. PHẦN MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài. Hiện nay, đất nước ta đang phát triển và đổi mới ngày càng mạnh mẽ về mọi mặt. Bộ GDĐT đã đặt vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Vật lý ở bậc THCS. Việc vận dụng đổi mới phương pháp dạy học Vật lý trong gần mười năm qua của giáo viên ở mỗi trường có những thành công và hạn chế khác nhau. Trong thực tế dạy học vật lý thì thực hành thí nghiệm vật lý có tầm quan trọng đặc biệt. Hiện nay để việc thực hiện tốt chương trình sách giáo khoa mới và dạy học theo phương pháp đổi mới có hiệu quả thì việc hướng dẫn học sinh các thí nghiệm trong sách giáo khoa đã góp phần không nhỏ vào việc thành công trong công tác dạy học theo phương pháp đổi mới. Với sự phát triển của khoa học công nghệ kĩ thuật ngày càng phát triển như hiện nay đòi hỏi cần có những con người có trình độ, có tư duy, có kĩ năng làm việc khoa học chính xác.Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học, có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.Trong các môn học thì Vật lí học là cơ sở của nhiều ngành kỹ thuật quan trọng. Sự phát triển của khoa học Vật lí gắn bó chặt chẽ và có tác động qua lại trực tiếp với sự tiến bộ của khoa học và kĩ thuật. Chương trình Vật lí trung học cơ sở có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh một hệ thông kiến thức vật lí cơ bản, ở trình độ phổ thông, bước đầu hình thành ở học sinh những kĩ năng và thói quen làm việc khoa học, góp phần hình thành các năng lực nhận thức và các phẩm chất, nhân cách mà mục tiêu giáo dục trung học cơ sở đã đề ra. Trong quá trình giảng dạy và công tác tôi nhận thấy: Môn Vật lí có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, qua lại với các môn học khác. Nhiều kiến thức và kĩ năng đạt được qua Vật lí là cơ sở đối với việc học tập các môn học khác, đặc biệt là môn Sinh học, Hoá học và Công nghệ. Mặt khác, vì Vật lí học là một môn khoa học thực nghiệm đã được toán học hoá ở mức độ cao, nên nhiều kiến thức và kĩ năng toán học được sử dụng rộng rãi trong việc học tập Vật lí. Đa số học sinh chưa có kĩ năng làm thí nghiệm thực hành, chưa biết sử lí kết quả thí nghiệm để hình thành kiến thức, chứng minh kiến thức lí thuyết.Thực tế qua các năm dạy học chương trình vật lí THCS, bản thân nhận thấy: Với nhiều thí nghiệm vật lí trong sách giáo khoa nhiều học sinh chưa biết cách làm, còn nhiều lúng túng trong quá trình thực hiện, cách xử lí kết quả chưa được chíng xác.Bởi thế tôi đã chọn và áp dụng sáng kiến: “Hướng dẫn học sinh sử dụng đồ dùng thí nghiệm vật lí ở trường THCS” áp dụng cho trường PTDTBT THTHCS Thanh Lâm.2. Mục đích nghiên cứu.Với những vị trí và vai trò quan trọng như trên ngay từ đầu năm học 2014 – 2015 tôi đã xác định việc rèn luyện khả năng sử dụng đồ dùng làm thí nghiệm thực hành cho học sinh là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, đặc biệt là học sinh lớp 6 đầu cấp còn nhiều hạn chế về nhận thức cũng như kĩ năng thực hành làm thí nghiệm, nhằm giúp các em làm quen với các đồ dùng thí nghiệm và biết cách làm các thí nghiệm trong các bài học để giúp các em học tập hiệu quả hơn. Hình thành cho các em các kĩ năng, kĩ xảo ban đầu cần thiết, cách làm việc khoa học hiệu quả, vận dụng được vào thực tế cuộc sống.3. Thời gian địa điểm. Với đề tài sáng kiến kinh nghiệm này tôi tiến hành áp dụng với học sinh các khối lớp trong toàn trường của trường PTDTBT THTHCS Thanh Lâm huyện Ba Chẽ, trong suốt năm học 2014 – 2015 nhằm giúp các em làm quen với các đồ dùng thí nghiệm và biết cách làm các thí nghiệm trong các bài học để giúp các em học tập hiệu quả hơn.4. Đóng góp mới về mặt thực tiễn.Với việc thực hiện đề tài này sẽ giúp các em học sinh của trường PTDTBT THTHCS Thanh lâm làm quen với các đồ dùng thí nghiệm, biết sử dụng các đồ dùng thí nghiệm phục vụ cho việc học tập. Biết dựa vào kết quả thí nghiệm để phân tích, lí giải các hiện tượng vật lí trong sách giáo khoa và trong đời sống thực tế. Hình thành ở các em kĩ năng làm việc nhóm, làm việc với các dụng cụ máy móc có khoa học đạt hiệu quả.
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, đất nước ta đang phát triển và đổi mới ngày càng mạnh mẽ vềmọi mặt Bộ GD&ĐT đã đặt vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Vật lý ở bậcTHCS Việc vận dụng đổi mới phương pháp dạy học Vật lý trong gần mười nămqua của giáo viên ở mỗi trường có những thành công và hạn chế khác nhau.Trong thực tế dạy học vật lý thì thực hành thí nghiệm vật lý có tầm quan trọngđặc biệt Hiện nay để việc thực hiện tốt chương trình sách giáo khoa mới và dạyhọc theo phương pháp đổi mới có hiệu quả thì việc hướng dẫn học sinh các thínghiệm trong sách giáo khoa đã góp phần không nhỏ vào việc thành công trongcông tác dạy học theo phương pháp đổi mới
Với sự phát triển của khoa học công nghệ kĩ thuật ngày càng phát triểnnhư hiện nay đòi hỏi cần có những con người có trình độ, có tư duy, có kĩ nănglàm việc khoa học chính xác
Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển nhữngkết quả của giáo dục tiểu học, có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và nhữnghiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổthông, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
Trong các môn học thì Vật lí học là cơ sở của nhiều ngành kỹ thuật quantrọng Sự phát triển của khoa học Vật lí gắn bó chặt chẽ và có tác động qua lạitrực tiếp với sự tiến bộ của khoa học và kĩ thuật
Chương trình Vật lí trung học cơ sở có nhiệm vụ cung cấp cho học sinhmột hệ thông kiến thức vật lí cơ bản, ở trình độ phổ thông, bước đầu hình thành
ở học sinh những kĩ năng và thói quen làm việc khoa học, góp phần hình thànhcác năng lực nhận thức và các phẩm chất, nhân cách mà mục tiêu giáo dục trunghọc cơ sở đã đề ra
Trong quá trình giảng dạy và công tác tôi nhận thấy: Môn Vật lí có mốiquan hệ gắn bó chặt chẽ, qua lại với các môn học khác Nhiều kiến thức và kĩnăng đạt được qua Vật lí là cơ sở đối với việc học tập các môn học khác, đặcbiệt là môn Sinh học, Hoá học và Công nghệ Mặt khác, vì Vật lí học là mộtmôn khoa học thực nghiệm đã được toán học hoá ở mức độ cao, nên nhiều kiếnthức và kĩ năng toán học được sử dụng rộng rãi trong việc học tập Vật lí Đa sốhọc sinh chưa có kĩ năng làm thí nghiệm thực hành, chưa biết sử lí kết quả thínghiệm để hình thành kiến thức, chứng minh kiến thức lí thuyết
Thực tế qua các năm dạy học chương trình vật lí THCS, bản thân nhậnthấy: Với nhiều thí nghiệm vật lí trong sách giáo khoa nhiều học sinh chưa biếtcách làm, còn nhiều lúng túng trong quá trình thực hiện, cách xử lí kết quả chưađược chíng xác
Bởi thế tôi đã chọn và áp dụng sáng kiến: “Hướng dẫn học sinh sử dụng
đồ dùng thí nghiệm vật lí ở trường THCS” áp dụng cho trường PTDTBT
TH&THCS Thanh Lâm
Trang 22 Mục đích nghiên cứu.
Với những vị trí và vai trò quan trọng như trên ngay từ đầu năm học 2014– 2015 tôi đã xác định việc rèn luyện khả năng sử dụng đồ dùng làm thí nghiệmthực hành cho học sinh là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, đặc biệt là học sinhlớp 6 đầu cấp còn nhiều hạn chế về nhận thức cũng như kĩ năng thực hành làmthí nghiệm, nhằm giúp các em làm quen với các đồ dùng thí nghiệm và biết cáchlàm các thí nghiệm trong các bài học để giúp các em học tập hiệu quả hơn Hìnhthành cho các em các kĩ năng, kĩ xảo ban đầu cần thiết, cách làm việc khoa họchiệu quả, vận dụng được vào thực tế cuộc sống
3 Thời gian địa điểm
Với đề tài sáng kiến kinh nghiệm này tôi tiến hành áp dụng với học sinhcác khối lớp trong toàn trường của trường PTDTBT TH&THCS Thanh Lâmhuyện Ba Chẽ, trong suốt năm học 2014 – 2015 nhằm giúp các em làm quen vớicác đồ dùng thí nghiệm và biết cách làm các thí nghiệm trong các bài học đểgiúp các em học tập hiệu quả hơn
4 Đóng góp mới về mặt thực tiễn.
Với việc thực hiện đề tài này sẽ giúp các em học sinh của trườngPTDTBT TH&THCS Thanh lâm làm quen với các đồ dùng thí nghiệm, biết sửdụng các đồ dùng thí nghiệm phục vụ cho việc học tập Biết dựa vào kết quả thínghiệm để phân tích, lí giải các hiện tượng vật lí trong sách giáo khoa và trongđời sống thực tế Hình thành ở các em kĩ năng làm việc nhóm, làm việc với cácdụng cụ máy móc có khoa học đạt hiệu quả
II PHẦN NỘI DUNG
1 Chương I: Tổng quan
1.1 Cơ sở lý luận
Đối với bộ môn Vật lí là một bộ môn khoa học thực nghiệm, tư tưởng chủđạo của sách giáo khoa Vật lí phổ thông là nội dung kiến thức mới được hìnhthành phần lớn thông qua các thí nghiệm và thực hành Điều đó không chỉ tíchcực hoá việc học tập của học sinh mà còn rèn luyện kỹ năng sử dụng thiết bị, đồdùng trong cuộc sống, rèn luyện thái độ, đức tính kiên trì, tác phong làm việcsau này của học sinh Học sinh được tự mình tìm hiểu, phát hiện và chiếm lĩnhtri thức khoa học, thông qua làm thí nghiệm Phát huy tính sáng tạo của họcsinh, tạo điều kiện cho các em tự tìm đến kiến thức
Việc học sinh thực hành thành thạo các thí nghiệm vật lí để khám phá tìm
ra kiến thức, khẳng định lại kiến thức đã có, rèn kĩ năng, kĩ xảo, phát triển nănglực tư duy cho học sinh là một hoạt động rất khó khăn và phức tạp
Chính vì vậy khi dạy học vật lí cần coi trọng các thí nghiệm trong sáchgiáo khoa Cần coi chúng không chỉ là những phương tiện sư phạm để đảm bảonguyên tắc dạy học mà phải thật sự còn là nguồn gốc, nền tảng khám phá các trithức, là tiêu chuẩn kiểm tra chân lí khoa học Cần phải coi trọng việc thực hànhthí nghiệm của học sinh là yếu tố chính để phát hiện, tìm ra và kiểm tra kiến
Trang 3thức khoa học.
1.2 Cơ sở thực tiễn.
Qua việc giảng dạy thực tế tại trường PTDTBT TH&THCS Thanh Lâm,tôi thấy việc thực hiện các thí nghiệm vật lí trong các giờ học còn đang gặp rấtnhiều khó khăn
* Về cơ sở vật chất còn khó khăn, thiếu thốn rất nhiều như: chưa có phòng
học chức năng dành riêng cho các môn vật lí, sinh học, hoá học Đồ dùng thínghiệm được trang bị từ nhiều năm phần lớn đã cũ và hư hỏng, có những bộ đồdùng còn thiếu và chưa có
* Về học sinh, đối với học sinh toàn trường đặc biệt là học sinh lớp 6 các
em là những học sinh đầu cấp mới từ tiểu học lên còn rất bỡ ngỡ, chưa quen vớicác thiết bị thí nghiệm, các thí nghiệm thật Chưa biết tiến hành các thí nghiệmtheo trình tự như thế nào, phân tích xử lí các kết quả thí nghiệm như thế nào.Việc nhận biết kiến thức phần lớn do áp đặt, thiếu thực tế do đó mức độ nhậnthức, nắm bắt kiến thức của học sinh chưa sâu và còn nhiều hạn chế
* Về phía giáo viên là người trực tiếp giảng dạy chưa thể nắm bắt hết
được tất cả các thí nghiệm, không phải thí nghiệm nào cũng thực hiện thànhcông
Từ thực tế đó, muốn nâng cao hiệu quả giờ dạy vật lí theo hướng phát huytính tích cực chủ động của học sinh Người giáo viên phải là người giữ vai tròchủ đạo, hướng dẫn, tổ chức, gợi ý, nêu tình huống, kích thích hứng thú học tậpcủa các em, giúp các em tự tìm kiếm, khám phá, phát hiện và chiếm lĩnh kiếnthức kiến thức
2 Chương II: Nội dung vấn đề nghiên cứu.
2.1 Thực trạng.
a Kết quả khảo sát đầu năm: (khảo sát cách làm thí nghiệm vật lí)
Trang 42.2 Các giải pháp thực hiện.
2.2.1 Căn cứ thực hiện.
Trong mỗi bài dạy giáo viên cần phải nắm vững mục tiêu của từng bài, từ
đó phân biệt được các loại thí nghiệm có trong bài học thuộc loại thí nghiệm nào(Thí nghiệm chứng minh hay thí nghiệm khảo sát) để tổ chức lớp học tập saocho có hiệu quả nhất Việc tổ chức lớp học phụ thuộc vào từng lớp, từng đốitượng học sinh và từng thí nghiệm
Đối với lớp học trầm, tập trung nhiều học sinh yếu kém giáo, viên cầnphải tổ chức tình huống học tập bằng cách giới thiệu các sự vật hiện tượng liênquan đến bài học, giới thiệu các dụng cụ thí nghiệm cần thiết, hướng dẫn cáchtiến hành thí nghiệm, tạo tình huống để học sinh dự đoán kết quả thí nghiệm,tiến hành thí nghiệm, nhận xét kết quả thí nghiệm Từ đó rút ra nhận xét và pháthiện kiến thức
Đối với lớp học sôi nổi, có nhiều học sinh khá giỏi thì giáo viên và họcsinh cùng nêu vấn đề, nêu phương án khảo sát vấn đề Từ đó học sinh có thể tự
tổ chức phương án thí nghiệm kiểm tra và rút ra kết luận về kiến thức Giáo viênchỉ cần quan sát, hướng dẫn, đánh giá và kết luận
a Trong quá trình lên lớp giáo viên cần chú ý những điều sau:
Phải soạn bài trước khi lên lớp để từ đó biết được thí nghiệm cần nhữngdụng cụ gì, trong phòng thí nghiệm đã có những loại nào, cần phải sưu tầm thêmdụng cụ thí nghiệm hay không Với những thí nghiệm khó cần phải làm trước đểkiểm tra mức độ chính xác và thành công Ngoài ra người thầy còn phải chuẩn
bị các bảng tổng hợp của thí nghiệm, bảng kết quả thí nghiệm cho nhóm, cholớp, phải luôn trú trọng đến hệ thống câu hỏi (Câu hỏi phải rõ nghĩa, kích thíchđược tính tò mò, tư duy của học sinh)
Cần phải chia nhóm học sinh một cách hợp lí Trong mỗi nhóm cần hội tụđầy đủ các đối tượng học sinh để học sinh được hổ trợ và giúp đỡ nhau trongquá trình học tập Vai trò của các thành viên trong nhóm được luân phiên chonhau Ngay từ đầu năm học cần phải hướng dẫn cách thảo luận nhóm, phươngpháp học cho học sinh để các em hình thành được cách học mới
Với học sinh cần phải chuẩn bị cần phải nghiên cứu và chuẩn bị bài trướckhi đến lớp, từ đó biết được bài học có cần bổ xung dụng cụ thí nghiệm haykhông
Đảm bảo an toàn trong quá trình làm thí nghiệm, sạch sẽ, vệ sinh
Trang 5Với riêng học sinh khối lớp 6 là học sinh đầu cấp, lần đầu được tiếp xúcvới các dụng cụ thí nghiệm và các thí nghiệm trong giờ học vật lí là môn họcmới Do đó các em chưa biết cách sử dụng các thiết bị thí nghiệm và có sự lúngtúng trong quá trình làm thí nghiệm Vì thế ngay từ buổi học đầu tiên giáo viêncần chú ý đến việc hướng dẫn cách sử dụng các thiết bị, các thao tác thí nghiệmsao cho an toàn và có hiệu quả Ví dụ như các dụng cụ đo thể tích chất lỏng,nhiệt kế (Bằng thủy tinh) cần sử dụng nhẹ nhàng, tránh va đập, vệ sinh sạch sẽsau khi làm xong thínghiệm Với lực kế không được sử dụng quá giới hạn đo.Các thí nghiệm trong chương II cần chú ý đến an toàn trong quá trình làm thínghiệm vì có liên quan đến đèn cồn, các chất như rượu, dầu….
b Khi tiến hành thí nghiệm có thể thực hiện theo các thao tác sau:
- Yêu cầu học sinh phải nắm được mục đích của thí nghiệm là gì
- Nhìn vào hình vẽ nêu được các dụng cụ cần thiết (Đối với các dụng cụ
mà các em đã được làm quen) Còn đối với dụng cụ mới thì giáo viên giới thiệutên và tác dụng của từng loại
- Cho học sinh đọc các bước tiến hành hoặc mô tả các bước thí nghiệm,sau đó giáo viên hướng dẫn lại các bước tiến hành thí nghiệm trên bảng phụ
- Tổ chức cho học sinh dự đoán kết quả thí nghiệm, đề ra phương án kiểmtra dự đoán
- Chia nhóm học sinh, phát dụng cụ và giao thời gian thực hành thínghiệm
- Các nhóm tiến hành lắp ráp thí nghiệm (Với thí nghiệm dễ), còn với thínghiệm khó thì giáo viên có thể lắp sẵn cho học sinh
- Các nhóm tự phân công vai trò của từng thành viên trong nhóm, xem lạicác bước tiến hành và làm thí nghiệm
- Thư kí các nhóm ghi kết quả sau mỗi lần làm thí nghiệm vào bảng kếtquả
- Giáo viên cần phải bao quát lớp trong quá trình thực hành thí nghiệm.Phát hiện và hướng dẫn kịp thời các nhóm còn lúng túng, chưa làm đúng khi làmthí nghiệm cũng như quan sát kết quả và ghi kết quả
- Khi hết thời gian thảo luận nhóm, giáo viên yêu cầu các nhóm báo cáokết quả Dựa vào kết quả giáo viên phân tích để học sinh rút ra kết luận cần thiếtcho bài học
2.2.1 Quá trình thực hiện.
Trong chương trình Vật lí THCS các thí nghiệm của học sinh được chia ralàm 2 loại chính: Thí nghiệm chứng minh và thí nghiệm khảo sát Khi lên lớpgiáo viên cần phải xác định các thí nghiệm có trong bài học thuộc loại thínghiệm nào, phải tổ chức lớp ra sao để giờ học có hiệu quả Có những thínghiệm chỉ cần mô tả để rút ra kết luận, có thí nghiệm phải làm biểu diễn học
Trang 6sinh quan sát hiện tượng và rút ra nhận xét Nhưng cũng có những thí nghiệmhọc sinh tự làm Sau đây là một số giải pháp với một số thí nghiệm.
a Giải pháp 1: Với loại thí nghiệm chứng minh những kiến thức thu thập được.
Đây là loại thí nghiệm mà các em đã biết trước kết luận, chỉ dùng thínghiệm để kểm tra kết quả Với thí nghiệm này các em dễ dàng hơn vì chỉ cầnlàm theo hướng dẫn và đã biết kết quả
+ Gọi hai em đọc các bước tiến hành thí nghiệm
+ Giáo viên nêu lại và treo bảng phụ có ghi 2 bước rõ ràng (ước lượngthể tích cần đo, kiểm tra ước lượng bằng cách đo thể tích)
+ Các nhóm phân công vai trò của từng bạn, cử người lên lấy dụng cụ thínghiệm sau đó tiến hành làm
+ Giáo viên yêu cầu học sinh sau mỗi bước ghi kết quả vào bảng Nhắcnhở các em cần xác định GHĐ và ĐCNN của bình chia độ, ước lượng trước khi
đo Trong khi các nhóm làm thí nghiệm giáo viên quan sát, phát hiện nhữngnhóm còn lúng túng Từ đó giúp đỡ các em kịp thời
+ Sau 7 phút yêu cầu các nhóm dừng thí nghiệm và lần lượt báo cáo kếtquả thí nghiệm của nhóm mình
+ Các nhóm báo cáo xong giáo viên thu kết quả của các nhóm Động viêncác nhóm ước lượng và đo có kết quả tương đối bằng nhau
Qua thí nghiệm, giáo viên cần cho học sinh trả lời các câu hỏi sau:
?Mục đích của thí nghiệm là gì? (đo thể tích nước ở hai bình).
?Người ta đo thể tích chất lỏng bằng dụng cụ gì? (bình chia độ, ca đong)
b Giải pháp 2: Mô tả thí nghiệm để rút ra kết luận.
Đây là loại thí nghiệm các em cần quan sát, phân tích hình ảnh trong sáchgiáo khoa để thấy quá trình làm thí nghiệm rồi rút ra kết luận
Ví dụ: Bài 4: Đo thể tích vật rắn không thấm nước
- Mục đích của thí nghiệm: Biết đo thể tích của vật rắn không thấm nước
có hình dạng phức tạp
Trang 7Phần một: Giáo viên đặt câu hỏi:
?Nhìn vào hình hình 4.2 SGK vật lí lớp 6 (15) hãy nêu các dụng cụ thí nghiệm.
+ Bình chia độ có GHĐ 550 ml, ĐCNN 10ml
+ Một hòn đá có dây buộc
?Nêu các bước tiến hành.
+ Đổ nước vào bình chia độ đến mức 150ml
+ Thả chìm hòn đá vào bình chia độ, mực nước
dâng lên 200ml
?Tìm thể tích hòn đá bằng cách nào.
200ml – 150ml = 50ml (lấy mực nước sau trừ đi mực nước ban đầu)
Phần hai: Giáo viên đặt vấn đề:
Khi mà vật rắn không thấm nước không bỏ lọt bình chia độ thì có cáchnào để đo thể tích của nó không?
?Nhìn vào hình 4.3 SGK vật lí 6 (15) em hãy nêu những dụng cụ cần thết
để tiến hành thí nghiệm.
+ Bình chia độ có GHĐ: 100 cm3; ĐCNN: 10 cm3
+ Một bình tràn, 1 bình chứa, 1 hòn đá
?Hãy mô tả các bước tiến hành.
Hình a: Đổ nước vào bình tràn đầy đến vòi, dưới vòi có bình chứa (bìnhchứa không có nước)
Hình b: Thả chìm hòn đá vào bình tràn làm nước tràn ra bình chứa
Hình c: Lấy nước từ bình chứa đổ vào bình chia độ Mực nước trong bìnhchỉ 80 cm3
- Tiến hành thí nghiệm
Trang 8- Qua thí nghiệm học sinh trả lời các câu hỏi sau:
c Giải pháp 3: Với loại thí nghiệm học sinh quan sát giáo viên làm.
Với các thí nghiệm khó, có tính chất nguy hiểm, khó thành công thì giáoviên cần làm thí nghiệm để học sinh quan sát hiện tượng xảy ra sau đó giáo viênđưa ra các câu hỏi dẫn dắt giúp học sinh rút ra những kết luận cần tìm
Ví dụ 1: Bài: Một số ứng dụng của sự nở vì nhiệt
- Mục đích thí nghiệm: Qua quan sát giáo viên làm thí nghiệm, học sinhthấy được sự nở vì nhiệt của chất rắn khi bị ngăn cản thì có thể gây ra những lựcrất lớn
- Tiến hành thí nghiệm:
+ Giáo viên giới thiệu dụng cụ thí nghiệm: Bộ dụng cụ thí nghiệm lựcxuất hiện trong sự co dãn vì nhiệt (Gồm 1 thanh thép đặt trên 1 giá đỡ, một sốchốt gang để xuyên qua lỗ nhỏ trên thanh thép, ốc vặn thanh thép cho chặt vàogiá đỡ, bông tẩm cồn đặt trong một hộp nhôm thay cho đèn cồn, một khăn bôngđược tẩm nước lạnh)
Trang 9
+ Giáo vên cho một số em dùng sức mình để bẻ chốt gang.
?Em có bẻ gẫy được chốt ngang hay không (không)
?Theo em muốn bẻ gẫy được chốt gang này phải cần một lực có độ lớn như thế nào (lực có cường độ lớn)
+ Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát chốt gang trước khi làm thínghiệm Chốt hai đầu thanh kim loại chưa nung nóng bằng ốc vặn phía trong ởmột đầu còn đầu kia chốt bằng chốt gang
?Điều gì sẽ xảy ra khi đốt nóng thanh thép bằng ngọn lửa đèn cồn (học
sinh dự đoán: gẫy; không có hiện tượng gì; cong)
+ Giáo viên tiến hành đốt thanh thép bằng bông tẩm cồn Thời gian đốtthanh thép sau 2 - 4 phút Để thí nghiệm xảy ra nhanh cần tránh gió của quạt vàgió của trời
+ Trong quá trình đốt nóng thanh thép giáo viên hỏi:
?Có hiện gì đối với thanh thép khi bị đốt nóng (thanh thép nở ra).
Sau khi thí nghiệm kết thúc (khi chốt gang đã bị gẫy) giáo viên tắt bông cồn
?Có hiện gì xảy ra đối với chốt gang (chốt gang bị gẫy).
?Chốt gang gẫy chứng tỏ điều gì (khi dãn nở vì nhiệt nếu gặp vật ngăn
cản sẽ gây ra một lực rất lớn)
?Đưa chốt gang ra lỗ ngoài của thanh thép, cố định chốt bằng ốc Điều
gì sẽ xảy ra khi làm lạnh thanh thép? (học sinh dự đoán: thanh thép ngắn lại,
thanh thép không thay đổi, chốt gang gẫy, chốt gang không gẫy)
+ Giáo viên tiến hành thí nghiệm kiểm chứng: Đưa chốt gang ra phíangoài, tắt lửa và vặn chặt ốc vít Dùng khăn đã tẩm nước đá lạnh đắp vào thanhthép
?Có hiện tượng gì khi thanh thép gặp lạnh? (Co lại).
?Vì sao em biết? (Chất rắn co lại khi lạnh đi).
?Hiện tượng gì xảy ra đối với chốt gang? (Chốt gang bị gẫy).
?Chốt gang gẫy chứng tỏ điều gì? (Khi co lại vì nhiệt nếu gặp vật cản sẽ
gây ra một lực rất lớn)
Trang 10- Qua thí nghiệm học sinh cần trả lời được câu hỏi:
?Khi co dãn vì nhiệt nếu gặp vật cản thì có hiện tượng gì xảy ra.
* Thiết bị: 1 chân đế, 1 kiềng, 2 kẹp vạn năng, 1 lưới đồng hay sắt, 1 ốngnghiệm có chia độ, băng phiến, nước sạch, khăn lau, 1 thanh trụ 500mm, 3 khớpnối chứ thập, 1 cốc đốt, 1 nhiệt kế 0 – 100oC, 1 đèn cồn
* Tiến hành thí nghiệm:
- Thí nghiệm 1: Sự nóng chảy
+ Bố trí thí nghiệm như hình 24.1(SGK) Đổ băng phiến đã được nghiềnnhỏ vào ống nghiệm có chia độ, cắm nhiệt kế vào băng phiến sao cho bầu đựngthuỷ ngân của nhiệt kế ngập trong băng phiến Đổ nước lã vào cốc đốt, đặt ốngnghiệm vào cốc đốt sao cho đáy ống nghiệm không chạm vào đáy cốc đốt.Châm lửa đèn cồn đun cốc đốt
?Điều gì sẽ xảy ra khi đun cốc đốt.
?Nhiệt độ của băng phiến có tăng lên hay không? Vì sao em biết?
+ Giáo viên yêu cầu học sinh theo dõi nhiệt độ của băng phiến tới 60oC thìsau 1 phút lại ghi lại nhiệt độ và trạng thái (rắn hay lỏng) của băng phiến theobảng hướng dẫn trong SGK Ghi cho đến khi nhiệt độ của băng phiến đạt 86oC.Đến giai đoạn 80oC có vài phút nhiệt độ vẫn là 80oC Đó là lúc băng phiến đangnóng chảy Khi băng phiến đang nóng chảy thì trong suốt thời gian nóng chảynhiệt độ của băng phiến vẫn là 80oC
Giáo viên nêu các câu hỏi C1 , C2 , C3, C4 , C5 trong SGK trang 76 để họcsinh trả lời
+ Kết quả thí nghiệm:
+ Ở nhiệt độ 80oC, băng phiến đã bị nóng chảy
+ Trong suốt thời gian nóng chảy, nhiệt độ của băng phiến không thayđổi
- Thí nghiệm 2: Sự đông đặc
Trang 11+ Khi băng phiến đã nóng chảy hết, đun tiếp cho đến khi nhiệt độ băngphiến đạt 90oC thì tắt đèn cồn, lấy cả ống nghiệm và nhiệt kế ra khỏi nước nóng.Sau 1 phút lại ghi lại nhiệt độ và trạng thái của băng phiến vào bảng như SGKcho đến khi nhiệt độ và trạng thái của băng phiến giảm xuống 60oC thì thôi ghi
và lấy nhiệt kế ra
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh trả lời theo các câu hỏi C1, C2, C3, C4trong SGK trang 78
Có thể dùng nước ấm 50oC – 60oC để tránh mất thời gian đun nóng nước
Lấy nhiệt kế khi băng phiến ở thể lỏng để tránh vỡ nhiệt kế và phải dùngkhăn khô mềm lau sạch băng phiến trên nhiệt kế
Cần tiến hành thí nghiệm hết sức cẩn thận, tránh va trạm mạnh
d Giải pháp 4: Với loại thí nghiệm học sinh tự làm để rút ra kết luận.
Đây là loại thí nghiệm khó đối với các em vì chỉ có làm thí nghiệm các
em mới rút ra được kết luân Nếu thí nghiệm không thành công thì không rút rađược kết luận về kiến thức bài học Với loại thí nghiệm này cần chú ý đến điềukiện thí nghiệm ở các nhóm phải như nhau để có cùng một kết quả
+ Gọi một em đọc các bước tiến hành
+ Gọi một em nhìn vào hình 16.3; 16.4; 16.5 SGK vật lí 6 (T51) nêu cáchlàm
Hình 16.3: Đo lực kéo vật theo phương thẳng đứng
Hình 16.4: Đo lực kéo vật qua ròng rọc cố định
Hình 16.5: Đo lực kéo vật qua ròng rọc động
Trang 12+ Giáo viên hướng dẫn:
Với ròng rọc cố định cần lắp thí nghệm theo thứ tự: Chân đế, thanh trụ,khớp nối chữ thập để ở vị trí cao nhất Trục ròng rọc được vít chặt nằm ngang đểtreo ròng rọc cố định
Đầu tiên giáo viên hướng dẫn học sinh dùng lực kế móc trực tiếp vào giatrọng và kéo từ từ lên theo phương thẳng đứng rồi đọc kết quả Sau đó hướngdẫn học sinh dùng dây mềm buộc một đầu vào gia trọng rồi vắt qua ròng rọc,đầu kia móc vào lực kế Kéo từ từ lực kế theo phương thẳng đứng xuống dưới,đọc kết quả Sau đó kéo từ từ theo phương nghiêng, đọc kết quả
Với ròng rọc động: Giáo viên hướng dẫn học sinh móc lực kế vào cả giatrọng và ròng rọc động rồi đọc số chỉ của lực kế, ghi kết quả
Dùng 1 đoạn dây dài khoảng 60mm một đầu buộc vào trục cố định trêngiá Dây luồn vào rãnh của ròng rọc động đã treo gia trọng, đầu kia móc vào lực
+ Giáo viên giới thiệu bảng kết quả thí nghiệm trên bảng phụ:
Lực kéo vật lên trong trường hợp Chiều của lực kéo Độ lớn của lực kéo