MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC...16 1.2.1... Các tác giả đã đưa ra giả thiết vàđi
Trang 1Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Võ Thị Xuyến
Trang 2Chữ viết tắt
Tên đầy đủ
ATM Automated teller machineDEA Data envelopment analysisFEM Fixed Effect Model
NHNN Ngân hàng nhà nướcNHTM Ngân hàng thương mạiNHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phầnPOS Point Of Sale
REM Random Effect ModelROA Return on assetsROE Return on equityTMCP Thương mại cổ phầnTTCK Thị trường chứng khoánVAMC Vietnam Asset Management
Company
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Trang 3Bảng 1.1 hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại dưới
góc độ thực nghiệm
32
Bảng 2.1 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động
(ROE) của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam 42
B ảng 2.2 Bảng 09 ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị
Bảng 3.1 Vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại tính 50
Bảng 3.3 Giá trị tổng tài sản của các NHTMCP niêm yết tính đến
Bảng 3.4 Cơ cấu cổ đông của các NHTMCP niêm yết tính đến cuối
Bảng 3.5 Mối quan hệ giữa tổng tài sản và hiệu quả hoạt động của
Bảng 3.6 Mối quan hệ giữa tổng tiền gửi và hiệu quả hoạt động của
Bảng 3.7 Mối quan hệ giữa khả năng thanh khoản và hiệu quả hoạt
Bảng 3.8 Mối quan hệ giữa khả năng tự chủ tài chính và hiệu quả
Bảng 3.9 Mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động ngân
Bảng 3.10 Mối quan hệ giữa tỷ lệ chi phí ngoài lãi/tổng tài sản và
Trang 4Số hiệu bảng Tên bảng Trang
Biểu đồ 3.1 Tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt
Biểu đồ 3.2 ROE bình quân theo năm của các NHTMCP niêm
yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014 59Biểu đồ 3.3 ROE trung bình của từng NHTMCP niêm yết trên
Trang 6MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4
7 Kết cấu đề tài 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1.1 Khái niệm 6
1.1.2 Tiêu chí phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 7
1.2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC 16
1.2.1 Nghiên cứu trên thế giới: 16
1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 23
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 24
1.3.1 Các nhân tố nội sinh 24
1.3.2 Các nhân tố ngoại sinh 30
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 37
2.1 XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 37
2.1.1 Xác định các biến của mô hình 37
Trang 72.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU: 47
2.2.1 Thu thập số liệu 47
2.2.2 Mã hóa biến quan sát 49
2.2.3 Xây dựng ma trận hệ số tương quan 49
2.2.4 Lựa chọn biến đưa vào mô hình 49
2.2.5 Ước lượng mô hình ban đầu 49
2.2.6 Kiểm định mô hình 49
2.2.7 Kết luận về mô hình và đưa ra các phân tích về kết quả nghiên cứu 50
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTMCP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 51
3.1 HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM VÀ CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 51
3.1.1 Đặc điểm của hệ thống ngân hàng Việt Nam 51
3.1.2 Các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên TTCK Việt Nam 57
3.2 THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTMCP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM: 61
3.2.1 Thực trạng chung về hiệu quả hoạt động: 61
3.2.2 Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động và một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động 64
3.3 KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG TỪ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 71
3.3.1 Kết quả nghiên cứu 71
3.3.2 Phân tích kết quả nghiên cứu của mô hình lựa chọn 76
CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH RÚT RA TỪ NGHIÊN CỨU 81
4.1 CÁC KẾT LUẬN 81
Trang 8ĐỘNG 824.2.1 Đối với các ngân hàng thương mại 824.2.2 Hàm ý chính sách đối với nhà nước và các cơ quan quản lý nhànước 84
KẾT LUẬN 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiệu quả hoạt động luôn là cái đích để các doanh nghiệp hướng đếntrong quá trình hoạt động Làm thế nào để đạt được một đầu ra cao nhất vớimột nguồn đầu vào sẵn có hay làm thế nào để tối thiểu hóa đầu vào để đạtmột đầu ra như dự định luôn là bài toán đòi hỏi các doanh nghiệp đi tìm lờigiải đáp Và nhìn chung, cái đích mà các doanh nghiệp hướng tới trong cácbài toán hiệu quả vẫn là lợi nhuận, tỷ lệ lợi nhuận sẽ là bao nhiêu trên tổng tàisản hay vốn chủ sở hữu đã bỏ ra để làm hài lòng nhà quản trị và nhà đầu tư.Bài toán hiệu quả sẽ dễ dàng giải quyết hơn nếu không xét tới các yếu tố ảnhhưởng đến quá trình hoạt động của doanh nghiệp, nhưng điều đó là không thểkhi mà bản thân các doanh nghiệp luôn phải vận động trong cả hai môi trườngbên trong và bên ngoài doanh nghiệp Và với mỗi lĩnh vực hoạt động, cácdoanh nghiệp lại chịu tác động bởi những yếu tố khác nhau
Ngân hàng là một trong những lĩnh vực kinh doanh chịu tác động của rấtnhiều yếu tố, cả bên trong lẫn bên ngoài ngân hàng Bởi một lẽ hiển nhiên, hệthống ngân hàng vốn được xem như là hệ tuần hoàn của toàn bộ nền kinh tế,
nó tác động đến mọi mặt của nền kinh tế Hệ thống ngân hàng Việt Nam cũngkhông tránh khỏi thực tế đó, khi mà nó đang đứng trước sự cạnh tranh khốcliệt với các ngân hàng thương mại trong khu vực cũng như trên thế giới Bêncạnh đó, thị trường chứng khoán Việt Nam đang còn khá non trẻ, hệ thống tàichính chưa thực sự lành mạnh, thông thoáng đã gây khó khăn, cản trở chohoạt động ngân hàng.Vì vậy, việc đi tìm hiểu và nghiên cứu để chỉ ra đâu lànhững yếu tố có tác động đến lợi nhuận và rộng hơn là hiệu quả hoạt độngngân hàng là thật sự cần thiết Điều đó sẽ góp phần giúp các nhà quản lý ngânhàng đi tìm lời giải cho bài toán hiệu quả thuận lợi hơn
Trang 10Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngânhàng đã được tiến hành rất nhiều ở các nước Các tác giả đã đưa ra giả thiết và
đi tìm câu trả lời liệu đâu là những nhân tố tác động đến lợi nhuận của ngânhàng, cái được xem như là đại diện cho hiệu quả hoạt động hay đã đi vào đolường trực tiếp hiệu quả hoạt động và từ đó đi phân tích các nhân tố tác động.Chẳng hạn, ta có thể kể đến các nghiên cứu của Nader Naifar (2010) FadzlanSufian, Mohamad Akbar Nour Mohamad Noor (2012), Eze SimpsonOsuagwu (2014), Sangeeta D.Misra (2015)….Tại Việt Nam, cũng đã có cácnghiên cứu liên quan đến đo lường hiệu quả hoạt động nhưng những nghiêncứu sâu và độc lập về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngânhàng còn rất ít, chẳng hạn như một số tác giả đã đưa thêm phần phân tíchnhân tố ảnh hưởng vào sau các nghiên cứu về đo lường về hiệu quả hoạt độngnhư nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2008), Ngô Đăng Thành (2012) Xuất phát từ những lý do thực tế trên, với những kiến thức thu thập đượcqua quá trình học tập, bản thân cũng mong muốn tìm hiểu, đi vào phân tích đểđem đến một góc nhìn, một cách đánh giá về các nhân tố đang tác động đếnhiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam qua đề tài
“Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý thuyết và mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng
đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại
- Phát triển mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt
động của các ngân hàng thương mại
- Ứng dụng mô hình nhằm nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu
quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trườngchứng khoán Việt Nam
Trang 11- Đề xuất một số hàm ý chính sách để nâng cao hiệu quả hoạt động của
các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài đặt ra một số câu hỏi nghiên cứusau:
- Có thể sử dụng mô hình nào để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến
hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại?
- Các nhân tố nào ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng như thế nào đến hiệu
quả hoạt động của các ngân hàng thương mại niêm yết trên thị trường chứngkhoán Việt Nam?
- Các ngân hàng thương mại và các chủ thể liên quan nên lưu ý đến
những vấn đề gì khi đưa ra các chính sách liên quan tới hiệu quả hoạt động?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Hiệu quả hoạt động là một phạm trù rộng lớn và cách hiểu cũng nhưlựa chọn chỉ tiêu hay phương pháp đo lường phụ thuộc rất lớn vào mục đíchcủa nhà nghiên cứu ROA và ROE là hai chỉ số thường được sử dụng khi nói
về hiệu quả hoạt động Bản thân trong bài nghiên cứu sẽ lựa chọn ROE là đạidiện cho hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần, cũng làbiến phụ thuộc cho mô hình nghiên cứu
+ Thời gian: giai đoạn 2010 – 2014
+ Không gian: 09 NHTMCP niêm yết trên thị trường chứng khoán ViệtNam
- Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (CTG)
Trang 12- Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCB)
- Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (STB)
- Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB)
- Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (EIB)
- Ngân hàng TMCP Quân đội (MBB)
- Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB)
- Ngân hàng TMCP Quốc dân (NVB)
- Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BID)
Sở dĩ lựa chọn 9 NHTMCP niêm yết tại Việt Nam là đối tượng nghiêncứu, thứ nhất vì đây là 9 ngân hàng thương mại đi đầu trong xu hướng cổphần hóa hiện nay, hội tụ đầy đủ những đặc điểm về vốn, về năng lực quản lý,sản phẩm, dịch vụ…Thứ hai, việc đánh giá được hiệu quả hoạt động và tìm racác nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của 9 ngân hàng này sẽ giúpnền kinh tế có được cái nhìn khái quát về những mặt đã làm được, chưa làmđược, sự tác động đa chiều của các yếu tố bên trong và bên ngoài đến hoạtđộng của các ngân hàng, từ đó đưa ra những hướng đi đúng đắn hơn
5 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng, bằng cách dựa vào
những lý thuyết đã được xây dựng trước đó, tập trung nghiên cứu, phát triểnthành cơ sở lý luận phù hợp với nội dung đề tài
- Bên cạnh đó sử dụng phần mềm định lượng để đạt được mục tiêu
nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh theo thời gian.
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học
Đề tài dựa trên cơ sở lý thuyết trước đó về mô hình nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như hiệu quả hoạt động ngân hàng thương
Trang 13mại của các tác giả trước đây, kết hợp với thực tiễn hoạt động của các ngânhàng thương mại cổ phần Việt Nam phát triển thành một mô hình nghiên cứuthích hợp nhằm đánh giá một cách chính xác các nhân tố ảnh hưởng đến hiệuquả hoạt động của các ngân hàng thương mại Từ đó, đưa ra một cách nhìnnhận mới trong việc nghiên cứu, vận dụng lý thuyết về hiệu quả hoạt động vàcác nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại.
- Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đưa ra những nhận xét, đánh giá về hiệu quả hoạt động của cácngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán ViệtNam và quan trọng hơn, đề tài đi sâu vào nghiên cứu, phân tích các nhân tốảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, từ đó chỉ ra được trongđiều kiện thực tế hiện tại, các ngân hàng thương mại Việt Nam đang bị tácđộng bởi những yếu tố nào và sự tác động đó theo những hướng ra sao Đểqua đó rút ra được những hàm ý chính sách, xây dựng chiến lược nhằm nângcao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
7 Kết cấu đề tài
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đếnhiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạtđộng của các ngân hàng thương mại
Chương 4: Các kết luận và hàm ý chính sách rút ra từ kết quả nghiên cứu
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN
TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI1.1 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1.1 Khái niệm
Hiệu quả là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực đời sống,kinh tế, kỹ thuật…Theo ý nghĩa chung nhất, hiệu quả là lợi ích đạt được từmột hoạt động cụ thể Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, định nghĩa đượchiểu và sử dụng theo phạm trù kinh tế học
Theo Ngô Đình Giao (1997) hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanhbiểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí
bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh chất lượng của hoạt động kinh tế đó
Theo Trương Bá Thanh và Trần Đình Khôi Nguyên (2001) thì hiệu quảhoạt động công ty được xem xét trong mối quan hệ giữa đầu ra là kết quả củadoanh nghiệp (doanh thu, lợi nhuận, giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm…) vớiđầu vào là nguồn lực sử dụng (tài sản, vốn chủ sở hữu, nguồn nhân lực…)
Chỉ tiêu chung về hiệu quả cơ bản được tính như sau:
Hiệu quả = Đầu vào
Đầu ra
Trong đó “Đầu ra” bao gồm các chỉ tiêu liên quan đến giá trị sản xuất,doanh thu, lợi nhuận “Đầu vào” thường bao gồm các yếu tố như vốn chủ sởhữu, các loại tài sản…
Ngân hàng thương mại cũng là một thực thể hoạt động sản xuất kinhdoanh, vì thế mà hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cũngđược hiểu và tiếp cận theo hướng trên Trong nghiên cứu của mình, TS
Trang 15Nguyễn Thị Loan và Trần Thị Ngọc Hạnh (2013) cũng đã cho rằng “Hiệu quảhoạt động được hiểu là mức độ thành công mà các doanh nghiệp hoặc cácngân hàng đạt được trong việc phân bổ các nguồn lực để đạt được mục tiêu đãđịnh trước” Bên cạnh đó, với Ngô Đăng Thành (2010), trong nghiên cứu tácgiả cũng đã chỉ ra hiệu quả xét theo phạm vi kinh tế có thể hiểu là mối tươngquan giữa các yếu tố đầu ra (Output) với các yếu tố đầu vào (Input) của mộtđơn vị, phản ánh sự thành công trong hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn
vị đó
Tóm lại, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại chính là mức
độ thành công mà các ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các nguồn lực
để đạt được mục tiêu đã định trước
1.1.2 Tiêu chí phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại
Theo Joseph P.Hughes, Loretta J.Mester (2008), có hai cách tiếp cậnhiệu quả hoạt động là cấu trúc và phi cấu trúc Trong khi cách tiếp cận phi cấutrúc sử dụng rất nhiều các chỉ số tài chính thể hiện các mặt hoạt động củaNHTM để phân tích thì cách tiếp cận cấu trúc lại dựa trên các mô hình lýthuyết của ngân hàng và khái niệm tối ưu hóa, cụ thể như tối thiểu hóa chi phí
và tối đa hóa lợi nhuận
a Tiếp cận phi cấu trúc
Theo PGS.TS Lâm Chí Dũng và Th.S Võ Hoàng Diễm Trinh (2009)trình bày trong giáo trình Quản trị hoạt động ngân hàng 2, việc đánh giá hoạtđộng kinh doanh ngân hàng được tiến hành theo 3 nội dung chủ yếu: đánh giákhả năng tăng trưởng của ngân hàng đánh giá khả năng sinh lời của ngânhàng, đánh giá rủi ro của ngân hàng
Ba nội dung đánh giá trên tương ứng với 3 mục tiêu của ngân hàng là:tăng trưởng, sinh lời, kiểm soát rủi ro Các mục tiêu này vừa có tương quan
Trang 16vừa độc lập với nhau, vì vậy các nội dung đánh giá trên phải vừa được xemxét trong tổng thể, vừa được xem xét một cách độc lập.
- Đánh giá khả năng tăng trưởng của ngân hàng
Đánh giá khả năng tăng trưởng của ngân hàng được tiến hành theo cácnội dung chủ yếu sau:
+ Các chỉ tiêu tăng trưởng tài sản như: tăng trưởng tổng tài sản, tăngtrưởng tài sản sinh lời, tăng trưởng tài sản chịu rủi ro thông thường, tăngtrưởng dư nợ tín dụng
+ Các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng nguồn vốn như: tăng trưởng huyđộng vốn, tăng trưởng huy động tiền gửi, tăng trưởng vốn chủ sở hữu, tăngtrưởng vốn tự có
+ Các chỉ tiêu tăng trưởng hoạt động ngoại bảng như: tăng trưởng doanh
số cung ứng dịch vụ ngoại bảng, tăng trưởng doanh thu cung ứng các dịch vụngoại bảng
+ Các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng năng lực hoạt động như: tăng trưởngtài sản cố định, tăng trưởng số lượng nhân viên, tăng trưởng tài sản công nghệcao, tăng trưởng số chi nhánh, phòng giao dịch, điểm giao dịch…
+ Tăng trưởng năng lực chiếm lĩnh thị trường như: thị phần cho vay, tỷtrọng tài sản, tỷ trọng tài sản sinh lời, thị phần huy động vốn…
Tăng trưởng là một trong những mục tiêu của quản trị ngân hàng Mức
độ tăng trưởng thể hiện năng lực cơ bản về mở rộng quy mô hoạt động, pháttriển và nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường Đánh giá mức độ tăngtrưởng còn cho phép phát hiện các xu hướng, dự báo triển vọng phát triểnngân hàng Thông thường, việc đánh giá mức độ tăng trưởng được thể hiệnqua hai tiêu chí so sánh theo thời gian là:
+ Chỉ tiêu tốc độ phát triển theo thời gian
+ Chỉ tiêu tốc độ tăng theo thời gian
Trang 17- Đánh giá khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời được thể hiện qua các chỉ tiêu đánh giá như:
+ Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE):
ROE = Lợi nhuận ròng sau thuế
Tổng vốn cổ phần
Chỉ số này cho biết một đồng (hay 100 đồng, nếu tính bằng %) vốn chủ
sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Đây là quan tâm hàng đầu của chủ sởhữu
+Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA):
ROA=Lợi nhuận ròng sau thuế
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợinhuận Đây là chỉ tiêu đánh giá năng lực sinh lời từ tài sản của hoạt độngquản trị ngân hàng Nó thể hiện năng lực chủ quan của bộ phận điều hànhtrong việc tìm kiếm một danh mục tài sản sinh lời cao, rủi ro thấp, cũng nhưnăng lực kiểm soát chi phí, năng lực định giá phù hợp
+ Tỷ lệ thu nhập lãi suất ròng cận biên (NIM):
NIM = Lãi từ cho vay và đầu tư chứng khoán - chi phí lãi trả cho các khoản nợ
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận từ các hoạt động cốt lõi
và truyền thống của ngân hàng là hoạt động tín dụng Nó phản ánh các điềukiện thị trường Trong một thị trường ngày càng cạnh tranh, tỷ lệ này ngàycàng giảm do chênh lệch lãi suất giữa đầu ra và đầu vào ngân hàng giảm đi.Bởi vì, một mặt ngân hàng phải tăng lãi suất đầu vào, mặt khác, phải giảm lãisuất đầu ra để tăng sức cạnh tranh trên thị trường
+Tỷ lệ thu nhập phi lãi suất ròng cận biên (NNM):
Trang 18NNM = Thu nhập ngoài lãi suất-chi phí ngoài lãi suất
+ Tỷ lệ thu nhập hoạt động ròng cận biên (NOM):
NOM = Tổng thu hoạt động - Tổng chi phí hoạt động
Chỉ tiêu này thực chất là ROA nhưng loại trừ kết quả tài chính từ nhữnghoạt động không ổn định hoặc không phải hoạt động cốt lõi của ngân hàngnhư lãi (lỗ) kinh doanh chứng khoán và các khoản thu, chi bất thường
+ Lợi nhuận ròng trên một cổ phần:
EPS = Lợi nhuận sau thuế
Số cổ phần thường hiện hành
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 cổ phần thường tạo ra bao nhiêu đồng lợinhuận trong kỳ
+ Chênh lệch lãi suất bình quân:
Chênh lệch LS bình quân = Tổng thu từ lãi suất
Tổng tài sản sinh lời
-Tổng chi phí lãi suất Tổng khoản nợ phải trả lãi
Trang 19Chỉ tiêu này cũng phản ánh mức chênh lệch lãi suất đầu ra và đầu vàonhưng do mẫu số chỉ tính trên các tài sản sinh lời hoặc các khoản nợ tươngứng với thu nhập lãi suất hoặc chi phí lãi nên gần sát với chênh lệch lãi suấtthực tế hơn.
Ngoài ra, trong giáo trình còn đề cập đến việc phân tích ROA theo môhình hai, ba nhân tố và phân tích ROE theo mô hình hai, ba, bốn nhân tố đểxem xét sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mục tiêu sinh lời của ngân hàng
- Đánh giá rủi ro ngân hàng
Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là khả năng mà một tiến trình hoặcmột sự kiện nào đó gây ra một kết cục không mong đợi lên tình hình tài chínhcủa ngân hảng hoặc cản trở ngân hàng thực hiện các mục tiêu đã định
Mức độ rủi ro hiện tại của ngân hàng được đánh giá và xem xét qua một
số loại rủi ro như:
+ Đánh giá rủi ro tín dụng qua các chỉ tiêu: tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ, tỷ lệxóa nợ ròng/tổng dư nợ, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng/tổng dư nợ…
+ Đánh giá rủi ro thanh khoản qua: tỷ lệ các khoản vốn vay/tổng tài sản,
tỷ lệ cho vay ròng/tổng tài sản, tỷ lệ vốn bằng tiền/tổng tài sản…
+ Đánh giá rủi ro thị trường qua: tỷ lệ giữa giá trị sổ sách so với giá trịthị trường dự kiến của tài sản, tỷ lệ của khoản cho vay và đầu tư chứng khoán
có lãi suất cố định so với các khoản cho vay và đầu tư chứng khoán có lãi suấtthả nổi, tỷ lệ giữa giá trị sổ sách so với giá trị thị trường của vốn cổ phần…+ Đánh giá rủi ro lãi suất qua chỉ tiêu chủ yếu là tỷ lệ tài sản nhạy cảmlãi suất/nguồn vốn nhạy cảm lãi suất
+ Đánh giá rủi ro vỡ nợ thông qua chênh lệch lãi suất giữa các giấy nợ
do ngân hàng phát hành so với giấy nợ của chính phủ cùng kỳ hạn, tỷ số giữagiá cổ phiếu ngân hàng/EPS, tỷ số vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, tỷ số nguồnvốn vay/tổng huy động
Trang 20- Thị giá cổ phiếu
Theo Joseph P.Hughes, Loretta J.Mester (2008), PGS.TS Lâm ChíDũng, Th.S Võ Hoàng Diễm Trinh (2009) cũng cho rằng trong điều kiện hoànhảo, đối với các ngân hàng thương mại có cổ phần niêm yết trên sàn giao dịchchứng khoán thì thị giá cổ phiếu cũng được xem là một chỉ tiêu phản ánh hiệuquả hoạt động của NHTM Tuy nhiên, trên thực tế, chỉ tiêu này không được
sử dụng phổ biến bởi những sai lệch do thị trường không hoàn hảo, thông tinbất đối xứng, cũng như mức độ tham gia niêm yết trên sàn giao dịch chứngkhoán của các NHTM Việt Nam còn khá thấp
Ngoài ra cũng theo hướng tiếp cận này, một số nhà nghiên cứu cũng đưacác mô hình chỉ số để có cách đánh giá toàn diện hơn, chẳng hạn mô hìnhCAMELS gồm các tiêu chí: sự phù hợp về vốn (Capital adequacy), chấtlượng tài sản (Asset quality), chất lượng quản trị (Management quatily), mứcsinh lời (Earning), tính thanh khoản (Liquidity), độ nhạy cảm với thị trường(Sensitivity to market risk)
b Cách tiếp cận cấu trúc
Bên cạnh các phương pháp phân tích chỉ số truyền thống vốn chỉ phảnánh, đánh giá hiệu quả bề ngoài và khó lượng hóa, các nhà kinh tế học hiệnđại đã nghiên cứu, phát triển phương pháp phân tích hiệu quả biên để đolường hiệu quả và lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt độngđiển hình như Farrell (1957), Charnes, Cooper và Rhodes (1978), Fare,Grosskopf và Lovell (1994)…Từ đó, hiệu quả hoạt động sẽ được xác địnhmột cách tổng hợp thành một đại lượng cụ thể, rõ ràng
Với những nền móng cho việc đo lường hiệu quả hoạt động, Farrell(1957) cho rằng hiệu quả hoạt động của một đơn vị bao gồm 2 thành phần làhiệu quả kỹ thuật (Technical efficiency), phản ánh khả năng một đơn vị tối đahóa đầu ra với đầu vào cho trước hay khả năng tối thiểu hóa đầu vào với một
Trang 21Có 2 hướng tiếp cận để đo lường hiệu quả của một đơn vị là định hướngđầu vào và định hướng đầu ra.
- Định hướng đầu vào
Theo cách tiếp cận này thì hiệu quả được hiểu là việc tối thiểu hóa cácđầu vào (Input) để sản xuất một lượng đầu ra (Output) cố định
Trong việc nghiên cứu của mình, Farrell (1957) đã sử dụng trường hợpđơn giản nhất với 2 biến đầu vào (x1 và x2) để tạo ra 1 biến đầu ra (y) với giảthiết không thay đổi theo quy mô Đường đồng lượng đơn vị của DMU đượcbiểu diễn bằng đường cong SS’ Nếu DMU sử dụng một lượng đầu vào, biểudiễn bởi điểm P, để sản xuất ra một điểm đầu ra thì mức độ phi hiệu quả củaDMU được biểu diễn bởi đoạn PQ, hay có thể hiểu đây là lượng đầu vào màđơn vị có thể cắt giảm mà không làm ảnh hưởng đến lượng đầu ra Mức độ
Trang 22phi hiệu quả này thường được thể hiện ở dạng tỷ số PQ/OP và nhận giá trị từ
0 đến 1 Như vậy, hiệu quả kỹ thuật (TE) của DMU sẽ được tính bằng tỷ số:
TE = OQ
OP = 1 -
PQ OP
AE= OR
OQ
Theo đó, QR là khoản chi phí sản xuất có thể cắt giảm nếu sản xuất diễn
ra tại điểm hiệu quả phân bổ và hiệu quả kỹ thuật (kết hợp thành hiệu quảtoàn phần) Q’ thay vì điểm hiệu quả kỹ thuật Q
Như vậy, hiệu quả toàn phần (EE) được xác định như sau:
- Định hướng đầu ra:
Nếu như phương pháp đo lường hiệu quả định hướng đầu vào trả lời chocâu hỏi: “Có thể cắt giảm một lượng đầu bao nhiêu mà không làm thay đổisản lượng đầu ra?” thì phương pháp định hướng đầu ra lại trả lời câu hỏingược lại “ Có thể tạo thêm bao nhiêu sản phẩm đầu ra mà không làm thayđổi lượng đầu vào cho trước?”
Farrel đã sử dụng 2 biến đầu ra (y1 và y2) và chỉ định một biến đầu vào(x), với giả định không thay đổi theo quy mô, để mô tả phương pháp địnhhướng đầu ra này Theo đó, ZZ’ là đường cong giới hạn khả năng sản xuất vàđiểm A là một điểm nằm dưới đường cong này, hay có thể hiểu là điểm mà tại
đó DMU hoạt động không hiệu quả Khoảng cách AB chính là mức phi hiệu
Trang 23quả của DMU, hay chính là lượng đầu ra mà DMU có thể tạo thêm nếu hoạtđộng với hiệu quả tối đa.
Như vậy, hiệu quả kỹ thuật trong trường hợp này được xác định là:
Tương tự như trường hợp định hướng đầu vào, BC là sản lượng đầu ra
có thể tạo thêm nếu sản xuất diễn ra tại điểm hiệu quả phân bổ và hiệu quả kỹthuật (kết hợp thành hiệu quả toàn phần) B’ thay vì điểm B
Như vậy, hiệu quả toàn phần EE được tính bằng tỷ số:
D’
Trang 241.2 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
1.2.1 Nghiên cứu trên thế giới:
a Fadzlan Sufian, Mahamad Akbar Noor Mohamad Noor (2012), Determinants of bank performance in a developing economy: Does bank origins matter?
Nghiên cứu nhằm kiểm tra các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởngđến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Ấn Độ trong giai đoạn 2000 –
2008 Mục tiêu của nghiên cứu là để mở rộng các công trình nghiên cứu trướcđây về lĩnh vực ngân hàng Ấn Độ và kiểm tra tác động của các nhân tố đếnhiệu quả hoạt động của các ngân hàng nước ngoài hoạt động trong lĩnh vựcngân hàng Bài báo nghiên cứu về cả tác động của các yếu tố bên trong lẫncác yếu tố bên ngoài như điều kiện kinh tế vĩ mô và cơ cấu thị trường tàichính Mặc dù đã có những nghiên cứu trước đó như Ataullah và Le (2006),Bhattacharyya et al (1997), Bodla và Verma (2007), Das và Ghosh (2009)…nhưng hầu như chưa có nghiên cứu nào công bố kiểm tra lợi thế toàn cầutrong số các ngân hàng nước ngoài hoạt động tài Ấn Độ Bài viết nhằm cungcấp lần đầu tiên bằng chứng thực nghiệm về các tác động của các nhân tố đếnhiệu quả hoạt động của các ngân hàng nước ngoài tại Ấn Độ
Nghiên cứu đã đưa ra mô hình nghiên cứu gồm các biến sau: Biến phụthuộc là Tỷ lệ lợi nhuận/tổng tài sản (ROA), các biến giải thích gồm các biếnnội sinh và ngoại sinh Biến nội sinh là rủi ro tín dụng, khả năng tự chủ tàichính, tỷ lệ chi phí ngoài lãi trên tổng tài sản, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trêntổng tài sản, tổng các khoản cho vay/tổng tài sản, và quy mô ngân hàng Biếnngoại sinh gồm có: GDP, tỷ lệ lạm phát hằng năm, tăng trưởng cung tiền,mức độ tập trung và cạnh tranh, tỷ lệ vốn hóa thị trường chứng khoán trên
Trang 25GDP Việc lựa chọn và đưa ra các biến được giải thích một cách chặt chẽ vàkèm theo đó là các giả thiết nghiên cứu Sau khi có được mô hình, tác giả đã
sử dụng phương pháp hồi quy bội, các dạng tuyến tính log được chọn vì nócải thiện các mô hình hồi quy phù hợp hơn và có thể làm giảm sai lệch Tácgiả áp dụng phương pháp bình phương bé nhất của mô hình tác động cố định(FEM) và để kiểm tra độ chắc chắn tác giả cũng đã thực hiện các mô hình hồiquy bằng cách sử dụng mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM)
Các mô hình thực hiện khá tốt với hầu hết các biến qua các kiểm tra hồiquy khác nhau Khả năng giải thích của mô hình này là khá hợp lý, trị sốthống kê F cho tất cả các mô hình đều có ý nghĩa ở mức 1% và R2 hiệu chỉnh
là khá cao so với các nghiên cứu trước đó Nghiên cứu đã chỉ ra tác động tíchcực đến hiệu quả hoạt động ngân hàng tại Ấn Độ của các biến chất lượng tíndụng, khả năng tự chủ tài chính, tỷ lệ chi phí ngoài lãi/tổng tài sản, tỷ lệ thunhập phi lãi/tổng tài sản, quy mô ngân hàng và biến vĩ mô GDP Các biến cótác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng đó là biến tổng tiềngửi, tổng các khoản cho vay/tổng tài sản và các biến ngoại sinh mức độ tậptrung và cạnh tranh, tỷ lệ vốn hóa thị trường chứng khoán trên GDP Đối vớibiến lạm phát thì mức độ tác động phụ thuộc vào đó là làm phát được dự kiếnhay không được dự kiến trước bởi các ngân hàng Bài viết cũng đã có mộtnghiên cứu khá thú vị khi so sánh xuất xứ của các ngân hàng có tác động đếnhiệu quả hoạt động của nó hay không? Chẳng hạn ngân hàng nước ngoài tại
Ấn Độ có xuất xứ từ Mỹ, Châu Âu, châu Á…đã có những mức lợi nhuận vàhiệu quả hoạt động là khác nhau
Nghiên cứu cũng đã đi vào nhìn nhận những hạn chế và đưa ra nhữnghướng nghiên cứu mới như thêm biến vào mô hình như biến chỉ số thuế, tỷgiá hối đoái, các quy định, chỉ số chất lượng dịch vụ…Hay kiểm tra sự khácbiệt trong các yếu tố quyết định đến lợi nhuận ngân hàng giữa biến nội sinh
Trang 26và ngoại sinh…Và có thể sử dụng các phương pháp phân tích, đo lường hiệuquả hoạt động khác như phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA), chỉ số sẳnxuất Malmquist…để kiểm tra sự tác động đến hiệu quả hoạt động của ngânhàng Ấn Độ.
b Nader Naifar (2010), The determinants of bank performance:
an analysis of theory and practice in the case of an emerging maket
Mục đích của nghiên cứu là nhằm giải thích thực nghiệm các yếu tốquyết định đến hiệu quả hoạt động ngân hàng sử dụng chuỗi gộp thời gian và
dữ liệu mặt cắt ngang Phát hiện lý thuyết và hầu hết các nghiên cứu thựcnghiệm tập trung chủ yếu ở thị trường phát triển, do đó, nghiên cứu đã chọnmột thị trường mới nổi, Tunisia, để kiểm tra tính hợp lệ của những nghiên cứunày Môi trường kinh doanh Tunisia đang dần thay đổi vì sự cải cách thể chế
đã được thực hiện thành công từ năm 1987 Nghiên cứu này phân tích hiệuquả hoạt động ngân hàng Tunisia từ năm 1999 đến năm 2007
Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật hồi quy để khám phá mối quan hệ của cácyếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Tunisia Biến phụthuộc được lựa chọn đại diện cho hiệu quả hoạt động là tỷ lệ lợi nhuận trêntổng tài sản (ROA) và tỷ lệ lợi nhuận/vốn chủ sở hữu (ROE) Tác giả đã kiểmtra ma trận tương quan, xem xét mối quan hệ giữa ROA và ROE cũng như ýnghĩa của từng chỉ tiêu Các biến giải thích được đưa vào mô hình đó là: Cáckhoản cho vay, quy mô ngân hàng, tỷ lệ thanh khoản, chi phí hoạt động, tỷ lệvốn chủ sở hữu, quyền sở hữu, số cán bộ quản lý Theo đó là các giả thuyếtđược đưa ra Theo tác giả, các biến có tác động tích cực đến hiệu quả hoạtđộng ngân hàng đó là các khoản cho vay, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, quy mô ngânhàng, số cán bộ quản lý Các biến sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạtđộng ngân hàng là 2 biến quyền sở hữu và chi phí hoạt động, đối với biến tỷ
lệ thanh khoản tác động có thể là tích cực hoặc tiêu cực Tuy nhiên, sau khi
Trang 27thực hiện hồi quy và kiểm định các giả thiết, chỉ có các biên giải thích có sựtác động đến hiệu quả hoạt động ngân hàng Tunisia, đó là biến quyền sở hữuchi phí hoạt động và tỷ lệ vốn chủ sở hữu, các biến còn lại trong trường hợpnày chưa có ý nghĩa về mặt thống kê
Các kết quả nghiên cứu này là rất quan trọng đối với người tham gia thịtrường Tunisia, nó cung cấp một cái nhìn sâu sắc vào môi trường kinh doanhtrong trường hợp của một thị trường mới nổi Do đó, các ngân hàng Tunisiaphải nổ lực để đạt được một quy mô phù hợp bằng cách xem xét sát nhập giữangân hàng trong nước và quốc tế Ngoài ra, giảm sở hữu nhà nước và mở rộngvới nguồn vốn nước ngoài sẽ khuyến khích đổi mới sản phẩm, hiệu suất ngânhàng sẽ phụ thuộc vào việc liệu một ngân hàng đặt trọng tâm nhiều hơn vàoviệc đa dạng hóa sản phẩm , mở rộng thị phần và tăng sự trung thành củakhách hàng
Hạn chế của nghiên cứu là chỉ mới xem xét các yếu tố bên trong của bảnthân ngân hàng Tunisia mà chưa xét đến các yếu tố ngành và vĩ mô Các dữliệu sử dụng cho việc phân tích thực nghiệm (chủ yếu là chỉ số tài chính) cómột số hạn chế trong các bằng chứng mà ngân hàng cung cấp vì ngân hànghoàn toàn dựa trên số liệu kế toán Một hạn chế khác có liên quan đến tínhtoán của biến, đại diện cho các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động ngânhàng Nếu chúng ta thay đổi công thức tính cho một biến thì kết quả có thểthay đổi Hướng phát triển của các nghiên cứu trong tương lai là nên đưathêm vào mô hình các biến giải thích và lựa chọn cách tính phù hợp nhất,trong điều kiện cho phép có thể sử dụng các kỹ thuật khác để đo lường hiệuquả hoạt động
c Sangeeta D.Misra (2015), Determinants of bank profitability in India
Trang 28Mục tiêu của nghiên cứu là kiểm tra các yếu tố quyết định đến lợi nhuậncủa các ngân hàng Ấn Độ Dữ liệu liên quan được lấy từ 127 ngân hàng tronggiai đoạn 2000 – 2011, trong đó có 26 ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước, 20ngân hàng tư nhân, 43 ngân hàng nước ngoài và 38 ngân hàng hợp tác xã.Nguồn dữ liệu được lấy từ Trung tâm giám sát kinh tế Ấn Độ (CMIE).
Nghiên cứu đã thu thập các kết quả thực nghiệm trước đó về các nhân tốảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng và tổng hợp thành 3 nhóm yếu tố tácđộng chính, đó là: yếu tố thuộc về bản thân ngân hàng, yếu tố ngành côngnghiệp và yếu tố vĩ mô Các yếu tố thuộc về bản thân ngân hàng có thể kể đếnnhư chất lượng tài sản, quy mô ngân hàng, thu nhập từ lãi và ngoài lãi, tỷ lệtiền gửi, vốn chủ sở hữu…Các yếu tố ngành và vĩ mô đó là mức độ tập trungthị trường, quy mô công nghiệp, trạng thái sở hữu, lạm phát, lãi suất thực vàGDP Trong nghiên cứu, tác giả lấy ROA và ROE làm đại diện cho lợi nhuậnngân hàng và 11 biến giải thích đã được đưa vào mô hình gồm: quy mô ngânhàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, cho vay/tổng tài sản, dự phòng rủi rotín dụng/tổng tài sản, tỷ lệ tài sản ngắn hạn/tổng tài sản, tiền gửi/tổng tài sản,thu nhập lãi thuần/tổng tài sản, thu nhập ngoài lãi/tổng tài sản, tỷ lệ lạm phát,tốc độ tăng trưởng GDP vã lãi suất thực tế Các yếu tố về ngành công nghiệp
đã không được tác giả xem xét trong nghiên cứu này
Sử dụng mô hình hồi quy cố định với biến phụ thuộc ROA và ROE cùng
11 biến giải thích để tìm ra các yếu tố quyết định đến lợi nhuận ngân hàng Ấn
Độ Các kết quả của cả 2 mô hình hồi quy cho thấy, chất lượng tài sản, tỷ lệcho vay/tổng tài sản, thu nhập lãi thuần/tổng tài sản, thu nhập ngoài lãi/tổngtài sản là yếu tố quyết định quan trọng đến lợi nhuận ngân hàng Riêng đốivới biến phụ thuộc ROA, ngoài các biến kể trên, còn chịu sự tác động mạnh
mẽ của hai biến: quy mô ngân hàng và tỷ lệ vốn chủ sở hữu Kết quả hồi quy
Trang 29cũng chỉ ra rằng các yếu tố kinh tế vĩ mô của nền kinh tế Ấn Độ là yếu tốkhông có ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận ngân hàng
Nghiên cứu đã có những đóng góp đáng kể về thực nghiệm, chẳng hạn
về thời gian nghiên cứu, đã xem xét cả trong giai đoạn xảy ra khủng hoảngkinh tế 2007 – 2008 mà ít có nghiên cứu nào trước đó đã thực hiện Tiếp đến,kết quả nghiên cứu là phù hợp và hỗ trợ cho nhiều nghiên cứu quốc tế trướcđây về lợi nhuận ngân hàng Nghiên cứu sử dụng một lượng mẫu khá lớn vàtập hợp nhiều yếu tố tác động vào xem xét trong mô hình thông qua việc sửdụng dữ liệu của bảng điều khiển và phương pháp tiếp cận tốt hơn Mặc dùvậy, hạn chế của nghiên cứu là đã không bao gồm một số biến khác như tácđộng của các vụ sát nhập và mua lại, yếu tố quản trị ngân hàng như kinhnghiệm, sự độc lập của nhà quản lý và hội động quản trị
d Các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài khác
Các nghiên cứu khác cũng đã được xem xét và làm cơ sở cho việcnghiên cứu có thể kể đến như nghiên cứu của George Emmanuel Iatridis(2012), Bank profitability determinants under IFRSs, nghiên cứu của EzeSimpson Osuagwu (2014), Determinants of bank profitability in Nigeria haynghiên cứu của Hassan Ghodrati and Mohammad Ghasemi, Determinants ofIranian bank profitability
Nghiên cứu của George Emmanuel Iatridis xem xét tác động của việcthực hiện IAS 32, IAS 39 và IFRS 7 đối với lợi nhuận của các ngân hàng ởAnh và Hy Lạp trong giai đoạn 2001-2008 Giai đoạn điều tra đã được táchthành thời kỳ trước, trong và sau khi thực hiện IFRS Nghiên cứu này tậptrung vào mối liên hệ giữa hiệu quả tài chính và các biến tài chính ngân hàngliên quan như thanh khoản, rủi ro tín dụng, an toàn vốn, chi phí hoạt động,quy mô ngân hàng, sử dụng công cụ phái sinh và các biến kinh tế vĩ mô nhưlạm phát, GDP, mức độ tập trung công nghiệp Các kết quả thực nghiệm cho
Trang 30thấy rằng, trong suốt quá trình điều tra, lợi nhuận của các ngân hàng Hy Lạpchịu ảnh hưởng của sức mạnh vốn, quy mô ngân hàng, việc sự dụng công cụphái sinh và chi phí hoạt động Nghiên cứu cho thấy, lợi nhuận của ngân hàngAnh thì chịu ảnh hưởng bởi chi phí hoạt động, sử dụng công cụ phái sinh vàtính thanh khoản
Bên cạnh đó, thì nghiên cứu của Eze Simpson Osuagwu (2014) cũng đãđóng góp lớn vào cơ sở thực nghiệm về nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuậnngân hàng khi đưa thêm nhiều biến mới vào mô hình Biến phụ thuộc là lợinhuận ngân hàng, được đại diện bởi 3 chỉ số tài chính là ROA, ROE và NIM,
vì vậy có 3 mô hình hồi quy trong trường hợp này Các biến giải thích baogồm cả 3 nhóm: yếu tố thuộc về bản thân ngân hàng, đó là chi phí cơ hội củaviệc nắm giữ dự trữ với Ngân hàng trung ương, tỷ lệ chi phí hoạt động trêntổng tài sản, tỷ lệ tổng dư nợ/tổng tài sản, tỷ lệ tổng tiền gửi/tổng cho vay, tỷ
lệ thu nhập ngoài lãi/lợi nhuận hoạt động, tỷ lệ nợ xấu/tổng cho vay, tỷ lệ tiềngửi kỳ hạn/tổng tiền gửi yếu tố ngành đó là mức độ cạnh tranh và mức độ tậptrung thị trường, yếu tố vĩ mô bao gồm tỷ lệ lạm phát và tỷ giá hối đoái Kếtquả nghiên cứu cho thấy rằng lợi nhuận ngân hàng chủ yếu được xác định bởicác yếu tố thuộc về bản thân ngân hàng như rủi ro tín dụng, tỷ lệ chi phí hoạtđộng, tỷ lệ tổng dư nợ/tổng tài sản Tập trung thị trường có ý nghĩa như mộtyếu tố quyết định lợi nhuận ngân hàng và tỷ giá hối đoái cũng là một yếu tốquan trọng ảnh hưởng đến ROE và NIM nhưng lại không có tác động đối vớiROA
1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của cácngân hàng thương mại Việt Nam là không nhiều, chủ yếu là được kết hợptrong các nghiên cứu đo lường về hiệu quả hoạt động ngân hàng Có thể kể
Trang 31đến như nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2008) sử dụng phương phápphân tích biên ngẫu nhiên SFA, phân tích bao dữ liệu DEA và mô hình kinh
tế lượng Tobit để đánh giá hiệu quả hoạt động của 32 NHTM trong giai đoạn2001-2005 Đây có thể được xem là một trong những nghiên cứu đầu tiên ứngdụng phương pháp phân tích định lượng trong đánh giá hiệu quả hoạt động tạiViệt Nam, tuy nhiên mô hình Tobit mà nghiên cứu sử dụng chỉ tập trung vàocác nhân tố nội sinh mà chưa đánh giá đúng mức vai trò của các nhân tố ngoạisinh đối với hiệu quả hoạt động của NHTM Một nghiên cứu khác của tác giảNgô Đăng Thành (2012) cũng sử dụng phương pháp màng dữ liệu DEA và
mô hình hồi quy Tobit để đánh giá chỉ số hiệu quả của 22 NHTM Việt Namlại chỉ nhắm đến các nhân tố ngoại sinh mà không tính đến các nhân tố xuấtphát từ chính hoạt động bên trong NHTM Trước đó, tác giả này cũng đã cómột nghiên cứu chỉ áp dụng riêng phương pháp DEA Nghiên cứu củaNguyễn Minh Sáng (2013) sử dụng phương pháp 2 bước là DEA và Tobitđánh giá hiệu quả hoạt động của 17 NHTM trên địa bàn thành phố Hồ ChíMinh, tuy nhiên, chính tác giả lại đánh giá nghiên cứu của mình không chokết quả như mong đợi bởi những sai lệch từ số liệu thu thập Một số nghiêncứu khác kể đến như Nguyễn Thị Ngân (2012) sử dụng mô hình CAMEL vàphương pháp DEA, Nguyễn Thị Hồng Vinh (2012) sử dụng phươngpháp DEA, Nguyễn Thị Loan và Trần Thị Ngọc Hạnh (2013) sử dụng phươngpháp DEA và mô hình hồi quy Tobit Các nghiên cứu này tập trung vào đolường hiệu quả hoạt động nên việc giải thích các biến ảnh hưởng đến hiệu quảhoạt động còn chưa sâu sắc và mô hình nghiên cứu chưa đưa được nhiều biếnvào phân tích Trong bài viết này, bản thân sẽ tập trung đi tìm hiểu và pháttriển mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàngtrên cơ sở các nghiên cứu thực nghiệm trước đó sao cho phù hợp với thực tiễncác ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Trang 321.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1 Các nhân tố nội sinh
a Quy mô ngân hàng
Đây là nhân tố được hầu hết các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động củangân hàng thương mại quan tâm, thể hiện qua các chỉ tiêu như tổng tài sản, sốlượng chi nhánh, số lượng trạm ATM, số lượng lao động hay tổng thu nhập…Nhân tố này đại diện cho tính hiệu quả theo quy mô của các ngân hàng TheoFadzlan Sufian, Mohamad Akbar Noor Mohamad Noor (2012) quy mô ngânhàng dự kiến sẽ ảnh hưởng tích cực đến hoạt động ngân hàng nếu có sự hiệuquả theo quy mô Mặt khác, nếu việc đa dạng hóa dẫn đến rủi ro cao hơn thìtác động là ngược lại Và trong nghiên cứu của chính tác giả đối với các ngânhàng Ấn Độ giai đoạn 2000 – 2008 đã chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa quy
mô và hiệu quả hoạt động ngân hàng Đây cũng là kết quả nghiên cứu củaShort (1979) khi cho rằng các ngân hàng lớn có lợi hơn khi họ có thể huyđộng vốn với chi phí thấp Tượng tự, Chu & Lim (1998) chỉ ra rằng các ngânhàng lớn có thể thu hút thêm tiền gửi sau đó cho vay nhiều hơn, dẫn đến sựchênh lệch lãi suất lớn hơn Randhawa & Lim (2005) cho rằng các ngân hàngnhỏ với lượng tiền gửi nhỏ có thể phải nhờ đến các nguồn vốn mua trên thịtrường liên ngân hàng mà điều đó thì tạo ra chi phí cao hơn Bikker & Hu(2002), Goddard et al (2004) cũng chỉ ra sự tác động của quy mô ngân hàngđối với lợi nhuận thông qua vốn Các tác giả khác như Sangeeta D.Misra(2015), Pasiouras & Kosmidou (2007), Berger et al (1987) cũng tìm thấy mốiquan hệ tích cực giữa hiệu quả hoạt động và quy mô ngân hàng Tuy nhiên,Hassan Ghodrati & Mohammad Ghasemi (2014) chỉ ra rằng tổng tài sản cótác động tiêu cực đến lợi nhuận ngân hàng Theo họ, một ngân hàng khôngthể tiết kiệm được chi phí đáng kể bởi việc mở rộng quy mô của nó Bên cạnh
Trang 33đó, nghiên cứu của TS Nguyễn Thị Loan và Trần Thị Ngọc Hạnh (2013) cũng
đã chỉ ra không phải lúc nào quy mô lớn cũng đồng nghĩa với hiệu quả, việcquan trọng là mỗi ngân hàng thương mại cần tìm ra điểm quy mô hiệu quả choriêng mình để tránh lãng phí nguồn lực Một số tác giả khác như Micro et al.(2007) và Nader Naifar (2010) thì không tìm thấy mối quan hệ giữa hiệu quả
và quy mô ngân hàng hoặc nếu có thì sự tác động này cũng không mang tínhquyết định
mà ngân hàng càng có nhiều khoản cho vay có rủi ro cao thì càng dễ rơi vàoviệc mất khả năng thanh toán và dẫn đến làm cho lợi nhuận giảm Hai tác giảnày cũng chỉ ra rằng sự giảm sút trong việc lập dự phòng đối với các khoảnvay bị tổn thất là điều kiện cơ bản để làm tăng lợi nhuận Đó cũng là quanđiểm của Thakor (1987) khi cho rằng sự tăng dự phòng các khoản cho vay córủi ro là dấu hiệu không tốt về chất lượng tài sản ngân hàng và là tín hiệu cho
sự thay đổi hiệu quả hoạt động trong tương lai
Các kết quả nghiên cứu thực tế đã chứng minh được cả tác động tích cực
và tiêu cực của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Các tácgiả Sangeeta D.Misra (2015), Miller & Noulas (1997), Dietrich &Wanzenried (2011), Emmanuel Iatridis (2012), Bourke (1989), Molyneux &Thornton (1992), Eze Simpson Osuagwu (2014), Raoudha Bejaoui &Houssam Bouzgarrou (2014) đã chứng minh được mối quan hệ tiêu cực giữarủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng Kết quả này có thể phản ánh một thực
Trang 34tế là các ngân hàng tiếp xúc với các khoản vay có rủi ro cao thì tiểm ẩn nguy
cơ mất khả năng thanh toán cao hơn những ngân hàng khác và chính điều nàylàm giảm lợi nhuận Ngược lại, hai nghiên cứu của Abreu & Mendes (2002)
và Fadzlan Sufian, Mohamad Akbar Noor Mohamad Noor (2012) thì cho thấymối quan hệ tích cực giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng
c Khả năng thanh khoản
Việc kiểm soát khả năng thanh khoản có ý nghĩa quan trọng đối với sựhoạt động an toàn và hiệu quả của ngân hàng Một ngân hàng có tính thanhkhoản thấp đồng nghĩa với việc khó có thể đáp ứng các yêu cần vay mới trongtrường hợp chưa thu hồi được những khoản vay trong hạn cũng như dễ gặprủi ro trước những biến động hằng ngày khi khách hàng có nhu cầu rút tiền ồ
ạt Ngược lại, việc giữ một tỷ lệ thanh khoản quá cao cũng khiến ngân hàng bị
ứ đọng vốn, mất đi những cơ hội đầu tư sinh lời
Khả năng thanh khoản của ngân hàng có thể được đánh giá qua nhiều tỷ số,trong đó Morteza Soltani, Mehdi Eshdi Esmaili, Majid Hassan Poor, HosseinKarami (2013) đã sử dụng tỷ lệ Dư nợ so với tiền gửi để đại diện cho tính thanhkhoản, đây được xem là chỉ tiêu khá tốt và chính xác Tỷ lệ này càng cao thì tínhthanh khoản của ngân hàng càng thấp Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Loan
và Trần Thị Ngọc Hạnh (2013) đã tìm thấy mối quan hệ ngược chiều của tỷ sốtiền gửi/dư nợ với hiệu quả hoạt động ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2007 –
2011 Hay Eze Simpson Osuagwu (2014) cũng đã tìm thấy mối quan hệ nghịchbiến của tỷ số này với lợi nhuận của các ngân hàng Nigeria
Ngoài ra, tính thanh khoản còn được xác định thông qua các tỷ số củatổng nợ/tổng tài sản, tỷ lệ tài sản ngắn hạn/tổng tài sản…Trong nghiên cứucủa Fadzlan Sufian, Mohamad Akbar Noor Mohamad Noor (2012) đã sửdụng tỷ lệ Tổng dư nợ/Tổng tài sản như là chỉ tiêu đại diện cho khả năngthanh khoản và nghiên cứu cũng đã chỉ ra mối quan hệ ngược chiều của tỷ lệ
Trang 35này với hiệu quả hoạt động Bên cạnh đó, nghiên cứu của Sangeeta D.Misra(2015) đã đưa vào phân tích mối quan hệ giữa tỷ số tài sản ngắn hạn/Tổng tàisản và mức sinh lời của ngân hàng Tác giả đã chỉ ra mối quan hệ nghịch biếngiữa tỷ lệ này và lợi nhuận ngân hàng Ấn Độ giai đoạn 2000 – 2011, điều nàycho thất việc các ngân hàng nắm giữa các tài sản có tính lỏng cao thì kèmtheo đó là một mức sinh lời thấp Tuy nhiên, trong nghiên cứu của NaderNaifar (2010) lại cho thấy mối quan hệ tích cực giữa Tỷ lệ tài sản có tính lỏngcao/Tổng tiền gửi và hiệu quả hoạt động của ngân hàng Tunisia từ năm 1999– 2007 Cùng với đó, nhiều nghiên cứu của các tác giả khác cũng chỉ ra đượcmối quan hệ giữa khả năng thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng nhưMolyneux & Thornton (1992), Guru et al (2002) tìm ra mối quan hệ tiêu cực
và đáng kể giữa mức độ thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng hay Bourke(1989) và Kosmidou et al (2005) thì tìm thấy mối quan hệ tích cực
d Khả năng tự chủ tài chính
Đại lượng thường được sử dụng để đo lường khả năng tự chủ tài chính làchỉ tiêu Vốn chủ sở hữu hay tỷ lệ Vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản TheoSufian (2009) thì một cơ cấu vốn lành mạnh là điều cần thiết cho các ngânhàng trong nền kinh tế đang phát triển vì nó giúp ngân hàng thêm sức mạnh
để chịu đựng các cuộc khủng hoảng tài chính và tăng độ an toàn cho ngườigửi tiền trong điều kiện nền kinh tế vĩ mô không ổn định Hơn nữa, tỷ lệ vốnchủ sở hữu thấp nghĩa là đòn bẩy và rủi ro cao, do đó, lợi nhuận sẽ cao hơncho những ngân hàng có nguồn vốn chủ sở hữu tốt hơn
Trong các nghiên cứu trước đây của Bourke (1989), Demirguc – Kunt &Huizinga (1999), Fadzlan Sufian, Mohamad Akbar Noor Mohamad Noor(2012), Sangeeta D.Misra (2015), Abreu & Mendes (2002), Goddard et al(2004), Naceur & Goaied (2001), Pasiouras & Kosmidou (2007), NguyễnViệt Hùng (2008) đã chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa tỷ lệ Vốn chủ sở
Trang 36hữu/Tổng tài sản và lợi nhuận ngân hàng Điều này chỉ ra rằng các ngân hàng
có nguồn vốn chủ sở hữu ổn định đối mặt với nguy cơ phá sản thấp, do đólàm giảm chi phí vốn tài trợ Bên cạnh đó, nghiên cứu của Nader Naifar(2010) cũng chỉ ra được mối quan hệ tích cực này nhưng không phải là nhân
tố có quyết định đáng kể đến lợi nhuận ngân hàng Tuy nhiên, nghiên cứu củaNguyễn Minh Sáng (2013) và nghiên cứu của Hassan Ghodrati & MohammadGhasemi (2011) lại chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản và lợi nhuận ngân hàng Còn đối với nghiên cứu của Nguyễn ThịLoan và Trần Thị Ngọc Hạnh thì không tìm thấy mối quan hệ nào giữa hiệuquả hoạt động và khả năng tự chủ tài chính của ngân hàng
e Chi phí ngoài lãi /Tổng tài sản
Được sử dụng để cung cấp thông tin về những chi phí hoạt động kháccủa ngân hàng Yếu tố này đại diện cho toàn bộ mức lương cũng như chi phícho việc chạy thiết bị văn phòng Mối quan hệ giữa tỷ lệ chi phí ngoài lãi/tổngtài sản dự kiến sẽ là tiêu cực bởi vì các ngân hàng có hiệu quả hơn khi giữ chocác chi phí hoạt động thấp Hơn nữa, việc sử dụng công nghệ mới như ATMhay phương tiện tự động khác có thể gây ra chi phí tiền lương để rơi, nghĩa làvốn được thay thế cho lao động
Trong nghiên cứu của Fadzlan Sufian, Mohamad Akbar Noor MohamadNoor (2012) đã đưa tỷ lệ này vào phân tích và tác giả đã tìm thấy mối quan hệtích cực với lợi nhuận ngân hàng, điều này trái ngược với dự kiến ban đầu Cóthể giải thích cho điều này bằng quan điểm của Sathye (2001) khi cho rằngtrình độ quản lý tốt và chuyên nghiệp thì đòi hỏi mức thù lao cao hơn, do đómối quan hệ tích cực với lợi nhuận là điều tự nhiên Hơn nữa, theo Haessens
et al (2001) mặc dù đội ngũ nhân viên có thể dẫn đến sự sụt giảm lợi nhuậncủa ngân hàng ở các nước có thu nhập thấp nhưng nó không đúng cho nhữngngân hàng hoạt động ở những nước có thu nhập trung bình và cao Bên cạnh
Trang 37đó, mối quan hệ tích cực giữa tỷ lệ chi phí ngoài lãi/tổng tài sản và lợi nhuậnngân hàng đã được Eze Simpson Osuagwu (2014) đã chỉ ra trong nghiên cứucác nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng Nigeria Tuy nhiên, cácnghiên cứu của Athanasoglou et al (2008), Molyneux & Thornton (1992),Nader Naifar lại chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa chi phí ngoài lãi và lợinhuận ngân hàng.
f Quyền sở hữu
Mối quan hệ giữa hiệu quả ngân hàng và quyền sở hữu có thể tồn tại.Các ngân hàng tư nhân dự kiến sẽ có hiệu suất cao hơn so với các ngân hàngnhà nước Short (1979) tìm thấy mối quan hệ tiêu cực giữa sở hữu nhà nước
và hiệu suất ngân hàng Barth et al (2004) báo cáo rằng sở hữu nhà nước củacác ngân hàng có liên quan tiêu cực đối với hiệu quả hoạt động
g Tuổi của ngân hàng
Theo Beck et al (2005) cho rằng các ngân hàng đã thành lập và có tuổithọ lâu đời có thể có lợi thế hơn những ngân hàng thành lập tương đối mới
Và trong nghiên cứu của họ trên thị trường Nigeria cho thấy các ngân hànglớn tuổi thì đạt được hiệu quả kém hơn các ngân hàng mới Điều này tráingược với giả định được nêu ra, có thể các ngân hàng mới chú trọng hơn vềdịch vụ và có những cải tiến tốt hơn những ngân hàng cũ do đó đạt được lợinhuận cao hơn
1.3.2 Các nhân tố ngoại sinh
a Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Tốc độ tăng trưởng GDP chính là thước đo sức khỏe và tình trạng hoạtđộng của nền kinh tế Lợi nhuận của một ngân hàng là nhạy cảm với tốc độtăng trưởng GDP thực tế Như vậy, về mặt lý thuyết có mối quan hệ trực tiếp
Trang 38giữa GDP và lợi nhuận ngân hàng Dự kiến nếu điều kiện kinh tế thuận lợi sẽảnh hưởng tích cực đến nhu cầu và mức cung các dịch vụ ngân hàng.
Theo nghiên cứu của Demirguc – Kunt & Huizinga (1999), Bourke(1989), Molyneux & Thornton (1992) cho thấy mối quan hệ tích cực giữaGDP và lợi nhuận ngân hàng Đó cũng là kết quả của Fadzlan Sufian,Mohamad Akbar Noor Mohamad Noor (2012) về tác động của tăng trưởngGDP đến lợi nhuận ngân hàng Ấn Độ Ngoài ra, có các nghiên cứu củaAlbertazzi & Gambacorta (2009, 2010), Berger & Bouwman (2013), Lee &Hsieh (2013), Dietrich & Wanzenried (2011)…cũng đã nghiên cứu sự tácđộng của chu kỳ kinh doanh đến lợi nhuận ngân hàng Nghiên cứu của họ chothấy rằng thu nhập lãi thuần và dự phòng rủi roc ho vay đều chịu ảnh hưởngcủa GDP Tuy nhiên, nghiên cứu của Sangeeta D.Misra (2015), PasiourasSifodaskalakis & Zopounidis hay nghiên cứu của Nguyễn Thị Loan và TrầnThị Ngọc Hạnh (2013) chỉ ra rằng sự tác động của GDP lên lợi nhuận ngânhàng là không đáng kể, các hệ số hồi quy không có ý nghĩa thống kê
b Tỷ lệ lạm phát
Một chỉ số kinh tế vĩ mô quan trọng ảnh hưởng đến chi phí và doanh thungân hàng là tỷ lệ lạm phát Staikouras & Wood (2003) đã chỉ ra rằng tỷ lệlạm phát có thể tác động trực tiếp, đó là tăng giá lao động hoặc tác động giántiếp, đó là thay đổi lãi suất và giá tài sản, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận ngânhàng Perry (1992) đã cho thấy những ảnh hưởng của lạm phát đến hiệu quảhoạt động ngân hàng phụ thuộc vào việc đó là lạm phát dự đoán được hay làkhông dự đoán được Trong trường hợp là dự đoán được lãi suất sẽ được điềuchỉnh cho phù hợp, kết quả doanh thu tăng nhanh hơn chi phí và dĩ nhiên cótác động tích cực đến lợi nhuận ngân hàng Ngược lại, trong trường hợpkhông dự doán được, ngân hàng sẽ chậm trong việc điều chỉnh lãi suất, kết
Trang 39quả dẫn đến một sự gia tăng nhanh hơn trong chi phí của ngân hàng so vớidoanh thu, do đó tác động tiêu cực đến lợi nhuận.
Trong nghiên cứu của Bourke (1989), Molyneux & Thornton (1992),Demirguc – Kunt & Huizinga (1999), Fadzlan Sufian, Mohamad Akbar NoorMohamad Noor (2012) đã chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa lạm phát và lợinhuận ngân hàng Điều này ngụ ý rằng, trong khoảng thời gian nghiên cứu tỷ
lệ lạm phát là dự kiến được và phù hợp với lập luận của Perry (1992) Ngượclại với nhận định trên, nghiên cứu của Sangeeta D.Misra (2015), Ngô ĐăngThành (2012), Nguyễn Thị Loan và Trần Thị Ngọc Hạnh (2013) chỉ ra rằngkhông có kết luận nào về mối quan hệ giữa lạm phát và lợi nhuận ngân hàng
c Lãi suất
Việc thay đổi lãi suất có thể tác động đến lợi nhuận của các NHTM.Trong nghiên cứu của Ngô Đăng Thành (2012) đã chỉ ra mối quan hệ tích cựcgiữa lãi suất danh nghĩa 6 tháng đối với hoạt động của các ngân hàng thươngmại Việt Nam Hay nghiên cứu của Bourke (1989), Molyneux & Thornton(1992), Demirguc – Kunt & Huizinga (1999) cũng chỉ ra được mối quan hệtích cực này Ngược lại nghiên cứu của Sangeeta D.Misra (2015) lại khôngtìm thấy mối quan hệ đáng kể nào giữa lợi nhuận ngân hàng và lãi suất
d Mức cung tiền
Những thay đổi trong mức cung tiền có thể dẫn đến những thay đổi trongGDP danh nghĩa và mức giá Mặc dù cung tiền cơ bản được xác định bởichính sách của ngân hàng trung ương thì nó cũng có thể bị ảnh hưởng bởihành vi của các hộ gia đình và các ngân hàng Tác giả Kosmidou et al (2008),Mamatzakis & Remoundos (2003) sử dụng mức cung tiền như đại lượng đolường quy mô thị trường và nhân thấy rằng yếu tố này có thể ảnh hưởng đáng
kể đến lợi nhuận ngân hàng Bên cạnh đó, tác giả Fadzlan Sufian, Mohamad
Trang 40Akbar Noor Mohamad Noor (2012) đã tìm ra mối quan hệ tiêu cực giữa mứccung tiền và lợi nhuận của các ngân hàng Ấn Độ giai đoạn 2000 – 2008
e Tỷ giá hối đoái
Yếu tố này đo lường tác động của điều kiện môi trường lên hệ thốngngân hàng Kết quả có thể thay đổi tùy thuộc vào một chế độ tỷ giá hối đoái
cố định hay linh hoạt được thông qua Tuy nhiên, như quan sát thấy trongnghiên cứu của Domac & Martinez – Peria (2003) việc áp dụng một chế độ tỷgiá hối đoái cố định làm giảm khả năng khủng hoảng của một ngân hàng ởcác nước đang phát triển, do đó lợi nhuận là tối đa Mặt khác, Arteta &Eichengreen (2002) trước đó đã quan sát thấy rằng các quốc gia có tỷ giá hốiđoái cố định và linh hoạt dễ dẫn đến khủng hoảng của các ngân hàng, do đómức độ lợi nhuận thấp Eze Simpson Osuagwu (2014) cũng đã đưa tỷ giá hốiđoái vào phân tích để xem xét sự tác động đến lợi nhuận ngân hàng và kết quảcho thấy tỷ giá hối đoái tác động không đáng kể đến lợi nhuận ngân hàng
Bảng 1.1: Bảng tổng hợp chiều hướng tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại dưới góc độ thực nghiệm
Bikker & Hu (2002) Goddard et al (2004) Sangeeta D.Misra (2015)
Pasiouras & Kosmidou (2007)
Berger et al (1987) Rủi ro
tín dụng Abreu & Mendes (2002) Sangeeta D.Misra (2015)