Phương pháp lấy mẫu và xét nghiệm mẫu máu để xác định một số chỉ tiêu sinh lý máu của gà nhiễm giun tròn đường tiêu hóa và gà khỏe .... Phương thức chăn nuôi như vậy không tránh khỏi các
Trang 1DƯƠNG TIẾN DŨNG
TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN TRÒN (Nematoda)
Ở ĐƯỜNG TIÊU HÓA CỦA GÀ THẢ VƯỜN NUÔI TẠI HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2DƯƠNG TIẾN DŨNG
TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN TRÒN (Nematoda)
Ở ĐƯỜNG TIÊU HÓA CỦA GÀ THẢ VƯỜN NUÔI TẠI HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
- Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa được sử dụng để bảo vệ bất cứ một học vị nào
- Mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện nghiên cứu và viết luận văn đã được cảm ơn Tất cả các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Bắc Giang, tháng 9 năm 2017
TÁC GIẢ
Dương Tiến Dũng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện Luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè và sự động viên khích lệ của gia đình Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Cô giáo TS Lê Minh đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi hết sức tận tình
trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm khoa
và các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Trân trọng cảm ơn Trạm thú y huyện Yên Thế và Chi cục thú y tỉnh Bắc Giang đã phối hợp và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Xin trân trong cảm ơn các hộ gia đình nuôi gà thả vườn tại huyện Yên Thế đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình điều tra và thu thập mẫu để thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự ủng hộ, động viên, giúp
đỡ của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Bắc Giang, tháng 9 năm 2017
TÁC GIẢ
Dương Tiến Dũng
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Các loại giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của gà thả vườn 33 Bảng 3.2 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở gà tại một số xã thuộc
huyện Yên Thế 35 Bảng 3.3 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo tuổi gà 38 Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở gà theo mùa vụ 41 Bảng 3.5 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở gà theo trạng thái phân 44 Bảng 3.6 Cường độ nhiễm từng loại giun tròn ký sinh đường tiêu hóa
của gà 47 Bảng 3.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở gà qua
mổ khám 49 Bảng 3.8 Tỷ lệ và các biểu hiện lâm sàng của gà mắc bệnh giun tròn 51 Bảng 3.9 Sự thay đổi một số chỉ tiêu sinh lý máu của gà nhiễm giun tròn
đường tiêu hóa so với gà khỏe 53 Bảng 3.10 Công thức bạch cầu ở gà nhiễm giun tròn đường tiêu hóa so
với gà khỏe 54 Bảng 3.11 Bệnh tích đại thể của gà mắc bệnh giun tròn qua mổ khám 56 Bảng 3.12 Hiệu lực của thuốc tẩy giun tròn cho gà trên diện hẹp 58 Bảng 3.13 Sử dụng thuốc có hiệu quả tốt nhất tẩy đại trà cho gà nhiễm
giun tròn 60
Trang 7DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở gà tại 3 xã
thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang (qua xét nghiệm phân) 37 Hình 3.2 Đồ thị biến động tỷ lệ nhiễm giun tròn ký sinh đường tiêu hóa
theo tuổi gà 40 Hình 3.3 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở gà theo mùa
vụ (qua xét nghiệm phân) 43
Hình 3.4 Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở gà theo
trạng thái phân 46 Hình 3.5 Biểu đồ về cường độ nhiễm từng loại giun tròn ký sinh đường
tiêu hóa của gà 48
Trang 8MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Vị trí của giun tròn ký sinh ở gà trong hệ thống phân loại động vật 3
1.1.2 Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của gà 5
1.1.3 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của một số loài giun tròn ký sinh ở gà 5
1.1.4 Chu kỳ sinh học của một số loài giun tròn ký sinh ở gà 8
1.1.5 Sức đề kháng của một số loài giun tròn 10
1.1.6 Đặc điểm dịch tễ học của một số bệnh giun tròn ở gà 11
1.1.7 Cơ chế sinh bệnh của giun tròn ký sinh đường tiêu hóa ở gà 13
1.1.8 Triệu chứng của bệnh giun tròn ký sinh đường tiêu hóa ở gà 15
1.1.9 Bệnh tích của bệnh giun tròn ký sinh đường tiêu hóa ở gà 16
1.1.10 Chẩn đoán bệnh giun tròn ở gà 17
1.1.11 Điều trị bệnh giun tròn đường tiêu hóa cho gà 18
1.1.12 Phòng bệnh giun tròn đường tiêu hóa ở gà 20
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 26
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 26
2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 26
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 26
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 26
Trang 92.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 26
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của gà thả vườn tại một số địa phương thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang 26
2.3.2 Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng bệnh giun tròn đường tiêu hóa ở gà tại các địa phương 27
2.3.3 Thử nghiệm thuốc tẩy giun tròn cho gà và đề xuất biện pháp phòng bệnh 27
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.4.1 Phương pháp lấy mẫu và xét nghiệm 27
2.4.2 Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở gà 28
2.4.3 Phương pháp xác định cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở gà qua xét nghiệm phân 28
2.4.4 Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm giun tròn theo tuổi gà và mùa vụ trong năm 29
2.4.5 Phương pháp mổ khám và định loại giun tròn 29
2.4.6 Phương pháp xác định biểu hiện lâm sàng và bệnh tích đại thể của gà mắc bệnh giun tròn do nhiễm tự nhiên 30
2.4.7 Phương pháp lấy mẫu và xét nghiệm mẫu máu để xác định một số chỉ tiêu sinh lý máu của gà nhiễm giun tròn đường tiêu hóa và gà khỏe 30
2.4.8 Phương pháp theo dõi hiệu lực của thuốc tẩy giun tròn cho gà 30
2.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 32
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của gà thả vườn tại một số xã thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang 33
3.1.1 Xác định các loại giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của gà thả vườn tại địa bàn điều tra 33
3.1.2 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở gà tại một số địa phương 34
3.1.3 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo tuổi gà 38
3.1.4 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở gà theo mùa vụ 41
3.1.5 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở gà theo trạng thái phân 43
3.1.6 Cường độ nhiễm từng loại giun tròn ký sinh đường tiêu hóa của gà 46
Trang 103.1.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở gà qua mổ khám 49
3.2 Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng bệnh giun tròn đường tiêu hóa ở gà tại các địa phương 50
3.2.1 Tỷ lệ gà nhiễm giun tròn đường tiêu hóa có triệu chứng lâm sàng 50
3.2.2 Sự thay đổi một số chỉ tiêu sinh lý máu của gà bệnh so với gà khỏe 52
3.2.3 Công thức bạch cầu ở gà bệnh so với gà khỏe 54
3.2.4 Bệnh tích đại thể ở gà bị bệnh giun tròn đường tiêu hóa 55
3.3 Thử nghiệm thuốc tẩy giun tròn cho gà và đề xuất biện pháp phòng bệnh 58
3.3.1 Thử nghiệm thuốc tẩy giun tròn cho gà trên diện hẹp 58
3.3.2 Kết quả dùng thuốc tẩy giun tròn cho gà trên diện rộng 60
3.3.3 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun tròn cho gà thả vườn 61
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 63
1 Kết luận 63
2 Đề nghị 64
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta có những bước phát triển mạnh đặc biệt là ngành chăn nuôi gia cầm Theo số liệu của Tổng cục thống kê (2016) [36], tổng đàn gia cầm trên cả nước năm 2016 đạt 361,7 triệu con, tăng gần 6% so với năm 2015 Trong đó tổng đàn gà chiếm hơn 70% so với tổng đàn gia cầm Chăn nuôi gà có xu hướng phát triển theo hướng thâm canh công nghiệp và chăn nuôi gà được quan tâm hàng đầu vì có khả năng đáp ứng nhanh về thịt và trứng cho nhu cầu của người tiêu dùng
Nghề chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là chăn nuôi gà tại Bắc Giang hiện nay rất phát triển Năm 2016, tổng đàn gia cầm của tỉnh lên đến 16,2 triệu con; trong đó có 14,2 triệu con gà (Tổng cục thống kê, 2016) [36]) Huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
có thế mạnh về chăn nuôi gà, đặc biệt “Gà đồi Yên Thế” đã và đang trở thành
thương hiệu uy tín cung cấp thịt gà cho các tỉnh phía Bắc và dần nhân rộng trên cả nước Theo thống kê hết năm 2015 tổng đàn gia cầm của huyện Yên Thế đạt 4,5 triệu con (trong đó có 4,3 triệu con gà) Phương thức chăn nuôi hiện nay chủ yếu là chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp; tuy nhiên, chăn nuôi gà thả vườn tại các
hộ gia đình vẫn đã và đang phát triển, mặc dù năng suất không cao nhưng sản phẩm thịt và trứng ngon, vốn đầu tư ít và tận dụng được điều kiện tự nhiên sẵn có Phương thức chăn nuôi như vậy không tránh khỏi các bệnh do ký sinh trùng, đặc biệt là ký sinh trùng đường tiêu hóa, trong đó có bệnh do các loài giun tròn ký sinh gây nên
Nguyễn Văn Đức (2005) [3] cho biết, giun tròn Nematoda là một trong 5 lớp
giun sán ký sinh gây hại nhiều nhất cho động vật nuôi nói chung
Các loại giun tròn ký sinh chiếm đoạt chất dinh dưỡng của gà, gây thiếu máu, làm tổn thương các cơ quan nơi chúng ký sinh và gây nên những biến đổi bệnh lý khác Những tác động đó làm cho gà gầy yếu, giảm mạnh sức sản xuất thịt, trứng
Trang 12Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loài giun tròn ký sinh ở
gà như: Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [30], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17], Đỗ Thị Vân Giang (2010) [4], Trần Quốc Thuyết (2011) [32], Nguyễn Nhân Lừng (2012) [20] Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào riêng về bệnh giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của gà tại Bắc Giang
Từ những yêu cầu cấp thiết trong việc khống chế căn bệnh, đảm bảo sức khoẻ cho đàn gà thả vườn và nâng cao năng suất chăn nuôi gà cho các hộ chăn nuôi, chúng
tôi thực hiện đề tài: “Tình hình nhiễm giun tròn (Nematoda) ở đường tiêu hóa của
gà thả vườn nuôi tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của gà thả vườn tại một số địa phương thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
- Xác định được các biểu hiện lâm sàng và bệnh tích do giun tròn ký sinh đường tiêu hóa gây ra ở gà nhiễm bệnh tự nhiên
- Xác định được hiệu lực của một số loại thuốc điều trị và đề xuất biện pháp phòng bệnh hiệu quả
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài sẽ là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ của bệnh do giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của gà tại một số xã thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang; về đặc điểm bệnh lý và lâm sàng và hiệu quả của một số loại thuốc tẩy giun tròn cho gà
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi gà áp dụng biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn ký sinh đường tiêu hóa cho gà, hạn chế thiệt hại do giun tròn đường tiêu hóa gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi gia cầm phát triển
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Vị trí của giun tròn ký sinh ở gà trong hệ thống phân loại động vật
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17] cho biết, vị trí của một số loài giun tròn gà trong hệ thống phân loại động vật:
Ngành Nemathelminthes
Lớp giun tròn Nematoda Rudolphi, 1808
Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940
Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915
Họ Ascaridiidae Skrjabin et Mosgovoy, 1973
Giống Ascaridia Dujardin, 1845 Loài Ascaridia galli Freeborn, 1923 (Schrank, 1788)
Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940
Phân bộ Heterakina M.Chitwood, 1971
Họ Heterakididae Railliet et Henry, 1914
Giống Heterakis Dujardin, 1845 Loài Heterakis gallinarum (Schrank, 1788) Dujardin, 1845 Loài Heterakis beramporia (Lane, 1914)
Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz, 1928
Họ Capillaridae Neuveu - Lemaire, 1936
Loài Capillaria obsignata Madsen, 1945 Loài Capillaria bursata Freitas et Almeida, 1934 Loài Capillaria caudinflata Molin, 1858
Trang 14Loài Eucoleus annulatus Loper - Neyra, 1946 (Molin 1858) Giống Thominx Dujardin, 1845
Loài Thominx anatis Skrjabin et Schikhobalova, 1954
Họ Acuariidae Seurat, 1913
Giống Acuaria Bremser, 1911 Loài Acuaria hamulosa Diesing, 1851 Loài Dispharynx nasuta Rudolphi, 1819
Họ Streptocaridae Skrjabin, Sobolev et Ivaschkin, 1965
Giống Streptocara Railliet, Henry et Sisofy, 1965 Loài Streptocara crassicauda Creplin, 1829
Trang 15Giống Cyrnea Seurat, 1914 Loài Cyrnea euplocami Maplestone, 1930
1.1.2 Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của gà
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17], thành phần loài giun tròn ký sinh đường tiêu hóa ở gà gồm:
1.1.3 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của một số loài giun tròn ký sinh ở gà
1.1.3.1 Giun đũa gà (Ascaridia galli)
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10]: Ascaridia galli ký sinh ở ruột
non gà, gà tây đôi khi ký sinh ở manh tràng gà Giun có màu vàng nhạt hoặc trắng ngà, thân có vân ngang, quanh miệng có 3 lá môi trên mỗi lá môi đều có răng
Giun đực dài 30 - 80 mm, rộng 0,6mm; có cánh đuôi và 10 đôi gai chồi, có bàn hút trước hậu môn hình tròn, có 2 gai giao hợp dài bằng nhau, phía trên phình
to, đầu gai rất nhọn Đuôi cong, vùng lỗ hậu môn đuôi phình ra tạo thành cánh đuôi (Phan Lục, 2006) [18]
Trang 16Giun cái dài 65 - 110 mm, rộng 1,6 - 1,8 mm; âm hộ ở đằng trước, đoạn giữa thân Giun cái đuôi thẳng, lỗ sinh dục ở giữa thân, đuôi mập nhọn, lỗ hậu môn ở phía cuối thân (Phan Lục, 2006) [18]
Trứng hình bầu dục, độ lớn: 0,075 - 0,092 x 0,045 - 0,057 mm, màng ngoài nhẵn, màu tro nhạt (Nguyễn Thị Kim Lan, 2012) [13]
1.1.3.2 Giun kim gà (Heterakis sp.)
Nguyễn Thị Kim Lan (2011) [12] cho biết, bệnh do Heterakis sp thường do hai loài H gallinae và H.beramporia ký sinh ở manh tràng, có khi ở ruột non của
gà, gà tây
Giun màu vàng nhạt, đầu có 3 môi (1 môi ở lưng và 2 môi ở bụng), túi miệng hình ống Phần sau thực quản phình to thành hình cầu giống hình củ hành, chiều dài 0,27 - 0,33 mm, rộng 0,15 - 0,24 mm
- Heterakis gallinae:
Giun đực: dài 5,841 - 11,145 mm, chỗ rộng nhất 0,271 - 0,398 mm Đuôi nhọn hình chiếc kim Phía trước cách hậu môn 0,148 - 0,156 mm có một giác hút hơi tròn, đường kính 0,07 - 0,082 mm Có gai chồi xếp thành từng đôi ở hai bên giác hút Có 2 gai giao hợp, gai phải dài gấp 3 lần gai trái; phía cuối gai phải rất nhọn, dài khoảng 2 mm; gai trái thì to, dài 0,65 - 0,7 mm Lỗ bài tiết ở gần đầu về mặt bụng, cách đầu khoảng 0,254 mm
Giun cái: dài 7,982 - 11, 439 mm, chỗ rộng nhất 0,27 - 0,453 mm, chiều dài thực quản bằng 1/9 cơ thể Chỗ phình to của thực quản hình củ hành dài 0,273 - 0,332 mm, rộng 0,187 - 0,234 mm Hậu môn ở gần đuôi, cách đuôi 0,9 - 1,24 mm
Âm đạo uốn khúc cong, bắt đầu từ âm hộ rồi vòng về phía sau, sau đó chuyển về phía trước, cuối cùng lại vòng về phía sau Lỗ bài tiết cách đầu 0,47 mm
Trứng hình bầu dục, có 2 lớp vỏ, một đầu trong suốt, tế bào trứng có hạt lấm tấm, màu xám, dài 0,05 - 0,07 mm, rộng 0,03 - 0,039 mm
- Heterakis beramporia:
Rất giống H gallinae nhưng phân biệt ở gai giao hợp ngắn hơn, một gai dài
350μm, gai còn lại dài 300μm
Trang 17Ký sinh ở đường tiêu hóa của gà
Giun có thân mảnh, dài, màu trắng Tùy từng loài con đực có thể dài từ 9 - 25
mm Con cái dài từ 10 - 60 mm Dài nhất là Encoleus amulata, con cái dài tới 60 mm
Trứng giun có vỏ dày, màu vàng nhạt, hình thoi, hai đầu có nắp, kích thước:
- Tetrameres mohledai: Giun tròn có nang miệng hình trụ, thành trong miệng
kitin hóa mạnh, có 2 môi bên và 2 môi trung gian bé Giun đực cơ thể hình sợi, nhỏ Tiểu bì mỏng, có vân ngang mịn Chiều dài cơ thê 4,2 - 4,9 mm; rộng nhất 0,120 - 0,145 mm Giun cái dài 2,6 - 3,2 mm, rộng nhất 2,4 - 2,6 mm
- Tetrameres fissispina: Mút đầu có hai môi nhỏ, xoang miệng thấy rõ Thực
quản thường chia thành hai phần: phần cơ ngắn, phần tuyến dài Giun đực dài 3,2 - 3,9 mm; rộng nhất 0,09 - 0,114 mm Giun cái dài 2,4 - 4,l mm; rộng 1,3 - l,9 mm
- Acuaria hamulosa: Tiểu bì có những vân ngang rõ Mút đầu có 2 môi bên
lớn, có dạng tam giác Giun đực có kích thước 16 - 18 mm, trong khi con đực là 11
- 13 mm Giun đực dài 7,5 - 14,0 mm; rộng 0,396 mm Giun cái dài 15 - 25 mm; rộng 0,414 mm
- Dispharynx nasuta: Ký sinh ở niêm mạc thực quản, dạ dày tuyến đôi khi cả
ở dạ dày cơ (Dương Công Thuận, 2003) [31] Tiểu bì có vân ngang rõ, mút đầu thắt
Trang 18lại, có 4 bó kitin tạo thành vòng dạng viền hoa kéo dài đến ngang lỗ bài tiết Miệng
có 2 môi bên nhô ra, có 6 núm đầu Giun đực dài 5,23 - 6,81 mm; rộng 0,20 - 0,25
mm Giun cái dài 7,03 - 9,21 mm; rộng 0,41 - 0,48 mm
1.1.4 Chu kỳ sinh học của một số loài giun tròn ký sinh ở gà
1.1.4.1 Giun đũa gà
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13] cho biết, giun cái sau khi thụ tinh đẻ trứng rất nhiều (trung bình một giun cái đẻ 72.500 trứng/ngày) Trứng theo phân ra ngoài
trùng có sức gây bệnh Trứng này lẫn vào thức ăn, nước uống của gà Vào đường tiêu hoá, tới dạ dày tuyến và dạ dầy cơ thì ấu trùng nở ra, di hành tới đoạn trước ruột non Sau 1 - 2 giờ ấu trùng chui vào các tuyến ở ruột và phát triển ở đó 19 ngày rồi lại trở lại xoang ruột, phát triển thành giun trưởng thành Thời gian hoàn thành vòng đời là 35 - 58 ngày
1.1.4.2 Giun kim gà
ẩm thích hợp; sau 7 -12 ngày thành trứng có ấu trùng có sức gây bệnh Gà nuốt phải trứng này, sau 1 - 2 giờ ấu trùng nở ra ở ruột, 24 giờ sau di chuyển tới manh tràng và tiếp tục phát triển thành giun thưởng thành Có tác giả cho rằng: Ở ruột non, ấu trùng
nở ra, đến manh tràng, chui vào thành manh tràng, ở đó khoảng 5 ngày rồi trở lại xoang manh trang, phát triển thành giun trưởng thành Thời gian hoàn thành vòng đời
là 24 ngày, tuổi thọ của giun khoảng 1 năm (Nguyễn Thị Kim Lan, 2012) [13]
1.1.4.3 Giun tóc gà
Theo Dương Công Thuận (2003) [31] và Skrjabin K I và cs (1979) [24],
cùng trong họ Capillariidae nhưng vòng đời của từng giống có khác nhau chút ít
Các giống Capillaria obisignata và Thominx vòng đời phát triển trực tiếp,
không qua ký chủ trung gian Trứng do giun cái sinh sản theo phân ra ngoài, gặp môi trường thích hợp phát triển đến giai đoạn cảm nhiễm Gà khỏe ăn phải trứng cảm nhiễm có lẫn trong thức ăn và nước uống nên nhiễm bệnh
Trang 19Vòng đời của Eucoleus và Capillaria caudinflata phải qua ký chủ trung gian là
giun đất Trứng ra ngoài môi trường phát triển và hình thành ấu trùng cảm nhiễm kéo dài 9 - 14 ngày Giun đất nuốt trứng, vào cơ thể giun, ấu trùng thoát khỏi vỏ xâm nhập vào bắp thịt giun đất, sau 22 ngày tới giai đoạn có khả năng gây bệnh Gà ăn
phải giun đất và bị nhiễm bệnh giun tóc, cuối cùng sự phát triển của Capillaria caudinflata và Eucoleus đến giai đoạn trưởng thành ở cơ thể gà kéo dài 21 - 23 ngày 1.1.4.4 Giun dạ dày
Skrjabin K I và cs (1979) [24] cho biết, chu kỳ phát triển của Tetrameres
sp như sau:
- Tetrameres fissispina:
Harkavi B L (1949 và 1953) đã xác định rằng sự phát triển của ấu trùng T fissipina đến giai đoạn cảm nhiễm ở trong cơ thể của bộ bơi nghiêng Gammarus lacustris và tôm nước ngọt phụ thuộc vào nhiệt độ, có thể xê dịch từ 8 - 18 ngày
Trong thời gian này ấu trùng lột xác 2 lần trong cơ thể ký chủ trung gian và trở thành ấu trùng cảm nhiễm Gà ăn phải ký chủ trung gian có mang ấu trùng cảm
nhiễm Sau 16 - 24 giờ vào cơ thể ký chủ cuối cùng T fissispina đã thâm nhập vào
ống tuyến của dạ dày tuyến Vào ngày thứ 12 những con đực chui ra khỏi tuyến vào xoang dạ dày, còn con cái thì ở lại trong tuyến, tạo thành hình tròn và tăng dần hầu
như chiếm chật cả ống tuyến Sự phát triển của T fissispina đến giai đoạn trưởng
thành trong ký chủ cuối cùng khoảng 18 ngày và quá trình phát triển của nó trải qua
2 lần lột xác nữa
- Dispharynx nasuta: Chu kỳ phát triển của D nasuta thực hiện nhờ có sự tham của ký chủ trung gian, mà theo Cram (1931) thì ký chủ trung gian của D nasuta là các loài dĩn khác nhau
Trứng Dispharynx được dĩn nuốt phải nở ra ấu trùng, những ấu trùng này
chui vào xoang thân dĩn, ở đây chúng phát triển, lột xác hai lần và qua 26 ngày đạt tới giai đoạn cảm nhiễm Gà, gà tây và các loại gà khác nhiễm bệnh là do ăn phải
dĩn mang ấu trùng cảm nhiễm Dispharynx nasuta Sự phát triển của ký sinh trùng
đến giai đoạn thành thục trong cơ thể gà kéo dài 26 - 30 ngày
Trang 201.1.5 Sức đề kháng của một số loài giun tròn
Tốc độ sinh trưởng của giun tròn là rất lớn, giun cái có thể sống trong cơ thể
gà một năm, giun cái trưởng thành đẻ trứng và liên tục thải ra ngoài môi trường Mặt khác, trứng giun tròn có sức đề kháng cao với môi trường tự nhiên, khả năng phát tán trứng và ấu trùng là rất cao; đây là nguồn lây lan và phát tán nguồn bệnh (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996) [9]
Tác giả Skrjabin K I (1979) [24] cho biết: Trứng giun đũa thải ra cùng với phân gà ở giai đoạn tiền phân Tốc độ phát triển của nó đến giai đoạn cảm nhiễm ở môi trường bên ngoài phụ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13] cho biết, điều kiện thuận lợi để trứng giun đũa phát triển tốt là ở 17 -
trứng chết nhanh, còn vào mùa đông nhiệt độ thấp trứng không phát triển nhưng khả năng sống của nó vẫn bảo tồn
Với phạm vi ký chủ rộng trên các loài gia cầm và chim trời nên bệnh giun kim phổ biến ở khắp mọi nơi, đồng thời trứng có sức đề kháng cao với môi trường bên ngoài (Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 1999) [10]
Trứng phát triển đến giai đoạn cảm nhiễm ở môi trường bên ngoài trong thời gian từ 6 - 17 ngày hoặc hơn nữa tuỳ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm Ở nhiệt độ 30 -
ngày Cũng như ở giun đũa, mùa đông trứng giun kim không phát triển nhưng vẫn duy trì khả năng sống, khi đến mùa ấm thì trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm (Skrjabin K I., 1979) [24]
Theo Skrjabin K I (1979) [24], trứng phát triển đến giai đoạn cảm nhiễm ở
môi trường bên ngoài trong thời gian từ 6 - 17 ngày hoặc hơn nữa tuỳ thuộc vào
kim không phát triển nhưng vẫn duy trì khả năng sống, khi đến mùa ấm thì trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm Sự phát triển của trứng Capillaria obsignata ở
Trang 21còn Capillaria caudinflata là 14 ngày và sự phát triển của ấu trùng giun này đến giai đoạn cảm nhiễm trong cơ thể giun đất là 22 ngày
1.1.6 Đặc điểm dịch tễ học của một số bệnh giun tròn ở gà
Đỗ Hồng Cường và cs (1999) [1] cho biết, tỷ lệ nhiễm giun tròn ở gà Lơ-go
là 24,27% cao hơn ở gà Ri là 14,43%
Poulsen J và cs (2000) [58] đã mổ khám 100 gà thả vườn được lựa chọn ngẫu nhiễn tại khu vực phía Đông của Ghana, Tây Phi Kết quả cho thấy: 100% số
gà bị nhiễm giun sán đường tiêu hoá với tổng số loài được phát hiện là 18 loài
Trong đó, 25% nhiễm Acuaria hamulosa, 24% nhiễm A galli, 31% nhiễm H gallinarum, 58% nhiễm T fissispina…
* Bệnh giun đũa gà
mổ khám thấy gà 3 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 73,8%; gà 3 - 5 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm
là 62,9%; gà trên 6 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 44,0% Tuy nhiên, một số tác giả khác lại cho rằng tỷ lệ nhiễm không biến động theo tuổi
- Đỗ Hồng Cường và cs (1999) [1] cho biết: Tỷ lệ nhiễm giun tròn ở gà Lơ -
go là 24,27%; cao hơn ở gà Ri là 14,43%
- Theo Nguyễn Minh Toán (1989) [35]: Tuổi gà càng tăng, thời gian hoàn thành vòng đời của giun càng dài: Gà 2 tuần tuổi là 28 ngày, 4 tháng tuổi là 51 ngày
và 6 tháng tuổi là 56 ngày
Trang 22- Tỷ lệ nhiễm giun đũa ở đàn gà nuôi tại các nông hộ gia đình ở xã Quyết Thắng, Thành phố Thái Nguyên theo phương thức gà thả vườn là khá cao, trong
190 mẫu kiểm tra có 106 mẫu cho kết quả dương tính, chiếm tỷ lệ 55,79% (Phan Thị Hồng Phúc, 2007) [22]
- Nnadi P A và George S O (2010) [57], đã tiến hành điều tra 1.038 gà tại một số địa phương thuộc Đông Nam Nigeria trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 7 năm 2008 và cho biết: có 41% gà nhiễm ngoại ký sinh trùng; 35,5% gà nhiễm giun
sán (trong đó gà nhiễm Ascaridia galli với tỷ lệ cao nhất là 17,2%)
Hafiz A B và cs (2015) [47] điều tra tỷ lệ và cường độ nhiễm A galli ở gà
Leghorn (50 con nuôi nhốt và 50 gà nuôi thả vườn) tại Dina, Punjab, Pakistan bằng xét nghiệm phân Kết quả cho thấy 2% số gà nuôi nhốt và 24% số gà thả vườn
- Sự phát triển ấu trùng trong trứng giun Heterakis gallinae đến giai đoạn
cảm nhiễm phụ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm trong tự nhiên, có thể kéo dài từ 6 - 7
Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 2004) [14]
Theo Trần Quốc Thuyết (2011) [32], tỷ lệ nhiễm H gallinarum của gà thuộc ngoại thành Hà Nội là 52,00%; tỷ lệ nhiễm H beramporia là 37,82%
Radfar M H và cs (2012) [60] đã tiến hành mổ khám 59 gà thả vườn tại khu vực Sistan, phía đông của Iran Kết quả cho thấy gà nhiễm một số loài giun tròn
và sán dây Trong đó, tỷ lệ nhiễm A galli là 16,94% và H gallinarum là 23,72%
Trang 23Nguyễn Hồ Bảo Trân và cs (2015) [37] cho biết, gà nuôi nhốt tại quận Bình
* Bệnh giun tóc gà
- Theo Skrjabin K I và cs (1979) [24], gà, gà tây nhiễm C obsignata là do
ăn phải trứng cảm nhiễm của giun này lẫn trong thức ăn và nước uống, còn nhiễm
loài C caudinflata chỉ có thể là do ăn phải giun đất mang ấu trùng cảm nhiễm của
giun này
- Trịnh Văn Thịnh (1963) [29] cho biết, phân gà có trứng Capillaria với tỷ lệ
44% (gà dưới 2 tháng tuổi 46 - 71 - 82 %; gà trên 2 tháng tuổi 39 - 42 %) Mổ khám
thấy Capillaria ở cuống mề gà là 38 % (dưới 2 tháng 56 %, từ 2 - 6 tháng 36 %,
trên 6 tháng 16 %) Manh tràng gà 3 % Tuổi gà càng cao tỷ lệ nhiễm bệnh giun tóc càng giảm
Đỗ Thị Vân Giang và cs (2010) [5] cho biết, tỷ lệ nhiễm giun tròn gà tại 3
huyện thuộc Thái Nguyên là 57,78% Trong đó, tỷ lệ nhiễm Capillaria sp là cao
nhất (44,53%)
* Bệnh giun dạ dày
Phan Thế Việt (1984) [39] đã tìm thấy loài A hamulosa ở gà hầu hết các tỉnh
ở phía bắc và phía nam nước ta (từ 1962 - 1980); ngoài ra đã gặp ở gà tây
Theo Trần Quốc Thuyết (2011) [32], tỷ lệ nhiễm giun tròn T fissispina của
gà thuộc ngoại thành Hà Nội là 45,34%
1.1.7 Cơ chế sinh bệnh của giun tròn ký sinh đường tiêu hóa ở gà
* Bệnh giun đũa gà
Ấu trùng chui vào tuyến tiêu hoá ở ruột, phá hoại niêm mạc và nhung mao ruột gây viêm, tụ máu mở đường cho vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể gây ra các bệnh ghép Khi gà bị nhiều giun gây tắc ruột hoặc thủng ruột, ngoài ra giun tiết độc tố làm gà bị trúng độc, chậm lớn, sản lượng trứng giảm sút (Phan Địch Lân và cs.,
2005) [16]
Trang 24Brar R S và cs (2016) [41] cho biết: ngoài ruột, A galli ký sinh có thể
gây ra các biến đổi bệnh lý cả ở dạ dày tuyến của gà Các biến đổi bệnh tích vi thể
ở dạ dày tuyến được xác định bao gồm: viêm, loét; bề mặt biểu mô xơ hóa và thoái hóa; xuất huyết tiểu biểu mô và thâm nhiễm tế bào viêm
* Bệnh giun kim gà
Giun kích thích niêm mạc ruột gây tụ huyết, ngoài ra còn chiếm đoạt dinh dưỡng của gà làm con vật gầy yếu, gà con chậm lớn Trong quá trình ký sinh, chúng tiết độc tố và sản vật khác nên gà bị trúng độc và dễ mắc bệnh viêm gan, ruột do
một loại đơn bào Histomonas meleagridis xâm nhập vào trứng giun kim, gà ăn phải trứng này thì phát bệnh (Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 1999) [10]
* Bệnh giun tóc gà
Capillaria ký sinh ở đường tiêu hóa gây sưng thành thực quản, sưng các
nang lymphô, sưng tuyến, thành thực quản bị tổn thương tạo thành các túi thừa, nhất là ở gà con thức ăn tích lũy trong đó làm cho gà khó nuốt, khó thở Các biến đổi bệnh lý ở diều, thực quản, ruột phá hủy hoạt động đường tiêu hóa làm cho gà gầy yếu (Dẫn theo Đỗ Thị Vân Giang, 2010) [4]
* Bệnh giun dạ dày
Acuaria, Dispharynx ký sinh tại dạ dày cơ, chỗ giun tập hợp lớp màng cutin
bị tan rã và gây viêm Tổ chức dạ dày cơ dày thêm lên và bị thủng từng đường Giun có thể phân hủy thành dạ dày và tạo những nang bên trong thành dạ dày chứa nhiều giun Bao này sờ cứng, khi cắt thấy mô hoại tử, trong có chất vữa màu trắng hoặc đỏ
Ấu trùng Tetrameres xâm nhập vào đường tuyến của dạ dày tuyến Đến ngày
thứ 12 con đực chui ra khỏi tuyến và xoang dạ dày, con cái ở lại đó, to ra gần như chứa đầy cả lòng ống dẫn (Phạm Sỹ Lăng và cs., 2009) [15] Giun gây viêm dạ dày thể cata, làm thoái hóa và teo mô tuyến, phá hủy chức năng dạ dày tuyến dẫn tới rối loạn chức năng hoạt động, làm ngừng tiết dịch vị, gà gầy yếu, sút nhanh và có thể chết nếu nhiễm nhiều giun Gà trứng bị giảm sức đẻ Có trường hợp cuống mề nổi cục, sưng to làm thức ăn không qua được
Trang 251.1.8 Triệu chứng của bệnh giun tròn ký sinh đường tiêu hóa ở gà
* Bệnh giun đũa gà
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [16], nếu gà nhiễm nhẹ thì triệu chứng không rõ Nếu nhiễm nặng, gà có triệu chứng sau: gà con sau khi nhiễm 10 - 40 ngày thấy mào nhợt nhạt; gầy yếu; phân lúc táo, lúc lỏng; cánh rũ; lông xù, bệnh mỗi ngày nặng thêm, sau 40 ngày thì gầy còm và có thể chết
Trong quá trình ký sinh, giun đũa tiết ra độc tố và độc tố này cũng gây ra trạng thái suy nhược, thiếu máu, rối loạn tiêu hoá, đôi khi có biểu hiện hội chứng thần kinh ở gà con khi nhiễm giun đũa với cường độ cao
Trịnh Văn Thịnh (1963) [29] cho biết, bệnh giun đũa ở gà thường lây lan mạnh (ký sinh tiến triển trực tiếp), giết hại nhiều gà, nhất là khi nuôi gà đàn Ký sinh trùng tích ở ruột non gây chứng viêm ruột và làm gà ăn kém, gầy, lờ đờ, ủ rũ, chỉ thỉnh thoảng đột nhiên tỉnh lại và có đi tả Ở nước ta, bệnh làm chết khá nhiều gà con, làm gà mái gầy, bị viêm ruột Giun có thể làm thủng tổ chức gan và ống dẫn mật
* Bệnh giun kim gà
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10], gà vẫn ăn uống bình thường nhưng có hiện tượng thiếu máu, kiết lỵ và gầy còm; gà con chậm lớn; gà đẻ giảm sản lượng trứng, có khi dừng đẻ Nếu nhiễm nặng thì gà gầy còm, thiếu máu nặng, suy nhược mà chết
Khi nhiễm nặng gà bị rối loạn tiêu hoá, ỉa chảy, ăn kém Gà con yếu ớt và chậm lớn, gà mái đẻ kém (Phan Địch Lân và cs., 2005) [16]
* Bệnh giun tóc gà
Theo Skrjabin K I và cs (1979) [24], khi bệnh nhẹ, triệu chứng lâm sàng không thể hiện, khi nhiễm nặng thấy thể hiện rất rõ sự rối loạn cơ quan tiêu hoá Vào ngày thứ 12 sau khi cảm nhiễm, phân của gà lỏng, có lẫn nhiều chất nhày và vết máu Gà mắc bệnh chậm chạp, rúc vào xó chuồng Lông xung quanh hậu môn thường thấy bết, dính phân Gà sút cân, một số con chết vì kiệt sức
Trang 26* Bệnh giun dạ dày gà
Bệnh giun đuôi xoắn ở dạ dày thường gặp ở cả gà con và gà lớn Triệu chứng phụ thuộc vào cường độ cảm nhiễm, khi mắc nhẹ có thể không xuất hiện triệu chứng Gà nhiễm nặng bị yếu, rất chậm phát triển, kiệt sức nhanh chóng và thường làm gà chết
1.1.9 Bệnh tích của bệnh giun tròn ký sinh đường tiêu hóa ở gà
* Bệnh giun đũa gà
Xác gầy, lông xù, mào trắng nhợt Niêm mạc ruột bị tổn thương, có hiện tượng viêm, thuỷ thũng, sung huyết, tụ huyết Những nơi có nhiều ấu trùng thì thấy
tổ chức liên kết tăng sinh Gan thường tụ huyết (Nguyễn Thị Kim Lan, 2012) [13]
Katakam K K và cs (2010) [51] cho biết, gây nhiễm Ascaridia galli cho gà
với liều 1.000 trứng có sức gây bệnh/gà, sau 15 ngày mổ khám gà gây nhiễm phát
hiện rất nhiều ấu trùng A galli ký sinh trong thành ruột của gà mắc bệnh
* Bệnh giun kim gà
Phan Địch Lân và cs (2005) [16] cho biết, mổ khám gà bệnh thấy viêm manh tràng và tạo thành các ổ viêm nhỏ trong thành ruột Đó là các ổ viêm manh tràng do
ấu trùng của Heterakis trong quá trình nằm sâu trong thành ruột tạo ra
Độc lực của Heterakis khi gà mắc bệnh nặng đưa đến tăng bạch cầu ưa eozin,
sung huyết gan và có hiện tượng ứ huyết
Nguyễn Thị Kim Lan (2011) [12] cho biết, mổ khám gà chết do giun kim thấy bệnh tích viêm cata ở manh tràng và có thể thấy các ổ viêm nhỏ trong thành
manh tràng Đó là các ổ viêm manh tràng do ấu trùng Heterakis chui sau vào trong
thành manh tràng để phát triển gây ra
* Bệnh giun tóc gà
Khi mổ các con chết thấy có hiện tượng viêm ruột cấp tính hay mãn tính Thành ruột dày, phù, có các điểm xuất huyết (Skrjabin K I và cs., 1979) [24]
Trang 27* Bệnh giun dạ dày gà
Khi mổ khám những gà chết do bệnh giun đuôi xoắn ở dạ dày thấy viêm cata
niêm mạc dạ dày tuyến ở trạng thái nặng Theo Vxelovodov B P (1944): giun D nasuta một mặt gây ra những biến đổi teo và hoại tử nghiêm trọng niêm mạc dạ
dày, mặt khác sự tăng sinh lớp biểu mô và mô liên kết đưa đến phát sinh các khối u Niêm mạc dạ dày tuyến bị huỷ hoại đưa đến sự ngừng tiết tuyến dịch vị, do đó gà bị kiệt sức nặng và chết (Dẫn theo Đỗ Thị Vân Giang, 2010) [4]
1.1.10 Chẩn đoán bệnh giun tròn ở gà
Phương pháp chẩn đoán bệnh giun tròn ở vật nuôi gồm có: Phương pháp
Fulleborn, phương pháp Darling, phương pháp Cherbovich, phương pháp chẩn
đoán bằng kháng nguyên, phương pháp mổ khám tìm giun tròn
1.1.10 1 Chẩn đoán bệnh giun tròn đối với gà còn sống
Khi con vật còn sống, có thể dựa vào triệu chứng lâm sàng, các đặc điểm dịch tễ học và các phương pháp xét nghiệm phân để tìm trứng, ấu trùng hoặc dạng trưởng thành của giun hoặc chẩn đoán bằng các phương pháp miễn dịch học hiện đang được sử dụng trong chẩn đoán bệnh
* Các phương pháp xét nghiệm phân:
Trứng của các loài giun, sán nội ký sinh có đặc điểm là sẽ theo phân ra ngoài; vì vậy có thể xét nghiệm phân của gà để tìm trứng các loài giun tròn ký sinh Các phương pháp xét nghiệm phân gồm có:
- Xét nghiệm trực tiếp tìm giun sán trưởng thành
- Phương pháp phù nổi (Fulleborn, Darling, Cherbovick): Nguyên lý là lợi
dụng tỷ trọng của dung dịch bão hoà lớn hơn tỷ trọng của trứng giun; vì vậy trứng giun sẽ nổi lên trên bề mặt dung dịch bão hoà
Tomza-Marciniak A và cs (2014) [63] kiểm tra 104 mẫu phân gà nuôi thả tại một số trang trại thuộc các tỉnh Tây Pomerania, bằng phương pháp phù nổi thấy
9,6% mẫu nhiễm trứng A galli và 5,7% số mẫu nhiễm trứng H gallinarum
- Phương pháp tìm ấu trùng giun sán
Trang 28* Phương pháp chẩn đoán miễn dịch:
- Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [11], có thể dùng phương pháp miễn dịch để chẩn đoán bệnh giun tròn ở gà Kháng nguyên chẩn đoán chế từ giun trưởng thành, ấu trùng hoặc dịch trong cơ thể ấu trùng Có thể pha kháng nguyên với các nồng độ khác nhau Hiện nay đã có nhiều phương pháp như: phương pháp miễn dịch huỳnh quang, phương pháp miễn dịch ELISA
Daş G và cs (2017) [45] đã sử dụng phương pháp Elisa với kháng nguyên
chế từ A galli để chẩn đoán gia cầm nhiễm H gallinarum thấy xảy ra phản ứng
phát hiện chéo giữa 2 loài giun này
- Ngoài ra trong chẩn đoán bệnh giun tròn gà có thể dùng phản ứng biến thái nội bì (dùng kháng nguyên tiêm vào ngay bên dưới lớp da) để đánh giá kết quả thông qua sự biến đổi vùng da tại vị trí tiêm Nếu vùng da đó bị sưng đỏ thì tức là
gà bị bệnh giun tròn; nếu vùng da đó bị sưng không đỏ thì gà nghi mắc bệnh; nếu vùng da đó không sưng và không đỏ thì gà không bị bệnh
1.1.10.2 Chẩn đoán bệnh giun tròn đối với gà đã chết
Phương pháp chẩn đoán bệnh giun tròn gà là phương pháp mổ khám toàn diện các cơ quan, tổ chức để tìm giun sán hoặc ấu trùng giun sán ký sinh trong cơ thể ký chủ
Theo nhiều tác giả, phương pháp chẩn đoán bệnh giun tròn gà sau khi gà đã chết là chính xác nhất Phương pháp này có thể phát hiện được tất cả các loài giun, sán ký sinh ở mọi khí quan, tổ chức của gà; có thể tìm thấy cả những loại giun sán
mà khi chẩn đoán với con vật sống không phát hiện được
1.1.11 Điều trị bệnh giun tròn đường tiêu hóa cho gà
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10], việc dùng thuốc tẩy giun phải đạt được những yêu cầu sau:
Trước hết phải tiêu diệt ký sinh trùng, dùng thuốc tẩy trùng cho vật nuôi Chữa cho con vật ốm khỏi bệnh và đảm bảo cho ngoại cảnh không bị nhiễm bệnh giun sán Tránh mầm bệnh nhiễm vào những con vật khác Phải dùng thuốc tẩy giun
Trang 29sán từ lúc nó chưa trưởng thành, chưa đẻ trứng và phải tiêu độc thật tốt phân có trứng giun
Dùng thuốc tẩy giun sán thì phải dùng thuốc hướng ký sinh trùng, tức là độc với giun sán mà không độc với ký chủ, nên chọn thuốc có hiệu lực cao nhất đối với
ký sinh trùng, đồng thời ít nguy hiểm nhất đối với ký chủ, rẻ tiền và dễ dùng nhất
Ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, bổ sung đầy đủ dinh dưỡng, đưa con vật ra khỏi nơi có bệnh, tiêu độc chỗ đó trước khi cho vật nuôi vào lại
Hướng mới trong việc chữa bệnh ký sinh trùng là tìm những thuốc có hiệu lực đối với nhiều loại ký sinh trùng như: mebendazole có tác dụng tẩy nhiều loài giun tròn
Phạm Đức Chương và cs (2003) [2]; Phạm Khắc Hiếu (2009) [7]; đã tổng hợp các loại hoá dược có tác dụng điều trị các bệnh giun tròn ở gia cầm, trong đó có các thuốc phenothiazin, levamizole, piperazin…
* Điều trị bệnh giun đũa cho gà
- Theo Phan Lục và cs (2006) [18], tẩy giun cho gà bằng một trong các thuốc sau: cambendazole (70mg/kgTT); febantel (60 ppm trong thức ăn, ăn trong 6 ngày); levamizole (30mg/kgTT)
- Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [16], tetramisol dùng liều 12 - 14 mg/ kg
TT Khi cho gà uống thuốc cần nhốt 3 ngày để tránh trứng khuếch tán ra bên ngoài Phân cần tập trung để ủ, làm vệ sinh tiêu độc chuồng trại, dụng cụ
- Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [9] cho biết: dùng xăng ôtô, liều 2,5 -
3 ml/kg TT, tiêm vào diều gà cho hiệu quả 70 - 100%
* Điều trị bệnh giun kim cho gà
- Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [16], dùng levamisol liều 20 - 30 mg/ kg
TT Thuốc có hiệu lực và an toàn đối với gà Trộn thuốc vào thức ăn cho gà
- Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10] có thể sử dụng thuốc phenothiazin (1g/kg TT, trộn lẫn thức ăn hoặc cho uống, trước khi cho uống cho gà nhịn ăn 6 giờ) cho hiệu quả tẩy giun kim đạt 80 - 100%
Trang 30Ngoài ra có thể dùng tỏi giã nhỏ trộn vào thức ăn hàng ngày cho gà để chữa bệnh giun kim (Trịnh Văn Thịnh, 1963) [29]
* Điều trị bệnh giun tóc cho gà
Chưa có thuốc chữa có hiệu lực cao Tuy nhiên có thể dùng tetrachlorua carbon (0,5 - 1ml) trộn với thức ăn dạng bột nhão và cho vào thực quản bằng một ống tiêm; hoặc aralban (liều dùng bằng 1% trọng lượng cơ thể)
Theo Skrjabin K I và cs (1979) [24], dùng phenothiazin trộn thức ăn với liều 0,5 - 1g/ 1kg TT có tác dụng tẩy giun tóc
Robertson L M và cs (2016) [61] đã sử dụng praziquantel để điều trị giun
sán cho cà kheo đen (Himantopus novaezelandiae) - một loài chim hang dã phổ
biến ở Nam Canterbury, New Zealand Kết quả cho thấy hiệu quả điều trị sán lá là
92%; Capillaria spp là 34%
* Điều trị bệnh giun dạ dày cho gà
Khi phát hiện gà bị bệnh giun dạ dày có thể dùng tinh dầu thông (cho vào
phê/ ngày trong 3 ngày liên tục
1.1.12 Phòng bệnh giun tròn đường tiêu hóa ở gà
Phòng bệnh ký sinh trùng ở nhiều biện pháp nhưng đều nhằm mục đích không cho mầm bệnh ký sinh trùng phát triển và thực hiện các chu trình tiến hoá của nó, để nó không thể phát triển thành ký sinh trùng trưởng
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10] cho biết, tấn công ký sinh trùng ở từng giai đoạn nhằm chống ký sinh trùng:
- Chống giai đoạn thứ nhất: Ký sinh trùng trưởng thành đẻ trứng ở ký chủ cuối cùng Có thể tiêu diệt nó bằng hai phương pháp:
+ Dùng thuốc đặc hiệu diệt ký sinh trùng (việc tẩy ký sinh trùng này có tính chất dự phòng, tức là thực hiện trước khi súc vật phát hành triệu chứng bệnh và trước khi súc vật gieo rắc mầm bệnh ra bên ngoài môi trường)
Trang 31+ Tiêu diệt ký sinh trùng bằng cách giết tất cả những vật mắc bệnh (phương pháp này triệt để nhưng tốn kém mặc dù thịt súc vật vẫn sử dụng được)
- Chống giai đoạn thứ hai (Trứng): Có thể áp dụng hai phương pháp:
+ Tiêu diệt hầu hết trứng bằng cách thu gom hết phân của gia súc ốm trong chuồng và đem chôn (biện pháp này phải làm đi làm lại nhiều lần để trứng không có thời gian phát triển thành phôi thai)
+ Có thể ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh vật học
- Chống giai đoạn thứ ba và thứ tư (Phôi thai và ấu trùng tự do ngoài thiên nhiên) có hai cách:
+ Diệt toàn bộ phôi thai và ấu trùng ngoài đồng cỏ và ao tù bằng vôi bột,
nước ao
+ Không cho phôi thai hay ấu trùng xâm nhập cơ thể ký chủ (cách ly súc vật
ốm, tiêu độc dụng cụ và chuồng nuôi, vệ sinh thức ăn, nước uống, diệt ký chủ trung gian) để phôi thai và ấu trùng bị chết
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13] cho biết: năm 1944, Skrjabin K I đã đề ra học thuyết tiêu diệt tận gốc bệnh giun sán Học thuyết này có thể áp dụng cho các bệnh ký sinh trùng khác Nội dung của học thuyết là dự phòng có tính chất chủ động như dùng tất cả các biện pháp cơ giới, vật lý, hoá học, sinh vật học nhằm tiêu diệt ký sinh trùng trên cơ thể ký chủ, tiêu diệt ký sinh trùng ngoại giới, tiêu diệt ký sinh trùng
ở tất cả các giai đoạn phát dục, tiêu diệt ký sinh trùng ở cả người và vật nuôi
Mỗi hộ gia đình, mỗi trại chăn nuôi cần phải thực hiện các biện pháp phòng trừ tổng hợp như sau:
+ Định kỳ cho thuốc tẩy giun sán
+ Dùng thuốc đặc hiệu để tẩy giun sán, chống tái nhiễm, bội nhiễm
+ Nuôi dưỡng chăm sóc tốt
+ Xử lý phân để diệt các mầm bệnh giun sán
Trang 32+ Điều trị trên quy mô lớn
+ Đảm bảo vệ sinh chuồng trại, thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi và môi trường xung quanh chuồng nuôi nhằm hạn chế việc lây nhiễm mầm bệnh
Das G và cs (2010) [43] cho biết, bổ sung thêm Lysine trong khẩu phần ăn
của gà giúp tăng cường khả năng phòng bệnh do A galli và giúp cơ thể tránh được những tác động có hại do A galli gây ra
Đỗ Thị Vân Giang (2010) [4] bước đầu đã đề xuất một số biện pháp phòng bệnh giun tròn cho gà bao gồm: tẩy giun tròn định kỳ cho đàn gà, hạn chế chăn thả
gà, vệ sinh chuồng nuôi sạch sẽ, Thu gom và xử lý phân để diệt trứng các loài giun tròn gà, tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng gà nhằm nâng cao sức đề kháng của gà đối với bệnh tật
Das G và Gauly M (2014) [44] cho biết, trong cùng một độ tuổi thì những
gà có khối lượng lớn (gà to, béo) có khả năng kháng lại bệnh giun đũa tốt hơn gà có khối lượng nhỏ (gà gầy)
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Hoàng Thị Tĩnh (2009) [34] đã mổ khám 369 gà trưởng thành nuôi tại huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và cho biết: Có 2 loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa
của gà là A galli và H gallinarum với tỷ lệ nhiễm lần lượt là 24,11% và 2,71%
Đỗ Thị Vân Giang (2010) [4] cho biết, tỷ lệ nhiễm giun tròn gà tại 3 huyện
thuộc Thái Nguyên là 57,78% Trong đó, tỷ lệ nhiễm Capillaria sp là cao nhất (44,53%) và tỷ lệ nhiễm Tetrameres sp là thấp nhất (15,66%) Gà nhiễm giun tròn
chủ yếu ở cường độ nhẹ và trung bình, ít nhiễm ở cường độ nặng và rất nặng
Theo Trần Quốc Thuyết (2011) [32], tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa
của gà thuộc ngoại thành Hà Nội là 75,90% Trong đó, tỷ lệ nhiễm A galli là
65,80%
Nguyễn Nhân Lừng và cs (2011) [19] cho biết, tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn ở gà có xu hướng tăng dần từ gà con đến gà 6 tháng tuổi, sau đó giảm dần Vụ
Trang 33Hè - Thu mức độ nhiễm giun tròn ở gà cao hơn vụ Đông - Xuân về cả tỷ lệ và cường độ nhiễm
Nguyễn Nhân Lừng (2012) [20] mổ khám 1.440 gà tại 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang thấy có 15 loài giun tròn ký sinh ở gà Trong đó có các loài gây hại lớn
cho gà như A galli, C obsignata, E annalutus, H beramporia, H gallinarum, T fissispina và T mohtedai
Nguyễn Hữu Hưng và Nguyễn Hồ Bảo Trân (2014) [8] đã mổ khám 438 gà thả vườn tại 3 huyện Mỏ Cày Bắc, huyện Giồng Tôm và Châu Thành, tỉnh Bến Tre
thấy gà thả vườn nhiễm Tetrameres mohtedai là 5,71%; Heterakis galinarum là 60,50%; H beramboria 15,53%, A galli 49,54%
Đỗ Thị Vân Giang (2014) [6] đã thu thập 900 mẫu phân để xác định tình hình nhiễm giun đũa ở gà thả vườn tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và cho
biết 43,0% (387/900) số mẫu nhiễm trứng giun đũa A galli
Nguyễn Hồ Bảo Trân và cs (2015) [37] cho biết: Gà nuôi nhốt tại quận Bình
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Magwisha H B và cs (2002) [55] đã xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun sán ở gà dò và gà trưởng thành trong mùa mưa tại Morogoro - Tanzania Qua mổ
khám 100 gà thấy gà nhiễm 18 loài giun tròn, Trong đó, tỷ lệ nhiễm A galli ở gà dò
là 69%, gà trưởng thành là 29%; tỷ lệ nhiễm Syngamus trachea là 14% và 3%; tỷ lệ nhiễm Tetrameres là 94% và 82%
Mungube E O và cs (2008) [56] công bố kết quả nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm
ký sinh trùng ở gà thả vườn tại một số địa phương của Đông Kenya như sau: Trong
360 gà kiểm tra có 93,3% gà nhiễm giun sán; trong đó, tỷ lệ nhiễm Tetrameres sp
là 37,7%; tỷ lệ nhiễm A galli là 33,3%; Heterakis gallinarum là 22,8%
Từ 12/2004 - 2/2005 và từ 6/2005 - 8/2005, Abdelqader A và cs (2008) [40]
đã mổ khám gà ở miền bắc Jordan và cho biết: tỷ lệ gà nhiễm H gallinarum là
Trang 3433%; tỷ lệ gà nhiễm Capillaria obsignata là 0,5% Tỷ lệ gà mái nhiễm Ascaridia galli là 28%, gà trống là 43%
Kurt M và Acici M (2008) [54] cho biết: trong 83 gà thả vườn được kiểm
tra ở khu vực Samsun, Bắc Thổ Nhĩ Kỳ có 29% nhiễm H gallinarum, A galli là 16%, C caudinflata là 12%, C retusa là 6%, C bursata là 4%, C annulata là
1%
Orunc O và Bicek K (2009) [59] nghiên cứu và cho biết: Gà nhiễm rất
nhiều loài ký sinh trùng khác nhau, trong đó tỷ lệ nhiễm Dispharynx nasuta là 1%, Ascaridia galli là 13%, Heterakis gallinarum là 15%, Capillaria spp là 30%
Katoch R và cs (2012) [52] đã mổ khám 125 gà tại một khu vực thuộc vùng
Tây Bắc Ấn Độ thấy gà nhiễm 4 loại giun tròn là A galli, H gallinarum, Capillaria spp và Cheilospirura hamulosa
Hussen H và cs (2012) [48] kiểm tra tình hình nhiễm giun sán trên 124 gà thả vườn nuôi tại Ada'a và Adamitulu của vùng Đông Shewa, Ethiopia thấy 37,9%
số gà nhiễm H gallinarum; 32,0% nhiễm A galli; 25,8% nhiễm Gongylonema ingluvicola; 4,0% nhiễm Dispharynx nasuta; 8,9% nhiễm H isolonche; 7,3% nhiễm Allodapa suctoria; 3,2% nhiễm Capillaria anatis và 6,5% nhiễm Heterakis dispar
Sherwin C M và cs (2013) [62] tiến hành xét nghiệm phân của 19 đàn gà mái đẻ thấy cả 19 loài đều nhiễm ít nhất 1 loại giun tròn Cụ thể: 17/19 đàn nhiễm
Heterakis, chiếm tỷ lệ 89%; 16/19 đàn nhiễm Ascaridia (84%), 9/19 đàn nhiễm Trichostrongylus (47%) và 6/19 đàn nhiễm Syngamus (32%)
Wongrak K và cs (2015) [64] cho biết, gà lai trong thời kỳ đẻ trứng được nuôi thả có khả năng nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa rất cao Các tác giả cho biết, hầu như tất cả gà mái đều nhiễm ít nhất một loại giun tròn Tỷ lệ nhiễm từng
loại như sau: H gallinarum (98,5%), A galli (96,2%), Capillaria spp (86,1%)
Kumar S và cs (2015) [53] đã nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng ở
gà nuôi tại 58 trang trại thuộc 2 bang Uttar Pradesh và Uttarakhand của Ấn Độ Kết
quả cho thấy: 81,03% nhiễm Eimeria spp., 15,52% nhiễm Ascaridia galli, 3,45%
Trang 35nhiễm Hetarakis gallinarum, 1,72% nhiễm Syngamus spp., 5,17% nhiễm Capillaria spp., 1,72% nhiễm Raillietina spp., 1,72% nhiễm Trichostrongylus tenuis; 1,72% nhiễm Choanotaenia infundibulum và 1,72% nhiễm Strongyloides avium
Idika I K và cs (2016) [49] cho biết, trong 125 gà thu thập ngẫu nhiên từ vùng Nsukka của Đông Nam Nigeria được mổ khám có 14,4% số gà nhiễm giun tròn đường tiêu hóa Các loài giun tròn đường tiêu hóa được xác định là loài
Ascaridia galli và Heterakis gallinarum
Javaregowda A K và cs (2016) [50] đã xác định tỷ lệ nhiễm giun sán ở gà thả vườn tại Shimoga, Karnataka Các tác giả cho biết, có 33/250 gà nhiễm
Ascaridia galli và 12/250 gà nhiễm Heterakis gallinarum.
Butboonchoo P và Wongsawad C (2017) [42] tiến hành mổ khám 120 gà thu thập ngẫu nhiên tại 4 huyện thuộc tỉnh Phayao, miền Bắc Thái Lan thấy gà nhiễm cả giun tròn, sán lá và sán dây Nghiên cứu cho thấy gà chỉ nhiễm 2 loài giun
tròn là Ascaridia galli và Heterakis gallinarum với tỷ lệ lần lượt là 50,8% và
86,7%
Grafl B và cs (2017) [46] mổ khám gà mái thuộc 79 đàn gà được chăn nuôi theo hình thức nuôi nhốt và chăn thả (100 gà/đàn) Các tác giả cho biết, gà
chăn thả nhiễm giun tròn Heterakis gallinarum và Ascaridia galli nhiều hơn rất
nhiều so với gà nuôi nhốt
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Gà thả vườn các lứa tuổi nuôi tại một số địa phương thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
- Một số bệnh giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của gà thả vườn
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Mẫu phân gà thả vườn ở các lứa tuổi
- Gà ở các lứa tuổi (để mổ khám và kiểm tra bệnh tích)
- Máu gà bệnh và gà khỏe để làm chỉ tiêu sinh lý máu
- Một số loại thuốc tẩy giun tròn cho gà
- Kính hiển vi quang học, hóa chất và các dụng cụ thí nghiệm khác
2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 8 năm 2017
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện ở các nông hộ, các trại chăn nuôi gà gia đình và tập thể với các quy mô khác nhau ở một số xã thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
- Địa điểm xét nghiệm mẫu: Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của
gà thả vườn tại một số địa phương thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
Trang 37- Xác định loại giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của gà thả vườn
- Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở gà tại một số địa phương
- Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo tuổi gà
- Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở gà theo mùa vụ
- Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở gà theo trạng thái phân
- Cường độ nhiễm từng loại giun tròn ký sinh đường tiêu hóa của gà
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở gà qua mổ khám
2.3.2 Nghiên cứu bệnh lý, lâm sàng bệnh giun tròn đường tiêu hóa ở gà tại các địa phương
- Tỷ lệ gà nhiễm giun tròn đường tiêu hóa có triệu chứng lâm sàng
- Sự thay đổi một số chỉ tiêu sinh lý máu của gà bệnh so với gà khỏe
- Công thức bạch cầu ở gà bệnh so với gà khỏe
- Bệnh tích đại thể ở gà bị bệnh giun tròn đường tiêu hóa
2.3.3 Thử nghiệm thuốc tẩy giun tròn cho gà và đề xuất biện pháp phòng bệnh
- Thử nghiệm thuốc tẩy giun tròn cho gà trên diện hẹp
- Kết quả dùng thuốc tẩy giun tròn cho gà trên diện rộng
- Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun tròn cho gà thả vườn
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Phương pháp lấy mẫu và xét nghiệm
Bố trí lấy mẫu theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc Việc thu thập mẫu được tiến hành ngẫu nhiên tại nông hộ và các trại chăn nuôi gà thả vườn
Các loại mẫu được xét nghiệm ngay trong ngày hoặc xét nghiệm sau khi bảo quản theo quy trình bảo quản mẫu trong nghiên cứu ký sinh trùng học
Trang 382.4.1.1 Phương pháp thu thập mẫu phân gà
Lấy mẫu phân mới thải của gà ở các lứa tuổi Để riêng mỗi mẫu phân vào một túi nilon nhỏ, mỗi túi đều có nhãn ghi: thời gian (ngày, tháng, năm), địa điểm, tuổi, tính biệt, giống, trạng thái phân và các biểu hiện lâm sàng của gà (nếu có)
Các mẫu thu thập được xét nghiệm ngay trong ngày hoặc xét nghiệm sau khi bảo quản theo quy trình bảo quản mẫu trong nghiên cứu ký sinh trùng học
2.4.1.2 Phương pháp xét nghiệm mẫu
Chúng tôi đã sử dụng phương pháp Fulleborn để xét nghiệm phân tìm trứng các loại giun tròn ở gà:
- Nguyên lý: Lợi dụng tỷ trọng của dung dịch bão hoà lớn hơn tỷ trọng của trứng giun, sán để làm cho trứng giun nổi lên trên bề mặt dung dịch bão hoà (NaCl bão hoà, tỷ trọng 1,18 - 1,20)
- Cách pha nước muối bão hoà: Vừa đun sôi 1 lít nước vừa cho 400g muối NaCl vào (Hoặc đun sôi một lượng nước bất kỳ và cho từ từ muối vào), khuấy đều cho đến khi muối không tan được nữa, khi để nguội thấy có lớp muối kết tinh trên
bề mặt là được Lọc qua vải màn hoặc bông và loại bỏ cặn
2.4.2 Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở gà
Tất cả các mẫu phân gà thu thập được xét nghiệm bằng phương pháp Fulleborn với dung dịch NaCl bão hoà và tìm được trứng các loài giun tròn gà dưới kính hiển vi Kết luận những mẫu có trứng giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa được đánh giá là có nhiễm, ngược lại là không nhiễm
2.4.3 Phương pháp xác định cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở gà qua xét nghiệm phân
Cường độ nhiễm từng loại giun tròn được xác định bằng số lượng trứng từng loại giun tròn/ 01 vi trường kính hiển vi Quy định cường độ nhiễm các loại giun tròn như sau:
- Có ≤ 5 trứng giun tròn/ vi trường: Cường độ nhiễm nhẹ (+)
Trang 39- Có > 5 - 15 trứng giun tròn/ vi trường: Cường độ nhiễm trung bình (++)
- Có > 15 trứng giun tròn/ vi trường: Cường độ nhiễm nặng (+++)
2.4.4 Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm giun tròn theo tuổi gà và mùa vụ trong năm
2.4.4.1 Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm giun tròn theo tuổi gà
- Quy định về tuổi gà: Tuổi gà nghiên cứu được phân ra theo 3 lứa tuổi:
+ < 3 tháng tuổi + 3 - 6 tháng tuổi + > 6 tháng tuổi
- Ở mỗi độ tuổi, chỉ lấy mẫu của những gà chắc chắn nằm trong khoảng độ tuổi đã quy định để kết quả thu được đạt độ chính xác cao
2.4.4.2 Mùa vụ trong năm
Căn cứ vào mùa vụ trong năm để chia thành 2 vụ nghiên cứu:
+ Vụ Xuân - Hè: các mẫu được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 5 - 8/2016 và từ 2 - 5/2017
+ Vụ Thu - Đông: các mẫu được thu thập từ tháng 9/2016 đến tháng 1/2017
2.4.5 Phương pháp mổ khám và định loại giun tròn
* Phương pháp mổ khám:
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [9], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [13]: để tìm các loài giun tròn ký sinh ở hệ tiêu hoá, tiến hành mổ khám gà theo phương pháp mổ khám toàn diện cơ quan tiêu hoá, thu thập tất cả các loại giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của gà Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm các loại giun tròn, quan sát những biến đổi đại thể ở các cơ quan có giun tròn ký sinh
Trang 40- Cách thu thập: căn cứ vào cơ quan mổ khám để tách riêng các loài giun tròn; rửa sạch giun tròn bằng nước lã rồi bảo quản trong dung dịch Barbagallo (Nguyễn Thị Kim Lan và cs., 2012) [13]
* Phương pháp định loại giun tròn:
- Đối với giun trưởng thành: căn cứ vào vị trí ký sinh và đặc điểm hình thái, kích thước và cấu tạo của từng loài (dựa vào khoá định loài của Skrjabin và cs.,
1977 [23]; Phan Thế Việt và cs., 1977 [38]; Nguyễn Thị Lê và cs., 1996 [17])
- Đối với trứng: căn cứ vào màu sắc, hình thái, cấu tạo trứng của từng loài
2.4.6 Phương pháp xác định biểu hiện lâm sàng và bệnh tích đại thể của gà mắc bệnh giun tròn do nhiễm tự nhiên
- Xác định biểu hiện lâm sàng: Trong quá trình lấy mẫu phân gà tại các địa phương, trực tiếp quan sát những gà có biểu hiện khác thường, sau đó ghi lại các biểu hiện lâm sàng của một vài đàn gà đã được xác định chỉ nhiễm một giống loài giun tròn thông qua xét nghiệm phân
- Xác định bệnh tích đại thể: mổ khám, quan sát bằng kính lúp để phát hiện vùng có tổn thương rõ rệt
2.4.7 Phương pháp lấy mẫu và xét nghiệm mẫu máu để xác định một số chỉ tiêu sinh lý máu của gà nhiễm giun tròn đường tiêu hóa và gà khỏe
- Phương pháp lấy mẫu: Lấy mẫu máu tĩnh mạch cánh gà nhiễm 1 loài giun tròn với cường độ nặng ngoài thực địa cho vào ống nghiệm vô trùng (mỗi ống khoảng 1 ml) có tráng chất chống đông Bảo quản các mẫu máu trong tủ lạnh và gửi
đi xét nghiệm ngay trong ngày
- Phương pháp xét nghiệm: Các chỉ tiêu máu được xét nghiệm tại bệnh viện
Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
2.4.8 Phương pháp theo dõi hiệu lực của thuốc tẩy giun tròn cho gà
- Một số loại thuốc sử dụng để tẩy giun tròn cho gà: