Một trong những hướng nghiên cứu đang được quan tâm hiện nay là bổ sung các chất chiết có nguồn gốc thực vật dầu, saponin, tanin..., vừa có tác dụng giảm thiểu lượng khí phát thải trong
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-0 -
DƯƠNG THỊ LAN HƯƠNG
ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG DẦU THỰC VẬT VÀ TANIN ĐẾN SINH TRƯỞNG, HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN VÀ MỨC ĐỘ PHÁT THẢI KHÍ METAN TỪ DẠ CỎ CỦA BÒ THỊT
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––––––––
DƯƠNG THỊ LAN HƯƠNG
ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG DẦU THỰC VẬT VÀ TANIN ĐẾN SINH TRƯỞNG, HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN VÀ MỨC ĐỘ PHÁT THẢI KHÍ METAN TỪ DẠ CỎ CỦA BÒ THỊT
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS CHU MẠNH THẮNG
2 PGS TS NGUYỄN HƯNG QUANG
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu công bố trong luận văn là trung thực, chính xác và có trích dẫn rõ ràng Tác giả chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung và các số liệu đã công bố trong luận văn này
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn đầy đủ
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Học viên
Dương Thị Lan Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè;
sự động viên khích lệ của gia đình để tôi hoàn thành luận văn
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Chu Mạnh Thắng, PGS TS Nguyễn Hưng Quang, với cương vị giáo viên hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện hoàn thành luận văn
Cảm ơn Ban đào tạo Sau đại học - Đại học Thái Nguyên; Khoa Chăn nuôi thú y - Trường đại học Nông lâm Thái Nguyên; Viện Chăn nuôi; Trạm Khuyến nông huyện Bắc Yên (Sơn La), các hộ gia đình chăn nuôi trên địa bàn xã Lệ Chi (Gia Lâm, TP Hà Nội), đã giúp đỡ, tạo điều kiện trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tác giả chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình
Xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Học viên
Dương Thị Lan Hương
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Đặc điểm chung của gia súc nhai lại 4
1.1.1 Đặc điểm tiêu hóa của gia súc nhai lại 4
1.1.2 Cơ chế sinh thải khí trong chăn nuôi gia súc nhai lại 6
1.2 Các biện pháp giảm thiểu khí methane trong dạ cỏ 9
1.2.1 Giảm thiểu CH4 từ chăn nuôi gia súc nhai lại thông qua dinh dưỡng 9
1.2.2 Giảm thiểu CH4 từ chăn nuôi gia súc nhai lại thông qua nâng cao sức khỏe, khả năng sinh sản và quản lý 14
1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 15
1.3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 15
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 16
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
2.2 Nội dung nghiên cứu 18
2.3 Phương pháp nghiên cứu 18
2.3.1 Gia súc 18
2.3.2 Bố trí thí nghiệm 18
2.3.3 Phương thức nuôi dưỡng 19
Trang 62.3.4 Thức ăn và khẩu phần thí nghiệm 19
2.4 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 23
2.4.1 Chỉ tiêu theo dõi 23
2.4.2 Phương pháp theo dõi chỉ tiêu 23
2.4.3 Phân tích thành phần hóa học của mẫu 26
2.5 Xử lý số liệu 26
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Ảnh hưởng của các mức bổ sung tanin và dầu thực vật đến khả năng tiêu hóa thức ăn 27
3.1.1 Ảnh hưởng của các mức bổ sung tanin và dầu thực vật đến khối lượng thức ăn và các chất dinh dưỡng thu nhận 27
3.1.2 Ảnh hưởng của các mức bổ sung tanin và dầu thực vật đến tỷ lệ tiêu hóa invivo 33
3.1.3 Ảnh hưởng của các mức bổ sung tanin và dầu thực vật đến khối lượng chất dinh dưỡng tiêu hóa 35
3.2 Ảnh hưởng của các mức bổ sung dầu thực vật và tanin tới sinh trưởng tích lũy của bò thí nghiệm 39
3.2.1 Ảnh hưởng của các mức bổ sung tanin và dầu thực vật đến sinh trưởng tích lũy của bò 39
3.2.2 Ảnh hưởng của các mức bổ sung tanin và dầu thực vật đến sinh trưởng tuyệt đối của bò 41
3.2.3 Ảnh hưởng của các mức bổ sung tanin và dầu thực vật đến sinh trưởng tương đối của bò 43
3.3 Ảnh hưởng của các mức bổ sung dầu thực vật và tanin tới tiêu tốn thức ăn của bò thí nghiệm 44
3.3.1 Ảnh hưởng của các mức bổ sung dầu thực vật và tanin tới tiêu tốn thức ăn 44
3.3.2 Ảnh hưởng của các mức bổ sung dầu thực vật và tanin tới tiêu tốn vật chất khô 46
3.4 Ảnh hưởng của các mức bổ sung dầu thực vật và tanin khác nhau tới mức độ phát thải khí CH4 49
3.4.1 Mức độ phát thải khí CH4 của bò thí nghiệm 49
3.4.2 Cường độ phát thải khí CH4 theo chất dinh dưỡng thu nhận và tăng trọng 53
3.4.3 Cường độ phát thải khí CH4 theo lượng chất dinh dưỡng tiêu hóa 55
3.4.4 Năng lượng thô mất đi qua phát thải khí CH4 57
Trang 7KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60
1 Kết luận 60
2 Đề nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
1 Tài liệu tiếng Việt 62
2 Tài liệu Tiếng Anh 64
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DM Vật chất khô (Dry master)
OM Chất hữu cơ (Organic master)
ABBH Axit béo bay hơi
CH4 Khí methane
ADF Xơ không tan trong môi trường axit
NDF Xơ không tan trong môi trường trung tính
CP Protein thô (Crude protein)
CF Xơ thô (Crude fibre)
EE Lipit thô (Ether extract)
Ash Khoáng tổng số (Ashes)
Se Sai số của số trung bình (Standart error)
P (Sig.) Hệ số ý nghĩa trong phân tích phương sai (P Significant level)
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 19
Bảng 2.2: Thành phần hóa học của các loại thức ăn trong thí nghiệm 20
Bảng 2.3: Công thức phối trộn khẩu phần thức ăn thí nghiệm 21
Bảng 2.4: Thành phần dinh dưỡng thức ăn thí nghiệm 21
Bảng 2.5: Khối lượng và tỷ lệ các loại nguyên liệu theo vật chất khô trong khẩu phần 22
Bảng 3.1: Khối lượng thức ăn thu nhận của bò thí nghiệm 27
Bảng 3.2: Khối lượng vật chất khô thu nhận và so sánh với khối lượng đầu kỳ của bò thí nghiệm 28
Bảng 3.3: Khối lượng protein thô thu nhận của bò thí nghiệm 29
Bảng 3.4: Năng lượng trao đổi thu nhận của bò thí nghiệm 31
Bảng 3.5: Xơ không tan trong môi trường trung tính thu nhận theo ngày của bò thí nghiệm 32
Bảng 3.6: Xơ không tan trong môi trường axít thu nhận của bò thí nghiệm 32
Bảng 3.7: Tỷ lệ tiêu hóa chất dinh dưỡng của bò thí nghiệm 33
Bảng 3.8: Khối lượng vật chất khô tiêu hóa của bò thí nghiệm 36
Bảng 3.9: Khối lượng protein thô tiêu hóa của bò thí nghiệm 37
Bảng 3.10: Khối lượng chất xơ không tan trong môi trường trung tính tiêu hóa của bò thí nghiệm 38
Bảng 3.11: Khối lượng chất xơ không tan trong môi trường axít tiêu hóa của bò thí nghiệm 38
Bảng 3.12: Sinh trưởng tích lũy của bò thí nghiệm 39
Bảng 3.13: Sinh trưởng tuyệt đối của bò thí nghiệm 41
Bảng 3.14 Sinh trưởng tương đối của bò thí nghiệm 43
Bảng 3.15 Tiêu tốn thức ăn của bò thí nghiệm 45
Bảng 3.16 Tiêu tốn vật chất khô của bò thí nghiệm 47
Bảng 3.17 Mức độ phát thải khí CH4 của bò thí nghiệm 50
Trang 10Bảng 3.18 Cường độ phát thải khí CH4 theo lượng chất dinh dưỡng thu nhận và tăng khối lượng của bò thí nghiệm 54 Bảng 3.19 Cường độ phát thải khí CH4 theo lượng chất dinh dưỡng tiêu hóa 56 Bảng 3.20 Ước lượng lượng năng lượng mất đi qua phát thải khí CH4 57
Trang 11DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang
Hình 3.1: Biểu đồ sinh trưởng tích lũy của bò thí nghiệm 40
Hình 3.2: Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của bò thí nghiệm 42
Hình 3.3: Đồ thị tiêu tốn thức ăn của bò thí nghiệm 46
Hình 3.4: Đồ thị tiêu tốn vật chất khô của bò thí nghiệm 48
Hình 3.5: Đồ thị mức độ phát thải khí CH4 của bò thí nghiệm 51
Hình 3.6: Đồ thị mức độ phát thải khí CO2 của bò thí nghiệm 52
Hình 3.7: Biểu đồ năng lượng thô mất qua thải phát thải khí CH4 58
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu là một vấn đề đang thu hút sự quan tâm trên toàn thế giới Biến đổi khí hậu dẫn đến nhiệt độ tăng, mực nước biển tăng, thiên tai, hạn hán, lũ lụt thường xuyên xảy ra, các cơn bão mạnh và có quỹ đạo bất thường gia tăng
Khí nhà kính được coi là nguyên nhân chính gây nên hiện tượng biến đổi khí hậu và có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với đời sống con người ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Hiện tượng ấm lên toàn cầu làm cho mực nước biển đang dâng với tốc độ trung bình là 1,8 mm/năm trong thế kỷ qua Đặc biệt nghiêm trọng là mức tăng trung bình trong giai đoạn từ năm 1993 - 2000 vào khoảng 2,9-3,4 ± 0,4-0,6 mm/năm cho thấy tốc độ tăng lên của mực nước biển cao hơn đáng kể so với mức tăng trung bình của thế kỷ trước Theo Nguyễn Việt Anh (2010) [1] nước biển dâng 5cm mỗi thập niên, dâng 33-45 cm vào năm 2070 và 100
cm vào năm 2100 Điều này dẫn đến nguy cơ một số đảo nhỏ, thậm chí là các quốc đảo và các vùng đất thấp ven bờ sẽ bị nhấn chìm trong nước
Các khí nhà kính chủ yếu gây nên hiện tượng ấm lên trên toàn cầu hiện nay bao gồm khí cacbonic, oxit nitơ, khí methane và khí CFC (Cloruafloruacarbons) Trong đó Methane (CH4) là loại khí có ảnh hưởng đứng thứ 2 trong việc gây ra hiệu ứng nhà kính sau CO2 Theo báo cáo của tổ chức liên chính phủ về biến đổi khí hậu viết tắt là IPCC (2001) [34], methan có tác dụng gây hiệu ứng nhà kính cao gấp 23 lần so với CO2
Những nguồn sinh khí methane có liên quan đến con người bao gồm: khí thải
từ xe hơi, khai thác mỏ, đốt than, chăn nuôi gia súc và các bãi chôn rác thải Trong
đó ngành chăn nuôi đem đến khoảng 16 - 18% khí hiệu ứng nhà kính, đứng sau nhiên liệu hóa thạch và đất ngập nước (Johnson và Johnson, 1995) [36], Nguyễn Việt Anh (2010) [1] Trong tổng lượng CH4 thải ra môi trường từ hoạt động chăn nuôi (gia súc nhai lại, trâu bò, lợn, gà ) thì chăn nuôi gia súc nhai lại chiếm khoảng 74% Nguy cơ phát thải CH4 vẫn tiếp tục tăng do số đầu con và quy mô chăn nuôi ngày càng tăng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người (Leng, 2008)[39]
Ở gia súc nhai lại, methane được sản sinh trong dạ cỏ bởi nhóm vi khuẩn sinh khí
Trang 13methane sử dụng các sản phẩm chuyển hóa của các loài vi khuẩn khác, protozoa, nấm trong quá trình phân giải thức ăn (Wolin và cs, 1997) [65] Do đó để giảm quá trình sản sinh methane trong dạ cỏ, có thể sử dụng các biện pháp triệt tiêu trực tiếp nguồn cơ chất H2 thông qua sử dụng hóa chất (ví dụ nitrate), hoặc tác động gián tiếp thông qua việc ức chế các loài vi sinh vật cung cấp cơ chất cho vi khuẩn sinh methane
Trong chăn nuôi tại Việt Nam động vật nhai lại (bò thịt, bò sữa, dê, cừu) đóng góp chính vào việc tạo ra CH4 do khí này là sản phẩm tạo ra trong quá trình lên men của vi sinh vật trong dạ cỏ để phân giải thức ăn cho gia súc nhai lại Trong hoạt động chăn nuôi gia súc ăn cỏ, khoảng 30% khí CH4 phát thải ra môi trường từ hoạt động vi sinh vật dạ cỏ, mức độ phát thải từ quá trình lên men dạ cỏ chiếm 28% tính theo tổng lượng khí CH4 thải ra bầu khí quyển Hàng năm chăn nuôi gia súc nhai lại ước tính sản sinh ra khoảng 86 triệu tấn CH4/năm
Để giảm CH4 ở dạ cỏ cần tìm cách giảm sự tạo ra hydro, ngăn chặn và hạn chế sự hoạt động của nhóm vi khuẩn sinh CH4, đưa hydro vào các sản phẩm trao đổi chất khác hoặc hạn chế sự hoạt động của nhóm protozoa Giảm thiểu methane phải
đi liền với con đường trao đổi chất tiêu thụ hydro để tránh hiệu quả tiêu cực khi có quá nhiều hydro trong dạ cỏ Một trong những hướng nghiên cứu đang được quan tâm hiện nay là bổ sung các chất chiết có nguồn gốc thực vật (dầu, saponin, tanin ), vừa có tác dụng giảm thiểu lượng khí phát thải trong dạ cỏ, vừa đảm bảo sức khỏe cho con vật và con người
Xuất phát từ thực tiễn, nhóm nghiên cứu chúng tôi sẽ tiến hành đề tài “Ảnh
hưởng của bổ sung dầu thực vật và tanin đến sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn
và mức độ phát thải khí methane từ dạ cỏ của bò thịt”
2 Mục tiêu của đề tài
Xác định được mức bổ sung dầu thực vật và tanin vào khẩu phần ăn cho bò thịt đảm bảo năng suất, hiệu quả chăn nuôi, đồng thời giảm thiểu mức độ phát thải khí methane từ dạ cỏ
Trang 143 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm cơ sở khoa học góp phần cho phát triển chăn nuôi bò theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường
Sử dụng được nguồn dầu thực vật, tanin tự nhiên sẵn có của nhiều địa phương
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm chung của gia súc nhai lại
Gia súc nhai lại là động vật có vú, bốn chân, nuôi con bằng sữa mẹ Là loài động vật có bộ máy tiêu hóa đặc trưng bởi dạ dày kép gồm bốn túi là dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách, dạ múi khế Hệ tiêu hoá của chúng có hệ vi sinh vật phong phú và
đa dạng Thức ăn của gia súc nhai lại chủ yếu là xơ nên ít cạnh tranh với các loài động vật khác như: lợn, gà…
Khi ăn loại động vật này chỉ nghiền sơ bộ thức ăn và nuốt, lúc nghỉ ngơi là lúc chúng ợ lên nhai lại nghiền thức ăn kỹ càng hơn, nên gọi là động vật nhai lại
1.1.1 Đặc điểm tiêu hóa của gia súc nhai lại
1.1.1.1 Môi trường dạ cỏ
Hệ tiêu hóa của gia súc nhai lại có cấu tạo, dung tích, chức năng của 4 túi dạ dày khác nhau Trong đó, dạ cỏ là túi lớn nhất, chiếm hầu hết nửa trái của xoang bụng , 85 - 90% dung tích của dạ dày, 75% dung tích đường tiêu hóa, có tác dụng tích trữ, nhào trộn và chuyển hóa thức ăn Dạ cỏ được ví như một thùng lên men lý tưởng, môi trường trong đó rất thuận lợi cho các vi sinh vật yếm khí phát triển: nhiệt độ trong dạ cỏ luôn được duy trì từ 38 - 42oC, pH 5,5 - 7,4 khá ổn định nhờ tác dụng đệm của muối bicarbonat và phốt phát trong nước bọt, môi trường yếm khí (nồng độ O2 dưới 1%), trong thành phần của dịch dạ cỏ có khoảng 85 - 90% là nước thuận lợi cho quá trình lên men của vi sinh vật
1.1.1.2 Hệ vi sinh vật dạ cỏ
Do điều kiện môi trường thuận lợi và khẩu phần thức ăn cho gia súc nhai lại khá đa dạng, nên hệ vi sinh vật dạ cỏ phát triển mạnh cả về số lượng và chủng loại Tính đến nay đã có khoảng hơn 200 loài vi sinh vật dạ cỏ Tuy nhiên, hệ vi sinh vật dạ
cỏ luôn luôn biến động và phụ thuộc vào cấu trúc khẩu phần ăn của gia súc nhai lại
Nhờ hệ vi sinh vật phong phú mà gia súc nhai lại có khả năng sử dụng được các nguồn thức ăn nhiều xơ và cả nguồn ni tơ phi protein Hệ vi sinh vật dạ cỏ gồm ba
nhóm chính: vi khuẩn, vi nấm, protozoa Ngoài ra còn có các loại virut, mycoplasma
và thể thực khuẩn không đóng vai trò quan trọng trong tiêu hóa chất xơ
Trang 161.1.1.3 Quá trình phân giải chất hữu cơ trong dạ cỏ
Quá trình tiêu hoá trong dạ cỏ là quá trình lên men tiêu hoá của thức ăn do hệ
vi sinh vật dạ cỏ thực hiện, trong đó chủ yếu là tiêu hoá, phân giải chất xơ Các sản phẩm cuối cùng của quá trình lên men ở đây là các axit béo bay hơi (ABBH), khí thể (CO2, H2, CH4) và ATP - chất mang năng lượng cần thiết cho sinh trưởng phát triển của vi sinh vật
* Quá trình phân giải carbohydrat
Carbohydrat là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho vi sinh vật dạ cỏ và vật chủ Carbohydrat chiếm khoảng 75% lượng vật chất khô (DM) trong thức ăn tuỳ thuộc vào thời gian thu hoạch, yếu tố địa lý và loài thực vật Có thể chia carbohydrat trong thức ăn của gia súc nhai lại thành hai loại là: loại có cấu trúc và loại không có cấu trúc (Nguyễn Xuân Trạch, 2004)[23]
Đặc điểm quan trọng của loại carbohydrat có cấu trúc là không có khả năng hoà tan xenlulose và hemixenluloza có mạch liên kết b - glucozit giữa các đơn vị cấu trúc, mạch liên kết này chỉ có thể thuỷ phân nhờ enzym của vi sinh vật Còn carbohydrat không có cấu trúc chứa liên kết a - glucozit dễ dàng bị phân giải bởi men tiêu hoá của người và gia súc dạ dày đơn Toàn bộ carbohydrat trong khẩu phần sau quá trình tiêu hoá đều được chuyển thành glucoza Nhưng glucoza chỉ xuất hiện tạm thời sau đó nhanh chóng chuyển qua con đường pyruvate để hình thành các axit béo dễ bay hơi Vi khuẩn sinh khí methane đã sử dụng focmic, H2 và CO2
để sản sinh khí methane
* Tiêu hoá cenlulose và hemixenluloza
Cenlulose và hemixenlulose là thành phần chủ yếu trong thức ăn của gia súc nhai lại, hàm lượng của nó trong thức ăn thực vật chiếm 40 - 50%, vi khuẩn có thể phân giải 80% cenlulose ăn vào dạ cỏ
* Tiêu hoá tinh bột đường
Tinh bột được vi khuẩn và protozoa phân giải trong môi trường dạ cỏ
Protozoa nuốt tinh bột từ thức ăn ăn vào, vi khuẩn tác dụng lên bề mặt tinh bột
bằng enzym amylaza Tuy nhiên đường đơn (glucoza, xyloza…) chỉ xuất hiện tạm
Trang 17VK methanogenic
thời sau đó nhanh chóng chuyển qua con đường pyruvic thành các ABBH Khí CO2
và H2 lại được vi sinh vật tổng hợp khí methane
Như vậy sản phẩm cuối cùng của quá trình lên men carbohydrat thức ăn bởi
vi sinh vật trong dạ cỏ gồm các ABBH khác nhau, khí thể bao gồm: 56% CO2, 32%
CH4, 8,5% H2…Khí CH4 được giải phóng qua phản xạ ợ hơi, gây lãng phí khoảng 8% tổng số năng lượng trong thức ăn thu nhận Các ABBH chưa no trong thức ăn
có thể giảm thấp sự sinh khí CH4 trong dạ cỏ Sự giảm thấp CH4 thường thấy ở khẩu phần ăn nhiều đường và tinh bột
* Quá trình phân giải các hợp chất chứa nitơ
Khoảng 40 - 60% protein thức ăn đầu tiên được lên men phân giải trong dạ
cỏ thành các peptit, sau đó thành các axit amin và được giải phóng vào môi trường
dạ cỏ Trong môi trường dạ cỏ hầu hết các axit amin được khử trong các tế bào vi sinh vật thành các a- xetoaxit, amoniac, ABBH mạch ngắn, CO2 Một số sản phẩm của quá trình này sau được vi sinh vật dạ cỏ sử dụng để tổng hợp các thành phần hữu cơ khác, gồm protein và các axit nucleic
1.1.2 Cơ chế sinh thải khí trong chăn nuôi gia súc nhai lại
Đặc điểm nổi bật của bộ máy tiêu hoá ở gia súc nhai lại là những khoang phình lớn, tại đây có các điều kiện môi trường thuận lợi cho vi sinh vật lên men cabohydrate và các chất hữu cơ khác Sản phẩm chủ yếu của quá trình lên men tại đây là các axit béo bay hơi (ABBH), khí methane (CH4), khí cacbonic (CO2) và adenosin triphotphat (ATP) - chất mang năng lượng cần thiết cho sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật
Trong quá trình lên men dạ cỏ, ngoài các sản phẩm chính là axit béo bay hơi acetate, propionate và butyrate ra thì một sản phẩm không mong muốn là CH4 Quá trình lên men thức ăn cùng sự sản sinh khí methane được biểu thị bằng các phương trình phản ứng sau:
C6H12O6 + 2H2O → 2C2H4O2 (acetate) + 2CO2 + 8H
C6H12O6 + 4 H → 2C3H6O2 (propionate) + 2H2O
C6H12O6 → C4H8O2 (butyrate) + 2CO2 + 4H
Trang 18Trong điều kiện yếm khí ở dạ cỏ: Phản ứng oxy hóa để lấy năng lượng ở dạng ATP giải phóng ra hydrro Tích lũy ion hydro trong quá trình trao đổi chất của
vi sinh vật dạ cỏ chỉ có thể tránh đuợc bằng quá trình sinh tổng hợp CH4 bởi những
vi khuẩn sinh methane (rumen methanogens) Đây là qui trình bình thường trong quá trình lên men ở dạ cỏ Lượng hydro giải phóng phụ thuộc chủ yếu vào khẩu phần và loại hình vi sinh vật dạ cỏ vì lên men vi sinh vật thức ăn tạo ra các sản phẩm cuối cùng khác nhau và không tương đương với lượng hydrro tạo ra (Martin
và cs, 2010)[44] Ví dụ, để tạo ra axit propionic thì tiêu thụ hydro nhưng tạo ra axit acetic và axit butyric lại giải phóng hydro Quá trình sinh CH4 ở dạ cỏ là cơ chế tạo điều kiện cho dạ cỏ tránh được nguy cơ tích lũy quá nhiều hydro (Martin và cs, 2010)[44] Hydro tự do sẽ ức chế enzym khử hydro (dehydrogenases) và ảnh hưởng đến quá trình lên men (Martin và cs, 2010)[44] Sử dụng hydro và CO2 để tạo ra
CH4 là một đặc tính đặc biệt của nhóm vi khuẩn sinh CH4 Nhóm vi khuẩn này tương tác với các nhóm vi sinh vật khác trong dạ cỏ để tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và kéo dài tiêu hóa thức ăn (Martin và cs, 2010)[44] Tương tác này là tích
cực đối với nhóm vi sinh vật phân giải xơ (Ruminococcus albus và R flavefaciens), không phân giải xơ (Selenomonas ruminantium), protozoa và nấm Ở gia súc nhai
lại, methane được sản sinh trong dạ cỏ bởi nhóm vi khuẩn sinh khí methane sử dụng
các sản phẩm chuyển hóa của các loài vi khuẩn khác, protozoa, nấm trong quá trình
phân giải thức ăn Nhóm vi sinh vật này sử dụng H2 và CO2 là cơ chất chính để tạo khí methane như sản phẩm cuối cùng của chu trình trao đổi năng lượng và sống kỵ khí bắt buộc (Wolin và cs, 1997)[65] Trong dạ cỏ, các vi khuẩn sinh khí methane
phải sống cộng sinh với protozoa và các loài vi sinh vật khác Methane được tạo
thành từ CO2 và H2 dưới tác dụng của vi khuẩn methanogenic cùng với năng lượng của cơ thể động vật Methanogenic là nhóm vi khuẩn trong hệ vi sinh vật dạ cỏ của động vật nhai lại, chúng có thể tồn tại ở pH trung tính 6-8, tuy nhiên một số loài methanogenic có thể tồn tại trong môi trường pH dao động từ 3-9,2 Hiện nay, tìm thấy 5 loài vi khuẩn methanogenic trong dạ cỏ của động vật nhai lại là
Methanobrevibacter ruminantium, Methanosarcina barkeri, Methanosarcina mazei,
Trang 19Methanobacterium formicicum và Methanomicrobium mobile trong đó 2 loài đầu là
phổ biến nhất Vi khuẩn methanogenic có thể sống tự do trong dạ cỏ hoặc chúng sống cộng sinh trên bề mặt của protozoa
Hầu hết khí CH4 thải ra trong chăn nuôi là từ gia súc nhai lại thông qua quá trình lên men yếm khí ở dạ cỏ Tuy nhiên, sự sản sinh methane cũng xảy ra các phần dưới của đường tiêu hóa như ruột già, tá tràng 89% methane được sản sinh
ra từ dạ cỏ và được thải ra ngoài thông qua miệng và mũi (Murray và cs, 1976)[48] Khi methane thải ra ngoài môi trường thì gia súc nhai lại mất đi 2-12% năng lượng thô từ thức ăn ăn vào, tùy thuộc vào phẩu phần Ở các loài gia súc nhai lại khác nhau thì tỷ lệ mất năng lượng thô do sự sản sinh methane cũng rất khác nhau Theo Johnson và Ward (1996)[37] thì tỷ lệ năng lượng thô mất đi do thải methane của bò sữa và bò thịt vỗ béo thay đổi lần lượt từ 5,5 - 9,0% và 3,5 - 6,5% Ở trâu và lạc đà dao động trong khoảng 7,5 - 9,0% và 7,0 - 9,0% Tỷ lệ mất năng lượng thô do thải methane của động vật nhai lại cũng thay đổi theo vị trí địa lý, chất lượng thức ăn, lượng thức ăn ăn vào, thành phần thức ăn và quá trình chế biến thức ăn (Johnson và Ward, 1996)[37] Hơn 50% số lượng gia súc nhai lại của toàn thế giới tập trung ở vùng nhiệt đới và chúng được nuôi chủ yếu bằng các khẩu phần có chất lượng thấp, khi đó 10-12% năng lượng thô của thức ăn sẽ bị mất đi do methane (McCrabb and Hunter, 1999)[47]
Vì vậy, để tăng năng suất chăn nuôi, giảm ô nhiễm môi trường thì việc làm giảm CH4 sản sinh ra trong chăn nuôi gia súc nhai lại là một vấn đề hết sức quan trọng và đặt ra những hướng nghiên cứu mới cho các nhà khoa học
Khí metane được sinh ra từ quá trình lên men thức ăn trong hệ thống tiêu hóa của động vật Nói chung, càng ăn nhiều thức ăn, thì phát thải khí metan càng cao Mặc dù, mức độ sản xuất metan cũng có thể bị ảnh hưởng bởi các thành phần của chế độ thức ăn Lượng thức ăn tiêu thụ phụ thuộc vào kích thước động vật, tốc độ tăng trưởng, và phương thức sản xuất (ví dụ chăn nuôi lấy sữa, lấy lông, hoặc sinh sản) Methane là khí nhà kính chính được sinh ra từ gia súc, hiệu quả hơn 25 lần trong lưu giữ nhiệt trong khí quyển so với carbon dioxide trong giai đoạn 100 năm Đóng góp lớn nhất phát thải khí nhà kính từ chăn nuôi bò là methane đường ruột
Trang 20chiếm 63% tổng lượng phát thải, với khoảng 84% khí methane từ ruột bò, chủ yếu
là từ những con bò trưởng thành
Khi thức ăn được gia súc nhai sơ bộ rồi xuống dạ cỏ thì cùng với sự hoạt động của hệ vi sinh vật dạ cỏ thì thức ăn được lên men và sinh khí Bởi dạ cỏ là môi trường yếm khí thuận lợi cho vi sinh vật phát triển làm cho lượng khí sinh ra rất nhanh chóng Đến khi gia súc ợ lên để nghiền lại thức ăn thì khí methane được thoát
ra ngoài qua đường tiêu hóa Mặt khác trong quá trình gia súc trao đổi khí thì methane cũng được giải phóng ra ngoài Đó gọi là quá trình sinh thải khí của gia súc nhai lại
1.2 Các biện pháp giảm thiểu khí methane trong dạ cỏ
Khí CH4 có thành phần là các bon và hydro Trong quá trình biến đổi chất hữu cơ, tùy theo điều kiện môi trường mà sản phẩm cuối cùng là CO2, H20, acid hữu cơ, H2 và CH4 Đây là quá trình phức tạp và có sự tham gia của vi sinh vật Chất xơ khi được phân giải bởi vi sinh vật sẽ sản sinh ra một lượng CH4 đáng kể (Nguyễn Việt Anh, 2010)[1]
Quá trình sản sinh CH4 trong dạ cỏ không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng năng lượng của gia súc nhai lại mà còn ảnh hưởng xấu đến môi trường khi góp phần gây nên hiệu ứng nhà kính Biện pháp giảm thiểu khí methane từ chăn nuôi gia súc nhai lại thông qua dinh dưỡng và thông qua nâng cao sức khỏe, khả năng sinh sản
và quản lý
1.2.1 Giảm thiểu CH4 từ chăn nuôi gia súc nhai lại thông qua dinh dưỡng
1.2.1.1 Thay thế thức ăn thô bằng thức ăn tinh
Rất nhiều cơ sở dữ liệu của các thí nghiệm đã cho thấy: tỷ lệ thức ăn tinh cao trong khẩu phần làm giảm CH4 (tính trên tổng năng lượng ăn vào), chủ yếu do tăng
tỷ lệ axit propionic trong tổng axít béo ở dạ cỏ CH4 tạo ra trong khẩu phần chủ yếu
là cỏ ở bò thịt và cừu là 0,06 – 0,07 tổng năng lượng thô (GE), còn ở khẩu phần vỗ béo chủ yếu là thức ăn tinh số liệu này là: 0,03 tổng năng lượng thô (Johnson và Johnson, 1995) [36] Ở gia súc nhai lại ảnh hưởng thực sự của thay đổi khẩu phần rất khó đánh giá Ví dụ nuôi bò trên đồng cỏ có khuynh hướng tăng CH4 từ quá trình lên men ở đường tiêu hóa với khẩu phần chủ yếu là thức ăn hạt, cách nuôi này
Trang 21đã làm thay đổi đáng kể cách quản lý phân vì hầu hết phân bò đã rải đều trên đồng
cỏ và vì thế việc sử dụng cơ giới hóa và phân bón cũng thay đổi Kết quả là GHG sinh ra do quản lý phân và sản xuất thức ăn chăn nuôi giảm đi Điều này giải thích
vì sao GHG từ hệ thống nuôi bò dựa trên đồng cỏ ở New Zealand (khoảng 800 kg
eq CO2/tấn sữa) thấp hơn hệ thống nuôi bò trong nhà với khẩu phần dựa vào thức ăn hạt (khoảng 1300 kg eq CO2/tấn sữa) ở Hà lan (Wolin và cs, 1997)[65]
1.2.1.2 Bổ sung probiotic và prebiotic
Việc sử dụng probiotic và prebiotic trong khẩu phần ăn của gia súc nhai lại cũng đã được tiến hành để thay đổi môi trường dạ cỏ như bổ sung chất ion hóa, cải tiến hiệu quả thu nhận vật chất khô và ngăn chặn sản sinh acetat, kết quả là làm giảm lượng hydro được giải phóng Trong một số công trình nghiên cứu đã xuất bản, CH4 đã giảm 10%, tuy nhiên ảnh hưởng của chất ion hóa có tuổi thọ ngắn Những chiến lược nuôi dưỡng làm giảm CH4 thông qua sự vận động của quá trình lên men dạ cỏ, theo hướng ức chế hình thành CH4 và protozoa
1.2.1.3 Loại carbohydrate và tỷ lệ tiêu hóa của khẩu phần
Carbohydrate cấu trúc (Structural carbohydrates) như cellulose và hemicellulose lên men ở tốc độ thấp hơn carbohydrate phi cấu trúc (non-structural carbohydrates) như (tinh bột và các loại đường) và tạo ra nhiều CH4 hơn/một đơn vị chất nền được lên men do tỷ lệ acetate: propionate lớn hơn Ngoài ra trong nhóm carbohydrate phi cấu trúc, đường hòa tan (soluble sugars) có tiềm năng sinh methan cao hơn tinh bột (Johnson và Johnson, 1995)[36] Như vậy, hạt ngũ cốc tạo ra ít GHG hơn phế phụ phẩm có nhiều xơ Thành phần của thức ăn cũng có ảnh hưởng đến lên men ở dạ dày và ruột già và ảnh hưởng đến lượng khí thải nhà kính CH4
Khí methan tạo ra tỷ lệ năng lượng ăn vào giảm khi mức nuôi dưỡng tăng hay khi tỷ lệ tiêu hóa của khẩu phần được cải tiến Khí CH4 tạo ra trong dạ cỏ giảm khi lượng thức ăn tinh trong khẩu phần tăng lên Thành phần của khẩu phần cũng ảnh hưởng đến thải nitơ, chất hữu cơ trong phân, chúng đến lượt mình lại ảnh hưởng đến lượng GHG (N2O và CH4) thoát ra trong bảo quản và rải phân
Trang 22Như vậy cải tiến thành phần thức ăn, khẩu phần sẽ làm giảm thải N, giảm thiểu N sẽ làm giảm ảnh hưởng của sụ phì dinh dưỡng của đất (NO3-) và axit hóa (NH3), do đó làm giảm GHG
Thành phần dinh dưỡng của khẩu phần, đặc biệt là carbonhydrate ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sản sinh khí methane trong dạ cỏ của gia súc nhai lại vì khẩu phần ảnh hưởng trực tiếp đến pH dạ cỏ, và do đó làm thay đổi hệ vi sinh vật trong dạ cỏ (Johnson và Johnson, 1995)[36] Theo một số nghiên cứu gần đây việc tiêu hóa các chất xơ có quan hệ chặt chẽ đến quá trình sản sinh khí methane Sauvant và Giger- reverdin (2007)[54] cho biết khi tăng tỷ lệ thức ăn tinh trong khẩu phần đã làm giảm đáng kể lượng methane sản sinh Khi khẩu phần có 30-40% thức ăn tinh thì tổng methane sản sinh là tương đương mức 6-7% tổng năng lượng thô nhưng khi tỷ lệ thức
ăn tinh trong khẩu phần là 80-90% thì lượng methane sản sinh chỉ còn tương đương 3% tổng năng lượng thô ăn vào Hàm lượng tinh bột trong khẩu phần cũng được xem như là yếu tổ để nâng cao sự hình thành propionate, thông qua vi khuẩn phân giải tinh bột, làm giảm pH dạ cỏ, dẫn đến làm giảm các vi khuẩn sinh khí methane Johnson và Johnson (1995)[36] cho rằng quá trình tiêu hóa xơ thành tế bào làm tăng lượng methane sản sinh ra, bởi vì quá trình này làm tăng lượng acetate trong dạ cỏ, mà acetate
2-là cơ chất cung cấp nhóm methyl cho vi khuẩn sản sinh khí methane trong dạ cỏ
1.2.1.4 Bổ sung các muối nitrate vào khẩu phần
Bổ sung các muối nitrate vào khẩu phần của gia súc nhai lại như là một phương thức để cung cấp nitơ cho quá trình lên men dạ cỏ đồng thời làm giảm thiểu khí methane Hơn nữa, việc bổ sung nitrate có thể giảm khả năng bị trúng độc ammonia cho gia súc vì các muối nitrate sẽ ức chế sự hình thành ammoniac tự do trong dạ cỏ (Leng, 2008)[39] Một số nghiên cứu gần đây đã xác nhận rằng bổ sung các muối nitrate vào khẩu phần ăn của dê trong thời gian dài cho tăng trưởng tương tự như bổ sung urê là nguồn NPN, đồng thời làm giảm 30% lượng khí methane thải ra (Iv Sophea và Preston, 2010) [35] Bổ sung muối nitrate vào phẩu phần ăn của cừu và
bò sữa thấy rằng lượng methane giảm tới 50% (Van Zijderveld và cs, 2010a; 2010b)[59, 60] Tuy nhiên, chưa có báo cáo cho thấy sự giảm khí methane đi kèm với việc tăng sản xuất thịt hoặc sữa, mà về mặt lý thuyết điều này có thể xảy ra
Trang 231.2.1.5 Chất lượng và loại thức ăn ủ chua
Ngô ủ và các loại thức ăn ủ chua từ cây lương thực giảm được CH4 vì quá trình lên men tạo ra nhiều propionate hơn cỏ ủ chua vì có nhiều tinh bột trong ngô ủ (Martin và cs, 2010)[44] Lượng thức ăn ăn vào của ngô ủ chua cao sẽ làm giảm thời gian thức ăn lưu ở dạ cỏ, giảm thời gian lên men, tăng năng suất vật nuôi và vì vậy giảm CH4/kg sản phẩm (E McGeough, personal communication)
1.2.1.6 Cho thêm lipid vào khẩu phần
Từ rất lâu người ta cho rằng cho thêm lipid vào khẩu phần là giảm CH4 Dầu
có chứa C12 (axit lauric) và C14 (axit myrstic) đặc biệt độc với vi khuẩn sinh methan (Dohme và cs 2001) [31] Lipids giảm CH4 vì gây độc cho vi khuẩn sinh methan
giảm protozoa vì protozoa đi liền với vi khuẩn sinh methan, lipid cũng làm giảm
tiêu hóa xơ Giảm tiêu hóa xơ ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêu hóa của của khẩu phần, lipid cũng làm giảm chất khô ăn vào (Martin và cs, 2010) )[44] Vì vậy chiến lược này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất gia súc, tuy nhiên nếu lipid trong khẩu phần < 60-70 g/kg chất khô, thì ảnh hưởng đến lượng thức ăn ăn vào và tỷ lệ tiêu hóa không đáng kể (Martin và cs, 2010) [44]
1.2.1.7 Sử dụng axit hữu cơ
Axit hữu cơ thông thường sẽ được lên men thành propionate trong dạ cỏ (Martin và cs, 2010)[44] Như vậy, chúng là một bể chứa khác cho hydro, và giúp làm giảm số lượng hydro dùng để tạo methan, fumarate and acrylate có hiệu quả nhất trong các điều kiện in vitro và thấy giảm CH4 từ 0,4 – 0,75 khi axit fumaric dạng viên (0,1 khẩu phần) được cho vào khẩu phần của cừu
1.2.1.8 Ionophores
Ionophores (monensin) là chất kháng vi sinh vật được sử dụng rộng rãi để tăng năng suất (Martin và cs, 2010)[44] Trong feedlot và khẩu phần ít cỏ, monensin làm tăng trọng, giảm lượng thức ăn ăn vào, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn khoảng 6% Monensin làm giảm CH4 vì giảm lượng thức ăn ăn vào và vì thay đổi thành phần axit béo bay hơi ở dạ cỏ theo hướng tăng propionate đồng thời làm giảm số lượng protozoa dạ cỏ (Martin và cs, 2010)[44] Thí nghiệm trên động vật thấy monensin giảm hình tạo CH4 Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu không thấy sự giảm này
Trang 24(Waghorn và cs, 2002)[62] Theo Van Kessel và Rusell (1996)[58] khi phân tích 9 thí nghiệm thấy bình quân monensin giảm tạo ra CH4 ở mức 0,18 của GE ăn vào
1.2.1.9 Sử dụng các hợp chất thứ cấp và chất tách chiết từ thực vật
Thực vật tổng hợp một số lượng lớn các hợp chất không phục vụ cho quá trình sinh trưởng và phát triển của chúng, gọi là các chất trao đổi thứ cấp Các chất này có chức năng bảo vệ, chống lại sự tấn công của động vật ăn cỏ và côn trùng Có
ba loại chất trao đổi thứ cấp chính ảnh hưởng đến việc giảm thiểu khí methane đó là tanin, saponin, và tinh dầu
Saponin là hợp chất gồm các glycosides tìm thấy nhiều trong thực vật Chúng ảnh hưởng đến quá trình sinh khí methane và chuyển hóa protein trong dạ cỏ
bằng cách ức chế protozoa và hạn chế nguồn hydro cung cấp cho việc hình thành
methane, lượng methane thải ra từ cừu đang sinh trưởng giảm 27% khi khẩu phần
ăn có chứa chè saponin Saponin cũng ức chế sinh methane ở dạ cỏ, cơ chế hoạt
động của saponin liên quan đến ảnh hưởng ức chế sự phát triển Protozoa Tuy nhiên
ảnh hưởng này thường khá ngắn
Tinh dầu bao gồm nhiều hợp chất khác nhau trong cây Chúng ảnh hưởng đến sự giảm thiểu methane nhờ đặc tính kháng vi khuẩn Chúng được coi như một nhân tố làm thay đổi quá trình lên men dạ cỏ và là chủ đề rất được quan tâm trong những năm gần đây Tuy nhiên kết quả sử dụng tinh dầu nhằm làm giảm thiểu methane khá biến động Trong một vài thí nghiệm bổ sung tinh dầu cho bò cái tơ ở mức 1g/con/ngày không ảnh hưởng đến lượng methane thải ra nhưng lại làm giảm
tỷ lệ tiêu hóa của khẩu phần Khi cho tinh dầu oregano vào khẩu phần của cừu đã làm giảm 12% tổng methane sản sinh
Tanin: Tanin trong khẩu phần ăn của gia súc nhai lại làm giảm methane thông qua việc ức chế trực tiếp hoạt động của các vi khuẩn sản sinh methane, đồng thời tác động gián tiếp đến việc hình thành methane trong dạ cỏ bằng cách ngăn cản
sự phát triển của protozoa và các vi sinh vật khác sản sinh khí hydro (Patra, AK,
2010)[53]
Trang 251.2.2 Giảm thiểu CH4 từ chăn nuôi gia súc nhai lại thông qua nâng cao sức khỏe, khả năng sinh sản và quản lý
Chăn nuôi đóng góp khoảng 16% tổng khí methane của hành tinh, đứng sau nhiên liệu hóa thạch và đất ngập nước và khoảng 74% khí methane từ chăn nuôi là
do chăn nuôi gia súc nhai lại gây ra (Johnson và Johnson, 1995)[36] Chiến lược chủ yếu giảm thải khí methane từ bò sữa là cải tiến chất lượng khẩu phần và tăng hiệu quả sản xuất sữa Cải tiến chất lượng khẩu phần là giải pháp ngắn hạn, còn tăng hiệu quả sản xuất sữa là giải pháp chiến lược Methane thải ra từ bò sữa có thể giảm theo một hàm mũ nếu tăng năng suất sữa/bò sữa/năm Giảm đầu con, tăng năng suất sữa/bò/năm là một cách để giảm khí thải methane từ chăn nuôi bò sữa Nếu năng suất gia súc tăng lên thông qua dinh dưỡng tốt hơn, năng lượng cần cho duy trì tính theo % của tổng nhu cầu năng lượng sẽ giảm đi, và CH4 đi cùng với nhu cầu duy trì giảm, vì vậy CH4/kg sữa hoặc thịt cũng giảm
Tương tự như vậy, nếu năng suất gia súc được cải thiện, thì thời gian đạt khối lượng giết mổ giảm nên tổng CH4 cho một đời gia súc cũng sẽ giảm Tuy nhiên, khi tăng năng suất gia súc, tuổi đời của gia súc giảm, phải nuôi nhiều gia súc thay thế hơn nên CH4 có khi lại tăng lên Chiến lược giảm CH4 phải dựa trên toàn
bộ chu kỳ sản xuất của một gia súc
Chiến lược giảm CH4 ở dạ cỏ vì thế là tìm cách giảm tạo ra hydro, ngăn chăn
và hạn chế quá trình hình thành CH4, đưa hydro vào các sản phẩm trao đổi chất khác hoặc tạo ra các bể chứa hydro khác Chiến lược dinh dưỡng giảm thiểu CH4 là dựa trên cơ sở các nguyên lý này
Có hai yếu tố trong con đường trao đổi chất cần quan tâm để phát triển chiến lược giảm thiểu CH4 ở gia súc nhai lại Giảm sinh hydro nhưng không được ảnh hưởng đến lên men thức ăn trong dạ cỏ Giảm thiểu CH4 phải đi liền với con đường trao đổi chất tiêu thụ hydro để tránh hiệu quả tiêu cực khi có quá nhiều hydro trong
dạ cỏ (Martin và cs, 2011)[46]
Trang 261.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Bổ sung chất béo không no vào khẩu phần có thể giảm thải mêtan đến 37%
do làm tăng acid propionic và giảm tổng lượng protozoa trong dạ cỏ Tuy nhiên việc
bổ sung cũng có ảnh hưởng tới thành phần của sữa, nhất là hàm lượng mỡ sữa do sự xáo trộn của hệ vi sinh vật dạ cỏ Bổ sung chất béo (dầu, mỡ) vào khẩu phần ăn cho gia súc nhai lại có thể giảm 25% (in-vitro) - 80% (in-vivo) lượng khí thải mê tan Kết quả một số nghiên cứu của Tiemann và cs (2008)[56], Grainger và cs (2009)[32], Martin và cs (2010)[44] cho thấy dầu dừa kìm chế tạo khí mêtan tốt hơn các loại dầu khác (hướng dương, cọ, dừa, ) Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng hạt bông trong khẩu phần có thể giúp giảm thiểu đáng kể lượng khí thải methane do lượng dầu trong hạt bông có tác dụng ức chế protozoa và vi sinh vật sản sinh khí methane, đồng thời hàm lượng năng lượng và protein cao góp phần làm tăng năng suất sữa của bò chăn thả
Thí nghiệm tiến hành trên bò sữa trong giai đoạn mùa hè, khi đồng cỏ hạn chế và dinh dưỡng thức ăn xanh nghèo nàn cho thấy khẩu phần bổ sung hạt bông làm giảm 12% lượng khí thải methane nếu tính theo đơn vị g mê tan/con/ngày và 21% nếu tính trên đơn vị g methane/kg sữa cô đặc Năng suất sữa tươi của bò lô được bổ sung hạt bông tăng 15%, năng suất chất béo sữa tăng 19% và protein sữa tăng 16%
Từ các nghiên cứu trước đây, các tác giả Martin và cs (2011)[46], Suphawadee và cs (2015)[55] đưa ra khuyến cáo rằng có nhiều loại cây giàu tanin
bổ sung và khẩu phần ăn của gia súc nhai lại có thể làm giảm phát thải khí methane trong cả hai điều kiện in vitro và in vivo
Trong điều kiện in vitro, khi bổ sung 20% Biophytum petersianum (có 4,3% tanin) và Sesbania grandiflora (có 1,9% tanin) vào chất nền đã làm giảm lần lượt từ
17 – 25% và 9,2 -10,3% lượng methane thải ra mà không ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêu hóa chất khô Trong điều kiện in vivo đã bổ sung hai mức tanin (8,6 và 14,6 g/kg VCK) được tách chiết từ Acacia mearnsii vào khẩu phần của bò sữa chăn thả ăn 4,5
kg thức ăn tinh Kết quả cho thấy việc bổ sung này đã làm giảm thiểu 11,5 và 28%
Trang 27khí methane thải ra, nhưng cũng làm giảm tỷ lệ tiêu hóa của khẩu phần Như vậy, tanin có cả ảnh hưởng tích cực và tiêu cực tùy thuộc nguồn và tỷ lệ bổ sung vào khẩu phần
Sử dụng thức ăn ủ chua: sử dụng ngô ủ chua hay các loại cây lương thực ủ chua làm giảm CH4 vì quá trình lên men tạo ra nhiều propionate hơn cỏ ủ chua vì trong ngô ủ chua có nhiều tinh bột (Martin và cs, 2008)[44] Lượng thức ăn ăn vào của ngô ủ chua sẽ làm giảm thời gian thức ăn lưu ở dạ cỏ, giảm thời gian lên men, tăng năng suất vật nuôi vì vậy sẽ làm giảm lượng CH4/kg sữa
Theo tác giả M.Euge`ne và cs, (2007)[48] bổ sung lipid giúp giảm phát thải methane đến 9% (P<0,05) ở những con bò đang cho con bú Phát thải khí methane
đã giảm 49-75% khi sử dụng acid fumaric
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Một số công trình nghiên cứu gần đây mới chỉ đánh giá lượng khí CH4 thải
ra của bò sữa 75% HF ở trạng thái cho duy trì (không sản xuất) Kết quả một số nghiên cứu của Trần Hiệp và cs (2016) [9], [10], Đinh Văn Dũng và cs (2016) [6] cho thấy khi sử dụng buồng hô hấp để xác định năng lượng thuần thì thấy rằng bò cái tơ lỡ lai 3/4HF, có khối lượng trung bình 224 kg ở trạng thái trao đổi đói (Fasting metabolism) thì mỗi ngày lượng CH4 thải ra khoảng 104,47 lít/ngày hay 1,8905 lít CH4/kgW0,75 Tuy nhiên, nhóm tác giả cũng thấy rằng giá trị này cũng biến động theo khối lượng từ 71 đến 156 lít CH4/ngày và có xu hướng giảm dần theo khối lượng Đối với bò 3/4HF khối lượng 305-361 kg, giai đoạn cạn sữa, lượng
CH4 thải ra 246 lít CH4/ngày (dao động 149-371 lít/ngày) Kết quả ước tính năng lượng thuần cho gia súc ở trạng thái duy trì cũng thấy rằng năng lượng trong CH4
thải ra hàng ngày khoảng 8,5% tổng năng lượng thô ăn vào
Khi thí nghiệm trên bò sữa, việc bổ sung dầu bông đã làm tăng lượng chất khô thu nhận 3,39-6,82%, tăng năng lượng thu nhận 6,25-14,43% và tăng năng suất sữa 5,4- 12,2%, làm giảm tổng lượng phát thải, giảm năng lượng thất thoát từ thức
ăn qua phát thải khí methane (8,1-28,9%) và giảm cường độ phát thải khí methane tính trên đơn vị sản xuất sữa tiêu chuẩn (l/kg FCM) 18,8-37,9%
Trang 28Một số nhà khoa học cho rằng tanin là một hợp chất kháng dinh dưỡng vì tanin kết hợp với protein của thức ăn và với cả enzym đường tiêu hoá làm giảm tỷ
lệ tiêu hoá protein thức ăn, giảm thu nhận thức ăn, giảm sinh trưởng, giảm sản lượng của vật nuôi (Dương Thanh Liêm, 2008)[14], và cần phải khắc phục ảnh hưởng có hại của tanin bằng cách xử lý kiềm (bổ sung urê) hoặc phối hợp thức ăn chứa tanin với sunphat sắt hoặc polyethilene glycol - 4000 (PEG-4000)
Ngược lại, theo Nguyễn Xuân Trạch (2003)[22] lại cho rằng bổ sung tanin vào khẩu phần ăn của gia súc nhai lại ở mức thấp (20-40 g/kg vật chất khô thức ăn)
sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng protein của gia súc
Các tác giả đã tập hợp các công trình nghiên cứu ngoài nước liên quan về giảm phát thải khí CH4 trong chăn nuôi, tác giả cũng nhấn mạnh chiến lược về dinh dưỡng là giải pháp phù hợp trong việc giảm sản sinh khí CH4 trong chăn nuôi gia súc nhai lại và đề nghị các hướng nghiên cứu này cần tập trung đi sâu hơn vào giảm sản sinh khí CH4 từ môi trường dạ cỏ của gia súc nhai lại
Trang 29Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lai Sind, giai đoạn từ 15 - 16 tháng tuổi nuôi tại nông hộ
- Thức ăn gồm: Cây ngô, cỏ tự nhiên, thức ăn tinh hỗn hợp Cagill, bột ngô,
bã sắn, dầu thực vật, phụ phẩm chè
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Thí nghiệm tiến hành tại xã Lệ Chi, huyện gia Lâm, thành phố
Hà Nội
- Các mẫu được thử nghiệm tại: Viện Chăn nuôi
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 07/2016 - 07/2017
2.2 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của bổ sung dầu thực vật và tanin đến sinh trưởng,
hiệu quả sử dụng thức ăn và mức độ phát thải khí methane từ dạ cỏ của bò thịt
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Gia súc
Thí nghiệm nuôi dưỡng được tiến hành trên 20 bò đực giống Lai Sind ở giai đoạn 15 - 16 tháng tuổi, khối lượng đồng đều nhau, bò được nuôi thích nghi trong thời gian 15 ngày Thời gian theo dõi thí nghiệm 90 ngày
Chuẩn bị bò: trước khi đưa vào thí nghiệm bò được tẩy giun sán, tiêm phòng bệnh Tụ huyết trùng, lở mồm long móng theo quy định của thú y
Chuồng trại nuôi tập trung tại các chuồng sẵn có trong điều kiện nông hộ, bố trí các buồng đo mức độ phát thải khí methane tại chỗ
2.3.2 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được thiết kế theo mô hình hoàn toàn ngẫu nhiên CRD (Completely Radomized Design) Sơ đồ thí nghiệm được bố trí như sau:
Trang 30Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm
2.3.3 Phương thức nuôi dưỡng
Bò được nuôi nhốt hoàn toàn, mỗi con có máng ăn và máng uống riêng Bò được bố trí vào 1 trong 4 khẩu phần xây dựng từ các nguyên liệu sẵn có tại khu vực phụ cận Hà Nội Bò được sử dụng khẩu phần bổ sung dầu thực vật với các tỷ lệ 1,5
- 3 %DM và tanin được bổ sung với các tỷ lệ 3- 5 %DM khẩu phần dưới dạng phụ phẩm chè xanh
Thức ăn và nước uống được cung cấp tại chuồng, hàng ngày bò được cho ăn
2 lần vào buổi sáng (bắt đầu từ 7h30) và buổi chiều (bắt đầu từ lúc 16h30)
Khối lượng thức ăn của từng con được cân đúng theo khẩu phần tham khảo tiêu chuẩn Kearl (1982)[38] được thiết kế cho bò thịt nhiệt đới 150 kg, tăng trọng 0,5 kg/ngày, nhu cầu thức ăn 4,2 kgDM/con/ngày Thức ăn thừa của từng loại được thu lại vào sáng sớm ngày hôm sau, sau đó được cân để xác định khối lượng thừa
Bò uống nước tự do, bổ sung khoáng từ tảng đá liếm, chuồng trại được vệ sinh mỗi ngày 2 lần sáng và chiều
2.3.4 Thức ăn và khẩu phần thí nghiệm
Thức ăn nuôi bò được xây dựng từ cây ngô ủ chua, cỏ tự nhiên, bột ngô, bã sắn, thức ăn hỗn hợp Cagill Thành phần hóa học của các loại nguyên liệu dùng để phối trộn thức ăn được trình bày ở bảng sau:
Trang 31Bảng 2.2: Thành phần hóa học của các loại thức ăn trong thí nghiệm
Các lô thí nghiệm được sử dụng thức ăn phối trộn theo tỷ lệ như sau:
Trang 32Bảng 2.3: Công thức phối trộn khẩu phần thức ăn thí nghiệm
Trang 33Bảng 2.5: Khối lượng và tỷ lệ các loại nguyên liệu theo vật chất khô trong khẩu phần
Thức ăn
KL (kg)
DM (kg)
Tỷ lệ
DM (%)
KL (kg)
DM (kg)
Tỷ lệ
DM (%)
KL (kg)
DM (kg)
Tỷ lệ
DM (%)
KL (kg)
DM (kg)
Tỷ lệ
DM (%)
KL (kg)
DM (kg)
Tỷ lệ
DM (%)
Cỏ tự nhiên 2,7 0,73 15,23 2,7 0,73 14,82 2,7 0,73 14,59 2,7 0,73 14,70 2,7 0,73 14,47 Cây ngô ủ chua 5,4 1,45 30,35 5,4 1,45 29,53 5,4 1,45 29,08 5,4 1,45 29,29 5,4 1,45 28,84
Trang 342.4 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
2.4.1 Chỉ tiêu theo dõi
2.4.1.1 Thí nghiệm: Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung tanin và dầu thực vật đến
thu nhận, tiêu hóa của bò, các chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm:
- Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng: Năng lượng thô (GE), năng lượng trao đổi (ME), Vật chất khô (DM), protein thô (CP), Xơ không hòa tan trong môi trường trung tính (NDF), Xơ không hòa tan trong môi trường axit (ADF), xơ thô (CF), khoáng tổng số (Ash)
- Lượng các vật chất khô thu nhận: DM thu nhận (kg/ngày), CP thu nhận (kg/ngày), GE (Kcal/ngày), NDF (Kg/ngày), ADF (Kg/ngày)
2.4.1.2 Thí nghiệm: Đánh giá ảnh hưởng của bổ sung tanin và dầu thực vật đến khả
năng tăng khối lượng của bò, các chỉ tiêu theo dõi bao gồm:
- Sinh trưởng tích lũy bò thí nghiệm (kg/con), sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày), sinh trưởng tương đối (%)
- Tiêu tốn thức ăn (FCR) (kgTA/kgTT), tiêu tốn vật chất khô (kgDM/kgTT)
2.4.1.3 Thí nghiệm: Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung tanin và dầu thực vật đến
sự phát thải methane từ dạ cỏ, các chỉ tiêu theo dõi bao gồm:
- Tổng lượng phát thải CH4 (lít/con/ngày), CH4 (g/con/ngày)
- Tổng lượng nhiệt phát sinh (HP) (KJ), phát thải CO2 (lít/con/ngày)
- Cường độ phát thải CH4 qua dinh dưỡng thu nhận và dinh dưỡng tiêu hóa (lít/kgDM, lít/kgNDF, lít/kgADF, lít/kgTT)
- Tỷ lệ năng lượng thô mất đi qua CH4 (MJ; %)
2.4.2 Phương pháp theo dõi chỉ tiêu
- Tăng trọng của bò thí nghiệm được xác định thông qua cân khối lượng mỗi tháng/lần, bò được cân vào buổi sáng
+ Sinh trưởng tuyệt đối được tính theo công thức sau:
Sinh trưởng tuyệt đối (A) (g/con/ngày) = W1 – W0
T1 – T0
Trong đó A: Sinh trưởng tuyệt đối g/con/ngày
W0: Khối lượng ban đầu theo dõi (kg)
Trang 35W1: Khối lượng kết thúc theo dõi (kg)
T0: Thời điểm bắt đầu theo dõi (ngày)
T1: Thời điểm kết thúc theo dõi (ngày) + Sinh trưởng tương đối: Sinh trưởng tương đối là tỷ lệ % của khối lượng cơ thể tăng lên trong khoảng thời gian 2 lần khảo sát Sinh trưởng tương đối (%) được xác định theo công thức:
Sinh trưởng tương đối (R)(%) = W1 – W0 x 100
(W1 + W0)/2 Trong đó: W0: Khối lượng ban đầu lúc theo dõi (kg)
W1: Khối lượng lúc kết thúc theo dõi (kg)
- Lượng thức ăn thu nhận: lượng thức ăn ăn vào được xác định trong giai đoạn thu phân, nước tiểu và thông qua cân tổng lượng thức ăn cho ăn và thức ăn thừa hàng ngày của từng cá thể trong suốt thời gian theo dõi chính thức Các nguyên liệu thức ăn thô cho ăn và thức ăn thừa được lấy mẫu hàng tuần được cân và sấy xác định hàm lượng chất khô, sau đó bảo quản trong tủ lạnh Đến cuối đợt thí nghiệm các mẫu của từng loại thức ăn được trộn đều và 1 mẫu đại diện được lấy, gửi đi phân tích xác định thành phần hóa học
- Trong khoảng thời gian theo dõi, gia súc sẽ được thu phân, nước tiểu từ ngày thứ 43 đến ngày thứ 48 để xác định tỷ lệ tiêu hóa in vivo của khẩu phần Khối lượng gia súc được cân hàng tháng để điều chỉnh khẩu phần ăn phù hợp với nhu cầu của bò Hàng tháng, mỗi con bò được đưa vào buồng hô hấp 1 ngày để xác định tổng lượng khí methane sản sinh Thu phân, nước tiểu và thức ăn thừa của bò trong buồng hô hấp
- Tỷ lệ tiêu hóa invivo của khẩu phần: được xác định trong giai đoạn thu phân, nước tiểu trên cũi trao đổi chất Trong giai đoạn này, các nguyên liệu thức ăn thô cho ăn và thức ăn thừa, phân và nước tiểu được lấy mẫu hàng ngày và bảo quản trong tủ lạnh Đến cuối kỳ thu phân và nước tiểu, các mẫu của từng loại thức ăn được trộn đều là 1 mẫu đại diện được lấy, gửi đi phân tích xác định thành phần hóa học và ước tính tỷ lệ tiêu hóa: DM, CP, NDF, ADF Tỷ lệ tiêu hóa của các chất dinh dưỡng được tính từ lượng chất dinh dưỡng ăn vào và lượng thải ra trong phân tính theo phần trăm so với lượng ăn vào
Trang 36- Lượng khí methane sản sinh của bò thí nghiệm: việc xác định tổng khí methane sản sinh (l/con/ngày hoặc l/kgDM) được xác định thông qua hệ thống phân tích khí methane gắn với buồng hô hấp Hệ thống chỉ có 2 lỗ (buồng hô hấp) cho không khí lưu thông nằm ở 2 góc, 1 lỗ để dẫn không khí sạch từ bên ngoài vào và 1 lỗ
để không khí từ buồng đi ra Không khí trong hệ thống chỉ lưu thông theo 1 chiều nhờ bơm hút khí gắn với lỗ đưa khí ra Hệ thống bơm này thổi không khí đi qua một thiết
bị đo lưu lượng để xác định tổng lượng khí được hút ra khỏi buồng hô hấp và lưu vào máy tính nhờ phần mềm ghi chép và lưu giữ số liệu chuyên dụng Ngoài ra một máy phân tích nồng độ khí methane cũng được lắp đặt để tự động lấy mẫu và phân tích nồng độ khí methane theo chu kỳ 5 phút/lần đối với luồng không khí đi ra từ hệ thống (đã có methane do gia súc thải ra) và 20 phút/ lần đối với mẫu không khí sạch đi vào
Khi gia súc được nuôi nhốt hoặc gắn hệ thống này, methane thải ra sẽ hòa cùng không khí xung quanh đầu con vật và được hút ra theo hệ thống bơm nói trên Tổng lượng khí methane mà gia súc thí nghiệm sản sinh ra được xác định từ số liệu ghi chép của máy phân tích nồng độ khí methane và thiết bị xác định tổng lưu lượng khí đi ra khỏi hệ thống Mẫu khí được thu thập 2 ngày liên tục ở hai thời điểm: bắt đầu thí nghiệm (sau 15 ngày nuôi thích nghi) và kết thúc thí nghiệm, trong mỗi thời điểm mẫu khí được lấy 2 ngày liên tục, mỗi ngày 2 lần (trước và sau khi ăn buổi sáng)
- Lượng khí methane sản sinh trên mỗi kg tăng trọng (MPG) của bò thí nghiệm: để xác định được mỗi kg tăng trọng bò sản sinh bao nhiêu khí methan khi
ăn khẩu phần nhất định ta tính theo công thức sau:
MPG (l/kg tăng trọng) = Tổng lượng khí methane sản sinh hàng ngày
Tăng trọng hàng ngày của bò
- Lượng khí CO2 phát thải/ngày (A) được ước tính từ tổng lượng ME ăn vào
và tổng lượng nhiệt sản sinh theo công thức:
A (lít/ngày) = HP (KJ)/21,75 Trong đó: Tổng lượng nhiệt sản sinh (HP) (KJ) = ME ăn vào (KJ) – (kg tăng trọng x 20.000 KJ/kg tăng trọng)
Quy đổi khí methane ra năng lượng thô theo phương pháp Brouwer (1965)[30], cứ 1 lít CH4 tương đương 0,71 gram CH4; tương đương 0,04 MJ năng lượng thô (GE)
Trang 372.4.3 Phân tích thành phần hóa học của mẫu
Lấy mẫu thức ăn, thức ăn thừa, thức ăn tinh để phân tích thành phần dinh dưỡng, cụ thể như sau:
+ Phương pháp lấy mẫu theo phương pháp TCVN 4325-2007 [17]
+ Vật chất khô của các mẫu được xác định theo TCVN: 4326-2001 [16] + Hàm lượng protein thô được xác định theo TCVN: 4328-1-2007 [18] + Hàm lượng xơ tổng số được tiến hành theo TCVN: 4329-2007 [19]
+ Hàm lượng lipit được tiến hành theo TCVN: 4331-2001 [15]
+ Hàm lượng khoáng tổng số được tiến hành theo TCVN: 4327-2007) [20] + Xơ không hòa tan trong môi trường trung tính (NDF): AOAC 973.18.01 [27] + Xơ không hòa tan trong môi trường axit (ADF): AOAC 973.18.01 [27] + Tanin tổng số được phân tích theo phương pháp của AOAC (1975)[28] + Năng lượng thô của thức ăn được tính theo phương trình của NRC (1998)[50] như sau:
GE (Kcal/kgTA) = 4143 + (56*%EE) + (15*%CP) - (44*%Ash)
- Giá trị trung bình: Mean ( X )
- Sai số trung bình: Se ( mx)
- So sánh sai khác số trung bình P (Sig.)
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Ảnh hưởng của các mức bổ sung tanin và dầu thực vật đến khả năng tiêu hóa thức ăn
3.1.1 Ảnh hưởng của các mức bổ sung tanin và dầu thực vật đến khối lượng thức ăn và các chất dinh dưỡng thu nhận
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các mức bổ sung dầu thực vật và tanin tới khối lượng thức ăn thu nhận của bò thí nghiệm được thể hiện thông qua các bảng 3.1; 3.2; 3.3; 3.4; 3.5 và 3.6 như sau:
Bảng 3.1: Khối lượng thức ăn thu nhận của bò thí nghiệm
So sánh giữa các lô thí nghiệm ta thấy giai đoạn 1-30 ngày thí nghiệm lô ĐC
có tiêu thụ thấp nhất 7,95 kg/con/ngày, cao nhất là lô TN4 8,18 kg/con/ngày Tính chung cả giai đoạn 0-90 ngày thí nghiệm lô TN4 có tiêu thụ thức ăn cao nhất 9,53 kg/con/ngày So sánh giữa các lô bổ sung tanin và dầu thực vật với các mức khác nhau ta thấy lô TN1 và TN2 có mức tiêu thụ thức ăn cả giai đoạn thí nghiệm bằng
Trang 39nhau 9,43 kg/con/ngày Như vậy bổ sung tanin ở mức thấp có tác dụng giảm tiêu thụ thức ăn so với bổ sung mức cao, nhưng vẫn cao hơn lô không đối chứng
Bảng 3.2: Khối lượng vật chất khô thu nhận và so sánh với khối lượng đầu kỳ
%DM, có lượng thức ăn thu nhận cao nhất 4,26 kg/ngày, lô TN1 bổ sung tanin mức 0,3 %DM và dầu 1,5 %DM có lượng thức ăn thu nhận 4,16 kg/ngày; lô TN2 bổ sung tanin mức 0,3 %DM và dầu 3 %DM có lượng thức ăn thu nhận 2,2 kg/ngày
Như vậy có thể thấy khi bổ sung dầu thực vật và tanin với các mức độ khác nhau đã ảnh hưởng đến lượng thức ăn thu nhận của bò, cụ thể lượng thức ăn thu nhận có chiều hướng tăng lên khi tăng mức bổ sung tanin trong thức ăn (P<0,05)
Trang 40So sánh tỷ lệ (%) giữa vật chất khô thu nhận và khối lượng bò đầu thời điểm thí nghiệm ta thấy, lô TN4 (tanin 0,5 %DM, dầu thực vật 3 %DM) có tỷ lệ cao nhất 2,11% (Giai đoạn 0-30 ngày TN) thấp nhất là lô TN1 với tỷ lệ 2,04% So sánh giữa các lô thí nghiệm khi bổ sung tanin và dầu thực vật ở các mức khác nhau thấy khi
bổ sung tanin và dầu thực vật ở mức độ cùng thấp lô TN1 (tanin 0,3 %DM, dầu thực vật 1,5 %DM) hoặc mức độ cùng cao lô TN4 (tanin 0,5 %DM, dầu thực vật 3
%DM) có tỷ lệ vật chất khô thu nhận so với khối lượng bò đều ở mức cao, lần lượt
là 2,24% và 2,25% (giai đoạn 61-90 ngày TN) Khi bổ sung tanin và dầu thực vật ở mức độ thấp và cao khác nhau đã có tác dụng giảm đáng kể tỷ lệ vật chất khô thu nhận so với khối lượng cơ thể, cụ thể lô TN2 là 2,2% và lô TN3 là 2,18% (P>0,05)
Kết quả trong nghiên cứu này thấp hơn kết quả đã công bố của Đỗ Thị Thanh Vân và cs (2016)[25] là 2,35% khối lượng cơ thể; tác giả Hoàng Kim Vũ (2011)[26] là 2,42% khối lượng cơ thể; kết quả nghiên cứu của Văn Tiến Dũng (2012)[7] là 2,77% khối lượng cơ thể Theo tiêu chuẩn ăn của Kearl (1982)[38] cho
bò có khối lượng 300-450 kg và tăng khối lượng 1-1,1 kg/con/ngày thì tổng mức vật chất khô theo nhu cầu tương đương 2,4% khối lượng cơ thể
Bảng 3.3: Khối lượng protein thô thu nhận của bò thí nghiệm