Nghiên cứu các nhân tố gây hạn chế lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng bằng trọng tài thương mại tại Việt Nam.. Kết quả cho thấy có 05 nguyên nhân chính gây hạn
Trang 1Nghiên cứu các nhân tố gây hạn chế lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng bằng trọng tài thương mại tại Việt Nam.
Research on limiting factors in the choice of method for resolving disputes in construction
contracts by arbitration in Viet Nam.
Nguyễn Xuân Hải , Phạm Hồng Luân
Tóm TắT
Trọng tài thương mại (TTTM) là phương thức giải quyết tranh chấp văn minh, được sử dụng phổ biến trên Thế giới Tại Việt Nam,
có nhiều phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng (HĐXD) như Thương lượng, Hòa giải, TTTM, Tòa án Nhưng thực
tế hiện nay đa số các cá nhân, tổ chức kinh doanh chưa ưu tiên TTTM mà vẫn có xu hướng lựa chọn Tòa án như một cách giải quyết
tranh chấp tối ưu Vậy, nguyên nhân nào gây hạn chế việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp HĐXD thông qua TTTM tại
Việt Nam? Trong nghiên cứu này, một cuộc khảo sát bằng bảng câu hỏi đã được thực hiện với mục đích xác định các rào cản đó Bảng
câu hỏi khảo sát dựa vào các nghiên cứu trước đây và tham khảo ý kiến chuyên gia Đối tượng khảo sát là những người có nhiều năm
kinh nghiệm về pháp lý HĐXD, với phương pháp gặp mặt trực tiếp để thu thập dữ liệu Phương pháp phân tích nhân tố khám phá
(EFA=The method of Exploratory Factor Analysis) được dùng để phân tích dữ liệu Kết quả cho thấy có 05 nguyên nhân chính gây
hạn chế lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp HĐXD thông qua TTTM tại Việt Nam: (1) Do đặc thù ngành xây dựng; (2) Do
đặc trưng văn hóa truyền thống; (3) Do rào cản của cơ chế và pháp luật liên quan; (4) Do sự hiểu biết phương thức TTTM còn hạn
chế; (5) Do tâm lý ngại thay đổi.
Từ khóa:Trọng tài thương mại, Nhân tố gây hạn chế, Phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng.
AbsTrAcT
The method of Arbitration is civilized, popular with dispute resolution all over the word In Viet Nam, there are many of the methods
of dispute resolution such as Negotiation, Mediation, Arbitration and Litigation However, most individuals, organizations have
not been chosen yet the method of Arbitration as a priority in the fact, but using of Litigation is the best one So, For what causes
limitations in the choice of method for resolving disputes in construction contracts by Arbitration in Viet Nam? In this research, a
questionnaire survey was carried out to identify factors that caused limitations The survey questionnaire was designed by synthetizing
and inheriting the previous studies and consultation with experts The survey audiences were the people who had many experiences
of legal issues relating in construction contracts And the face to face interview method was chosen to collect data The method of
Exploratory Factor Analysis (EFA) was applied to analyze data and the results indicated that five major causes limited to the choice
of method for resolving disputes in construction contracts by Arbitration in Viet Nam: (1) Due to characteristics of construction;
(2) Due to Vietnamese cultures and traditions; (3) Due to bureaucracies and legals; (4) Due to limiting awareness of the dispute
resolution method by Arbitration; (5) Due to afraid of changes.
Keywords:Arbitration, Limiting factors, Methods for Resolving disputes in construction Contracts.
PGs.Ts Phạm Hồng Luân
Bộ môn Thi công và Quản lý xây dựng - Khoa Kỹ thuật xây dựng - Trường Đại học Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh,
Tel: 090 393 1823
Email: phluan@hcmut.edu.vn
Nguyễn Xuân Hải
Học viên cao học ngành Quản lý xây dựng - Khoa Kỹ thuật xây dựng - Trường Đại học Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh,
Tel: 098 665 6617
Email: haixyz.tta@gmail.com
Ngày nhận bài: 12/01/2016
Ngày sửa bài: 17/02/2016
Ngày chấp nhận đăng: 05/5/2016
Trang 21 Giới thiệu chung và mục đích nghiên cứu
Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC) - Một tổ chức trọng tài có uy tín và lâu đời của Việt Nam,
đa số được cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài tín nhiệm lựa chọn để giải quyết tranh chấp Trong nghiên cứu này, VIAC được sử dụng để phân tích, đánh giá và so sánh
Theo thống kê quốc tế, có khoảng 90% các doanh nghiệp quốc tế chọn phương thức TTTM để giải quyết tranh chấp thương mại và chỉ có 10% số vụ việc
là qua Toà án Tại Việt Nam, số lượng tranh chấp thương mại được giải quyết bằng TTTM chiếm chưa đến 1,0 % số lượng các tranh chấp thương mại, trong khi 98,5% các vụ kiện các tranh chấp thương mại ra tòa hoàn toàn có thể giải quyết được bằng TTTM Theo khảo sát Bộ tư pháp, phương thức giải quyết tranh chấp được các doanh nghiệp ưu tiên là Thương lượng (57,8%), Toà án (46,8%), Hoà giải (22,8%)
và cuối cùng là TTTM (16,9%) Vì sao TTTM tại Việt Nam vẫn chưa được các cá nhân,
tổ chức sử dụng nhiều trong các vụ tranh chấp thương mại nói chung và tranh chấp HĐXD nói riêng
Theo thống kê tình hình giải quyết tranh chấp năm 2015 tại VIAC, mua bán hàng hóa là lĩnh vực tranh chấp được giải quyết thông qua phương thức TTTM chiếm tỉ lệ cao nhất với 54% (76 vụ), trong khi lĩnh vực xây dựng chiếm khoảng 15% tương đương với 21 vụ
Sử dụng TTTM trong giải quyết tranh chấp thương mại nói chung và tranh chấp HĐXD nói riêng là phương thức giải quyết tranh chấp văn minh, có nhiều tính ưu việt, được sử dụng rộng rãi trên thế giới Tuy nhiên, việc sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp này vào lĩnh vực công nghiệp xây dựng tại Việt Nam còn rất hạn chế Với mục tiêu chính của nghiên cứu
là xác định được các nhân tố gây hạn chế của phương thức giải quyết tranh chấp HĐXD bằng TTTM Từ đó, giúp cho các cá nhân, cộng đồng doanh nghiệp thay đổi suy nghĩ, có cái nhìn sâu sắc hơn nhằm cải thiện việc sử dụng TTTM giải quyết các tranh chấp HĐXD, và đồng thời góp phần đưa Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn với Thế giới
2 Tổng quan
2.1 Khái niệm TTTM
Hình 1.1 Phương thức giải quyết tranh ở Trung Đông và Châu Á
(Nguồn: GAD, 2012)
Hình 1.2 Lĩnh vực tranh chấp tại VIAC
(Nguồn: Internet, http://viac.vn/)
Hình 2.1 Mức độ kiểm soát của các phương thức giải quyết tranh chấp
Trang 3Bảng 2.1 So sánh phương thức Tòa án và phương thức TTTM trong giải quyết tranh chấp HĐXD.
Phương thức Tòa án Phương thức TTTM
01 Ưu điểm
-Chi phí thấp
-Có thể qua nhiều cấp xét xử
-Có thẩm quyền giải quyết hầu hết tất cả các tranh chấp
-Nhân danh nhà nước
-Chủ động chọn thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp, thủ tục đơn giản
-Phân xử một lần, phán quyết mang tính chung thẩm
-Phân xử không công khai
-Lựa chọn trọng tài viên là những người có chuyên môn sâu
và có kinh nghiệm lĩnh vực tranh chấp
-Có thể phân xử theo tiếng nước ngoài và luật nước ngoài
-Công nhận và thi hành tại 155 quốc gia là thành viên Công ước New York
02 Hạn chế
-Phải tuân thủ nghiêm ngặt thủ tục,quy trình và các quy định pháp luật
-Toa an không phai bao giơ cung chuyên vê cac vân đê thương mai, năng lực của cán bộ tòa có giới hạn
-Xét xử công khai
-Tình trạng chạy án dựa vào sự quen biết
-Xét xử theo tiếng Việt và luật Việt Nam
-Bản án được công nhận và thi hành tại số ít quốc gia
đã ký Hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam
-Chi phí cao
-Qua một lần phân xử
-Cần sự hỗ trợ tích cực và có hiệu quả từ Tòa án và cơ quan liên quan
-Phán quyết có thể bị tuyên hủy bởi Tòa án
-Thi hành phán quyết không được thuận lợi
-Chỉ phân xử các tranh chấp phát sinhtừ hoạt động thương mại
Bảng 4.1 Ba nhân tố gây hạn chế mạnh
Nhân tố gây hạn chế mạnh Trung bình Xếp hạng
Lo ngại thực tế thi hành phán quyết trọng tài sẽ không được thuận lợi 3.95 01
Còn phụ thuộc và cần nhiều sự can thiệp đáng kể của Tòa án 3.72 03
Bảng 4.2 Bảng tổng hợp kết quả phân tích nhân tố
Nhân tố gây hạn chế Factor
loading Eigenvalue % of Variance
-Mức độ phức tạp của hợp đồng .782
-Thời gian thực hiện hợp đồng .775
-Phụ thuộc vào vai trò chủ thể của hợp đồng như : Nhà tài trợ, người quyết định đầu tư, chủ đầu
-Rào cản của văn hóa vùng miền, địa phương .654
-Chưa có sự bình đẳng khi đàm phán ký kết hợp đồng .515
2 Đặc trưng văn hóa truyền thống 1.787 11.167
-Hoài nghi sự trung lập, khách quan hoặc không đủ khả năng giải quyết tranh chấp .754
-Phân xử một lần, phán quyết trọng tài là chung thẩm .663
-Không có cơ hội khiếu nại, kháng cáo và kháng nghị .583
-Đã có mối quan hệ quen biết trước với Tòa án (xem đó là m ột lợi thế khi giải quyết tranh chấp) .557
3 Rào cản của cơ chế và pháp luật liên quan 1.400 8.748
-Còn phụ thuộc và cần nhiều sự can thiệp đáng kể của Tòa án .828
-Lo ngại phán quyết trọng tài có thể bị tuyên hủy bởi Tòa án .820
4 Sự hiểu biết phương thức TTTM còn hạn chế 1.360 8.503
-Chưa biết rõ phương thức TTTM .860
-Mặc dù đã biết rõ phương thức này nhưng tâm lý không muốn hoặc ngại thay đổi -.813
-Phương thức TTTM có chi phí liên quan cao hơn so với chi phí liên quan khi xét xửmột lần bằng
Trang 4Có những khái niệm về TTTM như:
theo Luật trọng tài thương mại năm 2010-
là phương thức mà các bên tranh chấp tự
nguyện thỏa thuận với nhau để ủy thác
việc giải quyết tranh chấp đã hoặc sẽ phát
sinh giữa họ cho TTTM; theo James and
Nicholas Gouldv, (1996)- là một tiến trình
tư được mở ra theo sự thỏa thuận của các
bên nhằm giải quyết một tranh chấp đang
tồn tại hoặc có thể phát sinh bởi một Hội
đồng trọng tài gồm một hoặc nhiều trọng
tài viên
2.2 Đặc điểm của phương thức TTTM
Phương thức TTTM rất thân thiện, đề
cao ý chí tự do thỏa thuận giữa các bên,
việc thực hiện phán quyết trọng tài phụ
thuộc phần lớn vào ý thức tự giác, sự tự
nguyện Tuy không có quyền cưỡng chế
của nhà nước nhưng phán quyết trọng tài
được đảm bảo thi hành bởi các cơ quan
thi hành án Để việc giải quyết tranh chấp
diễn ra nhanh chóng, tích cực thì rất cần sự
hỗ trợ kịp thời có hiệu quả của Tòa án và
phương thức TTTM khó có thể hoàn thành
nhiệm vụ nếu thiếu Tòa án
2.3 Thực trạng việc áp giải quyết
tranh chấp HĐXD thông qua TTTM tại
Việt Nam
Tính đến ngày 31/7/2015, cả nước đã
có 12 Trung tâm trọng tài với tổng số 350
trọng tài viên Từ năm 2011 đến tháng
6/2015, các Trung tâm trọng tài đã thụ lý
879 vụ việc và ban hành 586 phán quyết
trọng tài, trong đó 180 phán quyết đã
được thi hành xong với số tiền là 3.612.000
USD và 300 tỉ đồng Từ ngày 01/01/2011
tới ngày 31/3/2015, Tòa đã thụ lý 57 đơn
yêu cầu liên quan tới hợp đồng của TTTM,
giải quyết 53 yêu cầu, trong đó có 38 yêu
cầu hủy phán quyết trọng tài Tòa đã thụ
lý và chấp nhận 06 trường hợp hủy phán
quyết trọng tài chiếm khoảng 25% số đơn
yêu cầu hủy phán quyết, trong khi 10 năm
áp dụng Pháp lệnh Trọng tài thương mại,
số trường hợp hủy phán quyết trọng tài
chiếm 18%
Năm 2015 có khoảng 21 vụ tranh chấp
HĐXD (chiếm 15%) trong tổng số 146 vụ
tranh chấp được giải quyết tại VIAC Điển
hình những vụ tranh chấp HĐXD với giá
trị lớn đượcVIAC giải quyết, song vẫn còn
tồn tại nhiều vấn đề bất cập như: giữa
Công ty Tyco services Singapore Pte.,Ltd
và Công ty TNHH Tư vấn & xây dựng Hải
Vân Thiess, giữa Công ty Công ty cổ phần
Đại Thiên Lộc và Công ty Blue Steel, giữa
Tổng công ty Hàng hải Việt Nam và Liên
danh nhà thầu SK E&C-Tổng công ty Xây dựng đường thủy, giữa Công ty cổ phần đầu tư Minh Việt và Công ty cổ phần xây dựng Cotec
3 Phương phám nghiên cứu
Đầu tiên, tiến hành tham khảo từ các nguồn tài liệu như sách, báo và các nghiên cứu tương tự, xác định được sơ bộ 22 nhân tố gây hạn chế việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp HĐXD thông qua TTTM Tuy nhiên, phần lớn tài liệu có nguồn gốc từ nước ngoài, nên để phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam thì bước tham khảo ý kiến chuyên gia đã được thực hiện Nhóm gồm 05 chuyên gia, là những người có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng và pháp lý HĐXD được mời tham gia đánh giá, chọn lọc lại các nhân
tố sơ bộ đã được tổng kết từ các nguồn tài liệu, đồng thời đóng góp thêm các nhân tố khác mà họ gặp phải trong thực
tế Trong 05 chuyên gia này bao gồm có 01 người trên 20 năm kinh nghiệm, 03 người trên 15 năm kinh nghiệm, 01 người trên 11 năm kinh nghiệm Sau nhiều lần tham vấn, trao đổi trực tiếp với các chuyên gia thì 19 nhân tố đã được rút ra từ 21 nhân tố ban đầu và được đưa vào bảng câu hỏi khảo sát đại trà
Đối tượng khảo sát được lựa chọn là những người có nhiều năm kinh nghiệm như quản lý hợp đồng, luật sư, tư vấn pháp
lý có liên quan đến lĩnh vực dân dụng và công nghiệp Việc thu thập dữ liệu được thực hiện bằng cách phỏng vấn trực tiếp
Những người tham gia khảo sát được yêu cầu cho biết mức độ hạn chế của các nhân
tố theo thang đo Likert năm mức độ từ 1 =
“Hầu như không” đến 5 = “Mức độ rất cao”
Qua quá trình thu thập dữ liệu, kết quả thu được 72 phản hồi hợp lệ Trong
đó, 06 người là (Phó) Giám đốc (8.33%), 32 người là Luật sư/Tư vấn pháp lý (44.44%),
34 người là Quản lý hợp đồng (47.22%)
Xét về kinh nghiệm làm việc, có 23 người trên 10 năm (31.94%) và 22 người từ
05-10 năm (30.56%), 27 người từ 03-05 năm (37.5%) Xét về loại hình doanh nghiệp,
có 39 người công tác tại Công ty TNHH/
Tư nhân (54.17%), có 17 người công tác tại Công ty Cổ phần (23.61%), có 14 người công tác tại Công ty nước ngoài (19.44%)
và có 02 người công tác tại Công ty Nhà nước (2.78%)
4 Phân tích dữ liệu
Phương pháp trị trung bình dùng để phân tích dữ liệu, xếp hạng sau khi thu
thập được từ đối tượng khảo sát nhằm đánh giá mức độ quan trọng của các nhân
tố gây hạn chế
Phương pháp phân tích thống kê mô
tả kết hợp phân tích nhân tố khám phá (EFA) đã được ứng dụng với sự trợ giúp của công cụ phần mềm IBM SPSS Statistics V23 Sau khi qua các bước kiểm định phù hợp, kết quả phân tích cho thấy có 05 nhóm nguyên nhân chính gây hạn lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp HĐXD thông qua TTTM tại Việt Nam, các rào cản này được đặt tên và trình bày trong Bảng 4.2
5 Thảo luận kết quả
Với 05 nhân tố thu được sau khi phân tích nhân tố khám phá, có thể kết luận việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp HĐXD thông qua TTTM tại Việt Nam
bị hạn chế do 05 nguyên nhân chính sau: (1) Do đặc thù ngành xây dựng; (2) Do đặc trưng văn hóa truyền thống; (3) Do rào cản của cơ chế và pháp luật liên quan; (4)
Do sự hiểu biết phương thức TTTM còn hạn chế; (5) Do tâm lý ngại thay đổi
- Đặc thù của ngành xây dựng: Lĩnh vực mà không phải ai cũng có khả năng hiểu biết hoặc cũng khó mà am hiểu tường tận, đòi hỏi phải nắm rõ những kiến thức đặc thù trong lĩnh vực xây dựng Sản phẩm xây dựng là một sản phẩm đặc biệt được ký hợp đồng từ khi dự án chưa hình thành, thường cố định, có kích thước và giá trị lớn và có nhiều bên tham gia như chính quyền, chủ đầu tư, tư vấn, nhà thầu, nhà cung cấp, nhà khai thác, dân cư HĐXD của gói thầu có quy mô lớn, tiến độ thi công dài, đa phần không hoàn thành đúng tiến độ, thường liên quan tới các cơ quan nhà nước Khi điều chỉnh tiến độ hợp đồng kéo dài tiến độ thực hiện hợp đồng
Do đặc thù ngành xây dựng chịu nhiều tác động yếu tố thị trường và chính sách, thời gian thực hiện dài ngày, huy động nhiều nguồn lực về con người, máy móc thiết
bị, liên quan đến môi trường cộng đồng, HĐXD thể hiện tổng hợp các mối quan hệ
mà các chủ thể liên quan chấp nhận và tuân thủ tự nguyện
- Đặc trưng văn hóa truyền thống: Tập quán sinh hoạt và lối sống, lối tư duy cũ, đặc biệt là tư duy tiểu nông trở thành rào cản đáng kể đến việc sử dụng phương thức TTTM Những doanh nghiệp được lãnh đạo, điều hành bởi những con người mới nhưng chịu sức ép từ những điểm tồn cùa văn hóa truyền thống - nét văn hóa có cái
Trang 5gốc là văn hóa nông nghiệp và một cơ chế
chưa được thông thoáng với tư duy bao
cấp, tư duy con dấu, tư duy nghi ngờ của
cơ chế quản lý lạc hậu; chưa có thói quen
sử tổ chức giải quyết tranh chấp ngoài
nhà nước với cơ chế tư như TTTM vì quan
niệm đó không có giá trị pháp lý cao và
có sức mạnh như tòa án, phán quyết một
lần là xong nên có thể gây rủi ro cho các
bên tranh chấp; trong khi Tòa án có nhiều
cấp xét xử như sơ thẩm, rồi phúc thẩm, có
khi cả giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Tại
Việt Nam, bên nào có quan hệ công quyền
mạnh thì được xem đó là lợi thế lớn, nhờ
quyền trợ giúp rất đa dạng tùy vào khả
năng và mối quan hệ của mỗi cá nhân, tổ
chức Đó là những mối quan hệ quen biết
làm ở cơ quan nhà nước, nếu không thì có
thể là tiền bạc, quà cáp và thông qua “cò”
Phương thức TTTM cơ bản dựa trên tinh
thần hợp tác, sự tự nguyện giữa các bên
thi hành nên đôi khi các bên không thực
thi nghiêm túc; tại Việt Nam với truyền
thống sản xuất nhỏ, chữ tín không thực
sự được coi trọng nên thường không tự
nguyện mà bị cưỡng chế thi hành nhiều
hơn Mặc khác, sự không bình đẳng giữa
các chủ thể hợp đồng, một bên có nhiều
quyền hơn có thể áp đặt ý chí lên bên còn
lại
- Rào cản của cơ chế và pháp luật liên
quan: Chỉ giới hạn thẩm quyền của Toà
án, nơi Hội đồng trọng tài thụ lý vụ tranh
chấp mới có quyền ra quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời Điều này có
thể gây khó khăn cho cả Toà án và các bên
trong quá trình áp dụng quy định này, khi
đó ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời sẽ không khả thi và không
hợp lý Không xác lập cơ chế hỗ trợ của
Toà án đối với trọng tài trong việc thu thập
chứng cứ và triệu tập nhân chứng Đây là
quy định quan trọng trong tố tụng trọng
tài Quá trình giải quyết tranh chấp không
chỉ có các bên mà nhiều trường hợp có
liên quan đến người thứ ba hoặc bên thứ
ba Trong khi Toà án có thẩm quyền đương
nhiên trong việc triệu tập các đối tượng
này thì TTTM lại không có thẩm quyền Tòa
án có quyền tuyên hủy phán quyết trọng
tài khi phán quyết trái với nguyên tắc cơ
của pháp luật Việt Nam; quy định mang
tính rường cột này cơ bản làm khung đỡ
cho Hệ thống tòa án, nếu vi phạm pháp
luật thì dễ dàng dẫn chiếu vào điều khoản
luật để thấy có vi phạm hay không, nhưng
thế nào là nguyên tắc cơ bản của pháp
luật thì chưa hướng dẫn qui định cụ thể,
dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau, nếu áp dụng một cách máy móc trong tất
cả các văn bản pháp luật thì nguy cơ gây tổn hại đến phán quyết trọng tài
- Sự hiểu biết phương thức TTTM còn hạn chế: Nhiều doanh nghiệp chưa có thói quen sử dụng tư vấn pháp lý để phòng tránh rủi ro trong kinh doanh Mặc khác, trình độ hiểu biết luật pháp và ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận chủ sở hữu và người quản lý chưa cao; nhiều doanh nghiệp còn làm ăn không trung thực, cố tình vi phạm pháp luật HĐXD nếu
có điều khoản về giải quyết tranh chấp thông qua TTTM thì cũng chỉ rất sơ sài, còn sai sót, không chặt chẽ, không được quy định rõ ràng và rất khó thực hiện hoặc chỉ hiểu một cách nôm na, đại khái về TTTM nên dễ dẫn đến điều khoản phân xử bằng trọng tài vô hiệu khi có tranh chấp xảy ra
Sự nhận thức về vai trò, ý nghĩa pháp luật của nhiều chủ sở hữu, người quản lý doanh nghiệp còn hạn chế, không chú ý tới việc tìm hiểu và thực hiện pháp luật; chưa có được sự hiểu biết tường tận và đánh giá đúng về tầm quan trọng của TTTM Chưa biết rằng TTTM và Tòa án là bằng nhau xét về giá trị pháp lý để thi hành Bởi phán quyết của TTTM và bản án, quyết định của tòa án có giá trị thực thi như nhau và đều được bảo đảm thi hành bằng pháp luật
về thi hành án dân sự Mặc khác doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin pháp luật, điều này đã ảnh hưởng đến sự hiểu biết của người quản lý doanh nghiệp về hệ thống pháp luật kinh doanh của nhà nước ta; hoạt động hỗ trợ của các hiệp hội doanh nghiệp về vấn đề này cũng còn nhiều bất cập
-Tâm lý ngại thay đổi: Tâm lý ngại thay đổi xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong
đó do tâm lý sống theo thói quen nếu có vấn đề gì thì tìm đến kênh nhà nước là Tòa
án để phân xử, trong khi có nhiều phương thức giải quyết tranh chấp văn minh, hiện đại đã được luật hóa từ lâu; e ngại còn từ yếu tố tâm lý sợ thay đổi và ngại sự cố rủi
ro của do doanh nghiệp chưa hiểu biết cặn kẽ về trọng tài, đồng thời cho rằng giải quyết tranh chấp bằng trọng tài sẽ không có hiệu quả như mong muốn Lo sợ phán quyết trọng tài bị Tòa án tuyên, khi
đó phải mất thời gian và chi phí để xét xử lại tại Tòa án Và phí trọng tài khá cao cũng phần nào làm hạn chế lựa chọn phương thức TTTM, bởi lẽ hoạt động của các trung tâm trọng tài tự chủ về tài chính, lấy thu
bù chi Mặc khác, bên yêu cầu áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy
tờ có giá do Hội đồng trọng tài ấn định tương ứng với giá trị thiệt hại có thể phát sinh do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng gây ra; điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi lựa chọn phương thức TTTM
6 Kết luận
TTTM là cơ chế giải quyết tranh chấp
có nhiều tính ưu việt, bên cạnh đó còn tồn tại những rào cản đáng kể đến phương thức tài phán này Nghiên cứu dựa trên quan điểm giữa 03 nhóm doanh nghiệp
là Công ty TNHH/Tư nhân, Công ty Cổ phần và Công ty nước ngoài đã xác định được 05 nguyên nhân chính gây hạn chế
áp dụng TTTM trong các HĐXD như sau: (1) Do đặc thù ngành xây dựng; (2) Do đặc trưng văn hóa truyền thống; (3) Do rào cản của cơ chế và pháp luật liên quan; (4)
Do sự hiểu biết phương thức TTTM còn hạn chế; (5) Do tâm lý ngại thay đổi Dựa vào kết quả này, đề xuất một số giải pháp giúp cải thiện việc lựa chọn phương thức TTTM trong các HĐXD Vì hiện nay việc giải quyết các tranh chấp ở Việt Nam chủ yếu thông qua Toà án, làm hệ thống Toà
án đã trở nên quá tải, dẫn đến tăng lượng
vụ tồn đọng, không kịp giải quyết làm ảnh hưởng đến các doanh nghiệp và đồng thời giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn với quốc tế
Nghiên cứu còn còn tồn tại một số hạn chế do nguồn lực bị giới hạn nên cách lấy mẫu thuận tiện được sử dụng để thu thập
dữ liệu với số lượng khá nhỏ, chỉ thực hiện tại Tp.HCM
Nên kết quả khảo sát có thể chưa phản ánh thực với ý kiến của quần thể Tuy đã
cố gắng thực hiện phương pháp lấy mẫu bằng cách gặp mặt trực tiếp, nhưng dữ liệu thu thập được vẫn chỉ mang tính tương đối vì những người tham gia khảo sát có thể chưa thật sự hiểu sâu sắc vấn
đề Mặc khác, nghiên cứu chưa đi sâu phân tích các điều khoản của văn bản luật liên quan có gây hạn chế mạnh đến việc lựa chọn phương thức TTTM
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, http:// viac.vn/ [Truy cập 15/3/2016]
[2]GAD, G.M and SHANE, J.S (2012), “A Delphi Study on the Effects of Culture on the Choice of Dispute
Trang 6Resolution Methods in International Construction Contracts”, Construction Research Congress 2012 © ASCE, 2012
[3] Gunasena, K.B D (2010), “Performance of Critical Attributes in Alternative Dispute Resolution (ADR)-A Study in Sri Lankan Construction Industry”, SLQS JOURNAL
[4] Chan, E.H.W, et al (2006), “MAUT-BasedDisputeResolution Selection ModelPrototype for International Construction Projects”, Journal of Construction Engineering and Management © ASCE/ May 2006, pp 444-451
[5] Cheung, S.O and Suen, H C H (2002), “A multi –attribute utility model for dispute resolution strategy selection”, Construction Management and Economic (2002) 20, pp 557-568
[6] Cheung, S.O, et al (2002), “Fundamentals
of Alternative Dispute Resolution Processes in Construction”,Journal of Construction Engigeering and Management© ASCE/September/October 2002, pp 409-417
[7] She, L Y “Factors which impact upon the selection of Dispute Resolution methodsfor commercial construction in the Melbourne industry: Comparison of the Dispute Review Board with other Alternative Dispute Resolution methods”,The University of Melbourne, Australia
[8] Idowu F.O, et al ( 2015), “An Evaluation of the use of ADR in the Nigerian Public Construction”, International Journal of Sustainable Construction Engineering & Technology (ISSN: 2180-3242) Vol 6, No
1, 2015, pp 16-28
[9] Charehzehi, E, Ahankoob, A (2013), “The Use
of Analytical Approach for the Selection of Dispute Resolution”, Civil and Environmental Research, Vol.3, No.3, 2013, pp 76-86
[10] Cheung, S O (1999), “Critical factors affecting the use of alternative dispute resolution processes
in construction”, International Journal of Project Management Vol 17, No 3, pp 189-194”
[11] Lagerberg, G and Professor Mistelis,L.(2013),
“Corporate choices in International Arbitration Industry perspectives”, Queen Mary University of London [12] Friedland, P and Professor Mistelis, L.(2015),
“Improvements and Innovations in International Arbitration”, Queen Mary University of London [13] Suen, et al.(2000),“A Selection Model
of Dispute Resolution Systems for Construction Professionals”, The University of Hong Kong