Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến chất lượng tinh dịch và tỷ lệ ấp nở .... Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến chất lượng tinh dịch và tỷ lệ ấp nở ...
Trang 1DƯƠNG THỊ KHUYÊN
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TINH DỊCH VÀ HIỆU QUẢ THỤ TINH NHÂN TẠO CHO GÀ CÁY CỦM
TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Trần Văn Phùng
2 TS Bùi Thị Thơm
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được ghi nhận, cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 9 năm 2017
Tác giả luận văn
Dương Thị Khuyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân, đơn vị
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Trần Văn Phùng, cô TS Bùi Thị Thơm - Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên những người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập
Tôi xin gửi tới các thầy giáo, cô giáo trong trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói chung, khoa Chăn nuôi thú y nói riêng, những người đã giúp đỡ, giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Chi nhành Nghiên cứu phát triển động thực vật bản địa - Công ty Cổ phần khai khoáng miền núi và toàn thể cán bộ công nhân viên của Chi nhánh những người luôn giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này
Xin bày tỏ lòng biết ơn tới người thân, bạn bè và đồng nghiệp luôn ở bên tôi, luôn giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và thực tập tại cơ sở
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 9 năm 2017
Học viên
Dương Thị Khuyên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giới thiệu về giống gà Cáy Củm 3
1.2 Cơ sở nghiên cứu về tinh dịch và tinh trùng gà 4
1.2.1 Sinh lý sinh dục của gà trống 4
1.2.2 Một số đặc tính sinh lý của tinh trùng 7
1.2.3 Một số chỉ tiêu chất lượng tinh dịch gà 10
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tinh dịch 11
1.3 Cơ sở nghiên cứu về thụ tinh nhân tạo gà 12
1.3.1 Cấu tạo cơ quan sinh sản gà mái 12
1.3.2 Sinh lý sinh sản gà mái 13
1.3.3 Nguyên lý, kỹ thuật thụ tinh nhân tạo cho gà mái 15
1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 16
1.4.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 15
1.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 19
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẬM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 22
2.3 Nội dung nghiên cứu 22
2.4 Phương pháp nghiên cứu 22
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu chất lượng tinh dịch 22
Trang 62.4.2 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến chất lượng
tinh dịch và tỷ lệ ấp nở 26
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu hiệu quả của thụ tinh nhân tạo cho gà Cáy Củm sinh sản 22
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 29
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Kết quả đánh giá chất lượng tinh dịch của gà Cáy Củm 30
3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến chất lượng tinh dịch và tỷ lệ ấp nở 32
3.2.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến chất lượng tinh dịch 32
3.2.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến tỷ lệ ấp nở 43
3.3 Kết quả nghiên cứu hiệu quả của thụ tinh nhân tạo cho gà Cáy Củm 52
KẾT LUẬN VÀ ĐỀN NGHỊ 57
1 Kết luận 57
2 Đề nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC 64
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VAC : Tổng số tinh trùng tiến thẳng trong một lần xuất tinh
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả đánh giá chất lượng tinh dịch gà Cáy Củm 30
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của tuổi gà trống đến chất lượng tinh dịch 33
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của mùa vụ đến chất lượng tinh dịch 35
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của tần suất khai thác đến chất lượng tinh dịch 38
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của tỷ lệ pha loãng đến chất lượng tinh dịch 41
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản đến chất lượng tinh dịch 43
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của tuổi gà trống đến tỷ lệ ấp nở 45
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của mùa vụ đến tỷ lệ ấp nở 47
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của tần suất khai thác tinh dịch đến tỷ lệ ấp nở 48
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của tỷ lệ pha loãng tinh dịch đến tỷ lệ ấp nở 50
Bảng 3.11 Kết quả so sánh thụ tinh nhân tạo với giao phối tự nhiên vụ Hè thu 52
Bảng 3.12 Kết quả so sánh thụ tinh nhân tạo với phối giống tự nhiên vụ đông xuân 54
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Ở nước ta, từ khi nhập khẩu các giống vật nuôi có năng suất cao thì cũng
là lúc rất nhiều giống vật nuôi truyền thống đang bị thu hẹp về không gian phân
bố, giảm dần số lượng và có nguy cơ tuyệt chủng như lợn Ỉ, lợn cỏ Thanh Hoá,
gà Hồ… Trong đó gà Cáy Củm cũng là một trong những giống vật nuôi nói trên Đây là giống gà được cộng đồng người Dao, người H’Mông sống tại vùng núi cao như Hoàng Su Phì - Hà Giang và một số xã thuộc huyện Hòa An, Trà Lĩnh tỉnh Cao Bằng… nuôi từ nhiều đời nay Đây là một trong những nguồn gen quý cần được bảo tồn và phát triển Vì vậy, giống gà này đã và đang được nhà nước quan tâm đầu tư gìn giữ, nhân giống tại một số hộ thuộc các huyện miền núi và một số cơ sở nghiên cứu của tỉnh Thái Nguyên
Giống gà Cáy Củm có cấu tạo giải phẫu đặc biệt, không có phao câu, chùm lông đuôi thường cụp xuống che lấp lỗ huyệt của gà mái nên việc giao phối tự nhiên của gà trống gặp nhiều khó khăn dẫn đến tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ
nở rất thấp Đã có nhiều giải pháp để nâng cao khả năng sinh sản cho giống gà này, nhưng hiệu quả không được như mong đợi
Thụ tinh nhân tạo cho gia cầm đã được tiến hành trên thế giới từ hơn 100 năm nay Nhưng nó chỉ được áp dụng rộng rãi sau khi Burrows và Quinn mô tả
kỹ thuật lấy tinh dịch của gà trống và thụ tinh cho gà mái vào năm 1936 Sau
đó, có rất nhiều nghiên cứu về thụ tinh nhân tạo và chất lượng tinh dịch Các phương pháp bảo quản tinh trùng được các nhà khoa học nghiên cứu cả về chiều rộng và chiều sâu Mặc dù những nghiên cứu đầu tiên về bảo quản tinh dịch gia cầm trong môi trường lạnh được Shaffner và cộng sự công bố năm
1941, nhưng phải sau đó hơn 40 năm thì người ta mới quan tâm và nghiên cứu nhiều (Trích theo Robert, 1999) [43] Và cho đến nay, do sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng của các giống gia cầm bản địa mà việc đánh giá và lưu trữ tinh trùng gia cầm được khuyến khích đầu tư nghiên cứu nhiều hơn
Trang 10Với số lượng còn lại không nhiều do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong
đó có nguyên nhân cấu tạo cơ thể không có phao câu của gà Cáy Củm, thì việc nghiên cứu đánh giá chất lượng tinh dịch gà trống và áp dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo cho gà Cáy Củm là chìa khóa giải quyết những khó khăn trên Do vậy,
chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá chất lượng tinh dịch và hiệu quả thụ tinh
nhân tạo cho gà Cáy Củm tại Thái Nguyên”
2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định được các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tinh dịch gà trống Cáy Củm
- Đánh giá được ảnh hưởng của một số yếu tố như độ tuổi, tần suất khai thác, mùa vụ, tỷ lệ pha loãng và thời gian bảo quản đến chất lượng tinh dịch và
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu về giống gà Cáy Củm
Gà Cáy Củm hay còn gọi là gà Cúp (gà không có phao câu), Cáy Củm là tên gọi theo dân tộc Tày Giống gà này được nuôi từ lâu đời tại một số xã vùng cao thuộc tỉnh Cao Bằng và Hà Giang Gà Cáy Củm có ngoại hình nhỏ, màu lông đa dạng, phẩm chất thịt thơm ngon và giòn hơn một số giống gà khác Là giống gà có khả năng đề kháng rất cao, được người dân coi đây là giống gà quý của địa phương
* Đặc điểm ngoại hình và tập tính
+ Ngoại hình
- Lông: Màu sắc của lông đa dạng giống gà Ri: Màu lông nâu, xám, hoa
mơ, vàng có sọc đen, ánh xanh cánh sả, đen… Lông mượt và nhiều Lúc mới nở
và còn nhỏ con trống và con mái có màu lông giống nhau Khi trưởng thành con trống: Màu lông rực rỡ, đẹp mắt, màu sắc lông đa dạng, nâu đỏ, xám, nâu, đen, ánh vàng Con mái: Màu nâu, xám, vàng nâu, đen lông mềm sang có màu nâu, xám, lông trắng sọc đen
- Đặc biệt là lông đuôi cúp xuống
- Mào: Mào đơn, mào dâu, màu đỏ
- Tầm vóc: Tầm vóc thanh gọn, thân tương đối ngắn, chân cao vừa phải, mào bé, xương nhỏ, lông xếp xít vào thân
- Màu mắt: Đen, nâu
- Màu dái tai: Trắng đỏ, trắng
- Màu sắc chân: Chủ yếu có màu vàng, có một số màu đen, nâu
- Không có phao câu
+ Đặc điểm về tập tính
Sống theo đàn, tính tình hiền lành, linh hoạt, nhanh nhẹn
* Đặc điểm về khả năng sản xuất
Trang 12Khối lượng gà trưởng thành:
Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên: 150 ngày
Sản lượng trứng: 13 – 16 quả/lứa, 130 – 150 quả/năm
Khối lượng trứng: 35 – 45 gam/ quả
Vỏ trứng thường có màu trắng, một số ít có màu nâu
Thời gian ấp nở: 21 ngày
Tỷ lệ nở là: 60-65%
1.2 Cơ sở nghiên cứu về tinh dịch và tinh trùng gà
1.2.1 Sinh lý sinh dục của gà trống
1.2.1.1 Sự thành thục về tính
Gà trưởng thành sinh dục khi cơ quan sinh sản phát triển, đã hoàn chỉnh và bắt đầu có phản xạ sinh dục Phản xạ sinh dục không điều kiện phức tạp của gia cầm cũng như của động vật có vú bao gồm: Phản xạ lại gần; Chuẩn bị cơ quan giao phối; Phản xạ giao phối; Phóng tinh
+ Phản xạ tiến lại gần và chuẩn bị cơ quan giao phối
Phản xạ tiến lại gần của con trống ở dạng chăm sóc sinh dục Gà trống có điệu nhảy sinh dục rất điệu nghệ, khi nó xoè một cánh xuống và vỗ vỗ, đi những bước rất ngắn và uyển chuyển quanh gà mái, đồng thời cất tiếng kêu đặc biệt nhằm mê hoặc con mái Dạng khác của phản xạ lại gần là săn sóc ăn uống Gà trống kiếm hạt thức ăn hoặc một vật gì đó, cũng nâng lên hạ xuống liên hồi và kêu những tiếng đặc trưng nhằm quyến rũ gà mái Khi đã tiến lại gần gà mái, cơ quan giao phối của gà trống phồng lên, nở to ra chuẩn bị cho phản xạ giao phối
Trang 13+ Phản xạ giao phối và phóng tinh
Phản xạ giao phối ở gà là sự dính sát vào nhau của 2 ổ nhớp Gà trống có thể giao phối 25 - 41 lần/ngày Nếu gà trống bị nhốt riêng, khi gặp gà mái, có thể giao phối tới 13 -29 lần/giờ Nếu hiện tượng giao phối sảy ra nhiều thì sẽ giảm lượng tinh phóng ra và nồng độ tinh trùng, nghĩa là giảm tỷ lệ thụ tinh
+ Điều hòa phản xạ sinh dục
Trung tâm thần kinh của sự phóng tinh nằm ở phần hông tuỷ sống Thần kinh phó giao cảm đi tới tận cơ quan sinh dục, kích thích những thần kinh này làm giảm sự phóng tinh, còn kích thích thần kinh giao cảm làm tăng sự phóng tinh Ở gia cầm, ngoài phản xạ không điều kiện, có thể tạo phản xạ có điều kiện
Do đó người ta thường tạo ra các phản xạ có điều kiện để khai thác tinh dịch của gia cầm trống để thụ tinh nhân tạo
1.2.1.2 Cấu tạo cơ quan sinh dục gà trống
Cơ quan sinh dục của gà trống gồm tinh hoàn, mào tinh hoàn, ống dẫn tinh
và cơ quan giao phối
+ Tinh hoàn
Tinh hoàn là cơ quan đôi, hình ôvan hoặc hình hạt đậu, màu trắng ngà, nằm trong khoang bụng, ở vị trí trước thận Ở gà trống trưởng thành, trong thời kỳ hoạt động sinh dục, tinh hoàn dài tới 4,7 cm đường kính 2,5 - 2,7 cm, khối lượng
17 - 19g Thời kỳ thay lông, khối lượng giảm còn 3 - 5g Mùa của tinh hoàn cũng thay đổi theo trạng thái sinh lý, lúc còn non tinh hoàn có màu hồng nhạt, lúc hoạt tính sinh sục cao có màu trắng (Trần Thanh Vân và cs, 2015) [14]
Tinh hoàn được bọc một lớp màng trắng, từ lớp màng này ăn sâu vào là những sợi liên kết yếu Những ống sinh tinh gấp khúc nối với nhau, tạo thành mạng lưới dày Những phần riêng biệt của ống sinh tinh hơi phình to Ở đây diễn ra sự hình thành tế bào sinh dục Gần màng đáy của ống sinh tinh là nguyên bào tinh (spermatogonium), trên nó là tinh bào sơ cấp (cấp I) và tinh bào thứ cấp (cấp II), sau
đó là tiền tinh trùng và tinh trùng Tinh trùng trưởng thành di chuyển vào vào mào tinh hoàn và vào ống dẫn tinh
Trang 14+ Mào tinh hoàn
Mào tinh hoàn của gia cầm phát triển yếu Trong mào tinh hoàn, tinh trùng tiếp tục hoàn thiện và tăng thêm khả năng thụ tinh của chúng
+ Ống dẫn tinh
Ống dẫn tinh có dạng hình ống, nhỏ, gấp khúc, thành ống cấu tạo bởi lớp niêm mạc, cơ và thanh mạc Ống dẫn tinh nối với ống dẫn của mào tinh hoàn và vào tận phần giữa của ổ nhớp Phần cuối cùng ống dẫn tinh là chỗ phình to hình bong bóng Đây là nơi tích tụ tinh dịch Cấu tạo của ống dẫn tinh thay đổi phụ thuộc vào trạng thái chức năng của bộ máy sinh dục Trong thời gian hoạt động sinh dục, ống dẫn tinh to ra, thành ống dày lên, tăng số lượng gấp khúc
+ Cơ quan giao phối
Cơ quan giao phối của gà trống không phát triển Nó chỉ là chỗ phình hình bong bóng của ống dẫn tinh, nó nở to khi có kích thích sinh dục Khi giao phối, ổ nhớp con trống áp sát với lỗ huyệt con mái Lúc này âm đạo được bộc lộ ra và tinh trùng được phóng vào lỗ huyệt của con mái
1.2.1.3 Các tuyến sinh dục phụ
Tuyến tinh nang: tuyến tinh nang là một cái túi rỗng để chứa tinh thanh, gồm hai tuyến hình trứng, màu vàng nhạt, nằm trong xoang chậu, trên ống dẫn tinh Tuyến tinh nang tiết ra một chất keo màu trắng hoặc vàng Khi vào đường sinh dục gà mái, chất keo này gặp dịch tiết của tuyến tiền liệt thì kết lại tạo thành một cái nút đóng cổ tử cung sau giao phối, mục đích không cho tinh trùng chảy ngược ra ngoài Chất keo này còn có thành phần glucoza, axit béo tăng cường dinh dưỡng, hoạt lực cho tinh trùng
Tuyến tiền liệt: Tuyến tiền liệt nằm ở phần cuối của ống dẫn tinh và phần đầu của niệu đạo Tuyến tiền liệt có nhiều lỗ đổ vào niệu đạo, dịch tiết của tuyến không trong suốt, có tính kiềm nhằm tác dụng trung hòa độ axit trong lòng niệu đạo và H2CO3 (axit cacbonic) do tinh trùng sản sinh ra trong quá trình hoạt động Tuyến tiền liệt phát triển theo lứa tuổi của gia cầm Gia cầm non thì tuyến tiên
Trang 15liệt bé, gia cầm trưởng thành thì tuyến tiền liệt phát triển to đồng thời cũng teo đi khi đã già
1.2.2 Một số đặc tính sinh lý của tinh trùng
1.2.2.1 Sự hình thành và cấu tạo của tinh trùng gà
a, Sự hình thành tinh trùng
Quá trình phát triển tế bào sinh dục đực được chia làm 4 giai đoạn: sinh sản, sinh trưởng, trưởng thành và chín Tất cả các giai đoạn này có sự cấu trúc lại thể nhiễm sắc của nhân tế bào sinh dục và giảm số lượng nhiễm sắc thể Do đó, trong tinh trùng cũng như trong tế bào trứng đều có bộ nhiễm sắc thể đơn bội
- Trong giai đoạn sinh sản, nguyên bào ở màng đáy thành ống được phân chia nhiều lần bằng cách gián phân nhằm làm tăng số lượng Sau đó, chúng ngừng sinh sản và bắt đầu vào giai đoạn thứ hai - giai đoạn sinh trưởng
- Giai đoạn sinh trưởng, tế bào tăng về kích thước những tế bào như vậy gọi
là tinh bào thứ nhất Trong nhân những tế bào này, thể nhiễm sắc của nhân hình thành từng cặp, sau đó xảy ra quá trình tiếp hợp nhiễm sắc Trong thời điểm này, chất dinh dưỡng vào nguyên bào chậm dần và giai đoạn sinh trưởng cũng không được tiến hành nữa
- Giai đoạn trưởng thành: Giai đoạn này gồm hai lần phân chia liên tiếp Sau lần chia thứ nhất, mỗi tinh bào thứ nhất tạo thành 2 tinh bào thứ hai Sau đó bắt đầu phân chia lần thứ hai và mỗi tinh bào thứ hai tạo thành hai tế bào mới - tiền tinh trùng, trong nhân của nó có bộ nhiễm sắc thể đơn bội (1n) Tiền tinh trùng có hình cầu và nhân tròn
- Giai đoạn chín: Tiền tinh trùng dần dần phát triển thành tinh trùng Nhân lệch về một phía Tương bào dài ra Tâm tế bào nằm vuông góc với bề mặt của nhân Nhân được bao phủ chỉ bởi một lớp mỏng tương bào Phần này của tế bào tạo thành phần đầu tinh trùng Trong phần kéo dài của tế bào hình thành đuôi, quanh nó có tương bào co bóp được Tinh trùng hình thành hoàn chỉnh được bao bọc đầu (chỏm) trong tương bào tế bào sertoli, nơi mà sau một thời gian ngắn,
Trang 16tinh trùng hoàn thiện, sau đó từ ống sinh tinh gấp khúc, tinh trùng đi vào mào tinh hoàn và vào ống dẫn tinh
b, Cấu tạo tinh trùng
Tinh trùng gia cầm, cũng như của động vật có vú đều có cấu trúc giống nhau: đầu, cổ, thân và đuôi Các loại gia cầm khác nhau thì tinh trùng của chúng khác nhau về chiều dài và hình dạng của đầu
Đầu tinh trùng gà dài, trên phần chỏm thì nhọn Đầu tất cả các loại tinh trùng đều có hình mũ chụp và chứa nhân đồng nhất Phía trước nhân có tiểu thể nhỏ, tiểu thể này là sản phẩm của bộ Golgi Cổ - phần không lớn lắm, hơi bị thắt lại, nối với đầu và thân Phía trên cổ, ở dưới nhân có trung thể Gần nó là nơi bắt đầu sợi trục, sợi này cấu tạo bởi những sợi fibrin nhỏ kéo dài xuống tới đuôi Quanh trục này có 2 sợi fibrin quấn quanh như hình lò xo Hai sợi này dễ tách ra
ở thân và đuôi Phần tròn của đuôi chỉ có sợi trục, bao quanh nó là một lớp mỏng bào tương Phần tạo ra cử động chính của tinh trùng là sợi trục Càng gần tới phần cuối của đuôi, độ cong và tốc độ chuyển động sóng của sợi trục càng ít
1.2.2.2 Hoạt động của tinh trùng
Tinh trùng gia cầm cũng như của những động vật thụ tinh trong, đều chuyển động thẳng do những chuyển động quay quanh trục dọc của đuôi Tốc độ chuyển động của tinh trùng gia cầm trung bình là 1 - 1,5 mm/phút Tính chuyển động của tinh trùng chỉ tồn tại trong những điều kiện thích hợp, quan trọng nhất
là nhiệt độ và pH môi trường Ở nhiệt độ trên 48oC và 0°C gây ảnh hưởng không tốt Môi trường thích hợp nhất là trung tính, kiềm yếu hoặc axit yếu
Khối lượng tinh phóng ra và nồng độ tinh trùng là những chỉ số đánh giá chức năng của dịch hoàn, phụ thuộc vào đặc điểm cá thể của con trống, số lần giao phối, mùa trong năm và những yếu tố khác Kết quả cho thấy rằng, trong suốt một ngày đêm, lượng tinh trùng sản xuất ra không bằng nhau, tăng lên vào ban đêm và sáng sớm, ban ngày sự tạo tinh trùng giảm Số lượng và chất lượng tinh trùng trong tinh dịch phóng ra của con trống, phụ thuộc vào tỷ lệ trống mái trong đàn
Trang 17Khối lượng tinh phóng ra của con trống khi giao phối không giống nhau ở các loại gia cầm khác nhau Gà trống trong 1 lần giao phối phóng ra 0,5 - 1ml tinh dịch, trong 1 ml tinh có 3 - 5 tỷ tinh trùng; ngỗng trống có lượng tinh phóng
ra là 0,1 - 2ml với nồng độ 0,1 – 0,2 tỷ tinh trùng/ml; vịt đực 0,1 - 1ml và 2 - 4 tỷ/ml Tinh trùng gà trống màu trắng, pH = 7,04 - 7,27; của vịt đực pH = 6,6 - 7,8 (Nguyễn Tấn Anh, 2003) [1]
1.2.2.3 Trao đổi chất và năng lượng của tinh trùng
Quá trình trao đổi chất và năng lượng ở tinh trùng gồm có: năng lượng tiêu hao do sự co rút của phần đuôi tinh trùng trong quá trình vận động và năng lượng tạo ra do sự phân giải các hợp chất dự trữ trong tinh trùng Sự phân giải các hợp chất cao năng ADP và ATP để cung cấp năng lượng cho các hoạt động của tinh trùng Ngoài ra, năng lượng của tinh trùng được tạo ra do quá trình đường phân và hô hấp Quá trình đường phân, giúp cho tinh trùng có thể sống và hoạt động trong điều kiện không có oxy nhưng có đường glucose
Quá trình hô hấp xảy ra trong điều kiện có oxy và giải phóng nhiều năng lượng hơn Trong môi trường có oxy, quá trình hô hấp của tinh trùng diễn ra mạnh mẽ hơn Tuy nhiên, lượng các chất dự trữ có trong tinh trùng không nhiều,
vì vậy làm cho thời gian sống của tinh trùng ngắn Do đó, muốn kéo dài thời gian sống của tinh trùng ngoài cơ thể thì cần bảo quản tinh dịch trong môi trường yếm khí (Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn, 2006) [10]
Khi hô hấp, không những chất đường được oxy hoá mà cả chất béo, các axit amin cũng được oxy hoá Quá trình hô hấp được tăng lên bởi nhiệt độ Cứ tăng lên
10oC thì quá trình hô hấp tăng lên 2 - 2,5 lần Điều này, có liên quan đến việc bảo quản tinh dịch ở nhiệt độ phù hợp Nếu nhiệt độ tăng quá cao, sự hô hấp của tinh trùng tăng lên và làm chúng nhanh bị chết do đó không bảo quản được lâu
Trao đổi chất của tinh trùng luôn luôn biến động theo sự biến thiên của môi trường ngoại cảnh, theo thời gian lượng Fructose giảm dần, axit lactic tích tụ lại rồi CO2 làm giảm pH Từ đó, tác động xấu đến quá trình trao đổi chất của tinh
Trang 18trùng, làm tinh trùng già cỗi, sự tiêu thụ O2 chỉ đạt tối đa khi tinh trùng còn tươi
Sự già cỗi của tinh trùng dần tạo nên nguy cơ về hình thái tinh trùng, acrosome biến dạng và biến mất Tinh trùng có thể mất khả năng vận động và chết sau khi acrosome nổi lên những mụn nước, làm vỡ màng sinh chất và chất liệu acrosome trào ra ngoài
1.2.3 Một số chỉ tiêu chất lượng tinh dịch gà
1.2.3.1 Thể tích tinh dịch
Thể tích tinh dịch là số ml tinh dịch trong một lần thực hiện thành công phản xạ xuất tinh Thể tích tinh dịch phụ thuộc vào yếu tố: giống, loài, độ tuổi,
cá thể, kỹ thuật khai thác tinh, tần suất lấy tinh và mùa vụ lấy tinh
1.2.3.2 Hoạt động của tinh trùng
Hoạt động của tinh trùng: M (Motility %) là tỷ lệ phần trăm số tinh trùng có hoạt động, bao gồm: hoạt động tiến thẳng và hoạt động tại chỗ
Hoạt động tiến thẳng của tinh trùng: hoạt lực của tinh trùng (Progessive motility %)
Là tỷ lệ phần trăm số tinh trùng có hoạt động tiến thẳng Hoạt lực tinh trùng càng cao chất lượng tinh trùng càng tốt và khả năng thụ thai càng lớn, sức sống của tinh trùng có ảnh hưởng đến sức sống của đời sau Hoạt lực tinh trùng càng cao thì khả năng thụ thai càng cao Theo Eliasson (trích theo Nguyễn Tấn Anh, 2003) [1], hoạt lực và sức sống của tinh trùng phụ thuộc vào tỷ lệ thích hợp giữa các dịch tiết của tuyến tiền liệt
Hoạt động tại chỗ: L (Local motility %) là tỷ lệ phần trăm số tinh trùng có hoạt động vòng tròn, lắc lư tại chỗ
1.2.3.3 Nồng độ tinh trùng C (tỷ/ml)
Nồng độ tinh trùng là số tinh trùng có trong 1 ml tinh nguyên Nồng độ tinh trùng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tinh dịch, là cơ sở để tính toán liều tinh sản xuất
Trang 191.2.3.4 Tổng số tinh trùng tiến thẳng trong tinh dịch VAC (triệu/lần)
Tổng số tinh trùng tiến thẳng cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tinh dịch Số lượng này càng lớn thì chất lượng tinh trùng càng tốt
1.2.3.5 Độ pH của tinh dịch
pH được xác định bởi nồng độ ion H+ trong tinh dịch pH của tinh dịch liên quan đến khả năng sống và thụ tinh của tinh trùng pH của tinh dịch toan tính thì tinh trùng hoạt động yếu, thời gian sống kéo dài Ngược lại, pH của tinh dịch kiềm tính thì tinh trùng hoạt động mạnh, thời gian sống bị rút ngắn
1.2.3.6 Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình
Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình là số tinh trùng có hình dạng bất thường so với số tinh trùng không kỳ hình đếm được trong quá trình kiểm tra
Theo Milovanov (1962) (trích theo Nguyễn Tấn Anh, 2003) [1], nhận thấy
có hai thời kỳ có thể gây nên tình trạng kỳ hình ở tinh trùng:
- Kỳ hình ngay trong quá trình sinh tinh - tinh trùng kỳ hình sơ cấp, bắt nguồn từ nguyên nhân có liên quan đến bệnh lý ở cơ quan sinh tinh
- Sau khi tinh trùng được bài tiết ra - tinh trùng kỳ hình thứ cấp, bắt nguồn
từ nguyên nhân có liên quan đến ngoại cảnh hoặc kỹ thuật không đúng trong khâu xử lý tinh dịch
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tinh dịch
1.2.4.1 Giống và độ tuổi
- Mỗi giống gia cầm khác nhau có chất lượng tinh dịch cũng khác nhau
Trong cùng một giống nhưng vẫn có những cá thể có chất lượng tinh dịch cao hơn trung bình của giống
- Tuổi: Tinh trùng có sức sống mạnh nhất vào thời kỳ thành thục thể vóc, tuổi càng cao thì sức sống giảm đi
1.2.4.2 Yếu tố dinh dưỡng
Đây là nhân tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng tinh dịch Số lượng và chất lượng tinh trùng phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng
và việc đáp ứng nhu cầu về vitamin và khoáng chất
Trang 20Vật chất cấu tạo chủ yếu của tinh trùng là protein, vì vậy nó là yếu tố dinh dưỡng quan trọng, ảnh hưởng sâu sắc tới sự hình thành và chất lượng của tinh trùng Ngoài ra các vitamin E, vitamin A và vitamin D là những vitamin cần thiết cho sự hình thành và nâng cao chất lượng của tinh trùng
1.2.4.3 Yếu tố chăm sóc, quản lý
Gà trống, cần có chế độ chăm sóc riêng so với gà khác Bố trí tỷ lệ trống/mái phù hợp, tỷ lệ này cao thì gà trống đánh chọi nhau, còn tỷ lệ thấp thì dẫn đến hoạt động quá sức
Mặt khác theo tác giả Đào Đức Thà (2006) [9], gà trống được huấn luyện lấy tinh theo phương pháp mát xa có chất lượng tinh dịch tốt hơn gà không được huấn luyện
1.2.4.4 Yếu tố môi trường (mùa vụ, nhiệt độ, ánh sáng…)
Các yếu tố về mùa vụ, nhiệt độ, ánh sáng cũng ảnh hưởng tới chất lượng tinh dịch Sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ dễ gây ra strees ảnh hưởng đến cơ chế điều hòa sinh dục Nhiệt độ môi trường càng cao chất lượng tinh dịch cũng kém hơn nhiệt độ thấp
1.3 Cơ sở nghiên cứu về thụ tinh nhân tạo gà
1.3.1 Cấu tạo cơ quan sinh sản gà mái
1.3.1.1 Buồng trứng
Buồng trứng nằm ở phía trái của khoang bụng, về phía trước và hơi thấp hơn thận trái, được đỡ bằng các nếp gấp của màng bụng từ trên xuống Kích thước và hình dạng buồng trứng phụ thuộc vào trạng thái chức năng và tuổi gia cầm Ở gà trong thời kỳ đẻ mạnh, buồng trứng có hình chùm nho, khối lượng đạt 55g, vào thời kỳ thay lông, khối lượng buồng trứng giảm còn 5g (Trần Thanh Vân và cs, 2015) [14]
Buồng trứng có miền vỏ và miền tuỷ Bề mặt vỏ được phủ bằng một lớp biểu mô có lớp tế bào hình trụ hay lăng trụ thấp Dưới chúng có 2 lớp nang với các tế bào trứng Chất tuỷ được cấu tạo từ mô liên kết, có nhiều mạch máu và dây thần kinh Trong chất tuỷ có những khoang được phủ bằng biểu mô dẹt và tế bào kẽ
Trang 211.3.1.2 Ống dẫn trứng
Ống dẫn trứng có hình ống, ở đó xảy ra việc thụ tinh và hình thành vỏ trứng Kích thước ống dẫn trứng thay đổi theo lứa tuổi và tình trạng hoạt động của hệ sinh dục Ở gia cầm thành thục sinh dục, ống dẫn trứng có 5 phần sau: phễu, phần lòng trắng, cổ, tử cung và âm đạo
- Phễu: là phần mở rộng của phía đầu ống dẫn trứng, dài 4 - 7cm, đường kính
8 - 9cm, nằm dưới buồng trứng Bề mặt niêm mạc phễu xếp nếp, không có tuyến
- Phần tạo lòng trắng - là phần dài nhất của ống dẫn trứng, khi gà đẻ mạnh, phần này dài đến 30 - 50cm Niêm mạc của ống có 15-25 nếp xếp dọc Chất tiết của tuyến là lòng trắng, bao quanh lòng đỏ, chúng gồm nhiều lớp: phía trong đặc, phía ngoài loãng
- Cổ (eo) là phần hẹp lại của ống dẫn trứng, dài 8cm Niêm mạc có những nếp xếp nhỏ Ở đây hình thành màng dưới vỏ cứng Hình dạng của trứng được quyết định ở đây Trứng nằm trong đoạn eo gần 1 giờ
- Tử cung là đoạn tiếp theo của eo, đó là phần mở rộng, thành dày, chiều dài 10 - 12cm
- Âm đạo là đoạn cuối cùng của ống dẫn trứng, nơi đó có van cơ Âm đạo dài 7 - 12 cm sản xuất ra dịch, tham gia vào sự hình thành lớp màng trên vỏ Âm đạo có lớp cơ phát triển, nhất là lớp cơ vòng, nhờ sự co bóp của lớp cơ này, mà quả trứng được đẩy ra ngoài qua lỗ huyệt
1.3.2 Sinh lý sinh sản gà mái
1.3.2.1 Sự tạo trứng
Sự phát triển tế bào trứng có 3 thời kỳ: sinh sản, sinh trưởng và chín
- Thời kỳ sinh sản xảy ra trong quá trình phát triển phôi và kết thúc khi gà
nở Sau khi kết thúc quá trình sinh sản, các tế bào sinh dục được hình thành gọi
là noãn bào cấp I (Bakst và Dymond, 2013) [18]
- Thời kỳ sinh trưởng được chia thành thời kỳ sinh trưởng nhỏ và thời kỳ sinh trưởng lớn Thời kỳ sinh trưởng nhỏ, kéo dài từ khi gà nở đến khi thành thục sinh dục Thời kỳ sinh trưởng lớn dài 4 - 13 ngày và đặc trưng bằng sự lớn
Trang 22rất nhanh của lòng đỏ chiếm 90-95% khối lượng tế bào trứng Đặc biệt lòng đỏ được tích luỹ mạnh vào ngày thứ 9 và 4 ngày trước khi trứng rụng
- Thời kỳ chín của noãn bào: xảy ra 2 lần phân chia liên tiếp của tế bào sinh dục, số nhiễm sắc thể giảm đi 2 lần, vì vậy sự phân chia này được gọi là giảm nhiễm hay phân bào giảm nhiễm
Sự rụng trứng là quá trình thoát khỏi buồng trứng của tế bào trứng chín Tế bào trứng sau khi rụng sẽ rơi vào phễu của ống dẫn trứng Sự rụng trứng ở gà xảy ra một lần trong ngày, thường là sau khi gà đẻ trứng 30 phút Trứng bị giữ lại trong ống dẫn trứng làm ngừng trệ sự rụng trứng tiếp theo Sự rụng trứng ở gà thường xảy ra trong thời gian từ 2 tới 14 giờ hàng ngày Sự rụng trứng ở gia cầm chịu sự điều khiển của các nhân tố hormone Các hormone FSH và LH kích thích
sự sinh trưởng và sự chín của các tế bào sinh dục trong buồng trứng
1.3.2.2 Sự hình thành trứng trong ống dẫn trứng
Sau khi phễu bắt được tế bào trứng, lòng đỏ nằm ở phễu khoảng 15-29 phút Lớp lòng trắng đầu tiên được bao bọc xung quanh tế bào trứng tiết ra ở cổ phễu Từ đây tạo ra 2 cuộn dây chằng ở 2 đầu lòng đỏ, có tác dụng giữ cho lòng
đỏ luôn nằm ở tâm trứng Trên các nếp nhăn của phễu thường có rất nhiều tinh trùng và thụ tinh ngay khi gặp lòng đỏ vừa rụng xuống
Phần tạo lòng trắng - là phần dài nhất của ống dẫn trứng Chất tiết của tuyến
là lòng trắng, bao quanh lòng đỏ, chúng gồm nhiều lớp: phía trong đặc, phía ngoài loãng Thời gian trứng ở trong phần tạo lòng trắng không quá 3 giờ
Sự tạo vỏ trứng được hình thành do chất tiết của tử cung Vỏ trứng được cấu tạo từ cốt hữu cơ và chất trung gian Cốt được hình thành bằng những sợi protein dạng colagen nhỏ chồng chéo lên nhau Chất trung gian cấu tạo từ những muối canxi ở dạng hợp nhất không tan - canxi cacbonat (99%) và canxi photphat (1%) Sự tổng hợp chất tạo vỏ trứng được tiến hành trong suốt thời gian trứng nằm ở tử cung (18 - 20 giờ)
1.3.2.3 Đẻ trứng
Động tác đẻ trứng là phản xạ phức tạp Nhờ có co bóp đồng thời của cơ dạ con và cơ âm đạo nên trứng được đẩy qua ổ nhớp
Trang 23Chu kỳ đẻ trứng: là thời gian gà đẻ trứng liên tục, không nghỉ Các chu kỳ
có thể dài hoặc ngắn Thời gian kéo dài của chu kỳ phụ thuộc vào thời gian hình thành 1 quả trứng Ở gà đẻ, thời gian cần thiết để hình thành 1 quả trứng là 24 đến 28 giờ (trung bình là 25 giờ) Nếu trứng được hình thành dưới 24 giờ thì gà
đẻ liên tục (ngày một) và chu kỳ đẻ trứng có thể kéo dài (4 - 6 trứng và hơn) Nếu như trứng được hình thành trên 24 giờ thì gà sẽ đẻ cách nhật
1.3.3 Nguyên lý, kỹ thuật thụ tinh nhân tạo cho gà mái
Đối với gà mái, khoảng thời gian từ khi trứng rụng đến khi đẻ quả trứng ra ngoài mất khoảng 24-26 giờ Dựa vào đặc điểm này để bố trí thời điểm dẫn tinh thích hợp nhằm đạt tỷ lệ trứng có phôi cao Chỉ khi trứng sắp rụng thì dẫn tinh mới có kết quả Cách nhận biết biểu hiện rụng trứng: Khi buồng trứng có nhiều nang trứng chín chuẩn bị rụng, do lượng hormone tác động làm cho con mái có biều hiện như mào đỏ hơn, tìm ổ đẻ, chịu cho trống đạp mái… Trong giai đoạn này, phần cơ dưới bụng mềm hơn, độ rộng háng lớn hơn Gà mái nằm xuống vểnh đuôi lên nếu có người chạm đến (Nguyến Tấn Anh, 2003) [1]
Thụ tinh cho gà mái từ 0,1-0,3ml tinh dịch đã pha loãng Tổng số tinh trùng cần thiết trong một liều tinh 120-150 triệu tinh trùng Khoảng cách dẫn tinh thích hợp cho gà mái 3- 4 ngày/lần Thời điểm dẫn tinh thuận lợi nhất là vào buổi chiều (16-18 giờ) khi gà mái đã đẻ hết trứng Chỉ nên thu trứng ấp vào ngày thứ 3 kể từ sau khi dẫn tinh (Đào Đức Thà, 2006) [9]
1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.4.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
* Nghiên cứu về tinh dịch gia cầm
Đánh giá về tinh dịch nói chung bao gồm kiểm tra vĩ mô và vi mô Đánh giá
vĩ mô bao gồm đánh giá thể tích tinh dịch, màu sắc, mùi và pH của tinh dịch Đánh giá vi mô bằng kính hiển vi để quan sát sự chuyển động của tinh trùng, xác định nồng độ tinh trùng, tỷ lệ tinh trùng sống, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình Chỉ tiêu quan trọng nhất đánh giá chất lượng tinh dịch là nồng độ tinh trùng
Các giống gia cầm khác nhau có chất lượng tinh dịch khác nhau Theo báo cáo của Froman và cs (1995) [27], thể tích tinh dịch gia cầm dao động từ 0,4-1,0 ml, có
Trang 24độ pH 7,0-7,6, của vịt từ 0,1-1,0 ml, của chim cút từ 0,05-0,15ml Theo nghiên cứu của Iskandar và cs (2006) [31], đặc điểm của tinh trùng tươi của gà Ả Rập như sau: thể tích tinh dịch mỗi lần xuất tinh 0,30 ± 0,072 ml, tinh dịch màu trắng, tỷ lệ tinh trùng hoạt động 80%, nồng độ tinh trùng từ 2,200 ±0,372 tỷ tinh trùng/ml, pH dao động trong khoảng 6,95 ± 0, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình 14,75 ± 1,28%
Chất lượng tinh dịch có thể bị ảnh hưởng bởi tuổi tác, thời gian chiếu sáng, mùa vụ, trọng lượng cơ thể, và chế độ ăn uống cũng như kỹ thuật thu tinh dịch (Sexton, 1986; Sexton, 1987) (Trích theo Dumpala, 2006) [23] Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và số lượng tinh dịch là một hệ thống gồm yếu tố nội tiết, thức ăn, nhiệt độ và mùa, tần suất xuất tinh, ham muốn tình dục, yếu tố thể chất, tuổi tác và bệnh tật
Tinh dịch sau khi khai thác bắt đầu giảm dần chất lượng do vậy làm giảm khả năng sinh sản Thời gian tốt nhất để tiến hành pha loãng tinh dịch trong vòng 30-45 phút kể từ khi khai thác tinh dịch Pha loãng tinh dịch nhằm mục đích tăng thể tích tinh dịch, đồng thời tăng số cá thể gà mái được thụ tinh từ một gà trống, mặt khác nó còn kéo dài thời gian sống của tinh trùng trong bảo quản và lưu giữ tinh dịch (Dhama và cs, 2014) [20]
Việc lựa chọn môi trường pha loãng thích hợp sẽ đem lại hiệu quả kinh tế
và hiệu quả của thụ tinh cho chăn nuôi gia cầm Có rất nhiều chất pha loãng tinh dịch thương mại có sẵn hiện nay như Lake, Tyrode và BPSE …Tinh trùng của mỗi loại gia cầm có khả năng thích nghi tốt nhất với một loại môi trương riêng Cho đến nay, có nhiều kết quả nghiên cứu khác nhau về môi trường pha loãng tinh dịch cho mỗi loại gia cầm
Theo Donoghue và cs (1997) [21] cho rằng, tinh trùng có thể sống hiếu khí hoặc kỵ khí Tuy nhiên, với lượng oxy cao thì khả năng sống của tinh trùng càng cao, việc bổ sung chất chống oxi hóa khi pha loãng tinh dịch đã cải thiện khả năng sinh sản của gà trống
Việc lưu giữ tinh trùng gia cầm là điều cần thiết đặc biệt đối với những giống, loài có số lượng ít và có nguy cơ tuyệt trủng Các nghiên cứu bảo quản lạnh tinh trùng gia cầm đã cho kết quả khác nhau, nói chung việc lưu giữ này
Trang 25đã làm giảm đáng kể khả năng sinh sản của gia cầm (Donoghue và cs, 2000) [21] (Lake P.E, 1986; Shaffner và cs, 1941) (Trích theo Robert, 1999) [43], là những người đầu tiên nghiên cứu bảo quản lạnh tinh dịch gia cầm Tuy nhiên, nó chỉ thực sự thành công sau đó hơn 30 năm bởi những nghiên cứu của Lake và cs, 1978; Sexton,1980) (Trích theo Long, 2006) [35] Lake và cs (1986) [34] đã sử dụng mức làm lạnh thấp có bổ sung glycerol và dùng ống thủy tinh để đóng gói tinh dịch Trong khi Sexton cũng làm lạnh các mẫu từ từ nhưng sử dụng dimethyl sulfoxide (DMSO) như là chất bảo vệ lạnh và ống hút để đóng gói Cả hai phương pháp sau đó đã được tối ưu hóa bởi Seigneurin và Blesbois (1995) [44] Hai phương pháp khác cũng được công bố ở Nga, khi sử dụng phương pháp làm mát nhanh bằng cách đóng băng các tinh trùng dưới dạng tinh viên với một trong hai chất là formamid dimethyl (DMF) hoặc dimethyl acetamit (DMA)
So sánh các chất bảo quản lạnh và các phương pháp bảo quản lạnh trong điều kiện tiêu chuẩn cho thấy rằng, tỷ lệ nở cao nhất sau khi thụ tinh nhân tạo với tinh trùng đông lạnh chậm với glycerol và tinh viên đông lạnh nhanh với dimethyl acetamit Phương pháp lưu giữ với dimethyl acetamit được áp dụng trong việc lưu giữ tinh trùng các giống gia cầm địa phương tại Hà Lan Trong khi ở Pháp, phương pháp với glycerol vẫn được coi là tốt nhất cho ngân hàng gen, bởi vì nó cũng có hiệu quả với dòng sinh thấp (Blesbois, 2016) [19] Glycerol có lẽ là chất bảo vệ lạnh tốt nhất cho tinh trùng chim Tuy nhiên, nó cần phải được loại bỏ khỏi tinh dịch ít tan Điều này, có thể được thực hiện bằng cách lọc ra khỏi tinh trùng trước khi thụ tinh
* Nghiên cứu về thụ tinh nhân tạo trên gia cầm:
Thụ tinh nhân tạo cho gia cầm được nhà khoa học người Nga Ivanov thực hiện đầu tiên vào những năm 1900 Tuy nhiên, tại thời điểm đó người ta ít quan tâm đến thụ tinh nhân tạo cho gia cầm Chỉ đến năm 1936, khi Quinn và Burrows (Trích theo Robert, 1999) [43], mô tả kỹ thuật lấy tinh dịch gà trống và phối cho gà mái thì thụ tinh nhân tạo cho gia cầm mới được nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước
Trang 26Sự ra đời của TTNT gia cầm, đã nâng cao năng suất sinh sản so với giao phối tự nhiên, đồng thời nó làm tăng khả năng cải thiện di truyền bằng cách tăng
cơ hội chọn lọc, trong đó một con trống được phối giống cho hàng ngàn con mái (Gill và cs, 1996 [28]; Dhama và cs, 2007 [20]) Kỹ thuật này, được áp dụng rộng rãi với gà tây, do quá trình chọn lọc và di truyền liên tục đã làm gà tây mất dần khả năng giao phối tự nhiên Mặt khác quá trình chọn lọc đã tạo ra những con trống có khối lượng lớn nên việc giao phối tự nhiên cũng có thể dẫn đến chấn thương cho con mái
Khi nghiên cứu phương pháp thu thập tinh dịch của con trống các tác giả
Burrows và Quinn, 1937; Chelmonska và cs , 2008 (Thích theo Robert, 1999)
[43] cho biết: Trong các loài gia cầm khác nhau có cấu tạo giải phẫu của cơ quan giao cấu khác nhau dẫn đến sự thay đổi trong kỹ thuật thu thập tinh dịch Để TTNT có hiệu quả cao thì trước tiên phải có tinh dịch chất lượng tốt, được khai thác từ gà trống có tiềm năng di truyền cao Mặt khác, phải định kỳ kiểm tra chất lượng, số lượng tinh dịch của gia cầm trống trước khi phối giống cho gà mái Việc xác định thời gian TTNT thích hợp là rất quan trọng và thường được tiến hành vào buổi chiều, để giảm thiểu sự cản trở của trứng có vỏ cứng đến sự vận động của tinh trùng trong đường sinh dục con mái Tuy nhiên, Obidi và cs (2008) [38] khi nghiên cứu sự ảnh hưởng của thời gian TTNT đến khả năng sinh sản và tỷ lệ nở của giống gà Shika Brown cho biết, lô gà mái được thụ tinh lúc
10 giờ sau khi đẻ, có năng suất sinh sản và tỷ lệ nở cao hơn lô được thụ tinh lúc
15 giờ Điều này, hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Lake, (1986) [34] cho rằng, ống dẫn trứng của gà mái dễ dàng tiếp thu tinh dịch nhất là ngay sau khi trứng được đẻ ra, có nghĩa là khi không có vỏ cứng trứng trong tử cung
Với sự tiến bộ trong công nghệ TTNT ở gia cầm trong tương lai gần có thể tăng khoảng thụ tinh lên 10-14 ngày (thay vì 3-7 ngày) với nồng độ tinh trùng thấp hơn trong mỗi lần phối giống (Robert, 1999) [43] Ngoài ra, còn có cơ hội lớn nhận được chất lượng tốt của các thế hệ con cháu chuyển gen, sau khi thụ tinh của tinh trùng mang gen chuyển Đánh giá này, sẽ thảo luận về các khía
Trang 27cạnh khác nhau của TTNT ở gia cầm, các bệnh vi khuẩn có thể lây nhiễm cùng với công nghệ này và đặt ra mối đe dọa lớn về sức khỏe và sản xuất cho các nhà sản xuất gia cầm Nó cũng tập trung chiến lược phòng chống và kiểm soát thích hợp được áp dụng cho các mầm bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục
1.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
* Nghiên cứu về tinh dịch gia cầm
Các kết quả nghiên cứu về tinh dịch gia cầm ở Việt Nam chưa được công
bố nhiều Chỉ những năm gần đây, do sự suy giảm mạnh số lượng của nhiều giống gia cầm bản địa và có nguy cơ tuyệt chủng thì các nghiên cứu về chất lượng tinh dịch và thụ tinh nhân tạo cho gia cầm mới được quan tâm nhằm lưu giữ và bảo tồn nguồn gen những giống gà này
Tác giả Diệu Linh (2016) [5], khi đưa tin về kết quả nghiên cứu của Nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Duy cho biết, chất lượng tinh dịch gà Hồ có thể tích 0,63ml (dao động từ 0,2-1,2ml) Nồng độ tinh trùng của gà Hồ thu được 950,6 triệu /ml, hoạt lực tinh trùng là 57,5% Độ pH của tinh dịch gà Hồ là 7,2, màu trắng đục và trắng sữa Nghiên cứu cũng cho thấy, để lấy tinh gà Hồ cần huấn luyện lấy tinh ít nhất là 10 ngày, chất lượng tinh dịch gà Hồ nếu được khai thác theo chế độ cách nhật sẽ cao hơn chế độ khai thác hàng ngày Hoạt lực tăng từ 53,67% (khai thác liên tục) lên 65,17% (khai thác cách nhật), ngoại trừ chỉ tiêu thể tích tinh dịch Nếu tinh dịch sau khi khai thác xong được để trong môi trường bảo quản lạnh 4 – 10ºC hoạt lực tinh trùng sẽ cao hơn và đặc biệt sẽ lâu chết hơn nếu để ở môi trường nhiệt độ thường Kết quả so sánh hoạt lực tinh trùng giữa pha loãng và không pha loãng chưa thấy sự sai khác có ý nghĩa thống kê nhưng kết quả khi được pha loãng thì có xu hướng cao hơn nếu để tinh nguyên
Tinh trùng chim cũng như của động vật có vú đều có ngoại hình như nhau gồm: đầu, cổ, thân và đuôi Các loại chim khác nhau thì tinh trùng của chúng khác nhau về chiều dài và hình dạng của đầu Độ dài của tinh trùng trung bình là
40 - 60 micron, đều chuyển động thẳng do những chuyển động quay quanh trục dọc của đuôi Tốc độ chuyển động của tinh trùng chim trung bình là 1 - 1,5
Trang 28mm/phút Để chuyển động được, tinh trùng cần phải có lượng năng lượng lớn, được tạo ra ở phần giữa của đuôi khi xảy ra quá trình oxi hoá photpholipit và hidrat cacbon Tính chuyển động của tinh trùng chỉ tồn tại trong những điều kiện thích hợp, quan trọng nhất là nhiệt độ và pH môi trường Ở nhiệt độ trên 48oC và
0oC gây ảnh hưởng không tốt Môi trường thích hợp nhất là trung tính, kiềm yếu hoặc axit yếu Khối lượng tinh phóng ra của con trống khi giao phối không giống nhau ở các loại chim khác nhau Khối lượng tinh phóng ra và nồng độ tinh trùng
là những chỉ số đánh giá chức năng của dịch hoàn, phụ thuộc vào đặc điểm cá thể của con trống, số lần giao phối, mùa trong năm và những yếu tố khác Kết quả cho thấy rằng trong suốt một ngày đêm, lượng tinh trùng sản xuất ra không bằng nhau, tăng lên vào ban đêm và sáng sớm, ban ngày sự tạo tinh trùng giảm
Số lượng và chất lượng tinh trùng trong tinh dịch phóng ra của con trống phụ thuộc vào tỷ lệ trống mái trong đàn Trong quá trình nghiên cứu nhóm tác giả đã đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tinh dịch của chim bồ câu Pháp như sau: Tinh dịch có mùa trắng sữa, thể tích mỗi lần xuất tinh từ 0,1-0,12ml, hoạt lực tinh trùng 67-68%, nồng độ tinh trùng 117-122 tỷ/ml, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình 2,2-2,8%, pH 7,0 (Minh Thu, 2014) [12]
* Nghiên cứu về thụ tinh nhân tạo gia cầm
Thụ tinh nhân tạo cho gia cầm đã được áp dụng khá phổ biến ở Việt Nam trong những năm gần đây Kỹ thuật này đã được áp dụng cho vịt, gà Tre, gà Đông Tảo, gà đa cựa, gà Tiên Yên và một số giống chim cảnh quý ở Việt Nam Tuy nhiên, những nghiên cứu về kỹ thuật này chưa được công bố nhiều
Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên là một trong những đơn vị đi đầu trong công nghệ thụ tinh nhân tạo tại Việt Nam Áp dụng kỹ thuật này, các nhà nghiên cứu ở đây đã cho ra đời con lai ngan-vịt, tận hưởng được ưu điểm của cả dòng bố và dòng mẹ, cho năng suất, chất lượng thịt cao, tiêu tốn thức ăn ít Điều này, đã mở ra một hướng mới trong chăn nuôi gia cầm thương phẩm ở nước ta Khi nghiên cứu chọn lọc tạo dòng gà Ác, tác giả Trịnh Ngọc Thành (2008) [11], đã sử dụng phương pháp thụ tinh nhận tạo để tạo ra 2 dòng gà Ác qua 5 thế
Trang 29hệ chọn lọc Các dòng gà mới tạo ra, đều có năng suất cao hơn dòng cũ Tác giả cũng cho biết, thụ tinh nhân tạo giúp gia tăng tỷ lệ phối và sử dụng gà tốt trong thời gian dài hơn so với phối tự nhiên Ngoài ra, việc thụ tinh nhân tạo giúp quản
lý công tác giống một cách chặt chẽ bằng cách thụ tinh nhân tạo trên chuồng, lồng cá thể giúp kiểm soát được chính xác gia phả của gà con thế hệ sau từ những quả trứng gà giống đã được đánh dấu và cho ấp nở cá thể Quy trình thụ tinh nhân tạo trên gà Ác được thực hiện bởi chế độ lấy tinh và thụ tinh 2 tuần/lần Việc lấy tinh gà ác 2 lần/tuần tuy có ảnh hưởng đến thể tích tinh dịch nhưng lại không ảnh hưởng tới hoạt lực và nồng độ tinh trùng Tuy nhiên, sau khi lấy tinh trùng của gà Ác cần phải tiến hành thụ tinh ngay để không làm giảm hoạt lực của tinh dịch Thời gian thụ tinh được tính bắt đầu sau khi gà hết đẻ trứng trong ngày (sau 14h), dụng cụ thụ tinh phải được vệ sinh hàng ngày và dùng riêng cho từng con giống
Khi áp dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo trên gà Đông Tảo cho thấy, tỷ lệ trứng có phôi đạt 95-97%, tỷ lệ gà nở so với số trứng cho ấp đạt 75 - 80% Gà con
nở ra sinh trưởng, phát triển tốt, bảo tồn được nhiều đặc điểm quý hiếm như: chân
to, mã đẹp, thể trọng lớn, cơ cấu nuôi trống/mái trong đàn là 1/12-1/15 con Nếu
để gà sinh sản tự nhiên, tỷ lệ trứng có phôi chỉ đạt 70 - 75%, tỷ lệ gà nở so với số trứng cho ấp đạt 50-55%, cơ cấu nuôi trống/mái trong đàn là 1/6-1/7 con và chi phí đầu vào cao hơn 20-25% so với thụ tinh nhân tạo (Đức Toản, 2016) [13]
Trang 30CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Gà trống Cáy Củm
- Gà mái Cáy củm 30 tuần tuổi;
2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Chi nhánh nghiên cứu & phát triển động thực vật bản địa - Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh
Thái Nguyên
- Thời gian: Từ tháng 6/2016 đến tháng 10/2017
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá chất lượng tinh dịch gà trống Cáy Củm
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố (độ tuổi, tần suất khai thác, mùa
vụ, tỷ lệ pha loãng) đến chất lượng tinh dịch của gà trống Cáy Củm và tỷ lệ ấp
nở, chất lượng gà con
- Hiệu quả của thụ tinh nhân tạo cho gà Cáy Củm
2.4 Phương pháp thí nghiệm
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu chất lượng tinh dịch của gà trống Cáy Củm
(a) Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Số lượng gà trống theo dõi: 10 con
- Tuổi gà trống: 8-18 tháng tuổi
- Khai thác và xác định các chỉ tiêu chất lượng tinh dịch của gà trống thí nghiệm Từ đó tiến hành đánh giá chất lượng tinh dịch của gà trống Cáy Củm
- Thời gian kiểm tra: Tháng 6/2016 – Tháng 6/2017
- Kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc gà trống: theo tiêu chuẩn cơ sở
- Kỹ thuật khai thác: Thời gian khai thác tinh dịch vào buổi chiều, theo phương pháp mát xa Trong phương pháp này, gà trống phải được huấn luyện lấy tinh Việc huấn luyện diễn ra hàng ngày và có thể mất từ 1-2 tuần, phải cố định người huấn luyện lấy tinh Kỹ thuật lấy tinh cho gà trống thường có hai người
Trang 31Người thứ nhất tay trái giữ 2 chân gà trống tại khớp khuỷu trong trạng thái vắt chéo Tay phải vuốt và ấn nhẹ từ giữa lưng xuống đến đuôi Chỉ cần thực hiện thao tác này 1 vài lần là tinh dịch chảy ra Người thứ hai hứng tinh dịch bằng cốc thủy tinh có mép trơn láng Trong quá trình thu tinh dịch một số con tiết cả phân
và nước tiểu khi xuất tinh Do đó nên ngừng cho gà ăn uống khoảng 3-4 giờ trước khi lấy tinh để làm giảm khả năng ô nhiễm tinh dịch Nên kích thích và thu tinh dịch ngay sau khi bắt gà trống Việc giữ gà trống trong vài phút có thể ảnh hưởng đến việc lấy tinh
(b) Phương pháp đánh giá chất lượng tinh dịch của gà trống Cáy Củm
Tiến hành đánh giá chất lượng tinh dịch của gà trống từ 8-18 tháng tuổi, khai thác bằng phương pháp mát xa, tần suất khai thác 3 ngày/lần
* Các chỉ tiêu theo dõi:
Thể tích tinh dịch, hoạt lực tinh trùng, nồng độ tinh trùng, tổng số tinh trùng tiến thẳng trong một lần xuất tinh, tỷ lệ kỳ hình và độ pH
* Phương pháp xác định các chỉ tiêu:
+ Thể tích tinh dịch (V, ml): là lượng tinh dịch khai thác được trong 1 lần xuất tinh Thể tích tinh dịch được xác định bằng cốc hứng tinh có vạch chia độ
+ Độ pH của tinh dịch: được xác định bằng giấy đo pH
Cách tiến hành cụ thể như sau: Dùng đũa thủy tinh lấy 1 giọt tinh dịch nhỏ lên giấy pH và sau 3 giây thì so sánh màu của giấy với bảng màu chuẩn
+ Hoạt lực của tinh trùng (A): Hoạt lực của tinh trùng là tổng số tinh trùng tiến thẳng so với tổng số tinh trùng có trong tinh dịch trên vi trường quan sát Dùng pipet lấy một giọt tinh dịch nhỏ lên phiến kính chuyên dụng và được giữ ấm ở nhiệt độ 380C Dùng lamen khô, sạch đậy lên giọt tinh sao cho giọt tinh dịch quét đều bốn cạnh của lamen Đưa phiến kính lên soi dưới kính hiển vi với độ phóng đại 1000 lần Tiến hành đếm tổng số tinh trùng và số tinh trùng tiến thẳng có trong 3 vi trường Hoạt lực của tinh trùng được xác định theo công thức:
A (%) = Tổng số tinh trùng tiến thẳng
x 100 Tổng số tinh trùng đếm được
Trang 32+ Nồng độ tinh trùng (C: tỷ/ml): Trong thí nghiệm này, chúng tôi sử dụng phương pháp xác định nồng độ tinh trùng bằng buồng đếm Neubauer
Lắp lamelle kính đã được làm sạch, khô lên mặt buồng đếm Dùng ống pha loãng bạch cầu để hút tinh dịch đến vạch 0,5 sau đó hút tiếp dung dịch NaCl 3% đến vạch 11 Chú ý: không được để có bọt khí trong ống pha loãng bạch cầu trong quá trình hút Nếu có bọt khí phải xúc rửa sạch ống pha loãng và làm lại Bịt hai đầu ống pha loãng bằng ngón tay cái và ngón tay giữa, lắc nhẹ từ 5-6 lần cho tinh dịch trộn đều với dung dịch NaCl Mức độ pha loãng 20 lần Bỏ đi vài giọt dung dịch ở phần ống phía dưới, nhỏ hỗn hợp này vào trong buồng đếm sau đó đưa lên kính hiển vi có độ phóng đại 400-1000 lần để đếm
Phương pháp đếm: Đếm 5 ô lớn gồm 4 ô ở bôn góc và 1 ô ở giữa Trong 1
ô lớn có 16 ô nhỏ, số tinh trùng trong từng ô lớn được đếm theo thứ tự từ trên xuống dưới, từ trái qua phải theo hình ziczac Dựa vào đầu tinh trùng để đếm, chỉ đếm những tinh trúng có đầu nằm trong các ô, nằm trên cạnh bên trái và cạnh trên của ô quy định
+ Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình: được xác định bằng phương pháp nhuộm màu của Chemineau (1991)
Xác định tỷ lệ kỳ hình của tinh trùng như sau:
- Phết tiêu bản: Lấy một phiến kính A khô sạch, không có vết xước trên mặt Ghi số hiệu gà trống, ngày kiểm tra ở một đầu phiến kính, lấy một giọt tinh dịch kéo ngang trên phiến kính Đặt chiều rộng lam kính B trùng khít với cạnh ngang tinh dịch và nghiêng phiến kính A một góc 450, kéo xuôi nhẹ một lần sao cho tinh dịch dàn đều trên phiến kính A
- Cố định: Để phiến kính có tinh dịch dàn đều tự khô trong không khí hoặc
hơ nhẹ trên ngọn lửa đèn cồn để tinh trùng dính chặt trên lam kính
- Nhuộm: Dùng Methylen 5% hoặc Fucxin 5% nhỏ lên phiến kính để trong 5 phút, sau đó từng giọt nước trôi thật nhẹ nhàng trên lamen bằng nước sạch, vẩy khô
- Quan sát trên kính hiển vi và đếm: Đặt phiến kính lên kính hiển vi với độ phóng đại 400 lần, đếm số tinh trùng kỳ hình và tổng số tinh trùng không kỳ hình có trong 3 vi trường
Trang 33- Đếm hết tinh trùng trong vi trường này xong mới chuyển sang vi trường khác Nếu vi trường có tinh trùng quá dầy thì chọn vi trường khác để đếm
Công thức tính như sau:
K (%) = Số lượng tinh trùng kỳ hình
x 100
Số tinh trùng không kỳ hình + Tổng số tinh trùng tiến thẳng trong tinh dịch (VAC - triệu/lần): Được tính theo công thức:
(a) Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi gà trống đến chất lượng tinh dịch:
- Thí nghiệm được tiến hành với 25 gà trống ở các độ tuổi: 6-7; 8-12; 18; 19-24 và trên 24 tháng tuổi, mỗi độ tuổi 5 con
13 Gà thí nghiệm được nuôi dưỡng theo tiêu chuẩn cơ sở
- Phương pháp khai thác tinh dịch: Sử dụng theo phương pháp mát xa mô tả
ở phần (a) mục 2.4.1
- Tần suất khai thác tinh dịch: 3 ngày/lần
- Chỉ tiêu nghiên cứu về chất lượng tinh dịch và phương pháp xác định các chỉ tiêu như nội dung phần (b) mục 2.4.1
(b) Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến chất lượng tinh dịch:
- Thí nghiệm tiến hành vào vụ hè thu và đông xuân
- Số lượng gà trống theo dõi: 10 con
- Tuổi của gà trống thí nghiệm từ 8-18 tháng tuổi
- Gà thí nghiệm được nuôi dưỡng theo tiêu chuẩn cơ sở
- Tần suất khai thác tinh dịch: 3 ngày/lần
- Phương pháp khai thác tinh dịch và chỉ tiêu nghiên cứu về chất lượng tinh dịch và phương pháp xác định các chỉ tiêu như nội dung phần (a), (b) mục 2.4.1 (c) Đối với thí nghiệm ảnh hưởng của tần suất khai thác đến chất lượng tinh dịch:
Trang 34- Thí nghiệm được bố trí thành 3 mức tần suất khai thác 3 ngày/lần - 2 ngày/lần - 1 ngày/lần vào vụ hè thu và đông xuân
- Số lượng gà trống theo dõi: 10 con
- Tuổi của gà trống thí nghiệm từ 8-18 tháng tuổi
- Gà thí nghiệm được nuôi dưỡng theo tiêu chuẩn cơ sở
- Phương pháp khai thác tinh dịch và chỉ tiêu nghiên cứu về chất lượng tinh dịch và phương pháp xác định các chỉ tiêu như nội dung phần (a), (b) mục 2.4.1 (d) Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ pha loãng đến chất lượng tinh dịch:
- Sử dụng tinh dịch đã nghiên cứu tại mục 2.4.1 pha loãng với môi trường theo tỷ lệ tinh dịch/môi trường: 1/0,5; 1/1; 1/2
Các chỉ tiêu đánh giá hoạt lực tinh trùng, nồng độ tinh trùng và tỷ lệ tinh trùng kỳ hình được đánh giá trên tinh pha với tỷ lệ tương ứng Phương pháp xác định các chỉ tiêu như mục 2.4.1
(e) Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian bảo quản đến chất lượng tinh dịch:
Sử dụng tinh dịch nghiên cứu tại mục 2.4.1 pha loãng với môi trường theo
tỷ lệ 1:1, bảo quản ở 3 mức thời gian 0h; 6h; 24h Nhiệt độ bảo quản: 15oC Chỉ tiêu theo dõi: Hoạt lực tinh trùng, nồng độ tinh trùng và tỷ lệ tinh trùng kỳ hình Các chỉ tiêu này được đánh giá trên tinh pha với môi trường theo tỷ lệ 1:1
2.4.2.2 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến tỷ lệ ấp nở
(a) Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi gà trống đến tỷ lệ ấp nở
Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp phân lô so sánh, đảm bảo đồng đều về chất lượng gà trống, gà mái (sức khỏe, độ tuổi…), phương thức nuôi, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng … thí nghiệm gồm 5 lô:
Lô 1: Thụ tinh nhân tạo từ tinh dịch của gà trống 6-7 tháng tuổi;
Lô 2: Thụ tinh nhân tạo từ tinh dịch của gà trống 8-12 tháng tuổi;
Lô 3: Thụ tinh nhân tạo từ tinh dịch của gà trống 13-18 tháng tuổi;
Lô 4: Thụ tinh nhân tạo từ tinh dịch của gà trống 19-24 tháng tuổi;
Lô 5: Thụ tinh nhân tạo từ tinh dịch của gà trống > 24 tháng tuổi
Trang 35- Thí nghiệm được tiến hành vào vụ đông xuân
- Số lượng gà mái: 10 con/lô
- Tuổi gà mái: 30 tuần tuổi
- Phương thức nuôi: Nuôi bán chăn thả
- Kỹ thuật nuôi dưỡng: Theo tiêu chuẩn cơ sở
- Phương pháp thụ tinh nhân tạo gồm các bước sau:
+ Khai thác tinh dịch gà trống bằng phương pháp mát xa;
+ Pha loãng tinh dịch với môi trường theo tỷ lệ 1/1
+ Liều lượng thụ tinh: 0,15ml/lần;
+ Tần suất thụ tinh: 3 ngày/lần;
+ Dụng cụ dẫn tinh: Súng bắn tinh, súng này có thể đặt cố định lượng tinh dịch mỗi lần bắn
+ Kỹ thuật thụ tinh: Thụ tinh cho gà mái vào buổi chiều Kỹ thuật thụ tinh cho gà mái cũng cần có 2 người thực hiện: Người thứ nhất tay trái giữ chân gà mái trong trạng thái vắt chéo, tay phải vuốt nhẹ từ lưng xuống đuôi để lộ
ra lỗ huyệt Người thứ hai nhẹ nhàng đưa đầu súng bắn tinh vào âm đạo khoảng
3 cm rồi bắn tinh dịch Sau khi thụ tinh nới lỏng cơ thể gà mái để ống dẫn trứng trở về vị trí bình thường rồi nhẹ nhàng thả gà mái ra
- Trứng gà được thu nhặt hàng ngày, thời gian bảo quản không quá 3 ngày
- Chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp xác định các chỉ tiêu:
+ Các chỉ tiêu theo dõi: tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ ấp nở, tỷ lệ gà loại 1