phủ thay đổi các chính sách thuế, kiểm tra các doanh nghiệp bán phá giá haythời điểm khủng hoảng kinh tế thế giới… cũng như sự tác động của các tổchức tài chính, các quỹ đầu tư mạo
Trang 1PHAN VIỆT HÙNG
NGHIÊN CỨU HÀNH ĐỘNG QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN KHI PHÁT HÀNH
CỔ PHIẾU LẦN ĐẦU RA CÔNG CHÚNG (IPO): TRƯỜNG HỢP TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 2PHAN VIỆT HÙNG
NGHIÊN CỨU HÀNH ĐỘNG QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN KHI PHÁT HÀNH
CỔ PHIẾU LẦN ĐẦU RA CÔNG CHÚNG (IPO): TRƯỜNG HỢP TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG
VIỆT NAM
Chuyên ngành: KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN CÔNG
PHƯƠNG
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Nguyễn Công Phương.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
PHAN VIỆT HÙNG
Trang 41 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu luận văn 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP 9
1.1 KHÁI QUÁT VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 9
1.1.1 Định nghĩa quản trị lợi nhuận 9
1.1.2 Mục đích và động cơ quản trị lợi nhuận 9
1.1.3 Kế toán dồn tích: Cơ sở của hành động quản trị lợi nhuận 13
1.2 CÁC CÁCH THỨC THỰC HIỆN QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA NHÀ QUẢN LÝ 14
1.2.1 Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn phương pháp kế toán 14
1.2.2 Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn thời điểm vận dụng các phương pháp kế toán và thực hiện các ước tính kế toán 17
1.2.3 Quản trị lợi nhuận thông qua quyết định kinh doanh về thời điểm thực hiện nghiệp vụ kinh tế 21
1.3 CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 22
1.3.1 Mô hình Healy (1985) 23
1.3.2 Mô hình DeAngelo (1986) 24
1.3.3 Mô hình Friedlan (1994) 25
1.3.4 Mô hình Jones (1991) 26
Trang 5KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2 IPO CỦA TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 31
2.1 NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ IPO Ở VIỆT NAM 31
2.1.1 Quy trình IPO 31
2.1.2 Điều kiện IPO 36
2.2 IPO CỦA TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM 37
2.3 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 41
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
3.1 LỰA CHỌN MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 42
3.2 QUY ƯỚC THỜI ĐIỂM NGHIÊN CỨU 45
3.3 THU THẬP VÀ XỬ LÝ DỮ LIỆU 46
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 46
3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 48
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH VÀ HÀM Ý 49
4.1 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH 49
4.1.1 Thống kê mô tả 49
4.1.2 Xác định biến kế toán dồn tích và kiểm định giả thuyết 50
4.2 HÀM Ý TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 70
4.2.1 Nâng cao chất lượng kiểm toán BCTC 71
4.2.2 Nâng cao công tác quản lý của nhà nước 80
Trang 6QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7BCTC : Báo cáo tài chính
Trang 8Số hiệu
4.1 Biến động doanh thu, lợi nhuận sau thuế và dòng tiền
trong 3 năm trước IPO: 2011-2013 504.2 Giá trị kế toán của tổng tài sản cuối năm 2012 của các
công ty được sử dụng để ước tính các tham số của mô
4.3 Biến kế toán dồn tích năm 2013 của các công ty được sử
dụng để ước tính các tham số của mô hình nghiên cứu
4.4 Biến động doanh thu thuần năm 2013 so với 2012 của
các công ty được sử dụng để ước tính các tham số của
mô hình nghiên cứu (∆REVi2013) 584.5 Tổng hợp các biến theo mô hình ước lượng của các
công ty được sử dụng để ước tính các tham số của mô
hình nghiên cứu (∆REVi2013) 624.6 Bảng tổng hợp kết quả biến kế toán dồn tích có thể điều
4.7 Mẫu bảng tổng hợp thay đổi về chính sách, ước tính kế
Trang 9biểu đồ Tên biểu đồ g
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khủng hoảng kinh tế kéo dài ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế thế giớinói chung, trong đó có kinh tế Việt Nam Khủng hoảng làm nhu cầu của thịtrường giảm xuống, cạnh tranh ngày càng gay gắt, kinh doanh khó khăn, làm
ăn thua lỗ, nhiều doanh nghiệp buộc phải giải thể Để tồn tại, các doanhnghiệp buộc phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh
Nền kinh tế Việt Nam với đặc điểm vẫn tồn tại các doanh nghiệp Nhànước nên nhiều nước không công nhận là nền kinh tế thị trường Với xu thếhội nhập, tham gia vào tổ chức thương mại thế giới (WTO), việc cổ phần hóacác doanh nghiệp Nhà nước là cần thiết
Đối thủ cạnh tranh chính của Việt Nam Airlines là VietJet Air cho biếthãng lên kế hoạch sẽ niêm yết tại Singapore và Hong Kong năm 2015 Trướctình hình đó, ngày 10/09/2014, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý phê duyệt vềviệc chuyển Tổng công ty Hàng không Việt Nam từ 100% vốn cổ phần nhànước thành công ty cổ phần Về hình thức cổ phần hóa, giữ nguyên vốn nhànước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ.Ngày 14/11/2014, Vietnam Airlines tiến hành phát hành cổ phiếu lần đầu racông chúng
Việc cổ phần hóa Tổng công ty Hàng không được kỳ vọng sẽ giúpdoanh nghiệp tái cơ cấu Điều này giúp hạn chế sự can thiệp của Nhà nướcvào hoạt động của công ty, như vậy có thể làm giảm chi phí quản lý đồng thờinâng cao hiệu quả quản lý Bên cạnh đó, hành động này giúp Tổng công tythu hút thêm nguồn lực từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước, còn nhà nướcnhờ đó thu về một khoản tài chính lớn từ việc bán bớt cổ phần của mình, tiềnthu được có thể dùng vào các mục đích kinh tế xã hội khác
Trang 11Khi Tổng công ty IPO, một trong những vấn đề mà nhà đầu tư quantâm là có nên đầu tư vào đây hay không? Đâu là căn cứ để nhà đầu tư ra quyếtđịnh đầu tư? Câu trả lời là khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, được đánh giámột phần thông qua chỉ tiêu lợi nhuận Tổng công ty có mức sinh lợi càng cao(lợi nhuận cao) thì giá cổ phiếu bán ra của Tổng công ty sẽ càng cao, từ đónhững lợi ích mà Tổng công ty thu được càng nhiều, và ngược lại Do đó đểbán cổ phiếu được giá cao nhất có thể thì Tổng công ty có thể cân nhắc báocáo lợi nhuận cao nhất có thể, bao gồm lợi nhuận “thực” có được từ hoạt độngkinh doanh và phần lợi nhuận “được điều chỉnh” thông qua vận dụng cácchính sách kế toán
Để làm sáng tỏ có hay không việc Tổng công ty điều chỉnh lợi nhuận
thông qua vận dụng các chính sách kế toán khi IPO, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu hành động quản trị lợi nhuận khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO): trường hợp Tổng công ty Hàng không Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm đạt được các mục tiêu sau:
- Tìm kiếm bằng chứng về quản trị lợi nhuận tại Tổng công ty Hàngkhông Việt Nam khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO)
- Từ kết quả phân tích, đưa ra gợi ý nhằm nâng cao chất lượng chỉ tiêulợi nhuận của doanh nghiệp nói chung
Câu hỏi nghiên cứu
- Tổng công ty Hàng không Việt Nam có thực hiện các hành độngquản trị lợi nhuận khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng hay không?
- Nếu có thì cần phải làm gì để lợi nhuận báo cáo trung thực hơn?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản trị lợi nhuận gắn với IPO của Tổngcông ty Hàng không Việt Nam
Trang 12- Phạm vi nghiên cứu: Năm 2014 là năm Tổng công ty Hàng khôngViệt Nam IPO Nghiên cứu này xem xét hành động quản trị lợi nhuận củaTổng công ty trong 3 năm kế trước năm 2014.
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm (EmpiricalStudy) dựa vào bằng chứng thu thập trực tiếp tại Tổng công ty Hàng khôngViệt Nam
Mô hình biến dồn tích (accrual model) được sử dụng để nhận diện hànhđộng quản trị lợi nhuận của Tổng công ty Hàng không Việt Nam
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đối với công tác đào tạo, đề tài cung cấp bằng chứng về việc vận dụngbiến thể của mô hình Jones (Modified Jones model) trong việc nghiên cứuquản trị lợi nhuận ở Việt Nam Bên cạnh đó kết quả nghiên cứu đề tài còncung cấp thông tin cho nhà đầu tư trong việc đưa ra quyết định khi dựa vàothông tin lợi nhuận của doanh nghiệp
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, các danh mục và tài liệu thamkhảo, luận văn gồm có 4 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quản trị lợi nhuận của doanh nghiệpChương 2: IPO của Tổng công ty Hàng không Việt Nam và giả thuyếtnghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả phân tích và hàm ý
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Quản trị lợi nhuận được các nước phát triển thực hiện từ những năm 80của thế kỷ trước, trong các bối cảnh (động cơ) khác nhau như trước và sauthời điểm công ty niêm yết hay phát hành thêm chứng khoán, thời điểm Chính
Trang 13phủ thay đổi các chính sách thuế, kiểm tra các doanh nghiệp bán phá giá haythời điểm khủng hoảng kinh tế thế giới… cũng như sự tác động của các tổchức tài chính, các quỹ đầu tư mạo hiểm, hay các chính sách của Chính phủđến hành vi quản trị lợi nhuận.
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc điều chỉnh lợinhuận và các giả thuyết đã được chứng minh bằng nhiều mô hình nghiên cứukinh nghiệm như: The Healy Model (1985), The DeAngelo Model (1986),The Jones Model (1991), Modified Jones Model, Industry Model của Dechowand Sloan (1991), The Friedlan (1994), …
Ở Việt Nam, thị trường chứng khoán ra đời năm 2000, khá muộn so vớithế giới, đến năm 2006 thì mới có Luật chứng khoán Nên trước đó vấn đềquản trị lợi nhuận không được chú ý Cho đến khi thị trường chứng khoán đivào quỹ đạo và bắt đầu tăng trưởng thì vấn đề này mới được quan tâm Một
số nghiên cứu lý thuyết về điều chỉnh lợi nhuận của PGS.TS Nguyễn CôngPhương như:
Nghiên cứu “Các mô hình nghiên cứu lợi nhuận ở các nước phát triển cóphù hợp với bối cảnh Việt Nam? Phân tích lý thuyết” (2005) đã tổng hợpđộng cơ và các mô hình quản trị lợi nhuận đã được kiểm chứng trên thế giới,phân tích ưu nhược điểm của từng mô hình, qua đó giúp cho các nghiên cứutrong nước có thể lựa chọn mô hình thích hợp để thực hiện kiểm chứng lýthuyết kế toán chứng thực
Nghiên cứu “Về tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận” (2007) đề cậpđến tính minh bạch của chỉ tiêu lợi nhuận công bố bởi các công ty niêm yếttrên thị trường chứng khoán, phân tích khả năng nhà quản trị thực hiện hànhđộng điều chỉnh lợi nhuận và đề xuất vận dụng một cơ chế chặt chẽ hơn vềtrình bày và công bố báo cáo tài chính để thông tin tài chính phản ánh trungthực khách quan hoạt động kinh tế
Trang 14Nghiên cứu “Kế toán theo cơ sở dồn tích và hành vi quản trị lợi nhuậncủa doanh nghiệp” (2009) chỉ ra cơ sở của hành vi quản trị lợi nhuận củadoanh nghiệp cùng các cách thức mà nhà quản trị có thể thực hiện hành vi đó.Một số nghiên cứu về lý thuyết quản trị lợi nhuận của các tác giả khácnhư:
Bài viết “Hành vi quản trị lợi nhuận đối với thông tin lợi nhuận công bốtrên BCTC” của TS Đường Nguyễn Hưng (2013) đã đưa ra nội dung rõ ràng
về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị thông qua việc vận dụngchính sách kế toán cũng như mục đích của việc điều chỉnh lợi nhuận
Hai tác giả Đường Nguyễn Hưng, Phạm Kim Ngọc (2013), “Phươngpháp và thủ tục áp dụng trong kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêmyết tại Việt Nam đối với các hành vi quản trị lợi nhuận” bàn về cách nhậndiện các hành vi quản trị lợi nhuận trên phương diện kiểm toán, đồng thời làmrõ hơn các thủ tục và phương pháp vận dụng trong kiểm toán đối với các hành
vi quản trị lợi nhuận trong kiểm toán BCTC các công ty niêm yết tại ViệtNam
Bên cạnh đó cũng đã có một số nghiên cứu kiểm định việc điều chỉnh lợinhuận bằng việc vận dụng các mô hình như:
Đề tài “Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ở các công ty cổ phầntrong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giảHuỳnh Thị Vân (2012) đã chỉ ra các công ty cổ phần trong năm đầu niêm yếttrên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn (2008 – 2010) có điều chỉnhtăng lợi nhuận và khả năng điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yếtphụ thuộc (thuận chiều) vào điều kiện ưu đãi thuế TNDN công ty đượchưởng
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu là hệ thống các cơ sở lý thuyếtđể chỉ ra các kỹ thuật có thể vận dụng để điều chỉnh lợi nhuận của công ty;
Trang 15phán đoán và đặt giải thuyết nghiên cứu dựa trên cơ sở lập luận logic các vấn
đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu; thu thập số liệu kiểm chứng giả thuyếtthông qua mô hình DeAngelo và Friedlan Dựa trên kết quả nghiên cứu đểđưa ra các nhận xét và kiến nghị nhằm tăng cường tính trung thực của chỉ tiêulợi nhuận ở các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán ViệtNam
Đề tài còn những hạn chế như: Nghiên cứu chỉ thực hiện đối với nhữngcông ty lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực tiếp mà bỏ quacác công ty lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp gián tiếp Trongkhi đó, việc lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp nào cũng khôngảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Việc lựa chọn mẫu như trên của nghiêncứu làm cho mẫu chọn không thực sự ngẫu nhiên và không có tính đại diệncao Mặt khác, mô hình Friedlan cũng có những hạn chế nhất định trong việcdự đoán hành động quản trị lợi nhuận
Đề tài: “Nghiên cứu hành động quản trị lợi nhuận của các công ty trong
2 năm đầu niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh ” của tácgiả Trần Thị Thanh Quý (2012) đã làm rõ các công ty niêm yết có điều chỉnhtăng lợi nhuận trong hai năm đầu niêm yết để tiết kiệm thuế TNDN Đồngthời kết quả kiểm nghiệm cũng cho thấy mức độ điều chỉnh lợi nhuận của cáccông ty là không giống nhau do mục tiêu khác nhau giữa các DN và giữa cácthời kỳ
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa lý luận và thựctiễn, thu thập số liệu BCTC của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứngkhoán TP Hồ Chí Minh có hai năm đầu niêm yết trong giai đoạn từ năm2004-2006, vận dụng mô hình Friedlan để chứng minh số liệu và đưa ra kếtluận
Trang 16Đề tài có ý nghĩa thực tiễn không cao do nghiên cứu một sự việc đã kếtthúc trong quá khứ Đồng thời nguồn số liệu của đề tài còn hạn chế, mẫu nhỏkhiến cho mức độ tin cậy chưa cao Ngoài ra, như đã đề cập ở trên, mô hìnhFriedlan cũng có những hạn chế nhất định trong việc dự đoán hành động quảntrị lợi nhuận; những giải pháp đề xuất của đề tài còn mang tính khái quátchung chưa chi tiết, cụ thể hóa.
Đề tài: “Nghiên cứu việc điều chỉnh lợi nhuận trong trường hợp pháthành thêm cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoánViệt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Uyên Phương đã cho thấy phần lớn cáccông ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có điều chỉnhtăng lợi nhuận trong năm tài chính liền trước năm phát hành bổ sung thêm cổphiếu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu tiếp cận chứng thực, sử dụng
mô hình toán Friedlan (1994) để kiểm định giả thuyết Đồng thời, phân tíchkết quả thông qua công cụ thống kê toán
Đề tài còn những hạn chế như: Chỉ xem xét các công ty phát hành vìđộng cơ “thu hút tài trợ từ bên ngoài”, mà bỏ qua các công ty phát hành cổphiếu cho mục đích trả cổ tức hoặc trả lương CNV,…
Đề tài: “Sử dụng mô hình Jones để nhận diện điều chỉnh lợi nhuận:Trường hợp các công ty niêm yết ở HoSE phát hành thêm cổ phiếu năm2013” của tác giả Phan Thị Thùy Dương đã cho thấy cho thấy phần lớn cáccông ty niêm yết (18 công ty trong tổng số mẫu là 24 công ty) điều chỉnh tănglợi nhuận trước khi phát hành thêm cổ phiếu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu tiếp cận chứng thực, sử dụng
mô hình nhận diện quản trị lợi nhuận Modified Jones với kỳ nghiên cứu làquý để kiểm định giả thuyết Đồng thời, phân tích kết quả được thực hiệnthông qua việc vận dụng các công cụ thống kê toán (kiểm định dấu Sign test)
Trang 17Ngược lại với đề tài của tác giả Nguyễn Thị Uyên Phương , đề tài này
có hạn chế là chỉ nghiên cứu trường hợp phát hành “quyền mua cổ phiếu cho
cổ đông hiện hữu”, chứ chưa xét đến các trường hợp phát hành để huy độngvốn bên ngoài
Tóm lại, phần lớn những nghiên cứu ở trên vận dụng mô hìnhDeAngelo và Friedlan, có hạn chế là các mô hình này giả định quy mô doanhnghiệp không thay đổi qua 2 năm và năm liền trước không có điều chỉnh lợinhuận Do đó, nếu giả thuyết bị vi phạm thì kết quả nghiên cứu không cònchính xác nữa
Mặt khác, những nghiên cứu trên đều tập trung vào phân tích một sốlượng lớn doanh nghiệp để kết luận chung Chưa có nghiên cứu nào đi sâuvào một doanh nghiệp cụ thể để tìm hiểu kỹ hành vi quản trị lợi nhuận
Kế thừa những nghiên cứu trên, nghiên cứu này vận dụng mô hìnhModified Jones với dữ liệu chéo trong trường hợp phát hành cổ phiếu lần đầu
ra công chúng của Tổng công ty Hàng không Việt Nam Đây được coi là môhình cốt lõi nhất trong việc nhận diện hành động điều chỉnh lợi nhuận
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA
DOANH NGHIỆP
1.1 KHÁI QUÁT VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN
1.1.1 Định nghĩa quản trị lợi nhuận
Có nhiều quan điểm khác nhau khi định nghĩa về quản trị lợi nhuận(Earnings Management)
Quan điểm thứ nhất: Theo Davidson, Stickney, và Weil (1987) quản trịlợi nhuận theo nghĩa hẹp: quá trình vận dụng linh hoạt các chính sách kế toántrong khuôn khổ hệ thống kế toán để đạt được mức lợi nhuận mong muốn.Cũng theo quan điểm này, Scott (1997) định nghĩa “Quản trị lợi nhuận phảnánh hành động của nhà quản trị trong việc lựa chọn các phương pháp kế toánđể mang lại lợi ích của họ hoặc làm gia tăng giá trị thị trường của công ty”[5]
Quan điểm thứ hai xem xét quản trị lợi nhuận theo nghĩa rộng hơn.Schipper (1989) định nghĩa “Quản trị lợi nhuận là một sự can thiệp có cânnhắc trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mụcđích cá nhân” [5]
Dù có những quan điểm định nghĩa khác nhau nhưng đó là việc làm
"méo mó” số liệu lợi nhuận được thực hiện thông qua hành vi điều chỉnhdoanh thu và chi phí Trong khoa học, hành vi này thường được gọi là quản trịlợi nhuận
Quản trị lợi nhuận là hành động làm thay đổi lợi nhuận kế toán của nhàquản trị công ty nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán
1.1.2 Mục đích và động cơ quản trị lợi nhuận
Mục đích để nhà quản trị thực hiện hành động quản trị lợi nhuận
Trang 19thường là nhằm đạt được mức lợi nhuận mong muốn Mức lợi nhuận mongmuốn ở đây là lợi nhuận do doanh nghiệp hay nhà quản lý đặt ra trong từngbối cảnh, thời gian cụ thể Chẳng hạn doanh nghiệp mong muốn báo cáo lợinhuận cao nhất có thể khi IPO nhằm thu hút vốn đầu tư trên thị trường chứngkhoán, nhà quản lý muốn lợi nhuận cao để có mức lương thưởng cao,…
Theo nghiên cứu của Nguyễn Công Phương [5] động cơ để nhà quản trị thựchiện hành động quản trị lợi nhuận có thể là:
Chế độ tiền lương, thưởng dành cho nhà quản trị
Tiền lương là một trong các lý do khiến nhà quản trị thực hiện điềuchỉnh lợi nhuận nhằm đạt được lợi ích của chính họ Ở các nước phát triển,việc thuê các giám đốc và trả lương, thưởng theo kết quả hoạt động đã tồn tại
từ lâu Chế độ lương thưởng dựa vào kết quả đã tạo nên một động cơ thúc đẩynhà quản trị điều chỉnh lợi nhuận nhằm mang lại thu nhập có lợi nhất cho họ.Nhiều nghiên cứu đã kiểm chứng giả thuyết này (Gaver, Gver, & Austin,1995; P Healy, 1985; Holothausen, Larcker, & Sloan, 1995; Watts &Zimmerman, 1986) Phần lớn các nghiên cứu này đi đến kết luận rằng, khi lợinhuận thực tế (chưa bị điều chỉnh) lớn hơn giới hạn trên của mức lợi nhuận đểnhận được tiền thưởng, nhà quản trị sử dụng các chính sách kế toán để điềuchỉnh giảm lợi nhuận nhưng vẫn nằm trong mức lợi nhuận đạt được tiềnthưởng trong năm hiện hành để gia tăng lợi nhuận của năm sau (và như vậytiếp tục đạt được tiền thưởng năm sau) Ngược lại, khi lợi nhuận thực tế nhỏhơn nhiều giới hạn dưới của mức lợi nhuận đạt được điểm thưởng, nhà quảntrị sẽ điều chỉnh giảm lợi nhuận để dịch chuyển phần lợi nhuận này vào nămsau vì dù sao thì họ vẫn không đạt được tiền thưởng
Thu hút nguồn tài trợ bên ngoài
Giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố,trong đó giá trị kế toán của vốn chủ sở hữu và lợi nhuận kinh doanh là hai yếu
Trang 20tố được định lượng rõ nét trong các nghiên cứu về định giá cổ phiếu Cả haiyếu tố này được cung cấp trong báo cáo tài chính Từ đó, thông tin của báocáo tài chính có tác động đến giá của các cổ phiếu niêm yết Điều chỉnh lợinhuận tăng lên, công ty có thể cung cấp một “hình ảnh” tốt hơn về tình trạngtài chính để góp phần thu hút nhà đầu tư trên thị trường khi huy động vốn trênthị trường chứng khoán (phát hành cổ phiếu, trái phiếu) Hành động này làmgiảm chi phí vốn huy động mới (Friedlan, 1994) Giả thuyết này đã đượcminh chứng bằng nhiều nghiên cứu kinh nghiệm (chẳng hạn như Friedlan,1994; Shivakumar, 2000; Teoh, Welch, & Wong, 1998) Các nghiên cứu nàydựa trên giả thuyết rằng, các nhà đầu tư sử dụng thông tin báo cáo tài chính đểđịnh giá các cổ phiếu phát hành Do tồn tại một mối liên hệ thuận chiều giữalợi nhuận và giá của cổ phiếu phát hành, các nhà quản trị doanh nghiệp pháthành cổ phiếu niêm yết thực hiện hành động điều chỉnh lợi nhuận theo hướngtăng lên trong năm phát hành.
Tránh vi phạm hợp đồng
Ở các nước phát triển, hợp đồng vay luôn kèm theo các điều khoảnràng buộc nhằm hạn chế tổn thất có thể xảy ra đối với chủ nợ Mức lợi nhuậntối thiểu đạt được hay hạn chế chi trả cổ tức của một khách hàng thường làmột trong các điều khoản đó Theo lý thuyết kế toán thực chứng, các doanhnghiệp gần vi phạm các điều khoản của hợp đồng vay nợ với các ngân hàng(gần đạt được mức lợi nhuận tối thiểu hoặc gần đến mức hạn chế cổ tức quyđịnh trong hợp đồng) sẽ lựa chọn các chính sách kế toán để tăng lợi nhuận.Giả thuyết này đã được kiểm chứng bởi nhiều nghiên cứu (như H DeAngelo,DeAngelo, & Skinner, 1994: DeFond & Jiambalvo, 1994; P M Healy &Palepu, 1990; Sweeney, 1994)
Giảm thiểu chi phí điều tiết của nhà nước
Việc thay đổi chính sách thuế, ưu đãi về vốn, thuế thu nhập doanh
Trang 21nghiệp, trợ giá, đặc biệt là các mặt hàng được định giá bởi nhà nước (nhưthan, điện, xăng dầu ở nước ta)… sẽ có thể làm phát sinh chi phí của doanhnghiệp Thật vậy, các công ty lớn hoặc các công ty có môi trường hoạt độnghết sức thuận lợi có thể là đối tượng của nhiều áp lực từ các nhóm lợi íchkhác nhằm chia sẻ lợi nhuận Luật chống độc quyền dựa trên lợi nhuận kếtoán để xem xét các doanh nghiệp vi phạm Tỷ suất sinh lợi cao cho thấy khảnăng độc quyền cao Để tránh những tác động bất lợi và các chi phí phát sinh
do sự điều tiết về chính sách của nhà nước, các công ty này điều chỉnh lợinhuận xuống ở mức thấp nhất có thể khi có cuộc điều tra của Chính phủ liênquan đến độc quyền Giả thuyết này đã được kiểm chứng bởi các nghiên cứu(Cahan, 1992; Jones, 1991; Rayburn & Lenway, 1992) Cạnh tranh nướcngoài, đặc biệt trong trường hợp cạnh tranh về giá Hiện tượng này được gọi
là bán phá giá Khi các công ty trong nước phàn nàn với Chính phủ về hiệntượng này, để bảo vệ người sản xuất trong nước, Chính phủ sẽ tiến hành điềutra xem thực sự các nhà sản xuất trong nước không thể bán thấp hơn hoặcbằng giá nhập khẩu của mặt hàng tương đương vì bán theo giá đó họ sẽ không
có lợi nhuận Trong trường hợp này, các công ty sẽ điều chỉnh lợi nhuận thấphơn khi cuộc điều tra được thực hiện Hành động này nhằm tạo ra một ảnhhưởng thuận lợi đối với Ủy ban kiểm tra (Jones, 1991) Đây là trường hợpphổ biến ở các nước lớn mà luật bán phá giá của Mỹ là một ví dụ điển hình
Tối thiểu hóa chi phí thuế thu nhập
Ở những nước mà lợi nhuận kế toán và lợi nhuận chịu thuế không có sựkhác biệt lớn (như Việt Nam, theo nghiên cứu của Nguyễn Công Phương(2010)), tiết kiệm thuế thu nhập là một trong những động cơ thúc đẩy nhàquản trị thực hiện điều chỉnh lợi nhuận thấp hơn mức bình thường Nhữngnghiên cứu liên quan đến quản trị lợi nhuận dưới tác động của thuế thu nhậpđặt ra giả thuyết rằng, các doanh nghiệp chọn các phương pháp kế toán nhằm
Trang 22giảm chi phí thuế Giả thuyết này biểu hiện khá rõ ở Việt Nam vì thuế đượcxem là một nhân tố có ảnh hưởng lớn đối với hành vi của nhà quản trị doanhnghiệp.
1.1.3 Kế toán dồn tích: Cơ sở của hành động quản trị lợi nhuận
Kế toán theo cơ sở tiền là phương pháp kế toán dựa trên cơ sở Thực
thu - Thực chi tiền Kế toán theo cơ sở tiền chỉ cho phép ghi nhận các giaodịch khi các giao dịch này phát sinh bằng tiền
Kế toán theo cơ sở dồn tích là phương pháp kế toán dựa trên cơ sở
nghiệp vụ phát sinh, theo đó, "mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của công tyliên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phíphải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh giao dịch, không căn cứ vàothời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền”
Một trong những nguyên tắc kế toán chung được thừa nhận là cơ sởdồn tích Theo cơ sở này, việc ghi nhận doanh thu và chi phí không dựa vàodòng tiền tương ứng thu vào hay chi ra mà chỉ căn cứ vào thời điểm nghiệp
vụ kinh tế tài chính phát sinh Do đó, số liệu trên BCTC (đặc biệt là Báo cáokết quả hoạt động kinh doanh) phản ánh giá trị không tương ứng với dòngtiền Trong khi đó, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập trên cơ sở tiền, nghĩa
là báo cáo này căn cứ vào dòng tiền thực thu vào và thực chi ra để trình bày.Chính vì vậy, giữa dòng tiền trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và lợi nhuận trênBáo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ có sự chênh lệch Phần chênh lệchnày được các nhà nghiên cứu gọi là tổng biến kế toán dồn tích (TotalAccruals-TA), phản ánh lợi nhuận có được từ việc lựa chọn phương pháp kếtoán và được xác định bằng công thức:
Tổng biến kế toán dồn
tích (Total Accruals) =
Lợi nhuận sau thuế -
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh
Trang 23Tuy nhiên không phải toàn bộ accruals đều có thể đến từ hành độngđiều chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị Total accruals bao gồm hai phần: biến
kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được (Discretionary Accruals-DA) và biến
kế toán dồn tích không thể điều chỉnh được (Non Discretionary NDA)
+
Biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh được (Non Discretionary Accruals-NDA)
Biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh được phản ánh điều kiệnkinh doanh cụ thể của từng doanh nghiệp, do đó không thể điều chỉnh bởi nhàquản trị Ví dụ: độ dài của chu kỳ kinh doanh, chu kỳ sống của sản phẩm…Ngược lại biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được là biến mà nhà quảntrị có thể điều chỉnh thông qua việc lựa chọn chính sách kế toán (phương pháptính giá hàng tồn kho, thời điểm ghi nhận doanh thu, lựa chọn phương phápkhấu hao,…) Như vậy, biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được là kếtquả của quá trình vận dụng các phương pháp kế toán Để xem xét mức độđiều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu không thểquan sát một cách trực tiếp Vì vậy, các nhà nghiên cứu phải thông qua haicách: một là xem xét sự lựa chọn chính sách kế toán; hai là tính toán biến kếtoán dồn tích không thể điều chỉnh được Từ đó, mô hình nghiên cứu việcđiều chỉnh lợi nhuận thực chất là mô hình xác định biến kế toán dồn tíchkhông thể điều chỉnh được
1.2 CÁC CÁCH THỨC THỰC HIỆN QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA NHÀ QUẢN LÝ
Theo nghiên cứu của Nguyễn Công Phương [5] [6], quản trị lợi nhuận
có thể được thực hiện thông qua các phương pháp khác nhau: Điều chỉnh lợi
Trang 24nhuận thông qua lựa chọn phương pháp kế toán, thời điểm vận dụng cácphương pháp kế toán và thực hiện các ước tính kế toán hoặc thông qua cácquyết định quản lý về thực hiện nghiệp vụ kinh tế.
1.2.1 Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn phương pháp kế toán
Lựa chọn một phương pháp kế toán ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhậndoanh thu và chi phí Lựa chọn phương pháp kế toán làm cho việc ghi nhậndoanh thu sớm hơn và ghi nhận chi phí chậm hơn sẽ làm tăng lợi nhuận Dướiđây là các chính sách kế toán và các ước tính kế toán được tổng hợp bởinghiên cứu của Đường Nguyễn Hưng [3]
Lựa chọn chính sách kế toán ghi nhận doanh thu, giá vốn
Các nhà quản lý có thể có nhiều lựa chọn phương pháp ghi nhận doanhthu, giá vốn Trong doanh nghiệp xây dựng hoặc dịch vụ, việc thi công côngtrình hay thực hiện dịch vụ có thể kéo dài, do vậy doanh nghiệp có thể lựachọn ghi nhận doanh thu, giá vốn khi công trình hoàn thành hoặc ghi nhậndoanh thu, giá vốn theo tiến độ hoàn thành Theo phương pháp tỷ lệ hoànthành, doanh thu ghi nhận trong kỳ kế toán được xác định theo tỷ lệ phầncông việc đã hoàn thành Phần công việc hoàn thành được xác định theo mộttrong ba phương pháp tùy thuộc vào bản chất của dịch vụ:
Đánh giá phần công việc hoàn thành
So sánh tỷ lệ % giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với tổng khốilượng công việc phải hoàn thành
Tỷ lệ % chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hoàn thànhtoàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ
Một trong ba phương pháp xác định phần công việc hoàn thành để ghinhận doanh thu, giá vốn trong kỳ phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan củanhà quản trị Do vậy, nếu doanh nghiệp ghi nhận doanh thu, giá vốn theo tiến
độ hoàn thành thì phương pháp này cho phép doanh nghiệp có thể thực hiện
Trang 25hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua ước tính mức độ hoàn thành côngviệc.
Lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ
Doanh nghiệp có thể thay đổi phương pháp tính khấu hao để điều chỉnhlợi nhuận ở kỳ thay đổi phương pháp Có ba phương pháp khấu hao TSCĐbao gồm: khấu hao theo đường thẳng, khấu hao theo số lượng sản phẩm, khấuhao theo số dư giảm dần Với mỗi một phương pháp khấu hao sẽ cho các chiphí khấu hao khác nhau Do đó, lựa chọn phương pháp khấu hao sẽ cho phépdịch chuyển lợi nhuận giữa các niên độ Chằng hạn, việc thay đổi phươngpháp từ khấu hao theo đường thẳng sang phương pháp khấu hao theo số dưgiảm dần có thể làm tăng chi phí khấu hao vào năm thay đổi
Lựa chọn chính sách về ghi nhận chi phí sửa chữa TSCĐ
Doanh nghiệp có thể điều chỉnh lợi nhuận thông qua việc lựa chọnchính sách về ghi nhận chi phí sửa chữa TSCĐ Có hai loại sửa chữa TSCĐ
đó là sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn Với mỗi loại sửa chữa sẽ phátsinh chi phí sửa chữa Tuy nhiên, tùy từng loại sửa chữa theo tính chất, quy
mô của nó mà chi phí sửa chữa được hạch toán vào chi phí khác nhau Do đó,ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ Cụ thể:
- Đối với sửa chữa thường xuyên: Toàn bộ chi phí sửa chữa nhỏ TSCĐđược hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ
- Đối với sửa chữa lớn: Nếu doanh nghiệp chưa có kế hoạch trích trướcchi phí sửa chữa lớn TSCĐ thì toàn bộ chi phí này được tập hợp và phân bổcho nhiều kỳ Doanh nghiệp có thể lựa chọn số kỳ phân bổ theo ý muốn chủquan của người quản lý, việc lựa chọn số kỳ phân bổ sẽ ảnh hưởng đến chiphí và lợi nhuận từng kỳ Ngoài ra, doanh nghiệp có thể ước tính trích trướcchi phí sửa chữa lớn TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ tại thời
Trang 26điểm chưa phát sinh chi phí và mức trích này sẽ gia tăng chi phí từ đó ảnhhưởng đến lợi nhuận trong kỳ.
Lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm và phương pháp xác định giá trị hàng xuất kho
Ở các công ty sản xuất hoặc xây dựng, việc tính giá thành sản phẩm cóthể được thực hiện theo nhiều phương pháp khác nhau như: Phương pháp trựctiếp, phương pháp tổng cộng chi phí, phương pháp hệ số, phương pháp tỷ lệchi phí, phương pháp liên hợp,… tùy vào đặc điểm quá trình sản xuất sảnphẩm của công ty Trong mỗi phương pháp, doanh nghiệp có thể lựa chọn cácphương pháp đánh giá sản phẩm dở dang khác nhau như: theo chi phí nguyênvật liệu chính, theo sản lượng tương đương,… từ đó ảnh hưởng đến giá thànhsản phẩm, ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán và lợi nhuận trong kỳ
Có 4 phương pháp tính giá xuất kho hàng tồn kho: phương pháp nhậptrước, xuất trước (FIFO), phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO), phươngpháp đơn giá bình quân và phương pháp thực tế đích danh Với mỗi phươngpháp tính giá hàng xuất kho sẽ cho ra giá trị hàng xuất kho khác nhau , từ đóảnh hưởng đến giá vốn hàng bán và qua đó tác động đến lợi nhuận Chẳnghạn, khi giá cả đang có xu hướng tăng, việc thay đổi từ phương pháp tính giáhàng xuất kho bình quân sang phương pháp tính giá nhập trước xuất trước sẽlàm tăng lợi nhuận ở năm thay đổi
Lựa chọn phương pháp kế toán chi phí lãi vay
Đối với khoản chi phí lãi vay tùy trường hợp có thể được vốn hóa vàonguyên giá TSCĐ hoặc ghi nhận như là chi phí trong kỳ phát sinh Doanhnghiệp cần xác định rõ tính chất của các khoản chi phí lãi vay phát sinh để ápdụng chính sách kế toán chi phí lãi vay phù hợp Việc phân biệt này ảnhhưởng đến lợi nhuận kế toán, do đó trong trường hợp này doanh nghiệp có thểlợi dụng kế toán chi phí lãi vay để điều chỉnh lợi nhuận Chẳng hạn trong
Trang 27trường hợp doanh nghiệp phân loại sai chi phí lãi vay để các chi phí lãi vayphát sinh trong kỳ đều được ghi nhận vào chi phí tài chính từ đó sẽ làm chiphí trong kỳ tăng lên và làm giảm lợi nhuận.
1.2.2 Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn thời điểm vận dụng các phương pháp kế toán và thực hiện các ước tính kế toán
Ước tính kế toán một lần được áp dụng một lần khi nghiệp vụ phát sinh, chẳng hạn:
- Ước tính thời gian khấu hao TSCĐ
Phương pháp khấu hao TSCĐ được sử dụng phản ánh cách thức thu hồilợi ích kinh tế từ tài sản đó của công ty Số khấu hao của từng kỳ được hạchtoán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ Trong đó, thời gian sử dụnghữu ích của TSCĐ hữu hình do công ty xác định chủ yếu dựa trên mức độ sửdụng ước tính của tài sản Đôi khi do chính sách quản lý tài sản của công ty
mà thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản có thể ngắn hơn thời gian
sử dụng hữu ích thực tế của nó Vì vậy, việc ước tính thời gian sử dụng hữuích của một TSCĐ hữu hình hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan củanhà quản trị, họ có thể tăng, giảm chi phí khấu hao bằng cách thay đổi ướctính thời gian sử dụng của tài sản
- Ước tính số lần phân bổ hay mức phân bổ của chi phí trả trước
Chi phí trả trước là những khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng cóliên quan tới kết quả hoạt động chế biến, kinh doanh của nhiều kỳ hạch toán,nhiều niên độ kế toán nên chưa thể tính hết vào chi phí chế biến, kinh doanhcủa kỳ này mà phải phân bổ vào hai hay nhiều kỳ kế tiếp Mức phân bổ chiphí cho từng kỳ phụ thuộc vào số kỳ dự kiến phân bổ, cho nên công ty có thểchủ động tăng giảm chi phí của từng kỳ bằng việc xác định thời gian dự kiếnphân bổ dài hay ngắn Mặc dù một số khoản chi phí có giới hạn thời gianphân bổ nhưng trong khoản thời gian cho phép đó, công ty có thể chủ động
Trang 28thay đổi mức chi phí phân bổ cho từng kỳ Có nhiều loại chi phí trích trướcliên quan đến nhiều kỳ hạch toán như chi phí trích trước sửa chữa lớn TSCĐ;chi phí CCDC; tiền thuê cơ sở hạ tầng trả trước; chi phí nghiên cứu có giá trịlớn, chi phí thành lập công ty… Việc ước tính số lần hay mức phân bổ cáckhoản chi phí trích trước này phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà quản lý
do đó cho phép nhà quản lý có thể điều chỉnh chi phí theo mục tiêu lợi nhuậncủa mình
- Ước tính chi phí bảo hành công trình xây lắp
Việc trích lập dự phòng chi phí bảo hành công trình xây lắp thì thựchiện theo hợp đồng hoặc cam kết với khách hàng Theo Thông tư228/2009/TT-BTC, Tổng mức trích lập dự phòng bảo hành công trình xây lắptheo quy định đã cam kết với khách hàng nhưng tối đa không vượt quá 5%tổng giá trị công trình Do đó, nhà quản lý có thể chủ động thay đổi mức chiphí này trong phạm vi cho phép nhằm tác động đến lợi nhuận trong kỳ
Ước tính kế toán mỗi kỳ được thực hiện vào cuối mỗi kỳ kế toán, chẳng hạn:
- Ước tính chi phí bảo hành sản phẩm
Dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hoá, là dự phòng chi phí cho nhữngsản phẩm, hàng hoá đã bán, đã bàn giao cho người mua nhưng doanh nghiệpvẫn có nghĩa vụ phải tiếp tục sửa chữa, hoàn thiện theo hợp đồng hoặc camkết với khách hàng (Thông tư 228/2009/TT-BTC) Doanh nghiệp dự kiếnmức tổn thất trích bảo hành sản phẩm, hàng hoá đã tiêu thụ trong năm vàtiến hành lập dự phòng cho từng loại sản phẩm, hàng hoá có cam kết bảohành Do đó, việc ước tính các chi phí này phụ thuộc vào ý muốn chủ quancủa nhà quản trị mặc dù phạm vi của nó không lớn (Tổng mức trích lập dựphòng bảo hành của các sản phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp theo quyđịnh đã cam kết với khách hàng nhưng tối đa không vượt quá 5% tổng
Trang 29doanh thu tiêu thụ của các sản phẩm, hàng hoá) Tuy nhiên, nhà quản lý cóthể chủ động thay đổi mức chi phí này trong phạm vi cho phép nhằm tácđộng đến lợi nhuận trong kỳ.
- Ước tính tỷ lệ hoàn thành công trình xây lắp và cung cấp dịch vụ
Ước lượng tỷ lệ hoàn thành công việc trong ghi nhận doanh thu phụthuộc nhiều vào nhận định, kinh nghiệm và thực tế tiến độ hoàn thành côngviệc Các nhà quản trị có thể ghi nhận tăng doanh thu trong kỳ so với thực tếbằng cách đánh giá phần công việc hoàn thành hoặc tỷ lệ % giữa khối lượngcông việc hoàn thành với khối lượng công việc phải hoàn thành tăng lên vàngược lại Dù việc ước lượng phải dựa trên cơ sở hợp lý, nhưng doanh nghiệpvẫn có đủ khả năng giải trình với kiểm toán
- Ước tính giá trị sản phẩm dở dang
Doanh nghiệp có thể lựa chọn một phương pháp đánh giá sản phẩm dởdang cuối kỳ, ước tính mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang trong số cácphương pháp được phép (theo nguyên vật liệu, theo hoàn thành tươngđương ) Việc lựa chọn và ước tính này sẽ ảnh hưởng đến giá thành sảnphẩm hoàn thành và từ đó ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán Hệ quả là ảnhhưởng đến lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp
- Ước tính khoản phải thu khó đòi để lập dự phòng
Theo thông tư số 228/2009/TT-BTC của Bộ tài chính, khoản dự phòngphải thu khó đòi được trích trước vào chi phí hoạt động kinh doanh năm báocáo của công ty, giúp công ty có nguồn tài chính để bù đắp những tổn thất cóthể xảy ra trong năm kế hoạch nhằm bảo toàn vốn kinh doanh Tuy nhiên,mức trích lập dự phòng dựa vào dự kiến mức tổn thất có thể xảy ra hoặc tuổi
nợ quá hạn của các khoản nợ Do đó, nhà quản trị có thể điều chỉnh chi phí vàlợi nhuận theo mong muốn thông qua việc dự kiến mức độ tổn thất đối vớicác khoản nợ chưa đến hạn thanh toán nhưng con nợ khó có khả năng trả nợ
Trang 30hoặc điều chỉnh tuổi nợ của các khoản nợ phải thu Bên cạnh đó, nhà quản trịcòn có thể xử lý xóa nợ hoặc hoãn việc xử lý xóa các khoản nợ quá hạn trên 3năm để tác động đến chi phí và lợi nhuận trong kỳ.
- Ước tính khoản giá trị hàng tồn kho bị giảm giá để lập dự phòng
Theo VAS số 02 - Hàng tồn kho và các thông tư hướng dẫn chế độ tríchlập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, vào cuối kỳ kếtoán doanh nghiệp phải thực hiện đánh giá mới về giá trị thuần có thể thựchiện được của hàng tồn kho Khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàngtồn kho thấp hơn giá gốc của nó thì doanh nghiệp phải lập dự phòng giảm giáhàng tồn kho Mức trích lập dự phòng nhà quản lý có thể vận dụng linh hoạttùy thuộc vào mức ước tính giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồnkho Mà việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho sẽ làm cho chi phí sản xuấtkinh doanh trong kỳ tăng lên, từ đó làm ảnh hưởng đến lợi nhuận Như vậy,đối với việc ước tính khoản giá trị hàng tồn kho bị giảm giá để lập dự phòng
sẽ tạo ra khoảng trống cho nhà quản trị lựa chọn để tác động vào chi phí vàlợi nhuận trong kỳ
1.2.3 Quản trị lợi nhuận thông qua quyết định kinh doanh về thời điểm thực hiện nghiệp vụ kinh tế
Quyết định về lựa chọn thời điểm đầu tư hay thanh lý TSCĐ
Nhà quản lý có thể điều chỉnh lợi nhuận thông qua quyết định thời điểmthanh lý, nhượng bán TSCĐ để đẩy nhanh hoặc làm chậm lại việc ghi nhậnlợi nhuận hay thua lỗ các hoạt động khác Nếu lợi nhuận trong kỳ đạt thấpdoanh nghiệp có thể quyết định nhượng bán tài sản trong kỳ hoặc trì hoãnviệc đầu tư, mua sắm TSCĐ để điều chỉnh lợi nhuận Nếu việc thanh lýTSCĐ có thể dẫn đến lợi nhuận bị giảm, doanh nghiệp có thể quyết định thựchiện kỳ này để giảm lợi nhuận hoặc đẩy lùi ra kỳ sau để giữ mức lợi nhuậnđạt được trong kỳ
Trang 31Quyết định quản lý về việc thực hiện nghiệp vụ tiêu thụ
Nhà quản lý có thể quyết định đẩy lùi thời điểm lập hóa đơn bán hàngcho khách hàng sang kỳ sau hoặc ngược lại để điều chỉnh doanh thu, giá vốntrong kỳ Nhà quản lý cũng có thể tăng doanh thu thông qua việc cho phépkhách hàng mua chịu nhiều hơn, hoặc giảm giá bán sản phẩm để kích thíchsức cầu Chẳng hạn, để đạt được lợi nhuận mục tiêu, doanh nghiệp thườnggiảm giá bán hoặc nới lỏng các điều kiện tín dụng nhằm tăng lượng hàng bán
ra trong những tháng cuối năm tài chính
Quyết định về thực hiện các khoản chi phí nghiên cứu và triển khai
Doanh nghiệp có thể quyết định khi nào và mức bao nhiêu các chi phínhư chi phí nghiên cứu và triển khai, chi phí quảng cáo, chi phí sửa chữa,nâng cấp TSCĐ, chi phí bảo hành sản phẩm, doanh nghiệp có thể cắt giảmcác chi phí này để tăng lợi nhuận hoặc ngược lại Đồng thời nhà quản lý cóthể quyết định chuyển dịch về sau (hoặc ghi nhận sớm hơn) hay quyết địnhghi nhận vào niên độ phát sinh (hoặc phân bổ cho một số kỳ) đều ảnh hưởngđến chi phí và lợi nhuận trong kỳ
Quyết định về các khoản đầu tư
Các khoản đầu tư là những khoản mang lại lợi nhuận đồng thời giúpdoanh nghiệp phân tán rủi ro Tuy nhiên, khi cần gia tăng lợi nhuận cho nămhiện tại, doanh nghiệp có thể bán các khoản đầu tư đang sinh lời, việc này làmgia tăng doanh thu trong kỳ Trong trường hợp này, nhà quản lý phải cân nhắclựa chọn giữa lợi nhuận năm hiện tại và tiềm năng sinh lời lớn trong nhữngnăm tiếp theo Ngược lại, doanh nghiệp cũng có thể trì hoãn bán các khoảnđầu tư không hiệu quả, việc làm này không tốt cho doanh nghiệp Tuy nhiên,việc trì hoãn này có thể giúp doanh nghiệp tránh được việc giảm lợi nhuậntrong kỳ hiện tại
Trang 32Doanh nghiệp cũng có thể thực hiện các nghiệp vụ mua bán cổ phầncác doanh nghiệp khác, để biến các doanh nghiệp khác trở thành công ty con,công ty liên doanh, liên kết và hợp nhất BCTC từ đó thay đổi lợi nhuận.
1.3 CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN
Những mô hình nghiên cứu quản trị lợi nhuận trên thế giới thông quaviệc xác định các biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh của nhiều tác giảnhư: Healy (1985), De Angelo (1986), Jones (1991), Friedlan (1994), nhữngthay đổi của mô hình Jones (Dechow, Sloan và Sweeney, 1995),… Những môhình đo lường lợi nhuận được điều chỉnh phổ biến là: The Healy Model(1985), The DeAngelo Model (1986), The Jones Model (1991), ModifiedJones Model (1995), The Friedlan (1994) Các mô hình trên đều có ưu, nhượcđiểm và điều kiện vận dụng riêng Dưới đây tóm tắt các mô hình đo lườngbiến lợi nhuận được điều chỉnh được tổng hợp bởi Nguyễn Công Phương [5]
Discretionary accrualst (DAt) = TAt/At-1 - NDAt
Trong đó:
NDAit : Nondiscretionary accruals năm sự kiện t của công ty i
TAit : Total accruals năm t của công ty i
Ait : Tổng tài sản năm t của công ty i
n : Số năm trong kỳ ước tính
t : t-n; t-n+1; ; t-1 trong kỳ ước tính
Mô hình này của tác giả Healy Theo Healy, phần nondiscretionaryaccruals năm sự kiện chính là phần total accruals trung bình của kỳ ước tính.Điều này cho thấy, nondiscretionary accruals không thay đổi từ năm này qua
Trang 33năm khác Đồng thời, mô hình của Healy cũng cho thấy rằng tổngdiscretionary accruals trong một khoảng thời gian nhất định sẽ bằng 0 Điều
đó cho thấy nhà quản trị không thể điều chỉnh lợi nhuận trong một thời gian
vô tận Bởi vì việc điều chỉnh lợi nhuận được thực hiện chủ yếu bằng việc lựachọn các phương pháp kế toán, nếu lợi nhuận được điều chỉnh tăng trong mộtvài năm thì qua các năm kế tiếp lợi nhuận phải giảm đi Lấy ví dụ về việc lựachọn phương pháp tính khấu hao để chứng minh trong trường hợp này Ví dụnhà quản trị lựa chọn phương pháp khấu hao giảm dần để thay thế phươngpháp khấu hao theo đường thẳng Trong các năm đầu thì mức chi phí khấuhao sẽ có giá trị cao hơn so với mức chi phí khấu hao theo phương phápđường thẳng Tuy nhiên, qua các năm tiếp theo mức chi phí khấu hao này sẽthấp hơn so với mức chi phí theo phương pháp đường thẳng Điều nàychứng tỏ rằng trong một khoảng thời gian nhất định discretionary accrualsphải bằng 0
Ưu điểm của mô hình này là đơn giản về tính toán Tuy nhiên, môhình này bị hạn chế khi cho rằng nondiscretionary accruals không đổi theothời gian Trong khi đó thực tế hoàn toàn ngược lại, vì nondiscretionaryaccruals liên quan đến mức độ hoạt động của doanh nghiệp, khi mức độ hoạtđộng thay đổi, phần nondiscretionary accruals sẽ thay đổi Từ đó, cách tiếpcận này không kiểm soát được những thay đổi về mức độ hoạt động như tăngtrưởng về hoạt động, thay đổi tình trạng kinh tế Việc không kiểm soát đượccác biến này làm cho phần nondiscretionary accruals tính được không chínhxác, và từ đó đo lường phần discretionary accruals bị sai lệch
1.3.2 Mô hình DeAngelo (1986)
Biến kế toán không thể điều chỉnh của công ty i năm sự kiện:
NDAit= TAit−1
Ait−2
Trang 34Biến kế toán có thể điều chỉnh của công ty i ở năm sự kiện:
DAit= TAit
Ait−1− NDAit
Giả định của mô hình:
Năm t-1 không có quản trị lợi nhuận
NDA không đổi qua các năm
Mô hình này được phát triển bởi DeAngelo (1986) Theo mô hình này,DeAngelo giả định rằng năm đầu tiên trong kỳ ước tính không có hành độngđiều chỉnh lợi nhuận tức là discretionary accruals của năm đầu tiên bằng 0.Đồng thời tương tự như Healy, DeAngelo cũng cho rằng phầnnondiscretionary accruals không đổi theo thời gian Do đó, phần total accrualscủa năm đầu tiên trong kỳ ước tính chính là nondiscretionary accruals
Thật ra mô hình của DeAngelo có thể xem như là một trường hợp đặcbiệt của mô hình Healy chỉ khác biệt là phần nondiscretionary accruals trong
mô hình DeAngelo được đo lường dựa vào total accruals năm liền trước thay
vì trung bình total accruals trong giai đoạn ước tính như mô hình Healy Môhình DeAngelo chỉ ước tính nondiscretionary accruals chính xác trong trườnghợp năm đầu tiên của kỳ ước tính không có hành động điều chỉnh lợi nhuận
và phần nondiscretionary accruals không đổi theo thời gian Do đó, tương tựnhư mô hình Healy, mô hình DeAngelo cũng cùng chung hạn chế đó là khôngkiểm soát được phần nondiscretionary accruals thay đổi do thay đổi mức độhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Ví dụ doanh nghiệp đang trong quátrình đầu tư phát triển do đó cần đầu tư thêm nhiều máy móc thiết bị, mở rộngquy mô kinh doanh… mà ứng với mỗi loại TSCĐ sẽ có mức khấu hao khácnhau từ đó dẫn đến phần nondiscretionary accruals sẽ biến động Lúc này, nếu
sử dụng mô hình của Healy hay của DeAngelo sẽ không đo lường chính xác
Trang 35được nondiscretionary accruals dẫn đến phần discretionary accruals cũng bịsai lệch
1.3.3 Mô hình Friedlan (1994)
Healy và DeAngelo đo lường mức nondiscretionary không chính xác
do không kiểm soát được sự thay đổi mức độ hoạt động Để khắc phục nhượcđiểm này, Friedlan (1994) đã cải tiến mô hình này bằng việc kiểm soát phần
đo lường phần nondiscretionary accruals thay đổi do thay đổi mức hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Việc kiểm soát này được thực hiện bằng cáchchia nondiscretionary accuruals tính được theo mô hình DeAngelo cho doanhthu như sau:
DA it=
TA it
A it−1 Sales it−
NDA it Sales it−1
Trong đó:
Salesit: Doanh thu năm t của công ty i
Mô hình Friedlan đã khắc phục được nhược điểm của các mô hìnhHealy và DeAngelo khi đã kiểm soát được sự thay đổi mức độ hoạt động Do
đó, Friedlan đo lường phần nondiscretionary accruals chính xác hơn hai môhình của Healy và DeAngelo Mặc dù tính ưu việt của mô hình Friedlankhông bằng mô hình của Jones (nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ mô hình Jonesđược xem là tốt nhất, ví dụ các nghiên cứu của Kang và Sivaramakarishnan,1995; Thomas et Zhang, 2000) Nhưng mô hình của Friedlan thuận tiện choviệc thu thập số liệu hơn mô hình của Jones trong bối cảnh không có nguồn
cơ sở dữ liệu sẵn có
1.3.4 Mô hình Jones (1991)
Để khắc phục nhược điểm của hai mô hình nêu trên, Jones đã thử kiểmsoát ảnh hưởng của thay đổi về mức độ hoạt động kinh doanh của doanh
Trang 36nghiệp đến phần nondiscretionary accruals Theo Jones, phầnnondiscretionary accruals phụ thuộc vào doanh thu, quy mô TSCĐ theonguyên giá Do đó Jones dự đoán phần nondiscretionary accruals dựa vào cácmức biến động về doanh thu thuần và nguyên giá TSCĐ giữa năm sự kiện vànăm liền trước đó và thực hiện kiểm soát sự thay đổi này trong mô hình sau:
REVt = Doanh thu thuầnt – Doanh thu thuầnt-1
PPEt : Nguyên giá TSCĐ hữu hình cuối năm t
At-1 : Tổng tài sản cuối năm t-1
α1, α2, α3 : các tham số của từng công ty
Ước tính các tham số α1, α2, α3 thông qua mô hình sau ở kỳ ước tính:
a1, a2, a3 : Kết quả ước tính α1, α2, α3 thông qua ước tính OLS
TAit : Total accruals của năm t của công ty i
ε : residual, tương đương với phần discretionary accrualsNhư vậy, mô hình của Jones đã khắc phục được nhược điểm của hai môhình của Healy và DeAngelo thông qua việc loại bỏ giả thuyết phầnnondiscretionary accruals không thay đổi qua các năm Tuy nhiên, theo môhình của Jones, doanh thu được xem là phần không thể điều chỉnh Điều nàykhông phù hợp với thực tế, vì các nhà quản trị có thể điều chỉnh lợi nhuậnthông qua ghi nhận doanh thu bằng cách đẩy nhanh hoặc làm chậm lại cácgiao dịch kinh tế để ghi nhận doanh thu trong kỳ
Trang 371.3.5 Biến thể của mô hình Jones (The Modified Jones Model, 1995)
Dechow và các cộng sự (1995) đã đề xuất một phiên bản sửa đổi của
mô hình Jones bằng việc thay đổi biến động doanh thu bằng một biến khác gọi là biến động doanh thu bằng tiền Trong đó, biến động doanh thu bằng
tiền là phần chênh lệch giữa biến động doanh thu bán hàng và biến độngkhoản phải thu khách hàng Thông qua phiên bản cải tiến của mô hình Jones
có tên gọi là Modified Jones Model, phần nondiscretionary accruals được đolường như sau:
RECt = Phải thu khách hàng nett – Phải thu khách hàng nett-1
Các biến khác tương tự như mô hình Jones
Những thay đổi trong mô hình Modified Jones đã khắc phục đượcnhược điểm của phiên bản chính trước đó Cụ thể, những thay đổi về doanhthu được điều chỉnh bằng những thay đổi của khoản phải thu khách hàngchứng tỏ mô hình đã bác bỏ giả thuyết ngầm của Jones khi cho rằng toàn bộdoanh thu là phần nondiscretionary accruals Thay vào đó, phần doanh thuchưa thu tiền trong tổng doanh thu là phần có thể điều chỉnh theo ý muốn củanhà quản trị
Hạn chế của các mô hình Jones là để ước tính các tham số trong côngthức tính cho mỗi doanh nghiệp đòi hỏi thu thập một dãy số liệu thời giantrong quá khứ của doanh nghiệp Đây là một khó khăn khi thực hiện mô hìnhtrong bối cảnh không tồn tại một cơ sở dữ liệu sẵn có
1.3.6 Mô hình ngành của Dechow và Sloan (Industry Model, 1991)
Dechow và Sloan (1991) đã đề xuất một mô hình gọi là “mô hình
Trang 38ngành” Tương tự như mô hình Jones, mô hình ngành cũng đã loại bỏ giảithuyết về tính ổn định của phần nondiscretionary accruals theo thời gian Tuynhiên, mô hình này cho rằng phần nondiscretionary accruals trong cùng thờigian giữa các công ty cùng ngành là như nhau Từ đó, ước tính phầnnondiscretionary accruals được thực hiện thông qua nghiên cứu thực tế hoạtđộng của ngành Mô hình ngành như sau:
NDAit= β1+ β2medianj TAt
At−1
Trong đó:
β1, β2 : Các ước tính OLS trong kỳ ước tính
Về sau, chính Dechow và Sloan đã phát hiện những hạn chế của mô hình củamình Theo Dechow và các cộng sự (1995), mô hình ngành đã loại bỏ nhữngbiến động đến từng tình trạng cụ thể của mỗi doanh nghiệp Nếu phầnnondiscretionary accruals của các doanh nghiệp có những thay đổi lớn vềmức độ hoạt động sản xuất kinh doanh thì mô hình ngành không đo lườngchính xác được phần nondiscretionary accruals Mặt khác, mô hình này chỉhợp lý nếu accruals và mục tiêu quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp trongcùng ngành có sự tương quan rất chặt chẽ sau khi kiểm soát các biến tiềm
tàng khác
Trang 39KẾT LUẬN CHƯƠNG 1Lợi nhuận luôn là chỉ tiêu mà các nhà đầu tư quan tâm, là nền tảng đểxác định giá trị doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển Xuấtphát từ những bối cảnh kinh tế hoặc chính trị của doanh nghiệp, vì không đạtđược lợi nhuận mong muốn nên nhà quản trị đã thực hiện hành vi quản trị lợinhuận để đạt được mục đích của mình Những lý do đó có thể là lươngthưởng cho nhà quản lý, thu hút nguồn tài trợ bên ngoài, tránh vi phạm hợpđồng, giảm thiểu chi phí điều tiết của nhà nước, tối thiểu hóa chi phí thuế …
Thông qua việc lựa chọn phương pháp kế toán, thời điểm áp dụng cácphương pháp kế toán đó hoặc các quyết định quản lý về thực hiện nghiệp vụkinh tế nhà quản lý có thể dễ dàng điều chỉnh lợi nhuận chuyển lợi nhuận từnăm này qua năm khác nhằm đạt được mục đích của mình Những sự thay đổinày không nằm ngoài khuôn khổ pháp luật nhưng lại có ảnh hưởng đáng kểđến thông tin cho việc ra quyết định cũng như lợi ích của nhà đầu tư
Nhờ các công trình nghiên cứu về quản trị lợi nhuận của các nhà kinh
tế học đi trước mà việc nhận diện các hành vi điều chỉnh lợi nhuận của doanhnghiệp là hoàn toàn có thể thực hiện được thông qua các mô hình nghiên cứuquản trị lợi nhuận Nhìn chung, mỗi mô hình đều có những ưu điểm và tồn tạinhất định Trong đó, mô hình Modified Jones được xem là mô hình cốt lõinhất trong việc dự đoán hành động điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý.Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ mô hình Modified Jones được xem là có khảnăng dự đoán tốt hành động quản trị lợi nhuận của nhà quản lý, chẳng hạn cácnghiên cứu của Kang và Sivaramakarishnan (1995), nghiên cứu Thomas etZhang (2000) Vì mô hình này có ưu điểm là đã loại bỏ được hạn chế củanhững mô hình trước đó Do đó nghiên cứu sử dụng mô hình Modified Jonesđể nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận trong trường hợp phát hành cổ phiếulần đầu ra công chúng
Trang 40Đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúngThông tin trước khi chào bán chứng khoán ra công chúng
Phân phối chứng khoán
CHƯƠNG 2 IPO CỦA TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM VÀ
GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
2.1 NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ IPO Ở VIỆT NAM
2.1.1 Quy trình IPO
Cùng với sự ra đời của thị trường chứng khoán, các quy định về chàobán cổ phiếu lần đầu ra công chúng cũng được đưa ra theo Nghị định48/1998/NĐ-CP, nhưng nhìn chung những quy định này vẫn còn sơ sài Mãiđến năm 2006, khi Luật chứng khoán 2006 được ban hành, những quy định
về chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng mới trở nên đầy đủ và chặt chẽ
Về sau các văn bản sau như Luật chứng khoán năm 2010, văn bản hợp nhấtLuật chứng khoán do Văn phòng Quốc hội ban hành năm 2013 đều giữnguyên, không sửa đổi bổ sung các quy định này Theo đó quy trình chào bán
cổ phiếu ra công chúng có thể thể hiện qua sơ đồ sau:
Biểu đồ 2.1 Quy trình IPO
a Đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng
Tổ chức phát hành thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng phảiđăng ký với Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước Trừ trường hợp chào bán cổ