1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu các NHÂN tố ẢNH HƯỞNG đến VIỆC lập dự TOÁN ở các DOANH NGHIỆP TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ đà NẴNG

98 406 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 846,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu các nhân tố ảnhhưởng đến việc vận dụng công cụ dự toán trong kế toán quản trị sẽ giúp nhàquản trị trong việc đề ra các chính sách kế toán thúc đẩy việc vận dụng công cụ n

Trang 3

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: TS Đoàn Ngọc Phi Anh

Trang 5

Tôi xin cam đoan Luận văn "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đếnviệc lập dự toán ở các DN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng" là công trìnhnghiên cứu của riêng tôi, các dữ liệu, kết quả trong đề tài không sao chép củabất kỳ nghiên cứu nào khác đã công bố, ngoại trừ những tài liệu được trích dẫn.

Tác giả

Lê Thị Quyên

Trang 6

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Tổng quan tài liệu 2

6 Kết cấu của đề tài 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP DỰ TOÁN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LẬP DỰ TOÁN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 10

1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 10

1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị 10

1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của kế toán quản trị 11

1.1.3 KTQT và lý thuyết ngữ cảnh (contingent theory) 12

1.2 TỔNG QUAN VỀ DỰ TOÁN TỔNG THỂ TRONG DOANH NGHIỆP 13 1.2.1 Khái niệm về dự toán 13

1.2.2 Phân loại dự toán 14

1.2.3 Tầm quan trọng của lập dự toán tổng thể doanh nghiệp 16

1.2.4 Nội dung dự toán tổng thể DN 19

1.2.5 Dự toán linh hoạt 26

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC LẬP DỰ TOÁN 27

1.3.1 Qui mô doanh nghiệp 28

1.3.2 Thời gian hoạt động của DN 29

1.3.3 Cạnh tranh 29

1.3.4 Phân cấp quản lý trong doanh nghiệp 30

1.3.5 Hình thức sở hữu 31

Trang 7

1.4 NHỮNG TỒN TẠI TRONG CÁC NGHIÊN CỨU VỀ LẬP DỰ TOÁN

Ở VIỆT NAM 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 36

2.1 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU, GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 36

2.1.1 Câu hỏi nghiên cứu 36

2.1.2 Giả thiết 36

2.1.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất 40

2.2 ĐO LƯỜNG CÁC NHÂN TỐ 41

2.3 THU THẬP DỮ LIỆU 43

2.3.1 Thiết kế bảng câu hỏi 43

2.3.2 Thu thập dữ liệu 44

2.3.3 Xử lý dữ liệu 45

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 52

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53

3.1 ĐẶC ĐIỂM VỀ DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG 53

3.2 THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÔNG CỤ LẬP DỰ TOÁN Ở CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 54

3.2.1 Mức độ vận dụng các công cụ lập dự toán theo quy mô của DN 56

3.2.2 Mức độ vận dụng công cụ lập dự toán xét theo thời gian hoạt động của DN 57

3.2.3 Mức độ vận dụng các công cụ lập dự toán xét theo lĩnh vực hoạt động 59

Trang 8

3.3.1 Mức độ lợi ích cảm nhận của việc vận dụng lập dự toán xét theo

quy mô DN 62

3.3.2 Mức độ lợi ích cảm nhận của việc vận dụng lập dự toán xét theo thời gian hoạt động 63

3.3.3 Mức độ lợi ích cảm nhận của việc vận dụng lập dự toán xét theo lĩnh vực hoạt động 64

3.4 PHÂN TÍCH MÔ HÌNH HỒI QUY BỘI ĐỂ ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC LẬP DỰ TOÁN 65

3.4.1 Nghiên cứu điều kiện vận dụng mô hình 65

3.4.2 Kết quả hồi quy 69

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 74

CHƯƠNG 4: HÀM Ý CHÍNH SÁCH 75

4.1 TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 75

4.1.1 Mức độ áp dụng công cụ lập dự toán ở các doanh nghiệp trên địa bàn TP Đà Nẵng 75

4.1.2 Lợi ích của việc lập dự toán 75

4.1.3 Các nhân tố tác động đến việc lập dự toán 75

4.2 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 77

4.2.1 Kết luận 77

4.2.2 Hàm ý chính sách 79

4.3 ĐÓNG GÓP CỦA NGHIÊN CỨU, HẠN CHẾ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI 81

4.3.1 Đóng góp của nghiên cứu 81

4.3.2 Hạn chế và phương hướng phát triển đề tài 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 10

Từ viết tắt Diễn giải

Trang 11

Bảng 3-4 mức độ vận dụng công cụ lập dự toán theo lĩnh vực hoạt động

Bảng 3-5 Mức độ lợi ích cảm nhận của việc vận dụng công cụ lập dự

Bảng 3-6 Mức độ lợi ích cảm nhận của việc vận dụng lập công cụ dự

Bảng 3-7 Mức độ lợi ích cảm nhận của việc vận dụng lập dự toán xét

Bảng 3-8 Mức độ lợi ích cảm nhận của việc vận dụng lập dự toán xét

Bảng 3-9 Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo Cạnh tranh 66Bảng 3-10 Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo Phân cấp quản lý 67Bảng 3-11 Ma trận tương quan giữa các biến 68

Bảng 3-13 Kết quả kiểm định phương sai sai số không đổi 72

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kế toán quản trị có bề dày phát triển ở các nước có nền kinh tế thị trườngphát triển, nhưng đây là một lĩnh vực còn tương đối mới và bắt đầu được chútrọng từ khi Việt Nam chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, khía cạnh pháp lý của kế toán quản trị chỉ đượcchính thức thừa nhận trong Luật kế toán có hiệu lực từ 2004 Sự thay đổi của

hệ thống kế toán từ hệ thống kế toán chỉ phục vụ cho việc giám sát thuế vàquản lý tài chính của nhà nước, sang hệ thống kế toán không chỉ phục vụthông tin cho việc quản lý của nhà nước, mà còn phục vụ thông tin cho nhàquản trị DN là phù hợp với thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế

Các công cụ kế toán quản trị đã được áp dụng trong doanh nghiệp ViệtNam bao gồm nhiều nhóm như: tính giá, dự toán, đánh giá thành quả, hỗ trợ

ra quyết định và phân tích chiến lược Trong đó, dự toán là chức năng quantrọng đối với các doanh nghiệp Hoạch định là xây dựng mục tiêu của doanhnghiệp và vạch ra các bước thực hiện để đạt được mục tiêu đã đặt ra Dự toán

là việc hiện thực hóa kế hoạch trên phương diện tài chính nhằm liên kết cácmục tiêu cụ thể, chỉ rõ các tài nguyên phải sử dụng, đồng thời dự tính kết quảthực hiện trên cơ sở các kỹ thuật dự báo Việc nghiên cứu các nhân tố ảnhhưởng đến việc vận dụng công cụ dự toán trong kế toán quản trị sẽ giúp nhàquản trị trong việc đề ra các chính sách kế toán thúc đẩy việc vận dụng công

cụ này, nâng cao năng lực quản trị của DN mình

2 Mục tiêu của đề tài

- Làm rõ cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toántrong các doanh nghiệp

Trang 13

- Thông qua kết quả từ điều tra thực nghiệm, xác định mức độ sử dụng

và mức độ lợi ích cảm nhận các công cụ trong nhóm lập dự toán ở các doanhnghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán ở các doanhnghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Từ đó đề xuất các hàm ý chính sáchgóp phần thúc đẩy việc vận dụng công cụ lập dự toán trong các doanh nghiệptrên địa bàn thành phố Đà Nẵng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: nhóm công cụ dự toán tổng thể và các nhân tố

ảnh hưởng đến việc vận dụng các công cụ này trong các DN

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu này được thực hiện thông qua việc

khảo sát các DN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, hoạt động trong các lĩnhvực khác nhau không bao gồm các DN hoạt động ở lĩnh vực tài chính, bảohiểm, ngân hàng

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và địnhlượng Phương pháp định tính được sử dụng trong giai đoạn xây dựng khung

lý thuyết, phiếu điều tra và đề xuất chính sách góp phần thúc đẩy việc vậndụng công cụ lập dự toán ở các DN Phương pháp định lượng được thực hiệnthông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp các kế toán ở các DN trên địa bànthành phố Đà Nẵng bằng phiếu điều tra Dữ liệu thu thập được xử lý bằngphần mềm SPSS

5 Tổng quan tài liệu

Dự toán bao gồm các thành phần chủ yếu là một sự tính toán, dự kiến, sựphối hợp chi tiết và toàn diện, các nguồn lực, thời gian thực hiện, hệ thốngcác chi tiêu về lượng và giá trị (TS Huỳnh Lợi, 2009) Các thành phần nàyđược diễn giải như sau:

Trang 14

- Tính toán dự kiến hay kế hoạch: Thực chất đây là một sự ước tính

hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai, chỉ rõ nhữngkhối lượng công việc cần phải thực hiện Sự ước tính này chịu sự tác độngcủa những nhân tố sau:

 Nhóm các nhân tố tác động đến các hoạt động trong tương lai củadoanh nghiệp mang tính chất khách quan, tác động từ bên ngoài và vượt khỏiphạm vi kiểm soát của doanh nghiệp như điều kiện kinh doanh, chính sách,chế độ, thể lệ nhà nước, quy mô các thành phần dân cư, sự biến động của nềnkinh tế…

 Nhóm các nhân tố tác động đến các hoạt động tương lai của doanhnghiệp mang tính chất chủ quan thuộc phạm vi kiểm soát và tùy thuộc vàodoanh nghiệp như trình độ sử dụng lao động, trình độ sử dụng yếu tố vật chấtcủa quá trình sản xuất, trình độ nhận thức và vận dụng các nhân tố kháchquan…

Dự toán là một sự tính toán, dự kiến hoạt động của doanh nghiệp trong

sự tác động của hai nhóm nhân tố trên Dự toán không chỉ đề xuất các côngviệc cần phải thực hiện mà còn chỉ rõ những ảnh hưởng của các nhân tố kháchquan và chủ quan đến việc thực hiện công việc đó

- Sự phối hợp chi tiết và toàn diện: Dự toán phải được phối hợp giữa các

chi tiết một cách toàn diện, nghĩa là mọi hoạt động giao dịch của doanhnghiệp cần phải được xem xét Dự toán được lập cho từng đơn vị, phòng bankhác nhau trong doanh nghiệp, căn cứ vào thực trạng của các bộ phận và phảilập một cách hài hòa tương đối với nhau Tổng hợp dự toán ở từng bộ phận sẽhình thành dự toán tổng thể cho toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp

- Các nguồn lực: Dự toán phải chỉ rõ nguồn lực và cách thức huy động

các nguồn lực cho hoạt động Nghĩa là phải lập kế hoạch về các nguồn lực,cách sử dụng các nguồn lực như nguồn tài nguyên, nguồn vốn, nuông nhân

Trang 15

lực, điều kiện môi trường để phục vụ cho các hoạt động của doanh nghiệp.Trong hoạt động kinh doanh trước đây, các nhà kinh tế thường chỉ tập trungkhai thác, sử dụng các nguồn vật chất, lao động

- Thời gian xác định trong tương lai: dự toán thường gắn liền với một

thời hạn cụ thể trong tương lai Nếu không có yếu tố thời gian, dự toán trởthành vô nghĩa Mỗi một thời điểm, thời kỳ khác nhau, sự tác động của cácnhân tố khách quan, chủ quan, nguồn lực sử dụng đến hoạt động của doanhnghiệp sẽ khác nhau, nên những phương án, những giải pháp, những dự tínhcủa doanh nghiệp cũng sẽ khác nhau

- Hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị: hệ thống các chỉ tiêu cho

thấy lập dự toán phải theo một trình tự và đảm bảo tính logic Các hoạt động

và giao dịch khác nhau được thể hiện bằng các đơn vị đo lường khác nhau, cụthể như số lượng nguyên vật liệu, số lượng sản phẩm sản xuất, số lượng laođộng… Bên cạnh sử dụng chỉ tiêu về số lượng để đo lường các số tương đốicần gộp chúng vào một kế hoạch tổng thể, nên phải sử dụng thước đo tiền tệlàm mẫu chung quy đổi các đối tượng Như vậy, dự toán sẽ xác định một cách

cụ thể các chỉ tiêu về số lượng, giá trị

Hiện nay các nghiên cứu về dự toán chủ yếu là các luận văn thạc sĩ, luậnvăn cử nhân nghiên cứu việc lập dự toán tổng thể ở một doanh nghiệp cụ thể.Việc nghiên cứu về dự toán trên một tổng thể DN chưa được thực hiện, màchủ yếu là nghiên cứu chung về vận dụng Kế toán quản trị, trong đó dự toánđược nhắc đến là một trong các công cụ của KTQT ở các nghiên cứu

 Tổng quan về các nghiên cứu dự toán tổng thể tại một DN cụ thể

Trong nghiên cứu của Võ Thị Thùy Linh (2011) về công tác lập dự toánhoạt động tại Công ty Cổ phần công nghệ Đà Nẵng, tác giả đã nêu ra thựctrạng công tác lập dự toán, đồng thời chỉ ra các ưu nhược điểm trong công táclập dự toán tại Công ty, từ đó đưa ra các đề xuất để hoàn thiện công tác lập tại

Trang 16

đậy Tác giả cho rằng để có một hệ thống dự toán đồng bộ, chính xác và kịpthời cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận khác nhau trong mộtcông ty, những người làm công tác lập dự toán cần phối hợp làm việc với cácphòng ban khác nhau Công tác lập dự toán hết sức phức tạp đòi hỏi ngườilàm công tác kế toán không những am hiểu chuyên sâu và tổng hợp về kế toántài chính mà còn phải có thêm kiến thức về kế toán quản trị và phân tích tàichính Bên cạnh việc việc bố trí nhân viên phù hợp trình độ còn cần kết hợpcác chính sách khuyến khích nhân viên tự đào tạo lại và bổ sung kiến thức đểthực hiện và phối hợp công việc ngày càng trôi chảy Bên cạnh vấn đề vềnhân sự, thì hệ thống trang thiết bị phục vụ công tác dự toán cũng giữ một vaitrò hết sức quan trọng Việc lập dự toán được thực hiện liên quan đến nhiều

bộ phận, phòng ban và các đơn vị trực thuộc ở Công ty Để tiết kiệm thời giancông sức và chi phí thì Công ty nên khai thác triệt để ứng dụng của hệ thốngmạng nội bộ đang có thông qua việc phân quyền sử dụng và chia sẻ thông tinthu thập được từ bộ phận kế toán ở các đơn vị phục vụ cho việc lập dự toán

Dự toán là công việc quan trọng và cần thiết giúp doanh nghiệp chủ độnghơn trong hoạt động của mình Từ những lợi ích mà dự toán mang lại chothấy các doanh nghiệp cần nghiên cứu ứng dụng và ngày càng hoàn thiện hơncông tác dự toán tại đơn vị mình để công việc kinh doanh và quản lý ngàycàng thuận lợi và hiệu quả hơn Hệ thống các báo cáo dự toán đã được xâydựng phục vụ cho các cấp quản lý theo từng loại dịch vụ nên việc theo dõithực hiện dễ dàng phát hiện ra các dịch vụ không mang lại hiệu quả kinh tếcao để có hướng điều chỉnh kịp thời Tuy nhiên do chưa có sự chia sẻ thôngtin giữa các phòng ban nên trong quá trình lập dự toán gặp nhiều khó khăn,lãng phí về mặt thời gian và công sức của bộ phận lập dự toán (Nguyễn ThịCúc, 2011)

Trang 17

Trong một nghiên cứu khác của tác giả Lê Thị Lệ Chi (2012) bàn về việchoàn thiện công tác lập kế hoạch ngân sách tại Tổng công ty Cổ phần mayHòa Thọ, tác giả cho ra rằng ngân sách giúp cá nhân, bộ phận hay tổ chức đạtđược mục tiêu theo kế hoạch; giúp điều phối các hoạt động của những nhàquản lý và những bộ phận khác nhau; là cách để tổ chức có thể thu thập thôngtin nhằm đánh giá mức độ tiến triển và thích ứng của kế hoạch kinh doanhthống nhất khi xem xét thực tế hoạt động Từ thực tế nghiên cứu, tác giả chỉ

ra rằng: lập kế hoạch ngân sách là một hoạt động quản trị tài chính với nhiềulợi ích, nó hướng dẫn cách thức để đi đến các mục tiêu của tổ chức, giúp kiểmsoát chi phí hiệu quả, tạo sự thống nhất trong tổ chức Bên cạnh đó, tác giảcũng đã đề cập đến nhiều vấn đề còn tồn tại trong công tác lập dự toán tại đơn

vị như: quy trình lập ngân sách chưa có sự phối hợp giữa các phòng ban,nhiều nội dung ngân sách vẫn chưa được lập

Trong một nghiên cứu gần đây của tác giả Vũ Văn Thuật (2014) “Hoànthiện công tác hoạch định ngân sách tại Công ty Cổ phần thủy điện Đăk RơSa”, tác giả cũng đã chỉ ra được nội dung, phương pháp và quy trình lập ngânsách tại đơn vị này, đánh giá thực trạng công tác hoạch định ngân sách; từ đó

đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hoạch định ngân sách tại đơn

vị Và cũng trong nghiên cứu này, tác giả cho rằng sự thay đổi môi trườngkinh doanh và sự tác động của các đối thủ cạnh tranh là căn cứ để hoàn thiệncông tác lập dự toán ở đây nhằm định hướng và kiểm soát được toàn bộ hoạtđộng sản xuất của doanh nghiệp

 Tổng quan về các nghiên cứu công cụ KTQT

Trong nghiên cứu này, tác giả còn sử dụng kết quả của nhiều nghiên cứutrước về sự vận dụng công cụ KTQT và các nhân tố ảnh hưởng đến việc vậndụng công cụ KTQT ở các nước

Trang 18

Kamilah Ahmad (2012) đã tiến hành nghiên cứu việc áp dụng trong cácDNVVN trong lĩnh vực sản xuất ở Malaysia Ông sử dụng danh mục các công

cụ KTQT được đưa ra bởi Chenhall và Langfield-Smith Kết quả nghiên cứu

từ 160 DN cho thấy tỷ lệ áp dụng các công cụ KTQT truyền thống cao hơn sovới các công cụ KTQT hiện đại Đặc biệt là các công cụ KTQT liên quan đếnviệc tính giá, lập dự toán và hệ thống đánh giá thành quả được sử dụng rộngrãi hơn hệ thống hỗ trợ ra quyết định và KTQT chiến lược Các DN vừa có xuhướng sử dụng các công cụ liên quan đến hỗ trợ ra quyết định và KTQT chiếnlược nhiều hơn các DN nhỏ Kết quả cũng cho thấy rằng, nghiên cứu việc ápdụng các công cụ KTQT có vai trò quan trọng trong việc đánh giá thành quảhoạt động và hoạt động kiểm soát trong việc quản lý ở DNVVN Nghiên cứucũng cho thấy rằng, 4 nhân tố ảnh hưởng đến mức độ vận dụng KTQT ởDNVVN ở Malaysia gồm: quy mô DN, mức cạnh tranh trên thị trường, sưtham gia của nhà quản lý, và công nghệ sản xuất tiên tiến

Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) về mức độ vận dụng và cácnhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các Doanh nghiệp ViệtNam, bao gồm các nhân tố mang đặc tính của DN như hình thức sở hữu của

DN, quy mô DN, thời gian hoạt động, định hướng thị trường, lĩnh vực hoạtđộng, và nhân tố ngữ cảnh như nhân tố cạnh tranh, phân cấp quản lý

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các công cụ KTQT truyền thống được áp dụngnhiều hơn các công cụ KTQT hiện đại, cụ thể là dự toán doanh thu, dự toánlợi nhuận, dự toán sản xuất, tính giá theo phương pháp toàn bộ có tỷ lệ ápdụng khá cao so với các công cụ liên quan đến chức năng chiến lược, đánhgiá thành quả Dưới đây là kết quả về mức độ sử dụng công cụ dự toán trongcác DN vừa và lớn ở Việt Nam:

Trang 19

(Nguồn: trích từ Bảng 3-3, Đoàn Ngọc Phi Anh,2012)

Nghiên cứu cũng đánh giá lợi ích có được từ việc sử dụng KTQT làvừa phải, cụ thể là với thang điểm từ 1 đến 5, nhận thức về lợi ích của việcvận dụng KTQT, kết quả cũng cho thấy rằng công cụ dự toán có mức cảmnhận lợi ích tương đối cao

Dự toán cho việc kiểm soát chi phí

(Nguồn: trích từ bảng 3-6 ,Đoàn Ngọc Phi Anh,2012 )

Kết quả nghiên cứu chỉ ra có sự khác biệt lớn trong việc áp dụng cáccông cụ KTQT thuộc các hình thức sở hữu khác nhau, trong khỉ đó ảnh hưởngcác nhân tố khác như quy mô DN, thời gian hoạt động và định hướng thịtrường khong có sự tác động lớn đến việc áp dụng KTQT trong các DN Tỷ lệ

áp dụng các công cụ KTQT trong DNSX và dịch vụ cao hơn so với DNthương mại, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê Ngoài ra, nghiên cứu đã kếtluận rằng, khi DN sử dụng càng nhiều KTQT thì thành quả của DN càng lớn,các nhà quản trị DN cần đẩy mạnh việc phân cấp quản lý, tạo điều kiện chocác công cụ KTQT được sử dụng rộng rãi, đồng thời cần khuyến khích đơn vịmình sử dụng KTQT nhiều hơn để góp phần nâng cao thành quả hoạt độngcủa DN

Các nghiên cứu về dự toán ở các DN chưa được thực hiện nhiều ở ViệtNam Trong nghiên cứu về dự toán tổng thể tại một DN chỉ mới khái quátđược nội dung và phương pháp lập dự toán cũng như một số đề xuất giải pháp

Trang 20

hoàn thiện cho chính đơn vị đó, chưa bàn tới vấn đề chung về lập dự toán ở cá

DN Trong nghiên cứu của Kamilah Ahmad (2012) đã đánh giá về mức độvận dụng KTQT và các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ vận dụng ở DN nhỏ vàvừa ở lĩnh vực sản xuất ở Malaysia, khoảng trống của nghiên cứu là chưa đềcập đến các lĩnh vực khác như thương mại, dịch vụ Trong nghiên cứu củaKTQT Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) đã đánh giá về công cụ dự toán và cáccông cụ KTQT khác trong các DN vừa và lớn ở Việt Nam, không có tiếnhành khảo sát ở các DN nhỏ Tổng hợp tài liệu từ các nghiên cứu trước, và đểphù hợp với ngữ cảnh ở TP Đà Nẵng có phần lớn các DN ở quy mô nhỏ vàvừa, trong nghiên cứu này, tác giả tiến hành khảo sát mức độ vận dụng công

cụ lập dự toán và đánh giá kết quả các nhân tố ảnh hưởng tới việc lập dự toán

ở DN nhỏ, vừa và lớn hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịchvụ

6 Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm 4 chương:

Chương 1: Cở sở lý luận về lập dự toán và các nhân tố ảnh hưởng tới

việc lập dự toán trong các DN.

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Hàm ý chính sách

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP DỰ TOÁN VÀ CÁC NHÂN

TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LẬP DỰ TOÁN TRONG CÁC

DOANH NGHIỆP

1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị

Trang 21

Kế toán quản trị là quá trình xác định, ghi nhận, xử lý, tổng hợp, phântích thông tin kế toán nhằm trợ giúp các nhà quản trị trong việc ra quyết định,nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức (Horngren, 1996) Theo Chenhall thì kếtoán quản trị đề cập đến các công cụ dự toán, tính giá thành sản phẩm, trongkhi đó hệ thống kế toán quản trị đề cập đến việc sử dụng kế toán quản trị mộtcách có hệ thống để đạt được những mục tiêu nhất định (Chenhall, 2003, tr129)

Hiệp hội kế toán Mỹ định nghĩa: kế toán quản trị là quá trình định dạng,

đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệutài chính và phi tài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch, theo dõi việc thựchiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp, đảm bảo việc sử dụng cóhiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này Những người bêntrong doanh nghiệp rất đa dạng, gọi chung là các nhà quản lý, nhưng nhu cầuthông tin của họ phản ánh một mục đích chung là phục vụ quá trình ra quyếtđịnh nhằm tối đa hóa lợi nhuận

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về hệ thống kế toán quản trị, tuynhiên các định nghĩa này đều có điểm chung là hệ thống kế toán quản trị tạo

ra thông tin trợ giúp nhà quản trị trong việc lập dự toán, phối hợp hoạt độnggiám sát và đánh giá thành quart hoạt động của từng bộ phận cũng như củatoàn đơn vị (MacDolnald, 1999)

1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của kế toán quản trị

Để đảm nhận được vai trò cung cấp thông tin cho nhà quản trị , kế toánquản trị có các chức năng sau:

a) Phân tích cách ứng xử của chi phí

Phân tích cách ứng xử chi phí là một nội dung cơ bản của quản trị chiphí Không thể dự toán, hoạch định, cũng như kiểm tra kiểm soát mà khôngbiết rõ đặc điểm và phân loại một cách cụ thể các loại chi phí Trong phân

Trang 22

tích chi phí cần phải xem xét nội dung, bản chất của từng loại chi phí cũngnhư các hình thức biểu hiện của chi phí thông qua nhiều tiêu thức sắp xếpkhác nhau

b) Lập dự toán và truyền đạt thông tin

Để sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp có thể tiến hành một cáchthường xuyên, liên tục, các Doanh nghiệp phải thiết lập các kế hoạch Mọihoạt động của DN đều được tiến hành theo kế hoạch ngắn hạn, trung hạn, dàihạn đã xây dựng

Để thực hiện chức năng này, KTQT phải tổ chức việc thu thập các thôngtin cần thiết để lập dự toán bao gồm thông tin về tổ chức, về định mức, chi phítiêu chuẩn, các thông tin kế toán tài chính, thống kê cũng như các kỹ thuậttính toán, ước tính phục vụ cho việc lập dự toán của DN

Qua các dự toán này, nhà quản trị dự tính được những gì sẽ xảy ra trongtương lai, kể cả những điều bất lợi, thuận lợi, cho Doanh nghiệp trong quátrình thực hiện dự toán Các dự toán này đóng vai trò hạt nhân quan trọngtrong việc thực hiện các chức năng hoạch định, kiểm tra, kiểm soát của quảntrị Thực hiện mục tiêu này, KTQT phải đảm bảo truyền đạt các thông tin dựtoán và thông tin khác cho bộ phận liên quan trong nội bộ doanh nghiệp Dựtoán này phải được lập một cách toàn diện, đầy đủ tất cả các bộ phận, baogồm cả dự toán tổng thể và dự toán đầu tư

c) Kiểm tra, đánh giá, cổ động

KTQT có nhiệm vụ thực hiện việc kiểm tra kiểm soát hoạt động kinhdoanh từ trước, trong và sau quá trình hoạt động kinh doanh của đơn vị.Thông qua kết quả so sánh cho thấy sự khác nhau giữa thực hiện với dự toán

đã lập, tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng để có thể điều chỉnh quá trình thựchiện, cũng như đánh giá kết quả, thành tích của cá nhân, bộ phận Trên cơ sở

Trang 23

đó, nhà lãnh đạo mới có thể có các chính sách hỗ trợ, cổ động đến các nhânviên, các bộ phận trong Doanh nghiệp.

d) Hỗ trợ ra quyết định

Ra quyết định là một công việc thường xuyên, ảnh hưởng đến mọi hoạtđộng của Doanh nghiệp Quá trình này rất cần các thông tin cụ thể từ nhiềunguồn thông tin, trong đó chủ yếu là thông tin của kế toán quản trị; để các nhàquản trị xem xét, cân nhắc lựa chọn từ các phương án khác nhau rồi tìm raphương án tối ưu với hiệu quả cao nhất mà rủi ro thấp nhất cho DN

1.1.3 KTQT và lý thuyết ngữ cảnh (contingent theory)

Lý thuyết ngữ cảnh về KTQT cho rằng “không có một hệ thống kế toánthống nhất nào có thể áp dụng cho tất cả các DN trong mọi ngữ cảnh” (Otley,1980) Hay nói cách khác, một hệ thống KTQT thích hợp với DN lệ thuộc vàođặc điểm của DN đó, cũng như ngữ cảnh mà DN đó hoạt động

Các nghiên cứu dựa trên lý thuyết ngữ cảnh xem xét các công cụ KTQTvừa là biến độc lập, vừa là biến phụ thuộc Khi xem KTQT là biến phụ thuộc,một vài nghiên cứu sử dụng lý thuyết này để kiểm chứng mối quan hệ giữaviệc sử dụng các công cụ KTQT và các nhân tố ngữ cảnh ảnh hưởng đến DN.Những nhân tố này bao gồm: môi trường hoạt động, cấu trúc DN, công nghệ,quy mô DN và chiến lược Khi xem KTQT là biến độc lập, một số nghiên cứu

đã kiểm chứng mối quan hệ giữa việc sử dụng KTQT với thành quả của việc

sử dụng KTQT

Lý thuyết ngữ cảnh sẽ được sử dụng trong nghiên cứu này để giải thíchcác nhân tố ảnh hưởng đến việc lập dự toán trong ngữ cảnh của DN trên địabàn thành phố Đà Nẵng

1.2 TỔNG QUAN VỀ DỰ TOÁN TỔNG THỂ TRONG DOANH NGHIỆP

1.2.1 Khái niệm về dự toán

Trang 24

Theo Horngeren (2006, tr 181) dự toán là biểu hiện định lượng của một

kế hoạch trong một thời gian nhất định và xác định những yếu tố cần thiết đểphối hợp thực hiện kế hoạch đó Blumentritt (2006, tr.73) thì cho rằng dự toán

là quá trình phân bổ nguồn lực tài chính của một tổ chức cho các đơn vị vàcác hoạt động đầu tư khác của tổ chức đó

Các tổ chức lập dự toán cho các mục đích khác nhau Trong số các lợiích của việc lập dự toán đáng chú ý đó là dự báo về tương lai, đánh giá thànhquả, đo lường thành tích, thúc đẩy động viên người lao động, kiểm soát vàđịnh giá (Joshi và Com, 1997)

Theo Anthony (2001), các tổ chức thường lập ra trước các kế hoạch Một

tổ chức không thể phát triển nếu họ không nghĩ đến các mục tiêu ở tương lai

và cái cách mà họ đạt tới Một nhóm người mà không hoạt động theo bất kỳ

kế hoạch nào thì họ chỉ đơn thuần là một đám đông rời rạc, không có địnhhướng, và như vậy không được coi là một tổ chức

Theo Zdanowicz ( 2004), thì dự toán là một kế hoạch tài chính cho hoạtđộng kinh doanh dựa trên vốn chủ sở hữu, các chi tiết xây dựng kế hoạch này

có thể khác nhau ở các công ty tùy theo nhu cầu của họ, nhưng về bản chất thìtương tự nhau Tác giả chỉ ra rằng: dự toán là một công cụ để mô tả một hoạtđộng nói chung, một kế hoạch về việc sử dụng vốn định hướng theo các mụctiêu đã đặt ra trong một khoảng thời gian nhất định

Trong các chức năng của quản trị, hoạch định là chức năng quan trọngkhông thể thiếu đối với mọi doanh nghiệp Kế hoạch là xây dựng mục tiêucủa doanh nghiệp và vạch ra các bước thực hiện để đạt được mục tiêu đã đặt

ra Dự toán là việc hiện thực hóa kế hoạch trên phương diện tài chính nhằmliên kết các mục tiêu cụ thể, chỉ rõ các tài nguyên phải sử dụng, đồng thời dựtính kết quả thực hiện trên cơ sở các kỹ thuật dự báo (Võ Thị Thùy Linh,2011)

Trang 25

Các mục tiêu của việc lập dự toán không chỉ là dự đoán những gì sẽ xảy

ra và hoạt động kiểm soát sau này của mình, mà nó là quá trình thiết lập vàphối hợp các mục tiêu cho tất cả các lĩnh vực của công ty, trong một cách màtất cả mọi người cùng hợp tác làm việc để thực hiện kế hoạch lợi nhuận(Padoveze, 1994)

1.2.2 Phân loại dự toán

Tùy theo nhu cầu cung cấp thông tin của nhà quản lý cũng như mục đíchphát triển của doanh nghiệp trong tương lai, khi xây dựng dự toán các nhàquản trị có thể lựa chọn các loại dự toán khác nhau Căn cứ vào từng tiêu thứcphân loại cụ thể, dự toán được phân loại thành:

a) Phân loại theo chức năng

Theo tiêu thức này thì dự toán gồm 2 loại, đó là dự toán hoạt động và dựtoán tài chính

Dự toán hoạt động là dự toán phản ánh mức thu nhập và chi phí đòi hỏi

để đạt mục tiêu lợi nhuận Dự toán tài chính là dự toán phản ánh tình hình tàichính theo dự kiến và cách thức tài trợ cần thiết cho các hoạt động đã lập dựtoán Mỗi loại dự toán trên gồm nhiều dự toán bộ phận liên quan

Trong một DN sản xuất, dự toán tổng thể thường bao gồm những nộidung sau:

- Dự toán hoạt động, bao gồm:

+ Dự toán sản xuất

+ Dự toán chi phí vật tư và cung ứng vật tư cho sản xuất

+ Dự toán chi phí nhân công trực tiếp

+ Dự toán chi phí sản xuất chung

+ Dự toán giá vốn hàng bán

+ Dự toán chi phí bán hàng

Trang 26

+ Dự toán chi phí quản lý DN

+ Dự toán chi phí tài chính

- Dự toán tài chính, bao gồm:

+ Dự toán vốn (dự toán đầu tư)

+ Dự toán đầu tư

+ Báo cáo kết quả kinh doanh dự toán

+ Bảng cân đối kế toán dự toán

+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dự toán

b) Phân loại theo mối quan hệ với mức độ hoạt động

Theo cách phân loại này thì dự toán gồm hai loại: dự toán tĩnh và dự toánlinh hoạt

- Dự toán tĩnh: là dự toán được lập theo một mức độ hoạt động nhất

định Dự toán tĩnh sẽ không bị điều chỉnh hay thay đổi kể từ khi được lập ra;bất kể có sự thay đổi về doanh thu tiêu thụ, các điều kiện kinh doanh xảy ratrong kỳ dự toán Nhưng trong thực tế, sự biến động của các yếu tố chủ quan

và khách quan thường xuyên như: sự lên xuống của giá cả thị trường, biếnđộng về sản lượng tiêu thụ, thay đổi các chính sách kinh tế… Do đó, dự toántĩnh thường phù hợp với những DN sản xuất sản phẩm theo đơn đặt hàng, tìnhhình sản xuất kinh doanh ổn định

- Dự toán linh hoạt: là dự toán được lập với nhiều mức độ hoạt động

nhất định trong cùng một phạm vi hoạt động Dự toán linh hoạt giúp nhà quảntrị thấy được sự biến động chi phí khi mức độ hoạt động thay đổi Do đó, nó

có ý nghĩa trong việc đánh giá hiệu quả kiểm soát chi phí thực tế của DN vàphù hợp với những DN sản xuất theo nhu cầu thị trường

c) Phân loại theo thời gian

Bao gồm dự toán ngắn hạn và dự toán dài hạn:

Trang 27

- Dự toán ngắn hạn: là dự toán chủ đạo được lập trong một năm tài

chính hoặc dưới một năm, và được chia thành từng kỳ ngắn hơn là từng quý,tháng, từng tuần phù hợp với kỳ kế toán của DN nhằm thuận tiện cho việcđánh giá giữa kết quả thực hiện và kế hoạch Dự toán ngắn hạn thường liênquan đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN như: tiêu thụ, sản xuất,bán hàng, thu, chi… Dự toán này thường được lập hàng năm trước khi kếtthúc niên độ kế toán nhằm hoạch định kế hoạch kinh doanh của DN trongnăm kế hoạch tiếp theo Như vậy, để cung cấp thông tin đáng tin cậy cho việclập dự toán ở các kỳ tiếp theo, đòi hỏi các nhà quản lý phải luôn luôn đánh giáđúng tình hình thực hiện dự toán

- Dự toán dài hạn: còn được gọi là dự toán vốn, dự toán này liên quan

đến tài sản cố định Dự toán vốn là việc sắp xếp các nguồn lực về tiền để thuđược số lợi nhuận dự kiến trong tương lai trung hoặc dài hạn Dự toán vốnliên quan đến việc ra quyết định đầu tư dài hạn nên cần phải có một sự phântích, thẩm định hiệu quả tài chính dự án đầu tư một cách khoa học

1.2.3 Tầm quan trọng của lập dự toán tổng thể doanh nghiệp

 Kiểm tra

Trang 28

Kiểm tra là quá trình so sánh kết quả thực hiện với kế hoạch và đánh giáviệc thực hiện đó Kiểm tra phụ thuộc vào kế hoạch, không có kế hoạch thìkhông có cơ sở để so sánh kết quả và đánh giá việc thực hiện Nếu khôngkiểm tra, dự toán ngân sách sẽ không phát huy hết tác dụng vốn có của nó.Việc đánh giá các mục tiêu đề ra được cung cấp bởi các báo cáo thực hiện.Báo cáo thực hiện là tài liệu trình bày số liệu dự toán và kết quả thực hiện, sosánh để thấy được sự thay đổi giữa thực hiện và dự toán Nếu sự thay đổi đólớn, vượt quá mức cho phép, người quản lý sẽ điều tra nguyên nhân của sựthay đổi, thấy được những hoạt động đúng đắn cần phải phát huy và nhữnghoạt động sai lầm cần loại bỏ.

Báo cáo thực hiện thông tin cho người quản lý thấy được những mặt hoạtđộng không xảy ra theo kế hoạch Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, sai lầmnằm ngay trong dự toán, do dự toán không sát thực tế

Tóm lại, so sánh kết quả thực hiện với dự toán ngân sách được xem là kỹthuật kiểm soát trong quản lý Người quản lý không chỉ biết dự tính cái gì màcòn phải biết những dự tính đó được hoàn thành như thế nào Nếu kết quả xảy

ra không theo dự tính, người quản lý phải có những biện pháp để điều chỉnhhoạt động ngày càng tốt hơn

b) Vai trò

Dự toán là cơ sở định hướng và chỉ đạo mọi hoạt động kinh doanh cũngnhư phối hợp các chương trình hành động ở các bộ phận, là cơ sở để kiểm trakiểm soát các nội dung chi phí cũng như nhiệm vụ từng bộ phận Thực hiệnchức năng này, kế toán quản trị phải tổ chức việc thu thập các thông tin cầnthiết để lập dự toán gồm thông tin về tổ chức, về định mức, về chi phí tiêuchuẩn, các thông tin kế toán tài chính, thống kế cũng như kỹ thuật tính toán,ước tính phục vụ cho việc lập dự toán ở doanh nghiệp Qua các dự toán này,nhà quản trị dự tính được những gì sẽ xảy ra trong tương lai, kể cả những điều

Trang 29

bất lợi, thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện dự toán Các

dự toán này đóng vai trò hạt nhân quan trọng trong việc thực hiện các chứcnăng hoạch định, kiểm tra, kiểm soát của quản trị Thực hiện mục tiêu này, kếtoán quản trị phải đảm bảo truyền đạt các thông tin dự toán và thông tin kháccho bộ phận liên quan trong nội bộ doanh nghiệp Dự toán này phải được lậpmột cách toán diện, đầy đủ tất cả các bộ phận bao gồm cả dự toán tổng thể và

dự toán đầu tư

c) Sự hữu ích của công cụ lập dự toán

Trong các nghiên cứu trước đây, sự hữu ích của công cụ lập dự toánđược đo lường thông qua nhận thức của người sử dụng, tức là nó được đo dựatrên cảm nhận của người được phỏng vấn về việc lập dự toán hỗ trợ tronghoạt động của mình (Chenhall và Langfield – Smith, 1998) Lợi ích dựa trênnhận thức trong những nghiên cứu này được đo lường dựa trên thang đoLikert từ không có ích đến rất có ích Kết quả các nghiên cứu này cho thấyrằng các công cụ KTQT truyền thống được nhận thức là đem lại nhiều lợi íchhơn các công cụ hiện đại ở Úc Kết quả tương tự như vậy trong một nghiêncứu của Joshi (2001) tại Ấn Độ

Tuy nhiên, có một số nghiên cứu khác lại đưa ra những kết luận khác về

sự hữu ích của công cụ lập dự toán Họ cho rằng việc lập dự toán có thể dẫnđến những hành vi bất thường phục vụ cho lợi ích nhóm hoặc cá nhân, và tốnmột lượng lớn thời gian quản lý Ngoài ra, chúng còn cản trở doanh nghiệp về

sự linh động và thích nghi trong môi trường ngày càng khó lường, do đókhông đồng bộ với yêu cầu cạnh tranh (Hope and Fraser, 2003)

Trong một cuộc khảo sát nghiên cứu về sự ích của việc lập dự toán ởMalaysia ( Nik Nazli Nik Ahmad và cộng sự, 2003), tác giả đã đưa ra kết luậnrằng nhiều công ty ở nước này sử dụng nhóm công cụ lập dự toán Nó là mộtphần quan trong trong khâu lập kế hoạch và kiểm soát Theo nghiên cứu này

Trang 30

thì dự toán sẽ trở nên không còn ý nghĩa quan trọng nữa khi doanh nghiệp ởtrong môi trường hoạt động có sự thay đổi nhanh chóng.

1.2.4 Nội dung dự toán tổng thể DN

Dự toán tổng thể là tổ hợp của nhiều dự toán của mọi hoạt động của DN,

có liên hệ với nhau trong một thời kỳ nào đó Dự toán tổng thể có thể lập chonhiều thời kỳ như tháng, quý, năm Hình thức và số lượng các dự toán thuộc

dự toán tổng thể tùy thuộc vào từng loại hình DN

Dự toán được xây dựng dựa trên cơ sở của dự báo Kết quả của quá trìnhxây dựng dự toán là các báo cáo nội bộ và các báo cáo đó không thể cung cấpcho người ngoài DN Dự toán tổng thể chính là kỳ vọng hoặc mong muốn củanhà quản lý về những công việc mà DN dự tính hành động cũng như kết quảtài chính của các hoạt động đó

Do hoạt động của DN sản xuất thường đa dạng và phức tạp nhất nêntrình tự xây dựng dự toán tổng thể ở DNSX được xét đến nội dung này

a) Dự toán tiêu thụ

Dự toán tiêu thụ là nền tảng của dự toán tổng thể DN, vì dự toán này sẽxác lập mục tiêu của DN so với thị trường, với môi trường Tiêu thụ đượcđánh giá là khâu thể hiện chất lượng hoạt động của DN Hơn nữa, về mặt lýthuyết tất cả các dự toán khác của DN suy cho cùng đều dựa vào loại dự toántiêu thụ Dự toán tiêu thụ chi phối đến các hoạt động khác, nếu xây dựngkhông phù hợp sẽ ảnh hưởng đến chất lượng dự toán tổng thể DN Dự toántiêu thụ được lập dựa trên dự báo tiêu thụ Dự toán tiêu thụ bao gồm nhữngthông tin về chủng loại, số lượng, giá bán, và cơ cấu sản phẩm tiêu thụ

Ngoài ra, dự toán tiêu thụ còn dự báo cả mức bán hàng thu bằng tiền vàbán hàng tín dụng, cũng như các phương thức tiêu thụ Khi lập dự toán tiêuthụ, các nhà quản lý cần xem xét ảnh hưởng chi phí Marketing đến hoạt động

Trang 31

tiêu thụ tại DN Trong DN, bộ phận kinh doanh hoặc Marketing có tráchnhiệm trực tiếp cho việc lập dự toán tiêu thụ.

 Số lượng sản phẩm tiêu thụ dự toán được sác định theo dự toán tiêu thụ

 Nhu cầu sản phẩm tồn kho theo mong muốn của nhà quản trị Đâychính là mức dự trữ tối thiểu cần thiết để phục vụ tiêu thụ cho kỳ sau thời kỳ

dự toán Mức tồn kho cuối kỳ dựt ính nhiều hay ít thường phụ thuộc vào độdài chu kỳ sản xuất Nhu cầu này được xác định theo một tỷ lệ phần trăm nhucầu tiêu thụ của kỳ sau

 Khả năng sản xuất của đơn vị

c) Dự toán chi phí sản xuất

Lập dự toán chi phí sản xuất nhằm xác định toàn bộ chi phí để sản xuấtmột khối lượng sản phẩm đã được xác định trước Quá trình sản xuất nàocũng luôn gắn với một trình độ kỹ thuật trong một thời kỳ nhất định Do vậy,khó có thể có một phương pháp dự toán chung cho tất cả mọi loại hình khácnhau Ở phương pháp tổng quát, chi phí sản xuất sản phẩm gồm ba khoảnmục: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sảnxuất chung Dự toán chi phí sản xuất thể hiện đầy đủ ba loại chi phí này.Nhiệm vụ đặt ra trong phần này không chỉ xác định chi phí sản xuất cụ thểcho từng loại, từng đơn vị mà còn phải chú ý đến nhiệm vụ cắt giảm chi phí

mà DN có thể thực hiện

- Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

Trang 32

Dự toán này phản ánh tất cả chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cần thiết đểđáp ứng yêu cầu sản xuất đã được thể hiện trên dự toán khối lượng sản phẩmsản xuất Để lập dự toán nguyên liệu trực tiếp cần xác định:

+ Định mức tiêu hao nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm

+ Đơn giá xuất nguyên vật liệu Thông thường đơn giá xuất ít thay đổi.Tuy nhiên để có thể phù hợp với thực tế và làm cơ sở cho việc kiểm tra, kiểmsoát khi dự toán đơn giá này phải biết doanh nghiệp sử dụng phương pháptính giá hàng tồn kho nào

+ Mức độ dự trữ nguyên vật liệu vào cuối kỳ dự toán được tính toán trên

cơ sở lý thuyết quản trị tồn kho

- Dự toán cung cấp nguyên vật liệu

Dự toán cung cấp nguyên vật liệu được lập cho từng loại nguyên vật liệucần thiết để thực hiện quá trình sản xuất trên cơ sở số lượng nguyên vật liệu

dự toán cần thiết sử dụng và chính sách dự trữ tồn kho của doanh nghiệp theocông thức sau:

Số tiền cần thiết phải chuẩn bị để mua nguyên vật liệu được tính toándựa vào việc dự báo đơn giá mua nguyên vật liệu và dự toán mua nguyên vậtliệu trực tiếp được xây dựng Đơn giá nguyên vật liệu là giá thanh toán vớinhà cung cấp

- Dự toán chi phí nhân công trực tiếp

Dự toán chi phí nhân công trực tiếp được xây dựng từ dự toán khối lượngsản xuất Dự toán này cung cấp những thông tin quan trọng liên quan đến quy

mô của lực lượng lao động cần thiết cho kỳ dự toán Mục tiêu cơ bản của dựtoán này là duy trì lực lượng lao động vừa đủ để đáp ứng yêu cầu sản xuất,tránh tình trạng lãng phí hoặc bị động trong sử dụng lao động Dự toán laođộng còn là cơ sở để doanh nghiệp lập dự toán về đào tạo, tuyển dụng trongquá trình hoạt động sản xuất

Trang 33

Chi phí nhân công trực tiếp thường là biến phí trong mối quan hệ vớikhối lượng sản phẩm sản xuất Trong một số ít các trường hợp chi phí nhâncông trực tiếp không thay đổi theo mức độ hoạt động, đó là trường hợp ở cácdoanh nghiệp sử dụng công nhân có trình độ tay nghề cao, không thể trả côngtheo sản phẩm Để lập dự toán chi phí này, doanh nghiệp phải tính toán dựavào số lượng nhân công, quỹ lương, cách phân phối lương.

- Dự toán chi phí sản xuất chung

Chi phí sản xuất chung là các chi phí liên quan đến phục vụ và quản lýhoạt động sản xuất, phát sinh trong phân xưởng Chi phí sản xuất chung baogồm cả yếu tố chi phí biến đổi và chi phí cố định, nên dự toán chi phí sản xuấtchung phải tính đến cách ứng xử chi phí để xây dựng mức chi phí dự toán hợp

lý trong kỳ Cũng có thể dự toán chi phí sản xuất chung theo từng nội dungkinh tế của chi phí Tuy nhiên, cách làm này khá phức tạp, tốn nhiều thời giankhong phù hợp đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ như ở nước ta hiện nay

Dự toán này ở các doanh nghiệp thường được xem là một nơi tập trungchủ yếu nhằm giảm thấp chi phí và giá thành sản phẩm Tuy nhiên với xuhướng giá thành ngày càng giảm, việc đưa ra các biện pháp nhằm cắt giảmtiết kiệm chi phí là nhiệm vụ khá quan trọng Các chi phí này thường khôngliên quan trực tiếp đến sản phẩm cụ thể Nếu sử dụng cách tính toán giá thànhtoàn bộ, việc tăng giảm của các chi phí này thuộc về trách nhiệm của nhàquản trị từng khu vực, từng trung tâm Các chi phí này thường độc lập tươngđối với mực độ hoạt động, nó liên quan chủ yếu với cấu trúc của phân xưởng,phải sử dụng các kỹ thuật tách biệt phần biến phí và định phí đối với chi phíhỗn hợp Như vậy, chi phí sản xuất chung mới có thể kiểm tra được

d) Dự toán giá vốn hàng bán

Giá vốn hàng bán thực chất là tổng giá thành của khối lượng sản phẩmtiêu thụ trong kỳ tính theo phương pháp giá toàn bộ Như vậy trên cơ sở số

Trang 34

lượng sản phẩm sản xuất theo dự toán, giá thành dự toán để sản xuất sảnphẩm, số lượng sản phẩm dự trữ dự toán vào cuối kỳ

e) Dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

Dự toán chi phí bán hàng

Chi phí bán hàng có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động tiêu thụ của DN

và ngược lại nên khi lập dự toán chi phí bán hàng phải tính đến mối liên hệvới dự toán tiêu thụ của DN Dự toán chi phí bán hàng phản ánh các chi phíliên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm dự tính của kỳ sau Dự toán này nhằmmục tính trước và tập hợp các phương tiện chủ yếu trong quá trình bán hàng.Khi xây dựng dự toán cho các chi phí này cần tính đến nội dung của chi phícũng như yếu tố biến đổi và yếu tố cố định trong thành phần chi phí

Yếu tố định phí thường ít biến đổi trong một phạm vi phù hợp gắn vớicác quyết định dài hạn, và có thể dự báo một cách dễ dàng dựa vào chức năngkinh doanh của DN Các chi phí này cũng có thể thay đổi trong trường hợpphát triển thêm mạng phân phối mới, thêm các dịch vụ mới sau khi bán hàng,dịch vụ nghiên cứu phát triển thị trường

Các biến phí bán hàng của doanh nghiệp có thể là biến phí trực tiếp nhưhoa hồng, lương nhân viên bán hàng… biến phí gián tiếp là những chi phí liênquan đến từng bộ phận bán hàng như chi phí báo trì, xăng dầu, hỗ trợ bánhàng… và thường được dự toán trên cơ sở số lượng bán hàng dự toán

Dự toán chi phí quản lý DN

Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp thường phụ thuộc vào cơ cấu tổchức của DN Chi phí này liên quan đến toàn bộ DN, chứ không liên quan đếntừng bộ phận, đơn vị hoạt động nào Việc lập dự toán biến phí này tương tựnhư biến phí phí bán hàng

Trang 35

Định phí quản lý doanh nghiệp thương không thay đổi theo mức độ hoạtđộng Các thay đổi của loại chi phí này chủ yêu do việc trang bị đầu tư thêmcho bộ phận quản lý của DN Lập dự toán bộ phận này cần căn cứ vòa dự báocác nội dung cụ thể của từng yếu tố chi phí để xác định chính xác định phítheo dự toán.

f) Dự toán chi phí tài chính

Doanh thu và chi phí tài chính liên quan đến kết quả kinh doanh của DN.Doanh thu và chi phí tài chính bao gồm rất nhiều nội dung Theo chế độ kếtoán hiện nay, doanh thu và chi phí tài chính phải được tính toán đầy đủ trongkết quả hoạt động kinh doanh của DN

Để dự toán chi phí tài chính ta cần quan tâm đến chi phí lãi vay – bộphận lớn nhất trong chi phí tài chính mà DN phải trả Cơ sở để lập dự toán chiphí lãi vay là số tiền cần vay dài hạn và ngắn hạn trong mỗi kỳ lập dự toán,cũng lại suất vay phải trả cho từng khoản vay

g) Dự toán Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Trên cơ sơ các dự toán bộ phận đã lập, bộ phận kế toán quản trị lập cácbáo cáo kết quả kinh doanh dự toán Số liệu dự toán trên các báo cáo tài chínhnày thể hiện kỳ vọng của các nhà quản lý tại DN và có thể được xem như mộtcông cụ quản lý của DN cho phép ra các quyết định về quản trị; nó cũng là cơ

sở để đánh giá tình hình thực hiện dự toán đã đề ra

Dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được lập căn cứ vào các

dự toán doanh thu, dự toán giá vốn và các dự toán chi phí ngoài sản xuất đãđược lập Dự toán này có thể được lập theo phương pháp tính giá toàn bộhoặc theo phương pháp tính giá trực tiếp

h) Dự toán Vốn bằng tiền

Dự toán vốn bằng tiền được tính bao gồm việc tính toán các luồng tiềnmặt và tiền gửi ngân hàng thu vào và chi ra liên quan đến các hoạt động của

Trang 36

doanh nghiệp trong kỳ Dự toán này có thể được lập hàng năm, hàng quý vànhiều khi cần thiết phải lập hàng tháng, tuần, ngày.

Dự toán vốn bằng tiền là một trong những dự toán quan trọng của doanhnghiệp Vì qua đó nó thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán bằng tiềncho người lao động, các nhà cung cấp và đáp ứng các nhu cầu chi tiêu khác

Dự toán vốn bằng tiền là cơ sơ để doanh nghiệp có dự toán vay mượn, pháthành trái phiếu, cổ phiếu…kịp thời khi lượng tiền mặt thiếu hoặc có kế hoạchđầu tư sinh lợi khi lượng tiền mặt tồn quỹ thừa

Công tác lập dự toán vốn bằng tiền giữ vai trò quan trọng trong hoạtđộng của doanh nghiệp Dự toán vốn bằng tiền là cơ sở để các nhà quản lý có

dự toán vay nợ thích hợp, kịp thời đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh Dựtoán vốn bằng tiền cũng là cơ sở để doanh nghiệp sử dụng tài nguyên củamình có hiệu quả nhất Trong điều kiện tin học hóa hiện nay trong kế toán, dựtoán vốn bằng tiền có thể được lập cho từng ngày, tuần, tháng, nhờ vậy côngtác quản lý tiền tại đơn vị chặt chẽ hơn

i) Dự toán Bảng cân đối kế toán

Trên cơ sở các dự toán về vốn bằng tiền, về tồn kho, mà các bộ phận đãlập, phòng kế toán lập bảng cân đối kế toán dự toán Dự toán này được lậpcăn cứ vào bảng cân đối kế toán của thời kỳ trước và tình hình nhân tố củacác chi tiêu được tính trong kỳ

Ở các doanh nghiệp thương mại, việc lập dự toán cũng chủ yếu dựa vào

dự báo nhu câu thị trường Đây là công việc khó khăn và quan trọng nhất màdoanh nghiệp phải tiến hành Điểm khác biệt trong quá trình xây dựng dựtoán ở doanh nghiệp thương mại so với doanh nghiệp sản xuất là doanhnghiệp không quan tâm đến chi phí sản xuất mà chỉ lập dự toán mua vào và

dự toán dự trữ cuối kỳ Dự toán mua hàng còn phản ánh các khoản phải trả vàthời điểm thanh toán thực tế trong kỳ

Trang 37

Quá trình xây dựng dự toán ở các doanh nghiệp du lịch dịch vụ có nhữngđặc thù riêng Các doanh nghiệp này không bán sản phẩm hàng hóa mà hcircung cấp dịch vụ như giặt ủi, lưu trú, lữ hành, ăn uống… Do vậy, quá trìnhxây dựng dự toán bắt đầu từ công tác dự báo doanh thu đạt được từ hoạt độngcung cấp dịch vụ Ở các doanh nghiệp này, quá trình xây dựng dự toán đơngiản hơn vì các doanh nghiệp này không có nhu cầu về sản xuất hoặc muamột khối lượng lớn sản phẩm hàng hóa Việc lập dự toán chủ yếu quan tâmđến chi phí hoạt động của doanh nghiệp.

j Dự toán linh hoạt

Khi doanh nghiệp lập dự toán dựa trên một mức hoạt động cụ thể thì dựtoán này được gọi là dự toán tĩnh Dự toán tĩnh không phù hợp với việc phântích và kiểm soát chi phí, nhất là chi phí sản xuất chung, bởi vì mức hoạt độngthực tế thường có sự khác biệt so với mức hoạt động dự toán Chính vì vậy,cần xây dựng một loại dự toán có thể đáp ứng được yêu cầu phân tích trongtrường hợp mức hoạt động thực tế khác so với mức hoạt động mà dự toán tĩnh

đã lập, đó chính là dự toán linh hoạt Dự toán linh hoạt là dự toán được xâydựng dựa trên một phạm vi hoạt động thay vì một mức hoạt động

Dự toán linh hoạt khác với dự toán tĩnh ở hai điểm cơ bản Thứ nhất, dựtoán linh hoạt không dựa trên một mức hoạt động mà dựa trên một phạm vihoạt động Thứ hai, kết quả thực hiện không phải so sánh với số liệu dự toán

ở mức hoạt động dự toán khi mà mức hoạt động thực tế khác so với mức hoạtđộng dự toán Nếu mức hoạt động thực tế khác với mức hoạt động dự toán,một dự toán mới sẽ được lập ở mức độ hoạt động thực tế đẻ so sánh với kếtquả thực hiện

Dự toán linh hoạt được xây dựng dựa trên mô hình “ứng xử” của chi phí.Cách “ứng xử” của chi phí là thuật ngữ để biểu thị sự thay đổi của chi phítương ứng với các mức độ hoạt động đạt được Các chỉ tiêu thể hiện mức độ

Trang 38

hoạt động cũng rất đa dạng Trong doanh nghiệp sản xuất ta thường gặp cácchỉ tiêu thể hiện mức độ hoạt động như: khối lượng công việc đã thực hiện,khối lượng sản phẩm sản xuất, số giờ máy hoạt động… Khi xem xét cách ứng

xử của chi phí, cũng cần phân biệt rõ phạm vi hoạt động của doanh nghiệp vớimức độ hoạt động mà doanh nghiệp đạt được trong kỳ Phạm vi hoạt động chỉ

rõ các năng lực hoạt động tối đa như công suất máy móc thiết bị, số giờ laođộng của công nhân…mà doanh nghiệp có thể khai thác, còn mức độ hoạtđộng chỉ các mức hoạt động cụ thể mà doanh nghiệp thực hiện trong một kỳtrong giới hạn của phạm vi hoạt động đó

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC LẬP DỰ TOÁN

Trong các nghiên cứu trước đây, các tác giả đã nghiên cứu các nhân tốảnh hưởng đến sự thay đổi và vận dụng các công cụ KTQT trong DN, trong

đó dự toán là một trong các công cụ KTQT được nghiên cứu Các nhân tố đãđược đưa vào nghiên cứu bao gồm: quy mô doanh nghiệp, thời gian hoạtđộng, cạnh tranh, phân cấp quản lý trong doanh nghiệp, hình thức sở hữu, vănhóa, giáo dục Kết quả tác động của các nhân tố này đến việc vận dụng kếtoán quản trị là khác nhau giữa các nghiên cứu ở các nước

Trong phần này, tác giả trình bày tóm tắt lại các nhân tố đã được vàonghiên cứu ở một vài nước và kết quả tác động của các nhân tố này đến mức

độ vận dụng KTQT để làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình trong nghiêncứu này

1.3.1 Qui mô doanh nghiệp

Qui mô DN được đo lường thông qua số lượng nhân viên làm việc trong

DN hay tổng tài sản mà DN sử dụng hay tổng doanh thu mà DN đạt được

Trang 39

Qui mô DN được xem là một biến ngữ cảnh của đơn vị và nó có thể tácđộng đến thiết kế của một tổ chức cũng như hệ thống quản lý của DN(Burns và Stalker, 1968; Woodward, 1965; Lawren và Lorsch, 1967) Các DN có qui mô lớn thường có nhiều tiềm lực tài chính để điềuchỉnh, nâng cấp và thay thế hệ thống hiện tại Firth (1996); El-Ebaishi vàcộng sự (2003) đo lường qui mô doanh nghiệp thông qua tổng tài sản chorằng quy mô DN có quan hệ tỷ lệ thuận với việc sử dụng các công cụ KTQTkhác nhau Nếu tính riêng cho từng công cụ KTQT cụ thể, nghiên cứucủa Hoque và James (2000) sử dụng thang đo là tổng doanh thu tìm thấyrằng mối quan hệ tỉ lệ thuận giữa qui mô DN và sự vận dụng của thẻ cânbằng điểm.

Williams và Seaman (2001) đo lường qui mô doanh nghiệp thông qua sốlượng nhân viên, kết quả nghiên cứu tìm thấy sự thay đổi của hệ thống KTQTxảy ra nhiều hơn ở các DN có qui mô nhỏ chứ không phải trong các DN cóqui mô lớn

Trong các nghiên cứu của Libby và Waterhouse (1996), O’Connor vàcộng sự (2004), Đoàn Ngọc Phi Anh (2012), các tác giả đã đo lường qui mô

DN thông qua tổng số lượng nhân viên của DN Kết quả nghiên cứu cho thấyrằng những DN có qui mô lớn cũng có thể tạo ra sự quan liêu và điều này

có thể là lực cản để các DN thay đổi hệ thống KTQT của mình (Libby vàWaterhouse, 1996) Do đó, mối quan hệ giữa qui mô DN và sự thay đổi hay

sự vận dụng KTQT là không chắc chắn Nghiên cứu của O’Connor và cộng

sự (2004) cũng cho kết quả tương tự Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh(2012) cho thấy ảnh hưởng của nhân tố qui mô DN không có sự tác động lớnđến việc áp dụng công cụ KTQT trong các doanh nghiệp vừa và lớn ở ViệtNam

1.3.2 Thời gian hoạt động của DN

Trang 40

Thời gian hoạt động của DN được tính từ khi DN thành lập đến thờiđiểm nghiên cứu.

O’Connor và cộng sự (2004) cho rằng các công cụ cần thời gian để vậndụng, nghĩa là thời gian hoạt động của DN của DN tỉ lệ thuận với mức độ vậndụng công cụ lập KTQT Các DN có thời gian hoạt động càng lâu sử dụngcàng nhiều KTQT

Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) cho thấy ảnh hưởng củanhân tố thời gian hoạt động không có sự tác động lớn đến việc áp dụng công

cụ KTQT trong các doanh nghiệp vừa và lớn ở Việt Nam

1.3.3 Cạnh tranh

Cạnh tranh được đo lường bằng việc sử dụng thang đo cạnh tranh củaKhandwalla (xem nghiên cứu của Libby và Waterhouse , 1996; Đoàn NgọcPhi Anh, 2012) Thang đo này gồm 7 khía cạnh của cạnh tranh là: cạnh tranh

về nguyên vật liệu, nguồn nhân lực chất lượng cao, bán hàng và phân phối,chất lượng sản phẩm, dịch vụ, sự đa dạng của sản phẩm cũng như giá cả CònMia và Clarke(1999) chỉ dụng một câu hỏi dựa trên thang đó Likert để đolường cạnh tranh ở tất cả các khía cạnh gồm: số đối thủ cạnh tranh, sự thayđổi về công nghệ, sự xuất hiện của sản phẩm mới, cạnh tranh về giá cả, ưu đãikhách hàng, hoạt động Marketing, sự thay đổi trong chính sách và quy địnhcủa chính phủ

Kết quả nghiên cứu của Mia và Clarke (1999), Libby và Waterhouse(1996), Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) đều chỉ ra rằng mức độ cạnh tranh càngcao sẽ góp phần làm gia tăng việc sử dụng KTQT Trong một nghiên cứu tạiTrung Quốc, Firth (1996) sử dụng thang đo cạnh tranh là phần trăm doanh thucủa đối tác trên thị trường, cũng tìm thấy kết quả tương tự như kết quả hainghiên cứu trên: tỷ lệ áp dụng các công cụ KTQT ở các DN tăng lên cùng với

sự tăng lên của mức độ cạnh tranh

Ngày đăng: 14/03/2018, 20:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[14]Abdel-Kader, M., and Luther, R. (2008). The impact of firm characteristics on management accounting practices: a UK-based empirical analysis. The British Accounting Review, 40(1): 2-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The British Accounting Review
Tác giả: Abdel-Kader, M., and Luther, R
Năm: 2008
[29] Horngren, C. T., Sundem, G., Stratton, W. (1996). Introduction to management accounting. (10th ed.), London: Prentice Hall Sách, tạp chí
Tiêu đề: Introduction tomanagement accounting
Tác giả: Horngren, C. T., Sundem, G., Stratton, W
Năm: 1996
[30] Hoyle, R. H. (1995). Structural equation modeling: Concepts, issues, and applications. Sage Publications, Inc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Structural equation modeling: Concepts, issues,and applications
Tác giả: Hoyle, R. H
Năm: 1995
[31] Ismail, N.A. and King, M. (2007). Factors influencing the alignment of accounting information systems in small and medium sized Malaysian manufacturing firms. Journal of Information Systems and Small Business, vol. 1, no. 1/2, pp. 1-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Information Systems and SmallBusiness
Tác giả: Ismail, N.A. and King, M
Năm: 2007
[32]Joshi Jawahar (2003). Corporate budget planning, control and performance evaluation in Bahrain. Managerial Auditing Journal, 18(9): 737-750 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managerial Auditing Journal
Tác giả: Joshi Jawahar
Năm: 2003
[33]Kaplan, R. S., and Norton, D. P. (1992). The Balanced Scorecard–Measures That Drive Performance. Harvard Business Review: 71-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Harvard Business Review
Tác giả: Kaplan, R. S., and Norton, D. P
Năm: 1992
[36]Macias, M. (2002). Privatization and management accounting system change: the case of the 19th century Spanish Tobacco monopoly . Accounting Historian Journal, 29(2): 31-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accounting Historian Journal
Tác giả: Macias, M
Năm: 2002
[37]Mia, L., and Clarke, B. (1999). Market competition, management accounting systems and business unit performance. Management Accounting Research, 10(2): 137-158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ManagementAccounting Research
Tác giả: Mia, L., and Clarke, B
Năm: 1999
[38]O'Connor, N. G. (1995). The influence of organizational culture on the usefulness of budget participation by Singaporean-Chinese managers.Accounting, Organizations and Society, 20(5), 383-403 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accounting, Organizations and Society, 20
Tác giả: O'Connor, N. G
Năm: 1995
[40]Prabhu Sivabalan et al (2009). An exploratory study of operational reasons to budget. Accounting and Finance 49: 849–871 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accounting and Finance
Tác giả: Prabhu Sivabalan et al
Năm: 2009
[41]Soobaroyen, T., and Poorundersing, B. (2008). The effectiveness of management accounting systems: Evidence from functional managers in a developing country. Managerial Auditing Journal, 23(2): 187-219 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managerial Auditing Journal
Tác giả: Soobaroyen, T., and Poorundersing, B
Năm: 2008
[42]Theresa Libby, R. Murray Lindsay (2010). Beyond budgeting or budgeting reconsidered? A survey of North-American budgeting practice. Management Accounting Research 21: 56–75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Management Accounting Research
Tác giả: Theresa Libby, R. Murray Lindsay
Năm: 2010
[43]Titman, S., and Wessels, R. (1988). The determinants of capital structure choice. Journal of finance, 43(1): 1-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of finance
Tác giả: Titman, S., and Wessels, R
Năm: 1988
[44]Williams, J. J., and Seaman, A. E. (2001). Predicting change in management accounting systems: national culture and industry effects.Accounting, Organizations and Society, 26(4-5), p. 443 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accounting, Organizations and Society
Tác giả: Williams, J. J., and Seaman, A. E
Năm: 2001
[26] Hair, J. F., Anderson, R. E., Tatham, R. L., and Black, W. C. (1998).Multivariate data analysis. William Black Prentice Hall Khác
[27] Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., and Anderson, R. E. (2010) Khác
[35]MacDonald, L. D. (1999) Innovation in management accounting systems:a dual core analysis, Queen's University, Ontario, Canada Khác
[39]Padoveze CL (1994). Managerial Accounting: a focus on accounting information system Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng Tên bảng Trang - NGHIÊN cứu các NHÂN tố ẢNH HƯỞNG đến VIỆC lập dự TOÁN ở các DOANH NGHIỆP TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ đà NẴNG
ng Tên bảng Trang (Trang 7)
Hình thức sở hữu Biến giả - NGHIÊN cứu các NHÂN tố ẢNH HƯỞNG đến VIỆC lập dự TOÁN ở các DOANH NGHIỆP TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ đà NẴNG
Hình th ức sở hữu Biến giả (Trang 41)
Bảng 1-2: Tóm lược ảnh hưởng của các nhân tố đến KTQT - NGHIÊN cứu các NHÂN tố ẢNH HƯỞNG đến VIỆC lập dự TOÁN ở các DOANH NGHIỆP TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ đà NẴNG
Bảng 1 2: Tóm lược ảnh hưởng của các nhân tố đến KTQT (Trang 42)
Bảng 2-1: Thông tin về mẫu điều tra - NGHIÊN cứu các NHÂN tố ẢNH HƯỞNG đến VIỆC lập dự TOÁN ở các DOANH NGHIỆP TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ đà NẴNG
Bảng 2 1: Thông tin về mẫu điều tra (Trang 54)
Bảng 3-2: Mức độ vận dụng công cụ dự toán theo quy mô DN - NGHIÊN cứu các NHÂN tố ẢNH HƯỞNG đến VIỆC lập dự TOÁN ở các DOANH NGHIỆP TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ đà NẴNG
Bảng 3 2: Mức độ vận dụng công cụ dự toán theo quy mô DN (Trang 65)
Bảng 3-4: mức độ vận dụng công cụ lập dự toán theo lĩnh vực hoạt động của DN - NGHIÊN cứu các NHÂN tố ẢNH HƯỞNG đến VIỆC lập dự TOÁN ở các DOANH NGHIỆP TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ đà NẴNG
Bảng 3 4: mức độ vận dụng công cụ lập dự toán theo lĩnh vực hoạt động của DN (Trang 69)
Bảng 3-5: Mức độ lợi ích cảm nhận của việc vận dụng công cụ lập dự toán - NGHIÊN cứu các NHÂN tố ẢNH HƯỞNG đến VIỆC lập dự TOÁN ở các DOANH NGHIỆP TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ đà NẴNG
Bảng 3 5: Mức độ lợi ích cảm nhận của việc vận dụng công cụ lập dự toán (Trang 70)
Bảng 3-6: Mức độ lợi ích cảm nhận của việc vận dụng lập công cụ dự toán - NGHIÊN cứu các NHÂN tố ẢNH HƯỞNG đến VIỆC lập dự TOÁN ở các DOANH NGHIỆP TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ đà NẴNG
Bảng 3 6: Mức độ lợi ích cảm nhận của việc vận dụng lập công cụ dự toán (Trang 71)
Bảng 3-7: Mức độ lợi ích cảm nhận của việc vận dụng lập dự toán xét theo - NGHIÊN cứu các NHÂN tố ẢNH HƯỞNG đến VIỆC lập dự TOÁN ở các DOANH NGHIỆP TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ đà NẴNG
Bảng 3 7: Mức độ lợi ích cảm nhận của việc vận dụng lập dự toán xét theo (Trang 72)
Bảng 3-8: Mức độ lợi ích cảm nhận của việc vận dụng lập dự toán xét theo - NGHIÊN cứu các NHÂN tố ẢNH HƯỞNG đến VIỆC lập dự TOÁN ở các DOANH NGHIỆP TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ đà NẴNG
Bảng 3 8: Mức độ lợi ích cảm nhận của việc vận dụng lập dự toán xét theo (Trang 73)
Bảng 3-11: Ma trận tương quan giữa các biến - NGHIÊN cứu các NHÂN tố ẢNH HƯỞNG đến VIỆC lập dự TOÁN ở các DOANH NGHIỆP TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ đà NẴNG
Bảng 3 11: Ma trận tương quan giữa các biến (Trang 75)
Bảng 3-12: Kết quả hồi quy - NGHIÊN cứu các NHÂN tố ẢNH HƯỞNG đến VIỆC lập dự TOÁN ở các DOANH NGHIỆP TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ đà NẴNG
Bảng 3 12: Kết quả hồi quy (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w