đàn gà Ri hoa mơ qua 3 thế hệ Kết quả theo dõi ba thế hệ cho thấy tỷ lệ màu lông hoa mơ của đàn gà ở thế hệ 2 đã được nâng lên 8,5% so với thế hệ xuất phát (từ 53,5% ở thế hệ xuất phát lên 62,0% ở thế hệ 2) Khối lượng của gà Ri đã tăng dần qua các thế hệ Lúc 8 tuần tuổi gà trống có khối lượng là 668,04g ở thế hệ xuất phát và 690,44g ở thế hệ 2, gà mái có khối lượng 627,15g ở thế hệ xuất phát và 663,35g ở thế hệ 2 Đến 20 tuần tuổi gà trống có khối lượng ở thế hệ xuất phát là 1676,30g và ở thế hệ 2 là 1705,00g, gà mái có khối lượng ở thế hệ xuất phát là 1409,30g và ở thế hệ 2 là 1444,60g Năng suất trứng của đàn gà Ri hoa mơ đến 68 tuần tuổi là từ 126,21 quả ở thế hệ xuất phát và 129,28 quả ở thế hệ 2
Lê Thị Thu Hiền và cs, (2016) [12] đã cho thấy: Khối lượng của gà Tre miền Bắc lúc 8 tuần tuổi gà trống có khối lượng là 395,18g ở thế hệ xuất phát và 420,87g ở thế hệ 3 Gà mái có khối lượng là 302,82g ở thế hệ xuất phát và 325,58g ở thế hệ 3 Lúc 20 tuần tuổi gà trống có khối lượng là 816,67g ở thế hệ xuất phát và 830,7g ở thế hệ 3 Gà mái có khối lượng là 690,0g ở thế hệ xuất phát và 700,0g ở thế hệ 3 Khối lượng của gà Tre miền Nam lúc 8 tuần tuổi gà trống có khối lượng là 437,3g ở thế hệ xuất phát và 452,1g ở thế hệ 3 Gà mái có
Trang 30khối lượng là 365,7g ở thế hệ xuất phát và 376,2g ở thế hệ 3 Lúc 20 tuần tuổi gà trống có khối lượng là 667,0g ở thế hệ xuất phát và 712,7g ở thế hệ 3 Gà mái có khối lượng là 560,0g ở thế hệ xuất phát và 597,3g ở thế hệ 3 Năng suất trứng/mái/38 tuần tuổi tương đương qua các thế hệ Tỷ lệ phôi của gà Tre là 89-90%, tỷ lệ gà nở/tổng trứng có phôi là 87,51-90,64% khối lượng cơ thể gà Tre thương phẩm lúc xuất chuồng (16 tuần tuổi) đạt 625g với tiêu tốn 6,63kg thức ăn/kg tăng khối lượng
Lê Thị Thu Hiền và cs, (2015b) [11] đã chỉ ra rằng sau 4 thế hệ chọn lọc,
gà Chọi lúc 8 tuần tuổi gà có khối lượng là 661,67g ở thế hệ xuất phát và 696,00g ở thế hệ 3 Lúc 20 tuần tuổi khối lượng cơ thể con trống ở thế hệ xuất phát là 1976,00g và ở thế hệ 3 là 2002,35g, gà mái có khối lượng ở thế hệ xuất phát là1611,28g và thế hệ 3 là là 1678,54g Năng suất trứng đến 68 tuần tuổi của
gà Chọi đạt tương đương qua các thế hệ và đạt 26,83 - 27,14 quả Tỷ lệ trứng có phôi của gà Chọi là 89,40% - 90,47%, tỷ lệ gà loại 1 đạt 73,34% - 74,89% Khối lượng cơ thể gà Chọi thương phẩm lúc xuất chuồng (20 tuần tuổi) đạt 2,02kg với tiêu tốn 4,73kg thức ăn/kg tăng khối lượng
Ngô Thị Kim Cúc và cs, (2016; 2016a) [5] đã tiến hành theo dõi đàn hạt nhân gà Mía qua 4 thế hệ Kết quả cho thấy khối lượng của gà Mía trống lúc 8 tuần tuổi gà trống có khối lượng là 637,90g ở thế hệ xuất phát và 674,06g ở thế
hệ 3 (tăng 5,7%) Gà mái Mía lúc 8 tuần tuổi có khối lượng 556,19g ở thế hệ xuất phát và 591,08g ở thế hệ 3 (tăng 6.3%) Năng suất trứng/mái/năm đạt 72,04
ở thế hệ xuất phát và 72,68 quả ở thế hệ 3 Tỷ lệ trứng có phôi của gà Mía là 88,28 - 90,25%, tỷ lệ nở/tổng ấp là 72,04 - 72,85% Khối lượng cơ thể lúc 15 tuần tuổi của gà Mía thương phẩm đạt 1357,33 - 1391,67g với tiêu tốn thức ăn là 3,67 - 3,79 kg/kg tăng trọng
Vũ Đình Tôn (2015) [30] đã đánh giá khả năng sản suất của giống gà Hồ qua 3 thế hệ Kết quả chỉ ra rằng số lượng trứng/mái/năm của gà Hồ tăng dần từ 43,58 quả ở thế hệ xuất phát lên 50,22 quả ở thế hệ thứ 2 và ở đàn hạt nhân là 52,40 quả Vũ Ngọc Sơn và cs, (2015) [20] đã chọn lọc nhân thuần gà Lạc Thủy qua 2 thế hệ Kết quả chọn lọc cho thấy khối lượng cơ thể lúc 8 tuần tuổi ổn
Trang 31định Con trống đạt 646,0 - 646,27g; con mái đạt 529,83 - 531,43g Khối lượng
cơ thể lúc 20 tuần tuổi gà trống là 1852,15 - 1890,10g, gà mái 1580,15 - 1600,00g Năng suất trứng đến 68 tuần tuổi tăng từ 97,96 quả ở thế hệ xuất phát lên 89,48 quả ở thế hệ 1
1.2.2.2 Nghiên cứu gần đây trên giống gà Móng
Gà Móng có nguồn gốc ở làng Móng, xã Tiên Phong, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Khi mới nở gà có màu lông trắng ngà, vùng bụng có lông màu trắng sáng hơn phần lưng Mỏ và da chân có màu vàng, sáng bóng và mập mạp Lúc 8 tuần tuổi, gà trống lông cánh có màu đen, gà mái có lông cánh màu vàng nâu nhạt Thân hình mập mạp, nhanh nhẹn Chân to, da chân màu vàng Lúc 20 tuần tuổi gà trống có lông màu nâu đỏ (mã lĩnh) Đầu thô, to; thân hình chắc chắn, nhanh nhẹn, mình tròn Chân cao, to, mỏ, da chân màu vàng Da chân dầy,
xù xì thô, da bụng màu đỏ Mào nụ, tích phát triển có màu đỏ tươi gà mái có màu nâu hay nâu nhạt (màu lá chuối khô) Chân to, mỏ, da chân màu vàng Da dầy, xù xì thô, da bụng màu đỏ Mào nụ, tích phát triển có màu đỏ tươi So với
gà Đông Tảo, chân gà Móng không to bằng, chân không xù ra như gà Đông Tảo,
gà Móng cũng có vẩy thịt màu hồng sẫm nhưng vẩy xếp thẳng hàng, phía trước ngón chân có vẩy sừng thẳng hàng màu vàng trong khi gà Đông Tảo không có hàng vảy này hoặc vẩy ít, không thẳng hàng (Nguyễn Văn Tuyển và cs., 2016) [33]
Nghiên cứu của Đỗ Văn Diện (2004) [6] đã theo dõi trên 14 hộ giữ quỹ gen gà Móng cho thấy khối lượng sơ sinh nặng trung bình 35 g/con; khối lượng lúc 8 tuần tuổi đạt 600 - 700g; 20 tuần tuổi đạt 2200-2400g Số lượng trứng/mái/năm là 80 quả Hồ Xuân Tùng và cs (2009) [31] đã chỉ ra rằng khối lượng gà Móng nhỏ hơn nhiều; khối lượng sơ sinh trung bình là 31,2g; khối lượng lúc 8 tuần tuổi đạt 598,7g; 20 tuần tuổi con trống đạt 1823,3g, con mái đạt 1512,2g Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là 153 ngày, đạt đỉnh ở 31 tuần tuổi; tỷ lệ trứng có phôi chỉ đạt 82,1%, tỷ lệ ấp nở 71,6%
Ngô Thị Kim Cúc và cs (2016, 2016b) [4], [Error! Reference source not found.] nghiên cứu trên 4 thế hệ của đàn hạt nhân gà Móng cho thấy: Khối lượng của gà
Trang 32Móng lúc 8 tuần tuổi con trống 663,05g ở thế hệ xuất phát và 692,08g ở thế hệ thứ 3; gà mái có khối lượng 575,28g ở thế hệ xuất phát 598,05g ở thế hệ 3 Năng suất trứng đến trứng/mái/năm đạt tương đương qua các thế hệ và đạt 85,79 quả đến 86,65 quả Tỷ lệ trứng có phôi của gà Móng là 85,89 - 87,93%, tỷ lệ nở/tổng
ấp là 69,75 - 71,70%
Từ các kết quả nghiên cứu trên thế giới và trong nước cho thấy mục tiêu chính của các chương trình giống gia cầm ở các quốc gia trên thế giới là tạo ra các dòng, giống với các hướng sản xuất khác nhau và cải tiến di truyền các tính trạng chọn lọc theo từng mục tiêu của giống Công cụ chính để đạt được mục tiêu là chọn lọc các cá thể có năng suất cao nhất như là các đàn giống để sản sinh ra thế hệ sau Các kết quả nghiên cứu trong nước và trên thế giới cho thấy thông qua quá trình chọn lọc với các mục tiêu chọn lọc khác nhau về khối lượng
cơ thể và các tính trạnh năng suất trứng Trải qua các thế hệ chọn lọc thì kết quả cho thấy năng suất trung bình của đời con đã được cải thiện một cách đáng kể so với năng suất trung bình của đàn bố mẹ trên các giống gà địa phương của Việt Nam cũng như của các nước đang phát triển có hệ thống chăn nuôi tương tự như
ở Việt Nam
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượngnghiên cứu
Gà Móng hạt nhân thế hệ 4 nuôi sinh sản
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Đề tài được triển khai tại trang trại bảo tồn nguồn gen giống gà Móng thôn Dưỡng Thọ, xã Tiên Phong, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6/2016 đến tháng 06/2017
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá đặc điểm ngoại hình và kích thước các chiều đo của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4
2.2.21 Đánh giá đặc điểm ngoại hình của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4 2.2.2.2 Kích thước các chiều đo của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4
2.2.2 Đánh giá khả năng suất sản xuất của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4
2.2.2.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4 2.2.2.2 Đánh giá khả năng sinh sản của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Bố trí thí nghiệm
- Đàn gà Móng hạt nhân thế hệ thứ 4 được nuôi với số lượng là 1200 gà con 01 ngày tuổi có nguồn gốc từ trang trại bảo tồn nguồn gen giống gà Móng Tiên Phong Giai đoạn gà vào sinh sản chọn 300 con mái và 55 con trống
- Áp dụng phương pháp chọn lọc cá thể để lựa chọn những cá thể mang những tính trạng về ngoại hình đặc trưng của giống kết hợp với chọn lọc khối
Trang 34lượng cơ thể gà Thời điểm chọn giống tại 01ngày tuổi, 8 tuần tuổi và 20 tuần tuổi
- Gà được nuôi sinh sản theo quy trình chăm sóc và chế độ dinh dưỡng sau:
* Chế độ chăm sóc và dinh dưỡng cho gà nuôi sinh sản
Bảng 2.1 Chế độ chăm sóc gà nuôi sinh sản
Loại gà
Chế độ
0 - 4 (tuần)
5 - 8 (tuần)
9 - 17 (tuần)
18-21 (tuần)
>21 (tuần)
Mật độ9 con/m2) 25 - 20 18 -12 10 - 6 6 - 5 5 - 4
Chế độ cho ăn Tự do Tự do
ban ngày Hạn chế Hạn chế
Hướng theo
tỷ lệ đẻ Chế độ chiếu sáng
24 giờ trong 7 ngày đầu, sau giảm dần đến ánh sáng tự nhiên
Ánh sáng
tự nhiên
Bổ sung dần ánh sáng đến
16 giờ chiếu sáng/ngày
TL trống/mái Nuôi chung trống - mái Trống - mái riêng 1/7 - 1/8
Bảng 2.2 Giá trị dinh dưỡng của khẩu phần ăn cho gà Móng sinh sản
Trang 35* Theo dõi thức ăn hàng ngày: Thức ăn được cân vào đầu giờ sáng và
thức ăn dư thừa được cân vào cuối mỗi ngày
* Chế độ vệ sinh phòng bệnh cho gà:
- Vệ sinh máng ăn, máng uống 2 lần/ ngày vào thời điểm trước khi cho ăn
- Tiêm phòng theo quy trình sau:
Bảng 2.3 Quy trình thú y cho gà giai đoạn sơ sinh - 20 tuần tuổi
3 ngày Gumboro Nhỏ mắt, mũi, mỏ
21 ngày Lasota Nhỏ mắt, mũi, mỏ
22 ngày Gumboro Nhỏ mắt, mũi, mỏ
30 ngày Cúm H5N1 Tiêm dưới da cánh
35 ngày Newcastle hệ I Tiêm dưới da cánh
50 ngày Tụ huyết trùng Tiêm dưới cánh
60 ngày Newcastle hệ I Tiêm dưới da cánh
Cúm H5N1 Tiêm dưới da cánh
4 tháng Cúm H5N1 Tiêm dưới da cánh
2.3.2 Đánh giá đặc điểm ngoại hình và kích thước các chiều đo của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4
2.3.2.1 Đánh giá đặc điểm ngoại hình của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4
Tiến hành quan sát và ghi chép chụp hình ngoại hình, màu sắc lông của đàn gà tại tất cả các tuần tuổi, đặc biệt là lúc 1 ngày tuổi, 8 tuần tuổi, 20 tuần
Trang 362.3.2.2 Kích thước các chiều đo của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4
- Tiến hành đo kích thước các chiều cơ thể tại thời điểm 38 tuần tuổi bằng thước dây
+ Dài lưng: đo từ đốt xương sống cổ cuối cùng đến đốt sống đuôi đầu tiên + Dài lườn: từ đầu xương lưỡi hái đến hết xương lưỡi hái
+ Vòng ngực: đo một vòng quanh ngực, sát nách gà
+ Dài cánh: từ mỏm xương bả vai đến đầu mút xương cánh
+ Dài đùi: từ khớp khuỷu đến khớp đùi gắn với xương chậu
+ Dài chân: từ khớp khuỷu đến sát bàn chân
+ Vòng ống chân: đo một vòng quanh ống chân, sát nơi các ngón chân
2.3.3 Đánh giá khả năng sản xuất của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4
2.3.3.1 Đánh giá năng suất sinh trưởng của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4
Tiến hành cân cá thể qua các tuần tuổi (Từ 1 đến 20 tuần tuổi) vào sáng sớm trước khi cho gà ăn
Các chỉ tiêu theo dõi:
- Tỷ lệ nuôi sống qua giai đoạn từ 1 đến 20 tuần tuổi
- Khối lượng cơ thể từ 1 đến 20 tuần tuổi
- Tiêu tốn thức ăn qua giai đoạn từ 1 đến 20 tuần tuổi
Phương pháp xác định tỷ lệ nuôi sống
Hàng ngày đếm chính xác số gà chết trong từng lô thí nghiệm Tỷ lệ nuôi sống được tính theo công thức:
TL nuôi sống (%) = Số con cuối kỳ (con) x 100
Số con đầu kỳ (con)
- Phương pháp xác định khối lượng cơ thể gà trong giai đoạn từ 01 ngày tuổi đến 20 tuần tuổi Cân khối lượng từng con ở 01 ngày tuổi Hàng tuần cân mẫu 100 con (50 con trống và 50 con mái) vào một ngày, giờ nhất định trước khi cho ăn Dùng cân đồng hồ có độ chính xác 2g để cân gà giai đoạn 1 ngày
Trang 37tuổi đến 8 tuần tuổi Dùng cân đồng hồ có độ chính xác 5g để cân gà giai đoạn
X X
n
Trong đó: X: Khối lượng trung bình của đàn gà (g)
n: Số lượng gà đem cân (con)
- Phương pháp xác định tiêu tốn thức ăn
Giai đoạn 01 ngày tuổi đến 8 tuần tuổi cho gà ăn tự do Cân chính xác lượng thức ăn cho ăn và ngày hôm sau cân lại thức ăn thừa trước khi cho ăn thức ăn mới Lượng thức ăn tiêu tốn trung bình hàng ngày được tính theo công thức:
TTTA/con/ngày (g)= Lượng thức ăn cho ăn (g) - Lượng thức ăn thừa (g)
x 100
Số gà có mặt (con) Giai đoạn 9 đến 20 tuần tuổi cho ăn hạn chế theo quy trình nuôi gà sinh sản Giai đoạn sinh sản lượng thức ăn cho ăn phụ thuộc vào tỷ lệ đẻ
2.4.3.2 Đánh giá khả năng sinh sản của đàn gà Móng hạt nhân ở thế hệ thứ 4
Các chỉ tiêu theo dõi:
- Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên, đẻ 5%, đẻ đỉnh cao
- Tỷ lệ đẻ và sản lượng trứng đến 38 tuần tuổi
- Tiêu tốn thức ăn/10 trứng
- Tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ có phôi/tổng số trứng ấp, tỷ lệ nở/tổng số trứng ấp
- Phương pháp xác định tuổi thành thục sinh dục
Tuổi đẻ quả trứng đầu: Là thời gian từ một ngày tuổi đến thời điểm gà mái trong đàn đẻ quả trứng đầu tiên
Tuổi đạt tỷ lệ đẻ 5% và đẻ đỉnh cao: Là thời gian từ một ngày tuổi đến