1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN vat ly su dung so do tu duy trong day hoc vat li

25 424 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 2,09 MB
File đính kèm SKKN Vat ly - Su dung so do tu duy trong day hoc.rar (2 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế hiện nay, khi giảng dạy nhiều giáo viên thường đọc hay ghi bảngcho học sinh ghi chép là nhiều vì: - Do một số bài học của chương trình có lượng kiến thức nhiều, trong mộttiết học

Trang 1

I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Trong xu thế phát triển của giáo dục, cải tiến phương pháp dạy học là một tấtyếu Nhiều năm trở lại đây ngành giáo dục đã phát động tăng cường đổi mớiphương pháp dạy học theo hướng tích cực, tăng cường tính chủ động, sáng tạo củagiáo viên và học sinh

Thực tế hiện nay, khi giảng dạy nhiều giáo viên thường đọc hay ghi bảngcho học sinh ghi chép là nhiều vì:

- Do một số bài học của chương trình có lượng kiến thức nhiều, trong mộttiết học chỉ có 45 phút, mà đã mất 10 đến 15 phút ổn định tổ chức, kiểm tra bài cũ,dặn dò học, làm bài tập ở nhà… Như vậy, chỉ còn khoảng 30 phút để giảng bàimới

- Học sinh mà đặc biệt là học sinh những vùng xa xôi, học sinh người dântộc thiểu số, học sinh đầu cấp khả năng tự ghi bài là rất chậm, rất hạn chế, thụ độngtrong học tập

- Cũng còn một số giáo viên không chịu khó đầu tư cho việc thiết kế bài dạy

sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh mình đang phụ trách, sợ mất công,

mất sức, …

Trang 2

- Ở các trường có nhiều học sinh dân tộc thiểu số, một số học sinh người dân

tộc chưa thông thạo Tiếng Việt Ở các vùng miền núi các em học sinh ít tiếp xúc

với ngôn ngữ Tiếng Việt nên khi học bài học sinh khó hiểu và không tự ghi chépđược gây ra sự “nản” trong việc dạy của giáo viên cũng như việc học của học sinh

- Trang thiết bị và các phòng học chức năng không đủ hoặc không có để đápứng nhu cầu dạy học theo hướng đổi mới, hiện đại, học sinh không có nhiều điềukiện để thực hành hoặc học theo phương pháp trực quan sinh động Nguyên nhânnày hiện nay đã dần được xóa bỏ, các dự án của Bộ giáo dục và sự hỗ trợ của nướcngoài nên trường lớp ngày càng đầy đủ và khang trang hơn

Để tăng cường sự sáng tạo, hứng thú trong học tập, nắm bài và hiểu bàinhiều hơn thì chúng ta cần đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng được nhu cầuphát triển của giáo dục và đào tạo

Trong toàn ngành giáo dục đang phát động đổi mới phương pháp dạy học.Bản thân tôi giảng dạy tại trường PTDTBT TH&THCS Thanh Lâm thuộc vùng cóđiều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và cũng đã được tham gia tập huấn các lớp vềđổi phương pháp dạy học Tôi thấy dạy học sử dụng bản đồ tư duy cũng là mộttrong những phương pháp đổi mới dạy học, tạo ra sự hoạt động tích cực, chủ động,sáng tạo, tư duy, tính logic, … trong học sinh

Đổi mới phương pháp dạy học, trong đó có việc ứng dụng công nghệ thôngtin và bản đồ tư duy, là một yêu cầu tất yếu, có tính đột phá và đóng vai trò quantrọng quyết định chất lượng giờ học và cả quá trình dạy học, đặc biệt là ở nhữngtrường có nhiều HS nhận thức học tập còn kém Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm,xuyên suốt trong toàn bộ quá trình thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa

ở bậc phổ thông

Trong giai đoạn hiện nay, xu hướng dạy học hiện đại với sự kết hợp nhữngthành tựu công nghệ thông tin đã và đang diễn ra một cách khá phổ biến ở cácngành học, cấp học Công nghệ thông tin với tư cách là một phương tiện hỗ trợ choviệc dạy học đang chứng tỏ những ưu thế và hiệu quả trong quá trình dạy học nóichung và đối với bộ môn Vật lý nói riêng

Từ đó tôi tìm hiểu và áp dụng theo phương pháp “Sử dụng sơ đồ tư duytrong dạy học Vật lý ở trường PTDTBT TH&THCS Thanh Lâm” Sử dụng linhhoạt sơ đồ tư duy ở bộ môn Vật Lý 6, người giáo viên có thể áp dụng trong mỗi tiếtdạy có thể dùng để kiểm tra bài cũ, củng cố lại nội dung của một bài vừa học,hướng dẫn học sinh về nhà học bài, …

Qua nhiều năm dạy học áp dụng việc giảng dạy bằng cách sử dụng sơ đồ tưduy cho học sinh ở bộ môn Vật lý do tôi phụ trách, tôi nhận thấy giảng dạy sửdụng bản đô tư duy là cách dạy mang lại hiệu quả cao Nếu giáo viên biết vận dụngcác kĩ năng, CNTT vào tiết dạy bằng phương pháp sử dụng bản đồ tư duy thì sẽgiúp học sinh thêm hứng thú, yêu thích tiết học Vật lý hơn so với một tiết dạy bằng

sử dụng phương pháp thông thường

Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn và viết đề tài “Sử dụng linh hoạt sơ đồ tư duy vào dạy học môn Vật Lý 6 ở trường THCS” áp dụng cho trường PTDTBT

Trang 3

TH&THCS Thanh Lâm Nhằm mong góp một phần nhỏ vào công tác đổi mớiphương pháp dạy học theo hướng tích cực và giúp cho các em học sinh học tập có

“tư duy”, hiệu quả hơn

2 Mục đích nghiên cứu.

Với những vị trí và vai trò quan trọng như trên ngay từ đầu năm học 2016 –

2017 tôi đã xác định việc rèn luyện khả năng sử dụng sơ đồ tư duy cho học sinhlớp 6 trong việc học môn Vật lí là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, bởi vì các em

là học sinh đầu cấp còn nhiều hạn chế về nhận thức cũng như kĩ năng, tư duy họctập, tóm tắt kiến thức trọng tâm của bài học Nhằm giúp các em làm quen với cácdạng sơ đồ tư duy và biết cách tóm tắt kiến thức của bài theo sư đồ tư duy giúp các

em học tập hiệu quả hơn Hình thành cho các em các kĩ năng, kĩ xảo ban đầu cầnthiết trong việc học, cách làm việc khoa học hiệu quả, vận dụng được vào thực tếcuộc sống

3 Thời gian địa điểm

Với đề tài sáng kiến kinh nghiệm này tôi tiến hành áp dụng với học sinhkhối lớp 6 trong toàn trường của trường PTDTBT TH&THCS Thanh Lâm huyện

Ba Chẽ, trong suốt năm học 2016 – 2017 nhằm giúp các em làm quen với các dạngbản đồ tư duy và biết cách học, tóm tắt nội dung kiến thức các bài học bằng sơ đồ

tư duy để giúp các em học tập hiệu quả hơn

4 Đóng góp mới về mặt thực tiễn.

4.1 Đối với giáo viên

Giúp cho tiết dạy trở nên sinh động hơn, giáo viên trở thành người hướngdẫn và thường xuyên đưa ra những câu hỏi gợi mở cho học sinh vừa vẽ sơ đồ vừatìm hiểu nội dung của kiến thức Người giáo viên sẽ giảm đi sự nhàm chán, cóđộng lực để giáo viên nghiên cứu thông tin kiến thức để bổ trợ cho học sinh cácthông tin ngoài sách giáo khoa

Giúp cho giáo viên có thể lên một kế hoạch giảng dạy, kế hoạch hoạt độngcho lớp chủ nhiệm hay lập nên kế hoạch giảng dạy phụ đạo …

Không có gì là khó hiểu khi hầu hết học sinh than phiền trí nhớ của các emkém, bài lại quá dài nên dẫn đến việc không hiểu, không thuộc hoặc chán nảnhọc.Vì thế,việc dạy học bằng sơ đồ tư duy kích thích sự tìm tòi sáng tạo của giáoviên, buộc người giáo viên phải làm việc nhiều hơn dẫn đến chất lượng dạy họcđược nâng lên Khi sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Vật Lý học sinh hứng thúhọc hơn, tiếp thu bài tốt hơn dẫn đến kết quả học tập được nâng lên

4.2 Đối với học sinh

Chúng ta có hai bán cầu não: bán cầu não trái và bán cầu não phải Bán cầunão trái thiên về các chức năng logic, ngôn ngữ, phân tích, sắp xếp Bán cầu nãophải thiên về các chức năng nghệ thuật, sáng tạo, tưởng tượng, cảm nhận Lâunay học sinh vẫn tập trung học dưới các phương pháp học truyền thống các môn:Toán, Lý, Hóa, Văn, Anh tức là mới chỉ tập trung phát triển bán cầu não trái Các

Trang 4

nghiên cứu đã cho thấy: nếu chỉ sử dụng bán cầu não trái, hiệu suất tư duy củachúng ta chỉ đạt từ 5 - 10% so với khi chúng ta kết hợp và phát triển cân bằng cảhai.

Với việc sử dụng sơ đồ tư duy, chúng ta không chỉ cần sự logic, hệ thống màkhả năng tưởng tượng, sáng tạo, làm việc với màu sắc, hình ảnh… cũng được huyđộng Điều đó có nghĩa là cả 2 bán cầu não của các em đều được kích hoạt Vì vậy

sẽ tạo được sự cân bằng, giúp khả năng tư duy, sáng tạo, ghi nhớ của các em tănglên đáng kể

Thực tế cho thấy các em sẽ không làm tốt những gì mà các em không thích.Chỉ khi nào các em có hứng thú hoặc tạo ra được hứng thú trong học tập, công việcthì các em mới có thể học tập đạt hiệu quả cao

Với sơ đồ tư duy, việc tạo ra và học tập với những trang giấy đầy màu sắc,hình ảnh, được hệ thống và dễ nhớ sẽ giúp chúng ta có được sự hứng thú đó để giatăng hiệu quả Tạo được đường mòn tư duy trong não bộ của các em học sinh khithu thập những kiến thức mới sẽ giúp các em ghi nhớ kiến thức tốt hơn

Khi sử dụng sơ đồ tư duy học sinh sẽ biết cách tìm những “từ khóa” của nộidung cần học Giúp các em tiết kiệm thời gian trong việc học tập và học sinh sẽgiảm đi áp lực khi nhìn thấy một quyển vở hay quyển sách chi chít chữ trên đó

Sơ đồ tư duy với việc phân nhánh để nghiên cứu, mổ xẻ, xem xét vấn đề ởnhiều khía cạnh sẽ cho các em 1 cái nhìn tổng thể về vấn đề Nhìn vào đó, các em

sẽ rất dễ dàng nhận ra đâu là chủ đề chính, chủ đề đó được triển khai, xem xét ởnhững khía cạnh nào, đâu là những nội dung quan trọng, đâu là những nội dung bổsung… Đó chính là cơ sở để chúng ta hiểu thấu đáo bản chất của vấn đề cầnnghiên cứu Các em sẽ nắm chắc kiến thức một cách tổng thể, logic Khi trình bàycác em sẽ nhìn thấy được bức tranh tổng thể của nội dung kiến thức triển khai

Tổ chức và phân loại suy nghĩ của học sinh Các em học sinh sẽ biết cáchhình thành những ý tưởng và triển khai những ý tưởng của mình qua sơ đồ tư duy

và nhiều vấn đề khác trong quá trình học tập…

II PHẦN NỘI DUNG

1 Chương I: Tổng quan

1.1 Cơ sở lý luận

Đối với bộ môn Vật lí là một bộ môn khoa học thực nghiệm, tư tưởng chủđạo của sách giáo khoa Vật lí phổ thông là nội dung kiến thức mới được hình thànhphần lớn thông qua các thí nghiệm và thực hành Điều đó không chỉ tích cực hoáviệc học tập của học sinh mà còn rèn luyện kỹ năng sử dụng thiết bị, đồ dùng trongcuộc sống, rèn luyện thái độ, đức tính kiên trì, tác phong làm việc sau này của họcsinh Tuy nhiên để học sinh có thể tóm tắt, nhớ nhanh các kiến thức trọng tâmchính của bài học đòi các em phải có sự ghi chép nhanh vì vậy việc sử dụng bản đồ

tư duy để tóm tắt kiến thức và học bài sẽ đơn giản hơn thú vị hơn Học sinh được

tự mình tìm hiểu, phát hiện và chiếm lĩnh tri thức khoa học, thông qua lập sơ đồ tư

Trang 5

duy Phát huy tính sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện cho các em tự tìm đến kiếnthức và nhớ kiến thức.

Từ năm học 2011 – 2012 trở lại đây Bộ Giáo dục và Đào tạo giảm tải nộidung sách giáo khoa tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong việc dạy và họchơn những năm qua

Tôi cùng nhiều giáo viên được Phòng GD&ĐT Ba Chẽ cử tham dự lớp tậphuấn “Hướng dẫn sử dụng phần mềm Imindmap và các phần mềm hỗ trợ dạy học”

do Sở Giáo dục tổ chức và những năm qua đã áp dụng trong các giờ học ở nhiềumôn học có hiệu quả

Việc học sinh biết lập các sơ đồ tư duy để tóm tắt, ghi nhớ kiến thức, củng

cố lại kiến thức đã có, rèn kĩ năng, kĩ xảo, phát triển năng lực tư duy cho học sinh

* Về cơ sở vật chất còn khó khăn, thiếu thốn rất nhiều như: chưa có phòng

học chức năng dành riêng cho các môn vật lí, sinh học, hoá học Đồ dùng thínghiệm được trang bị từ nhiều năm phần lớn đã cũ và hư hỏng, có những bộ đồdùng còn thiếu và chưa có

* Về học sinh, đối với học sinh toàn trường đặc biệt là học sinh lớp 6 các em

là những học sinh đầu cấp mới từ tiểu học lên còn rất bỡ ngỡ, chưa quen với cácphương pháp dạy học mới, cách thức học mới Chưa biết cách ghi chép tóm tắtkiến thức bài học như thế nào cho dễ học, dễ nhớ, hiệu quả Việc nhận biết kiếnthức phần lớn do áp đặt, thiếu sự sáng tạo do đó mức độ nhận thức, nắm bắt kiếnthức của học sinh chưa sâu và còn nhiều hạn chế

* Về phía giáo viên là người trực tiếp giảng dạy chưa thể nắm bắt hết được

tất cả các nội dung kiến thức một cách máy móc, hàn lâm

Phần mềm vẽ sơ đồ tư duy Imindmap và các phần mềm hỗ trợ dạy học khác

cũng đã được sự triển khai và hướng dẫn sử dụng của Phòng Giáo dục Nhìn chungcác giáo viên của Trường PTDTBT TH&THCS Thanh Lâm cũng đã áp dụng việcgiảng dạy bằng sơ đồ tư duy Tuy nhiên, việc sử dụng chưa nhiều và trước khihướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy giáo viên vẫn chưa hướng dẫn việc chọn ra các

từ khóa chính để vẽ sơ đồ tư duy theo cách hiểu của các em học sinh

Từ thực tế đó, muốn nâng cao hiệu quả giờ dạy vật lí theo hướng phát huytính tích cực chủ động của học sinh Giáo viên phải là người giữ vai trò chủ đạo,hướng dẫn, tổ chức, gợi ý, nêu tình huống, kích thích hứng thú học tập của các em,giúp các em tự tìm kiếm, khám phá, phát hiện và tái hiện lại kiến thức

Trang 6

2 Chương II: Nội dung vấn đề nghiên cứu.

2.1 Thực trạng.

Qua thực tế, việc giảng dạy ở trường THCS hiện nay công nghệ thông tinphát triển nhanh, hầu hết các trường đều có máy chiếu và giảng dạy có sự trợ giúpcủa công nghệ thông tin Các phương tiện thiết bị giảng dạy ngày càng đầy đủ, cơ

sở hạ tầng ngày càng khang trang hơn Tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảng dạy.Tuy nhiên, vẫn còn những trường học ở vùng sâu, vùng xa điều kiện trang thiết bịdạy học còn rất hạn chế

Bản thân tôi nhận thấy, sự “chay – lười” của học sinh ngày càng nhiều.Nhiều học sinh ngồi trong lớp học mà như “không biết mình đang làm gì?” Khiđược hỏi “em đang học gì?” thì em cũng không thể nào trả lời được Có lẽ do cha

mẹ ép em đi học chăng? Đó là vì những tiết học quá nhàm chán, học sinh khôngthấy có gì vui, không thấy có ý nghĩa khi học những tiết học đó

Khi kiểm tra bài cũ, đi từ dưới lớp lên học sinh vừa đi vừa xem vở nhẫm lạinhững từ ngữ đầu dòng nhằm mục đích để làm sao nhớ được từ đầu tiên là nhớđược kiến thức đó là kiểu học vẹt, học thuộc lòng Nếu như đang đọc mà quên mất

từ nào là những nội dung ở sau sẽ quên hết

Những học sinh yếu, lười học thì càng ngày càng học đi xuống vì về nhà các

em không học bài Vì mở quyển vở ra thấy chữ “chi chít” là muốn gấp vở lại đichơi

Khi dạy trên lớp giáo viên yêu cầu học sinh trả lời một nội dung nào đó cótrong sách giáo khoa thì học sinh chỉ biết cầm sách đọc “cho đến hết thì thôi” màkhông biết lọc ra những nội dung chính

Sau khi học xong bài, hỏi lại bài này có mấy nội dung chính, đó là nhữngnội dung nào thì học sinh lại vội vả lật sách, lật vở xem lại Các em khi học thụđộng, chỉ chép lại kiến thức một cách máy móc và không còn nhớ mình đã viết gìtrên trong quyển vở nữa

* Kết quả kiểm tra đầu năm: (kiểm tra cách thức học, nắm kiến thức)

Trang 7

Là học sinh khối 6, đầu cấp học Các em chưa thể làm quen với cách học ởcấp học mới Bài về nhà rất nhiều, các em chưa quen học thuộc và thế là thườngxuyên không thuộc bài điều đó tạo nên tâm lý chán nản của các em.

Vậy, làm thế nào để khắc phục những vấn đề trên? Làm thế nào để học sinhyêu thích đi học? Làm thế nào để việc học bài không phải là một “gánh nặng quálớn” đối với các em học sinh? …

“Sử dụng linh hoạt sơ đồ tư duy vào dạy học môn Vật Lý 6 ở trường THCS” góp phần giải quyết những vấn đề trên.

2.2 Các giải pháp thực hiện.

2.2.1 Giảng dạy và học tập với công cụ sơ đồ tư duy

2.2.1.1 Giới thiệu đôi nét về sơ đồ tư duy

Việc phát triển tư duy cho học sinh và giảng dạy kiến thức về thế giới xungquanh luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của những người làm công tácgiáo dục Nhằm hướng học sinh đến một phương cách học tập tích cực và tự chủ,giáo viên không những cần giúp học sinh khám phá các kiến thức mới mà còn phảigiúp học sinh hệ thống được những kiến thức đó Việc xây dựng được một “hìnhảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quantâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năngsáng tạo… Một trong những công cụ hết sức hữu hiệu để tạo nên các “hình ảnhliên kết” là sơ đồ tư duy

2.2.1.2 Nguyên lý và ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học

Sơ đồ tư duy (Mind Map) là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc vàhình ảnh, để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Kỹ thuật tạo ra loại sơ đồ này đượcgọi là Mind Mapping và được phát triển bởi Tony Buzan vào những năm 1960

Ở vị trí trung tâm sơ đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một ýtưởng hay khái niệm chủ đạo Ý trung tâm sẽ được nối với các hình ảnh hay từkhóa cấp 1 bằng các nhánh chính, từ các nhánh chính lại có sự phân nhánh đến các

từ khóa cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn Cứ thế, sự phân nhánh cứ tiếp tục và các kháiniệm hay hình ảnh luôn được nối kết với nhau Chính sự liên kết này sẽ tạo ra một

“bức tranh tổng thể” mô tả về ý trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng

Những yếu tố đã làm cho sơ đồ tư duy có tính hiệu quả cao và nền tảng củachúng là:

Sơ đồ tư duy đã thể hiện ra bên ngoài cách thức mà não bộ chúng ta hoạtđộng Đó là liên kết, liên kết và liên kết Mọi thông tin tồn tại trong não bộ của conngười đều cần có các mối nối, liên kết để có thể được tìm thấy và sử dụng Khi cómột thông tin mới được đưa vào, để được lưu trữ và tồn tại, chúng cần kết nối vớicác thông tin cũ đã tồn tại trước đó

Việc sử dụng các từ khóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh đã đem lại một côngdụng lớn vì đã huy động cả bán cầu não phải và trái cùng hoạt động Sự kết hợp

Trang 8

này sẽ làm tăng cường các liên kết giữa 2 bán cầu não, và kết quả là tăng cường trítuệ và tính sáng tạo của chủ nhân bộ não.

Sơ đồ tư duy là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở trườngphổ thông cũng như ở các bậc học cao hơn vì chúng giúp giáo viên và học sinhtrong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thôngqua biểu đồ, tóm tắt thông tin của một bài học hay một cuốn sách, bài báo, hệthống lại kiến thức đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới,v.v…

2.2.2 Giải quyết vấn đề

2.2.2.1 Tổ chức hoạt động dạy học với sơ đồ tư duy như sau

Trong tiết học sử dụng sơ đồ tư duy để dạy học gồm có nhiều hoạt độngnhưng có thể tổng hợp thành 4 hoạt động cơ bản sau:

* Hoạt động 1: Lập sơ đồ tư duy

Mở đầu bài học tổng kết chương giáo viên có thể cho học sinh lập bản đồ tưduy theo nhóm với các gợi ý liên quan đến chủ đề kiến thức bài học

* Hoạt động 2: Báo cáo thuyết minh về sơ đồ tư duy

Cho một vài HS hay đại diện của nhóm HS lên báo cáo thuyết minh về sơ đồ

tư duy mà nhóm mình đã thiết lập Hoạt động này vừa giúp GV biết rõ việc hiểukiến thức của học sinh, vừa rèn luyện kĩ năng trình bày ý tưởng trước đông người

* Hoạt động 3: Thảo luận, chỉnh sửa, hoàn thiện sơ đồ tư duy

Tổ chức cho HS thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện sơ đồ tư duy(giáo viên là người cố vấn để dẫn dắt đến kiến thức trọng tâm)

* Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một sơ đồ tư duy

Cho học sinh trình bày, thuyết minh về kiến thức thông qua sơ đồ tư duy màcác em vừa thiết kế, cả lớp đã chỉnh sửa và hoàn thiện bằng một sơ đồ tư duy màgiáo viên đã chuẩn bị sẵn hoặc dùng phần mềm iMindMap 5 để thực hiện

2.2.2.2 Giảng dạy theo sơ đồ tư duy tăng cường được tính tích cực của học sinh.

Trong quá trình áp dụng đề tài cho thấy việc giảng dạy theo sơ đồ tư duy đã

tạo hứng thú cho học sinh Mỗi học sinh có thể tự lập sơ đồ tư duy cho mình dưới

sự hướng dẫn của giáo viên để bài học trở nên dễ thuộc, dễ hiểu, dễ nhớ hơn Cùngmột nội dung nhưng các em có thể thêm nhánh, thêm chú thích dưới dạng hình vẽnhiều màu sắc tùy vào cách hiểu, cách lĩnh hội kiến thức trong bài học của mình

Nếu không sử dụng phần mềm, giáo viên có thể linh động sử dụng hình vẽtay với những màu sắc, hình ảnh, từ ngữ diễn đạt khác nhau nhằm giúp học sinh cóthể nắm bắt và nhớ được phần cốt lõi của bài giảng ngay tại lớp học Nhưng nếugiáo viên sử dụng vi tính thành thạo thì kết hợp sử dụng phần mềm Imindmap vàđèn chiếu giảng dạy sẽ đạt hiệu quả cao hơn, học sinh sẽ hứng thú hơn trong quátrình học tập

Trang 9

Sơ đồ tư duy đặc biệt chú trọng về màu sắc, hình ảnh với từ ngữ ngắn gọn

(từ khóa) thể hiện qua mạng liên tưởng (các nhánh trong bài giảng) Từ phần nội

dung chính, giáo viên vẽ ra từng nhánh nhỏ theo từng tiểu mục chính của bài giảng

và chú thích, giảng giải theo một ngôn ngữ dễ hiểu và gần gũi với học sinh

Như vậy, thay vì phải học thuộc lòng các khái niệm, định nghĩa hay cả bàigiảng đọc chép như lúc trước, giờ đây học sinh có thể hiểu và nắm được khái niệmqua hình vẽ Chính sự liên tưởng theo hướng dẫn của giáo viên cũng giúp các emnhớ được phần trọng tâm của bài giảng

Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng học sinh khôngchỉ về trí tuệ, kĩ năng vẽ, viết gì trên sơ đồ tư duy, hệ thống hóa kiến thức chọn lọcnhững phần nào trong bài để ghi, thể hiện dưới hình thức kết hợp hình vẽ, chữ viết,màu sắc, vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống

Để giảng dạy theo sơ đồ tư duy, giáo viên có thể chủ động vẽ hình trên bảngrồi cho học sinh tiếp tục lên phân nhánh sơ đồ hay để học sinh chia thành từng nhómnhỏ rồi tự vẽ sơ đồ theo cách hiểu của mình sau đó giáo viên định hướng lại từng nộidung cho học sinh

Sơ đồ tư duy thực chất là một sơ đồ mở không theo một khuôn mẫu hay tỷ lệnhất định mà là cách hệ thống kiến thức tạo ra một tiết học sinh động, đầy màu sắc

và thực sự hiệu quả Kết quả nhận thấy: Giảng dạy theo sơ đồ tư duy phát huy tínhtích cực nhiều nhất trong các giờ ôn tập Khi học sinh trở thành chủ thể, thành nhânvật trung tâm trong mỗi tiết học, các em sẽ trở nên hào hứng và hăng say hơn tronghọc tập

2.2.2.3 Giáo viên trở thành người hướng dẫn, hỗ trợ.

Trước đây, giáo viên vẫn thường sử dụng sơ đồ để hệ thống kiến thức cho họcsinh nhưng học sinh vẫn là người tiếp thu một cách thụ động Với việc giảng dạy bằng

sơ đồ tư duy, nhất là cho học sinh tự phát huy khả năng sáng tạo của mình bằng cách

tự vẽ, tự phân bố và thể hiện nội dung bài học qua sơ đồ sau đó yêu cầu các bạn khác

bổ sung những phần còn thiếu Kết thúc bài giảng, thay vì phải ghi chép theo cáchtruyền thống, học sinh có thể tự “vẽ” bài học theo cách hiểu của mình với nhiều màusắc và hình ảnh khác nhau Đến tiết học sau, chỉ cần nhìn vào sơ đồ, các em có thểnhớ được những phần trọng tâm của bài học Giảng dạy theo sơ đồ tư duy mang tínhkhả thi cao vì có thể vận dụng được với bất kỳ điều kiện cơ sở vật chất nào của cácnhà trường, có thiết kế trên giấy, bìa, bảng bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn màuhoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm sơ đồ tư duy đã được triển khai Việc vậndụng sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ dần hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểubiết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học

Sơ đồ tư duy hay bản đồ tư duy (Mind Map) là hình thức ghi chép sử dụngmàu sắc, hình ảnh nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ýchính của một nội dung, hệ thống hoá một chủ đề Nó là một công cụ tổ chức tưduy được tác giả Tony Buzan (Anh) nghiên cứu kỹ lưỡng và phổ biến rộng khắpthế giới

Trang 10

Trong dạy học: Việc sử dụng sơ đồ tư duy huy động tối đa tiềm năng của bộnão, giúp học sinh học tập tích cực, hỗ trợ hiệu quả các phương pháp dạy học.

Nguyên lý hoạt động theo nguyên tắc liên tưởng “ý này gợi ý kia” của bộ

não Học sinh có thể tạo một sơ đồ tư duy ở dạng đơn giản theo nguyên tắc phát

triển ý: từ một chủ đề tạo ra nhiều nhánh lớn, từ mỗi nhánh lớn lại tỏa ra nhiềunhánh nhỏ và cứ thế mở rộng ra vô tận (Cách vẽ cũng rất giản đơn và còn rấtnhiều tiện ích khác khiến cho sơ đồ tư duy ngày càng trở nên phổ biến toàn cầu)

2.2.2.4 Những lưu ý học sinh khi sử dụng sơ đồ tư duy

Màu sắc cũng có tác dụng kích thích bộ não như hình ảnh Tuy nhiên, họcsinh cũng không cần phải sử dụng quá nhiều màu sắc Học sinh có thể chỉ cầndùng một hai màu nếu thích và muốn tiết kiệm thời gian

Nếu học sinh thấy mất quá nhiều thời gian để tô đậm màu trong mộtnhánh, thì học sinh có thể gạch chéo, đánh dấu cộng, hay chấm bi trong đó – rấtmới mẻ và tốn ít thời gian

Vẽ nhiều nhánh cong hơn là đường thẳng để tránh sự buồn tẻ, tạo sự mềmmại, cuốn hút

Khi học sinh sử dụng những từ khóa riêng lẻ, mỗi từ khóa đều không bịràng buộc, do đó nó có khả năng khơi dậy các ý tưởng mới, các suy nghĩ mới

Nếu trên mỗi nhánh học sinh viết đầy đủ cả câu thì như vậy học sinh sẽdập tắt khả năng gợi mở và liên tưởng của bộ não Não của học sinh sẽ mất hếthứng thú khi tiếp nhận một thông tin hoàn chỉnh Vì vậy, trên mỗi nhánh học sinhchỉ viết một, hai từ khóa mà thôi Khi đó, học sinh sẽ viết rất nhanh và khi đọc lại,não của học sinh sẽ được kích thích làm việc để nối kết thông tin và nhờ vậy, thúcđẩy năng lực gợi nhớ và dần dần nâng cao khả năng ghi nhớ của học sinh

Giáo viên nên thường xuyên cho học sinh sử dụng sơ đồ tư duy khi làmviệc nhóm và hệ thống kiến thức đã học trong môn học Vật lý, đặc biệt là khi ôntập cho các kỳ thi (dù là thi, học, đều sử dụng tốt) Sơ đồ tư duy cũng giúp các họcsinh và các thầy cô tiết kiệm thời gian làm việc ở nhà và trên lớp rất nhiều với cácphần mềm sơ đồ tư duy trên máy tính học sinh có thể làm tại nhà và gửi email chocác thầy cô chấm chữa trước khi lên lớp

2.2.2.5 Tiến trình một tiết dạy theo sơ đồ tư duy

* Các bước thiết kế một sơ đồ tư duy như sau

- Sơ đồ tư duy nhìn chung được thiết kế theo mỗi ý tưởng của cá nhân, songthì về nội dung và hình thức cũng theo các bước cơ bản sau:

+ Bước 1: Chọn từ trung tâm (hay còn gọi là từ khoá) là tên của một bài,

một chủ đề hay một nội dung kiến thức cần khai thác như một cụm từ hoặc mộthình ảnh cần phát triển

+ Bước 2: Vẽ nhánh cấp một chính là nội dung chính của bài học hay chủ đề

đó, chẳng hạn như định nghĩa, tính chất, dấu hiệu… Tuy nhiên nên lập sơ đồ tưduy có 4 nhánh cấp 1

Trang 11

+ Bước 3: Vẽ các nhánh cấp hai, ba,… là nhánh con của các nhánh trước đó

là các ý triển khai của nhánh trước đó Những từ khóa dù là tiêu đề chính hay phụthì ta nên cố gắng viết hoa Khi viết hoa, các từ khóa sẽ trở nên dễ nhìn, dễ đọchơn, không bị “chìm” đi

Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy Đây là phương pháp dễ nhất

để chuyển tải thông tin vào bộ não của học sinh rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não

Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của

- Tổ chức và phân loại suy nghĩ của học sinh

- Và nhiều vấn đề khác trong quá trình học tập…

* Hướng dẫn học sinh làm sơ đồ tư duy

Đây là những thành phần cấu tạo nên một bản đồ tư duy, mặc dù chúng cóthể được chỉnh sửa tự do theo ý muốn cá nhân

- Bắt đầu ở trung tâm với một bức ảnh của chủ đề, sử dụng các màu sắc

- Sử dụng hình ảnh, ký hiệu, mật mã, mũi tên trong bản đồ tư duy của bạn

- Chọn những từ khoá và viết chúng ra bằng chữ viết hoa

- Mỗi từ, hình ảnh phải đứng một mình và trên một dòng riêng

- Những đường cong cần phải được kết nối, bắt đầu từ bức ảnh trung tâm.Những đường nối từ trung tâm dày hơn, có hệ thống và bắt đầu nhỏ dần khi toả raxa

- Những đường thẳng dài bằng từ, hình ảnh

- Sử dụng màu sắc, mật mã riêng của học sinh, trong khắp sơ đồ

- Phát huy phong cách cá nhân riêng của học sinh

- Sử dụng những điểm nhấn và chỉ ra những mối liên kết trong sơ đồ tư duycủa mỗi học sinh

- Làm cho sơ đồ rõ ràng bằng cách phân cấp các nhánh, sử dụng số thứ tựhoặc dàn ý để bao quát các nhánh của sơ đồ tư duy

Sơ đồ tư duy của học sinh là tài sản riêng của học sinh: một khi học sinhhiểu cách tạo ra những ghi chú trong sơ đồ tư duy, học sinh có thể phát huy cácquy tắc của riêng mình để làm cho nó tốt hơn Những đề nghị sau đây có thể giúphọc sinh tăng hiệu quả của việc đó:

Trang 12

Sử dụng những từ ngữ đơn giản thể hiện thông tin: Hầu hết các từ trong

cách viết bình thường đều là nhồi nhét, bởi vì chúng đảm bảo rằng thông tin đượcchuyển tải đúng ngữ cảnh và trong một dạng thức dễ đọc Trong sơ đồ tư duy củahọc sinh, những từ khóa có ý nghĩa có thể chuyển tải cùng ý nghĩ như thế một cách

rõ ràng hơn Những từ dư thừa chỉ làm sơ đồ lộn xộn

Chữ in: Cách viết dính nhau hoặc không rõ ràng sẽ khó đọc hơn.

Sử dụng màu sắc để tách các ý khác nhau: Điều này sẽ giúp học sinh tách

các ý ra khi cần thiết Nó cũng giúp học sinh làm sơ đồ trực quan hơn để gợi nhớlại Màu sắc cũng giúp cho việc sắp xếp các chủ đề

Sử dụng những ký hiệu và hình ảnh: Khi một ký hiệu hoặc hình ảnh có ý

nghĩa gì đó với học sinh, hãy sử dụng chúng Hình ảnh có thể giúp học sinh nhớthông tin hiệu quả hơn là từ ngữ

Sử dụng liên kết đan chéo: Thông tin trong một phần của sơ đồ có thể liên

quan đến phần khác Khi đó, học sinh có thể vẽ những đường thẳng để chỉ ra sựliên quan đan chéo Việc này sẽ giúp cho học sinh thấy mức ảnh hưởng một phầntrong chủ đề đến các phần khác

Kiểm tra bài cũ : giáo viên gọi học sinh lên bảng thuyết trình sơ đồ tư duy

của bài học cũ trước lớp Giáo viên và các bạn khác có thể đặt thêm câu hỏi để họcsinh trả lời Học sinh phải có sơ đồ tư duy bài học cũ và các sơ đồ tư duy được họcsinh lưu trong bìa giấy hoặc một túi riêng để sử dụng khi ôn tập và khi giáo viênkiểm tra thay cho vở ghi bài Học sinh cũng có thể có một tập nháp vẽ sơ đồ tư duyngay tại lớp trong giờ học Về nhà học sinh sẽ tự chỉnh sửa sơ đồ tư duy bằng hình

vẽ bằng tay hoặc bằng phần mềm vẽ sơ đồ tư duy và lưu trên máy tính cá nhân để

Ngày đăng: 14/03/2018, 21:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w