KẾT LUẬN TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM GIẢM THIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU TỚI CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YÊT TRÊN THỊ T
Trang 1MỞ ĐẦU 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN VÀ ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN 11
1.1KIỂM TOÁN 11
1.2CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN 11
1.2.1Định nghĩa chất lượng kiểm toán 11
1.2.2Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán 13
1.2.3 Mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán và chất lượng báo cáo tài chính 16
1.2.4Đo lường chất lượng kiểm toán 17
1.3 KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN 2008-2009 (GFC) 24
1.3.1 Khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008-2009 24
1.3.2 Khủng hoảng tài chính tại Việt Nam 25
CHƯƠNG 2 GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 27
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.2.1 Chọn mẫu và dữ liệu thực hiện nghiên cứu 28
2.2.2 Mô hình tính toán biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh 29
2.2.3 Mô hình nghiên cứu 31
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH VÀ TRÌNH BÀY KẾT QUẢ 34
3.1 PHÂN TÍCH 34
3.1.1 Tính toán các biến 34
3.1.2 Kết quả phân tích 38
Trang 23.2.1 Kiểm định giả thuyết 463.2.2 Kiểm tra các điều kiện vận dụng mô hình 46
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM GIẢM THIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU TỚI CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YÊT TRÊN THỊ TRƯỞNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 48
4.1 KẾT LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 484.2 CÁC KIẾN NGHỊ 51
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
KẾ HOẠCH TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN
Trang 3Từ viết tắt Nội dung
GFC Khủng hoảng tài chính toàn cầu
DA Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh
ABSDA Giá trị tuyệt đối của biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnhBIG4 Nhóm 4 công ty kiểm toán: KPMG, PricewaterhouseCoopers
(PWC), Deloitte Touche Tohmatsu (D&T), Ernst and Young (E&Y)
BCTC Báo cáo tài chính
Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang 35Bảng 3.3 Bảng thống kê mô tả các biến trong mô hình 38Bảng 3.4 Biểu đồ tỷ lệ khu vực ngành nghề 39
Bảng 3.6 Bảng tổng hợp kết quả hồi quy 43
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm toán là một chủ đề nghiên cứu rộng và được nhiều đối tượng quantâm vì tính chất vô cùng quan trọng của vấn đề này đối với nhiều đối tượng,bao gồm: nhà đầu tư, các tổ chức tài chính, ngân hàng, các cơ quan chínhphủ… Kiểm toán quan trọng vì nó là cách thức hiệu quả nhất để giải quyếtvấn đề đại diện giữa quyền sở hữu và quản lý doanh nghiệp, phát sinh từ sựbất đối xứng thông tin và xung đột lợi ích giữa hai đối tượng trên Trong cácnội dung rộng lớn của kiểm toán thì chất lượng kiểm toán là một vấn đề phứctạp, khó khăn để xác định và đo lường một cách chính xác và hiệu quả.Nghiên cứu chất lượng kiểm toán có ý nghĩa quan trọng không chỉ đánh giáxem các ý kiến kiểm toán chính xác có được ban hành hay không mà còn xemxét xem liệu hoạt động kiểm toán được tiến hành có nhằm hướng tới mụcđích giải quyết các vấn đề đại điện giữa người sở hữu và người quản lý doanhnghiệp hay không
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (GFC) giai đoạn 2008-2009 làcuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất trong lịch sử kể từ cuộc đạikhủng hoảng (Friedman & Friedman, 2009) Cuộc khủng hoảng này bắt đầu
từ năm 2007 vớicuộc khủng hoảng nhà đất tại Mỹ và lan rộng ra toàn cầu, tácđộng nghiêm trọng tới mọi tổ chức, doanh nghiệp, định chế tài chính, kinh tếkhác nhau, gây nên cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu GFC cùng với sự đổ
vỡ của các công ty dẫn đến khủng hoảng đã làm gia tăng mức độ chỉ tríchchất lượng kiểm toán và gia tăng áp lực nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán(Holm & Zaman, 2012) Các hoạt động kiểm toán bị đặt dấu hỏi nghiêm trọng(Sikka 2009), ví dụ kiểm toán viên kiểm toán cho ngân hàng Mỹ LehmanBrother đã thất bại trong việc đưa ra ý kiến chính xác về tình hình tài chínhcũng như khả năng hoạt động liên tục của ngân hàng này với việc đưa ra ý
Trang 5kiến đồng ý trong báo cáo kiểm toán quý của ngân hàng này hai tháng trướckhi vụ phá sản lớn nhất nước Mỹ của Lehman Brother được công bố Giá trịlớn của lệ phí kiểm toán cũng nêu lên dấu hỏi về sự độc lập của kiểm toánviên và khả năng mà kiểm toán viên đứng về phía lợi ích của nhà quản lýđược nêu ra; đồng thời câu hỏi cũng được nêu ra rằng liệu kiểm toán viên cóthực hiện được một cuộc kiểm toán chính xác và hiểu được các công cụ tàichính phức tạp, hiện đại trong bối cảnh hiện nay (Sikka, 2009)
Việt Nam với đặc thù là một nền kinh tế non trẻ, đang phát triển và hộinhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới đã chịu những ảnh hưởng nặng nề củakhủng hoảng tài chính đối với mọi mặt của nền kinh tế Giai đoạn 2002-2007,Việt Nam luôn được coi là một trong những đầu tàu tăng trưởng của nền kinh
tế thế giới với tốc độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn đạt 7.8%, đã suygiảm xuống mức 6.18% vào năm 2008 và 5.32 % vào năm 2009 Xuất khẩuvốn là động lực của nền kinh tế Việt Nam chịu thiệt hại nghiêm trọng trongbối cảnh khó khăn, suy giảm chi tiêu của thị trường toàn cầu trong khủnghoảng tài chính Đi kèm với khủng hoảng là lạm phát bùng nổ trong nước vàođầu năm 2008, sức mua yếu kém của thị trưởng nội địa trong nước càng đẩynền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2008-2009 chìm sâu vào những khó khăn.Thịtrường chứng khoán Việt Nam suy giảm nghiêm trọng với chỉ số VN-Indexgiảm 65.95% , chỉ số HASTC-Index (HNX-Index hiện nay) suy giảm 67.1%trong năm 2008 và tiếp tục suy giảm và chạm đáy vào quý 1 năm 2009 Điềunày cho thấy tác động to lớn của GFC đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam;đồng thời GFC cũng đặt ra những áp lực to lớn tương tự đối với kiểm toánviên, công ty kiểm toán trong việc duy trì chất lượng kiểm toán trong bối cảnhkhó khăn tác động chung tới các doanh nghiệp tại Việt Nam Dấu hỏi đượcđặt ra rằng liệu các công ty kiểm toán, các kiểm toán viên tại Việt Nam ứng
Trang 6xử như thế nào trong khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động của khủnghoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán tại Việt Nam.
Từ những vấn đề nêu trên, nhận thấy thực tiễn cần có một nghiên cứu vềảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toántại Việt Nam, mà cụ thể hơn là chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính đối vớicác công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong khủng
hoảng tài chính, tác giả xin được thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008-2009 đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” Nghiên cứu nhằm mục đích lấp dần vào khoảng trống
nghiên cứu mối quan hệ giữa khủng hoảng tài chính và chất lượng kiểm toántại Việt Nam hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của nghiên cứu là nghiên cứu tác động của cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công
ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Mục tiêu khác của nghiên cứu liên quan đến vấn đề đại diện đó là nghiêncứu nhằm làm rõ xem liệu kiểm toán viên có thực hiện được vai trò của mìnhtrong việc giải quyết vấn đề đại diện trong bối cảnh khủng hoảng tài chínhtoàn cầu Kiểm toán viên bằng việc giải quyết hay không giải quyết được vấn
đề đại diện góp phần ảnh hưởng tới việc phân bổ nguồn lực kinh tế xã hội mộtcách hiệu quả trong điều kiện khủng hoảng tài chính toàn cầu
3 Câu hỏi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đã nêu dẫn đến câu hỏi nghiên cứu của đề tài là: “ Chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam bị ảnh hưởng như thế nào bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu?”
Trang 74 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàncầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đi theo hướng tiếp cận thực chứng bằng cách sử dụng mô hìnhtoán thống kê nhằm chứng minh giả thuyết nghiên cứu Nghiên cứu đầu tiênđược thực hiện bằng việc đưa ra giả thuyết nghiên cứu, sau đó tiến hành thuthập số liệu báo cáo tài chính sau kiểm toán trong phạm vi đối tượng và thờigian nghiên cứu Tiếp theo, tác giả tiến hành tính toán các dữ liệu thu thậpđược và phân tích, mô tả mối quan hệ giữa các đối tượng trong mô hìnhnghiên cứu dựa trên cơ sở dữ liệu tính toán, thu thập Kết quả phân tích, mô tảnày sẽ được sử dụng để đưa ra kết luận về giả thuyết nghiên cứu Do đó, cácphương pháp được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp thông tin: Phân tích tổng hợp thôngtin thứ cấp từ dữ liệu tài chính của các công ty nghiên cứu trong khoản thờigian nghiên cứu
- Phương pháp xử lý số liệu: Sau khi thu thập dữ liệu nghiên cứu, tác giả
sử dụng phần mềm SPSS để mô tả dữ liệu nghiên cứu và phân tích các yếu tốảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán trong đó có yếu tố khủng hoảng tài chínhtoàn cầu
Trang 86 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm giúp các đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tàichính tại Việt Nam, bao gồm: Nhà đầu tư, cơ quan nhà nước, các tổ chức tàichính, ngân hàng, … nhận rõ được tác động của khủng hoảng tài chính toàncầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp Qua đó, giúpnhà đầu tư, ngân hàng, các tổ chức tài chính sử dụng thông tin tài chính đượccung cấp từ báo cáo tài chính một cách phù hợp hơn, góp phần tăng hiệu quảphân phối nguồn lực tài chính, kinh tế tới các doanh nghiệp, góp phần hạn chếảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tới bản thân nhà đầu tư, tổ chức tàichính, ngân hàng; giúp cho các cơ quan nhà nước, tổ chức nghề nghiệp liênquan có cơ sở để kiện toàn các chính sách, văn bản, quy định nghề nghiệp liênquan tới kế toán, kiểm toán nhằm hạn chế ảnh hưởng của khủng hoảng tàichính tới tính trong sạch, lành mạnh của thông tin trên thị trường, góp phầngiúp nền kinh tế vững mạnh, hạn chế ảnh hưởng của khủng hoảng tài chínhtới toàn bộ nền kinh tế
Nghiên cứu cũng cung cấp một cơ sở thực tiễn vấn đề đại diện trong bốicảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu Qua đó, nghiên cứu góp phần giúp chủ
sở hữu doanh nghiệp thực hiện quản trị doanh nghiệp một cách hiệu quả hơn,hạn chế những ảnh hưởng của sự bất đối xứng thông tin, mối xung đột lợi íchgiữa người chủ sở hữu và người quản lý, đặc biệt trong điều kiện khủnghoảng tài chính toàn cầu
Trang 9TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Nghiên cứu về chất lượng kiểm toán là một trong những đề tài nghiêncứu còn hết sức mới mẻ tại Việt Nam và nghiên cứu ảnh hưởng của cuộckhủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính tạiViệt Nam là một chủ đề hoàn toàn mới và chưa từng có nghiên cứu chínhthức và có đầu tư nào về chủ đề này từng được thực hiện tại Việt Nam Do đó,tham khảo cơ sở lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu về chất lượng kiểm toán,đặc biệt là chất lượng kiểm toán trong điều kiện khủng hoảng đã được thựchiện trên thế giới là hết sức cần thiết trong thực hiện các nghiên cứu tại ViệtNam
Các nghiên cứu về chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính được thựchiện bởi nhiều tác giả bao gồm: DeAngelo,Denfond và Zhang, Francis,Svantrom, Choi … Các tác giả này tập trung vào nghiên cứu các nhân tố ảnhhưởng đến chất lượng kiểm toán và cách thức đo lường chất lượng kiểm toán.Một số yếu tố được phát hiện ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán qua cácnghiên cứu của các tác giả trên bao gồm: Tính độc lập của kiểm toán viên,nhóm Big 4( DeAngelo, 1981), dịch vụ phi kiểm toán (Svantrom, 2013), Chiphí kiểm toán (Blankley, 2012), kích thước khách hàng kiểm toán (Reynolds
và Francis, 2001) … Còn nhiều những ý kiến chưa đồng nhất về các nhân tốảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán trong các nghiên cứu này và tương tựvậy, còn nhiều khác biệt không thống nhất về cách thức đo lường chất lượngkiểm toán báo cáo tài chính Nhiều nghiên cứu sử dụng các phép đo khácnhau để đo lường chất lượng kiểm toán; bao gồm: Sai sót trọng yếu, ý kiếnkiểm toán, đánh giá của người sử dụng thông tin và phép đo được nhiềunghiên cứu chia sẽ, đồng thuận và được sử dụng trong nghiên cứu này đó làphép đo dựa trên đo lường chất lượng lợi nhuận theo biến kế toán dồn tích.Phép đo này được ủng hộ bởi Defond và Zhang (2013) khi cho rằng chất
Trang 10lượng lợi nhuận là đại diện phù hợp cho chất lượng báo cáo tài chính và mụctiêu cuối cùng của kiểm toán là ngăn ngừa nhà quản lý đưa ra các báo cáo lợinhuận tốt hơn thực tế Và chất lượng kiểm toán đối với khoản mục chất lượnglợi nhuận thường được đo lường bằng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh(Defond và Zhang, 2013) Hai nhà nghiên cứu chỉ ra ưu điểm của phép đo này
mà nhiều phép đo khác không có được và tác giả cũng đồng ý và cho rằngphù hợp với nghiên cứu này đó là: Đây là một phép đo liên tục nên nó biểudiễn được những thay đổi nhỏ trong chất lượng kiểm toán kể cả xảy ra tronggiới hạn chuẩn mực kế toán được áp dụng Các nghiên cứu khác cũng sử dụngchất lượng lợi nhuận được đo lường theo biến kế toán dồn tích có thể điềuchỉnh DA để đo lường chất lượng kiểm toán đã được thực hiện bởi Francis(1999), Lim&Tan (2007), Chen (2008), Svantrom (2013), Sotheara Riel vàCarl Tano (2014) là một trong những cơ sở chứng minh rằng phép đo này làphù hợp để đo lường chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính Mặt khác phép
đo này phù hợp với cỡ mẫu nhỏ và một khung thời gian ngắn (Sotheara Riel
và Carl Tano, 2014) nên tác giả cho rằng phép đo này là hoàn toàn phù hợp để
áp dụng trong nghiên cứu này để đo lường chất lượng kiểm toán
Nhiều mô hình được nghiên cứu để đo lường biến kế toán dồn tích có thểđiều chỉnh DA, bao gồm: Mô hình Healy (1985), Mô hình DeAngelo (1986),
Mô hình Jone (1991), Mô hình Modified Jone (1991), Mô hình Friedlan(1994) Mô hình Jone được cho là hiệu quả nhất để đo lường DA tuy nhiêncác hầu hết các nghiên cứu áp dụng đo lường DA tại Việt Nam sử dụng môhình Friedlan (1994) là một biến thể của mô hình DeAngelo (1986) là phươngpháp chính bởi nó phù hợp với mức độ nghiên cứu và thời gian giới hạn củanhững nghiên cứu này, bao gồm Huỳnh Thị Vân (2012), Trần Thị Thanh Quý(2012), Nguyễn Thị Minh Trang (2012)… Những giới hạn về thời gian vàmức độ nghiên cứu của tác giả trong nghiên cứu này là tương ứng với các
Trang 11nghiên cứu trước đó mà tác giả đã đề cập và nhận định rằng mô hình Friedlan(1994) vẫn đảm bảo việc đo lường DA với kết quả được kiểm chứng qua cácnghiên cứu trên, tác giả quyết định sử dụng mô hình Friedlan (1994) là môhình để tính toán DA trong nghiên cứu này.
Nghiên cứu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đến chất lượng kiểmtoán báo cáo tài chínhcòn là một đề tài nghiên cứu mới trên thế giới Cácnghiên cứu mà tác giả cho rằng có liên quan và lấy cơ sở để thực hiện nghiêncứu này bao gồm:
Nghiên cứu của Abu TaherMollik, MonirMir, RonaldMcIverandM.KhokanBepari (2013) với đề tài: “Ảnh hưởng của chất lượng kiểm toánđến điều chỉnh lợi nhuận trong khủng hoảng tài chính toàn cầu” Nghiên cứuthực hiện với cơ sở dữ liệu là các công ty tại Úc Mục tiêu nghiên cứu này tìmhiểu xem liệu các công ty có tăng cường thực hiện điều chỉnh lợi nhuận trongkhủng hoảng không? Và xem liệu chất lượng kiểm toán có ảnh hưởng là giảmbớt hành vi điều chỉnh lợi nhuận hay không? Mô hình nghiên cứu được xâydựng bao gồm các biếnquan : biến DA, biến nhóm công ty BIG4, biến khủnghoảng, biến quy mô doanh nghiệp … Dữ liệu được thu thập trong các công
ty tại Úc trong giai đoạn trước khủng hoảng tài chính toàn cầu tức 2006-2007
và giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 Kết quả phân tíchcủa mô hình cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa biến DA đolường cho điều chỉnh lợi nhuận với giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu.Abu TaherMollik, MonirMir, RonaldMcIverand M.KhokanBepari dựa vàokết quả này cùng với các phân tích khác trong nghiên cứu đi đến kết luận rằngtrong khủng hoảng thì các doanh nghiệp có động cơ lớn hơn để tăng cườngđiều chỉnh lợi nhuận.Nghiên cứu của các tác giả trên đi vào tìm hiểu vấn đềđiều chỉnh lợi nhuận trong giai đoạn khủng hoảng tuy nhiên nó lại trùng khớpngẫu nhiên với nghiên cứu của tác giả khi sử dụng biến DA để đo lường cho
Trang 12điều chỉnh lợi nhuận và qua đó tìm thấy mối quan hệ giữa biến DA với giaiđoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu Tuy nhiên cơ sở dữ liệu để thực hiệnnghiên cứu tại Úc là đối với toàn bộ các loại hình các công ty, doanh nghiệp
và khác biệt với nghiên cứu này khi nghiên cứu này chỉ tập trung vào cáccông ty niêm yết Mặt khác nghiên cứu trên được tiến hành tại Úc là một nướcphát triển với các doanh nghiệp kiểm toán lâu đời và khuôn khổ chính sách,chuẩn mực kế toán, kiểm toán là hoàn thiện hơn Việt Nam, một nền kinh tếđang phát triển và hệ thống chính sách, chuẩn mực kế toán, kiểm toán cònchưa hoàn thiện, nên không thể áp dụng kết quả của nghiên cứu trên để đưa rakết luận trong nghiên cứu này được
Sotheara Riel và Carl Tano (2014) với đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởngcủa khủng hoảng tài chính toàn cầu đối chất lượng kiểm toán” Nghiên cứunày với mục đích tìm hiểu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàncầu tới chất lượng kiểm toán các công ty niêm yết tại Thụy Điển trong và saugiai đoạn khủng hoảng Sotheara Riel và Carl Tano đã sử dụng biến kế toándồn tích có thể điều chỉnh DA để đo lường cho chất lượng kiểm toán Cácquan sát trong nghiên cứu bao gồm: Biến khủng hoảng, quy mô khách hàngkiểm toán, hiệu quả hoạt động kinh doanh (ROA), nhóm công ty kiểm toánBIG4, tăng trưởng tài sản … Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ thuậngiữa chất lượng kiểm toán và giai đoạn khủng hoảng hay chất lượng kiểmtoán tăng lên trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu Sotheara Riel vàCarl Tano (2014) cho rằng trong giai đoạn khủng hoảng chất lượng kiểm toántăng lên bởi sự thận trọng của các kiểm toán viên khi đối phó với các rủi ro từkhủng hoảng Tác giả cho rằng kết quả nghiên cứu của Sotheara Riel và CarlTano không thể áp dụng để đưa ra kết luận tương tự tại Việt Nam vì ThụyĐiển cũng tương tự Úc là một nền kinh tế phát triển với khuôn khổ pháp lý,chính sách kế toán, kiểm toán hoàn thiện hơn Việt Nam cũng như các công ty
Trang 13kiểm toán tại Thụy Điển đã hoạt động lâu đời và chất lượng kiểm toán có thểkhác biệt so với các công ty kiểm toán non trẻ tại Việt Nam
Kế thừa và phát huy các nghiên cứu trước đó về chất lượng kiểm toán,tác giả quyết định thực hiện đề tài “ Nghiên cứu ảnh hưởng của cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008-2009 tới chất lượng kiểm toán báocáo tài chính các công ty niêm yết tại Việt Nam” Nghiên cứu tìm hiểu xemliệu chất lượng kiểm toán tại Việt Nam chịu tác động như thế nào trong khủnghoảng tài chính toàn cầuvà đối tượng chính của nghiên cứu này là các công tyniêm yết tại Việt Nam.Những nghiên cứu trên mà tác giả đề cập là cơ sở lýthuyết và thực tiễn quan trọng để thực hiện nghiên cứu này
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN VÀ
ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN
1.1 KIỂM TOÁN
Một định nghĩa được sử dụng rộng rãi về kiểm toán xem kiểm toán nhưlà: “Hệ thống quy trình khách quan nhằm thu thu thập và đánh giá các bằngchứng của các cơ sở dẫn liệu liên quan đến các sự kiện và hoạt động kinh tế;xác định mức độ phù hợp của các cơ sở dẫn liệu này với các chuẩn mực, tiêuchuẩn thiết lập và công bố kết quả hoạt động đến người quan tâm” (Eilifsen,2010)
Có nhiều đối tượng sử dụng thông tin, do đó kiểm toán nhằm phục vụcho các loại đối tượng này cũng được chia thành nhiều loại khác nhau
Phân loại theo mục đích kiểm toán thì kiểm toán được chia thành:
+ Kiểm toán hoạt động
+ Kiểm toán tuân thủ
+ Kiểm toán báo cáo tài chính
Phân loại theo chủ thể kiểm toán thì kiểm toán được chia thành:
+ Kiểm toán nội bộ
+ Kiểm toán Nhà nước
+ Kiểm toán độc lập
Nghiên cứu này tập trung vào đối tượng chính đó là kiểm toán báo cáotài chính được thực hiện bởi các kiểm toán viên độc lập
1.2 CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN
1.2.1 Định nghĩa chất lượng kiểm toán
Chất lượng kiểm toán và các yếu tố cấu thành chất lượng kiểm toán luôn
là một đề tài được tranh cải rộng rãi Francis (2011) chia sẻ quan điểm rằng
Trang 15không phải dễ dàng để định nghĩa chất lượng kiểm toán bởi vì nó là một kháiniệm phức tạp và một định nghĩa đơn giản là không đủ
Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 220 (VSA 220) và Chuẩn mựcKiểm toán Quốc tế số 220 (IAS 220): “Chất lượng kiểm toán là mức độ thỏamãn về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những đốitượng sử dụng dịch vụ kiểm toán đồng thời thỏa mãn về mong muốn cónhững ý kiến đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính, kếtoán của đơn vị được kiểm toán với thời gian định trước và giá phí thích hợp”.DeAngelo (1981) xem chất lượng kiểm toán như sự đánh giá thị trường vềkhả năng kiểm toán viên phát hiện các hành vi vi phạm của khách hàng vàbáo cáo các vi phạm này
Defond và Zhang (2013) cho rằng những định nghĩa trên xem kiểm toánnhư một quá trình chỉ gồm hai chức năng chính là kiểm tra và báo cáo cáchành vi vi phạm chuẩn mực kế toán và để đạt được chất lượng kiểm toán caothì kiểm toán viên không chỉ xem xét sự phù hợp giữa báo cáo tài chính vớichuẩn mực kế toán mà còn xem xét xem liệu báo cáo tài chính có phản ánhthực tế tình hình kinh tế của doanh nghiệp hay không Do đó, Defond vàZhang (2013) định nghĩa chất lượng kiểm toán là sự phản ánh liên kết giữakiểm toán với chất lượng báo cáo tài chính, hệ thống kế toán tài chính và cácđặc điểm vốn có của khách hàng và chất lượng kiểm toán cao hơn là một sựđảm bảo cao hơn rằng báo cáo tài chính đã kiểm toán phản ánh thực tế tìnhhình hoạt động kinh tế, hệ thống kế toán tài chính, đặc điểm vốn có của côngty.Quan điểm của Defond và Zhang là quan điểm mà tác giả ủng hộ và là đặtlàm cơ sở cho phát triển nghiên cứu này
Quan điểm pháp lý về chất lượng kiểm toán liên quan đến việc phát hànhbáo cáo kiểm toán thích hợp cho báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán
Mỹ GAAP cho rằng chất lượng kiểm toán là một biến nhị phân khi chất lượng
Trang 16kiểm toán là tốt hoặc tồi tệ - theo Francis (2011) Francis (2011), Svanstrom(2013), Defond và Zhang (2013) xem chất lượng kiểm toán như một sự biếnđổi liên tục; đây là quan điểm mà tác giả nghiên cứu cho rằng phù hợp và chia
sẽ cùng quan điểm trong nghiên cứu này
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán
a Phí kiểm toán
Chi phí kiểm toán có phải là mối đe dọa đến chất lượng kiểm toán?Antle (2006) trong một nghiên cứu được thực hiện tại Anh và Mỹ đã tìm thấyrằng phí kiểm toán cao dẫn đến một sự chấp nhận cao hơn bình thường mức
độ dồn tích kế toán Eshleman và Guo (2014) cho rằng chi phí kiểm toán caohơn so với mức hợp lý theo khối lượng công việc của kiểm toán có thể lànguyên nhân khiến các kiểm toán viên đánh mất tính độc lập và cho chấpnhận các vấn đề kế toán tại doanh nghiệp Trompeter (1994) cho rằng các camkết kiểm toán được thực hiện bởi các thành viên kiểm toán chứ không phải làcác công ty kiểm toán, các thành viên kiểm toán được hưởng phần lớn cáckhoản thu bổ sung từ các khách hàng và chấp nhận rủi ro bằng cách thuậntheo khách hàng bất kể các rủi ro danh tiếng cho công ty kiểm toán Các kếtquả nghiên cứu dẫn đến cơ sở rằng tồn tại khả năng phí kiểm toán cao gâyảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng kiểm toán
b Dịch vụ phi kiểm toán
Vấn đề mối quan hệ giữa dịch vụ phi kiểm toán và chất lượng kiểm toánđược thảo luận nghiêm túc từ sự kiện sụp đổ của Enron Đây là bằng chứngthực tế cho mối quan hệ giữa việc cung cấp dịch vụ phi kiểm toán và chấtlượng kiểm toán Solomon (2010) cho rằng sự yếu kém trong thực hiện kiểmtoán Enron của Arthur Anderson dẫn đến sự sụp đổ của cả hai công ty mộtphần do sự độc lập của kiểm toán viên bị tổn hại vì họ đồng thời cung cấpdịch vụ phi kiểm toán cho Enron và điều đó có ý nghĩa rằng các kiểm toán
Trang 17viên có một động cơ tài chính to lớn để đứng về phía lợi ích của nhà quản lý
và che dấu các thông tin tài chính trọng yếu liên quan đến trách nhiệm pháp lý
bổ sung và không đề cập chúng trong các báo cáo thường niên Tuy nhiên cácnghiên cứu của Svantrom (2013) lại cho thấy sự gia tăng chất lượng kiểmtoán khi gia tăng thực hiện các dịch vụ phi kiểm toán cho khách hàng Antle(2006) cũng đồng quan điểm với Svantrom khi tìm thấy tác động của việc thuthập kiến thức lớn từ việc cung cấp các dịch vụ phi kiểm toán cho cùng mộtkhách hàng Các quan điểm của Svantrom và Antle cũng đồng thời được cáccông ty kiểm toán lớn ủng hộ Tác động làm suy giảm hay gia tăng chất lượngkiểm toán khi thực hiện dịch vụ phi kiểm toán đồng thời với dịch vụ kiểmtoán do đó còn nhiều tranh cãi
c Khuôn khổ pháp lý
Francis (2011) cho rằng các cơ chế được thiết lập, trong đó có khuôn khổpháp lý mà các hoạt động kiểm toán được thực hiện có thể ảnh hưởng đếnchất lượng kiểm toán
d Văn phòng thực hiện kiểm toán
Sự khác nhau về quốc gia, khu vực, thành phố của các văn phòng kiểmtoán là một cơ sở dẫn đến chất lượng kiểm toán; bất kể rằng các văn phòngnày cùng thuộc một công ty kiểm toán (Sundgren và Svantrom, 2012).Nghiên cứu được thực hiện bởi Choi vào năm 2010 cho thấy rằng có một mốiquan hệ tích cực giữa quy mô văn phòng kiểm toán và chất lượng kiểm toán
e Nhiệm kỳ kiểm toán
Khi kiểm toán viên đương nhiệm có mối quan hệ lâu dài với khách hàng,
họ trở nên ít đòi hỏi hơn trong việc áp dụng các công cụ kiểm toán và quytrình kiểm toán tiên tiến để thực hiện kiểm toán và thậm chí họ trở nên ít hoàinghi hơn (Shockley, 1982) Trong khi đó, các nhà đầu tư và các tổ chức tài
Trang 18chính trung gian coi việc tăng nhiệm kỳ kiểm toán là hướng đến việc cải thiệnchất lượng kiểm toán (Ghosh & Moon, 2005).
f Nhiệm kỳ đối tác kiểm toán
Carey và Simnett (2006) thực hiện nghiên cứu tại Úc và kết quả nghiêncứu cho thấy rằng có một mối liên hệ giữa nhiệm kỳ đối tác kiểm toán và chấtlượng kiểm toán.Theo nghiên cứu này thì việc tăng nhiệm kỳ đối tác kiểmtoán đi liền với xu hướng giảm phát hành báo cáo kiểm toán với lưu ý về khảnăng hoạt động liên tục; như một dấu hiệu của việc suy giảm chất lượng kiểmtoán.Tuy nhiên một nghiên cứu được thực hiện bởi Chi và Huang (2005) chothấy rằng việc gia tăng nhiệm kỳ đối tác kiểm toán giúp cải thiện chất lượngkiểm toán
g Tính độc lập của kiểm toán viên
Mỗi kiểm toán viên đều phải thực hiện kiểm toán tuân thủ theo cácchuẩn mực kiểm toán và đó là yêu cầu tối thiểu để đảm bảo chất lượng kiểmtoán DeAngelo (1981) sử dụng tính độc lập của kiểm toán viên như mộtthước đo chất lượng kiểm toán Cô cho rằng các công ty kiểm toán lớn độclập tài chính hơn các công ty kiểm toán nhỏ vì họ không phụ thuộc vào mộtnguồn tài chính duy nhất nào và họ có danh tiếng có thể bị mất đi và họ phảiduy trì sự độc lập để tránh đánh mất danh tiếng này hay dính vào các cuộckiện tụng Francis và Wilson (1988) cũng ủng hộ quan điểm của DeAngelovới lập luận rằng các công ty kiểm toán lớn đã xây dựng được thương hiệutrong thời gian dài vì vậy họ có xu hướng cung cấp chất lượng kiểm toán caohơn các công ty nhỏ
h Quy mô khách hàng
Reynolds và Francis (2001) cho rằng kiểm toán viên có thể thỏa hiệptính độc lập của mình trong quan hệ với các khách hàng lớn mà họ phụ thuộckinh tế Bên cạnh đó, các khách hàng lớn có rủi ro tiềm tàng cao hơn đối với
Trang 19các kiểm toán viên và công ty kiểm toán (Reynolds & Francis, 2001).Công tykiểm có nguy cơ bị mất uy tín và đối mặt với nguy cơ kiện tụng lớn hơn vàkiểm toán viên phải đối mặt với nguy cơ bị xử phạt cao hơn khi không thựchiện đúng các dịch vụ kiểm toán cho các khách hàng lớn hơn là các công tynhỏ (Shafer, 1999) Điều đó chứng tỏ quy mô khách hàng tác động theo cả haihướng đến chất lượng kiểm toán
i Các yếu tố khác
Nghiên cứu của Madhogarhia (2009) cho rằng các công ty tăng trưởngcao thì chất lượng kiểm toán của các công ty này thường thấp hơn với mức độdồn tích kế toán cao hơn bình thường.Tuy nhiên, Manry (2008) trong nghiêncứu của mình nhận thấy không có mối liên hệ giữa các công ty tăng trưởngcao và chất lượng kiểm toán
Để có một quá trình kiểm toán đạt chất lượng cao thì yêu cầu kiểm toánviên phải có năng lực và phán đoán nghề nghiệp tốt Theo Smith và Kida(1991), kiểm toán viên có trình độ cao về chuyên môn và kinh nghiệm nghềnghiệp với xu hướng ít sai lệch hơn Ngoài ra một nghiên cứu về quỹ thờigian kiểm toán của kiểm toán viên của Gramling cho thấy rằng chất lượngkiểm toán có thể bị suy giảm do sự sụt giảm thời gian kiểm toán để duy trì lợinhuận
1.2.3 Mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán và chất lượng báo cáo tài chính
Chất lượng kiểm toán là một phần của chất lượng báo cáo tài chính vìchất lượng kiểm toán làm tăng chất lượng báo cáo tài chính (Defond vàZhang, 2013) Tuy nhiên chất lượng kiểm toán không phải là thành phần duynhất của chất lượng báo cáo tài chính (trong nghiên cứu này tác giả ngầmđịnh báo cáo tài chính là báo cáo tài chính sau kiểm toán), chất lượng báo cáotài chính còn bị ảnh hưởng bởi chất lượng báo cáo tài chính trước kiểm toán
Trang 20được quyết định bởi hệ thống báo cáo tài chính (hệ thống thông tin tài chính)của công ty Mối quan hệ này được Defond và Zhang (2013) biểu diễn quancông thức:
FRQ = f(AQ,R,I)
Trong đó:
FRQ: Chất lượng báo cáo tài chính
AQ: Chất lượng kiểm toán
R: Hệ thống báo cáo tài chính
I: Đặc điểm nội tại của công ty
Chất lượng kiểm toán theo đó chỉ đảm bảo chất lượng báo cáo tài chínhphù hợp với với hệ thống báo cáo tài chính và đặc điểm nội tại của doanhnghiệp
Chất lượng kiểm toán có thể được suy ra từ chất lượng lợi nhuận, chấtlượng kiểm toán cao hơn là sự giảm bớt mức độ điều chỉnh lợi nhuận và giatăng tính thông tin của báo cáo tài chính (Jueming, Chu, Anqui, Xinyi, 2014).Balsam (2003) cho rằng tồn tại mối quan hệ thuận giữa chất lượng kiểm toán
và chất lượng báo cáo tài chính được đo lường bằng chất lượng lợi nhuận.Nếu chất lượng lợi nhuận là cao, tính thông tin và hữu dụng của lợi nhuận sẽmang tính phù hợp cao hơn Các nghiên cứu gần đây đồng ý rằng chất lượngkiểm toán là chất lượng lợi nhuận của báo cáo tài chính đã được kiểm toán(Francis, 2011) Nhiều nghiên cứu sử dụng chất lượng báo cáo tài chính đolường bằng chất lượng lợi nhuận làm đại diện cho chất lượng kiểm toán baogồm: Chen (2008), Asthasa & Boone (2012), Koh (2013), Svantrom (2013),Sotheara Riel và Carl Tano (2014) …
1.2.4 Đo lường chất lượng kiểm toán
Các nghiên cứu trước đây về chất lượng kiểm toán sử dụng nhiều biếnquan sát khác nhau để đo lường chất lượng kiểm toán Chất lượng kiểm toán
Trang 21là một khái niệm khó quan sát và định lượng cũng như việc người sử dụngbáo cáo tài chính không thể hoàn toàn nhìn thấy các mức độ bảo đảm đượccung cấp bởi các công ty kiểm toán (DeFond & Zhang, 2013) Phần dưới đâytrình bày các quan sát đại diện để đo lường chất lượng kiểm toán Các quansát đại diện này được chia làm hai loại là đo lường dựa vào yếu tố đầu vào và
đo lường dựa vào yếu tố đầu ra
a Phép đo dựa vào yếu tố đầu vào
Đo lường dựa vào các yếu tố đầu vào được sử dụng cho các nghiên cứuchú ý đến yếu tố đầu vào của kiểm toán Nhưng vì đầu vào kiểm toán khôngđảm bảo rằng chúng tương ứng với kết quả kiểm toán và do đó quan sát nàykhá không ổn để do lường chất lượng kiểm toán (Defond & Zhang, 2013).Dưới đây là các yếu tố đầu vào dùng để đo lường chất lượng kiểm toán
Đặc điểm kiểm toán
Đặc điểm kiểm toán như là độ lớn của công ty kiểm toán; thường đượcchia thành nhóm BIG4 hay không phải BIG4, tức trong nhóm 4 công ty kiểmtoán lớn nhất thế giới hay ngoài nhóm này; hoặc chuyên ngành kiểm toán(khách hàng tập trung vào nhóm ngành nào)
Phí kiểm toán
Phí kiểm toán là một quan sát phổ biến thường được sử dụng để đolường chất lượng kiểm toán Các nghiên cứu sử dụng phí kiểm toán để đolường chất lượng kiểm toán cho rằng phí kiểm toán đại diện cho cả hai yếu tốcung và cầu kiểm toán hay khách hàng sẵn sàng trả phí kiểm toán cao hơn chokết quả kiểm toán chất lượng hơn Đồng thời họ cũng cho rằng lợi thế củaquan sát này là nó là phép đo liên tục có thể nắm bắt được sự thay đổi nhỏtrong chất lượng kiểm toán Một nhược điểm lớn của quan sát này đó là chiphí kiểm toán bị ảnh hưởng bới nhiều yếu tố khác (Defond & Zhang, 2013)
Trang 22b Phép đo dựa vào yếu tố đầu ra
Phép đo dựa vào các yếu tố đầu ra sử dụng các yếu tố đầu ra của quátrình kiểm toán nhằm đo lường chất lượng kiểm toán Dưới đây là các quansát theo yếu tố đầu ra dùng để đo lường chất lượng kiểm toán
Sai sót trọng yếu:
Khi một kiểm toán viên phát hiện các sai sót thì họ phải thông báo choban quản lý và ban kiểm toán công ty Những người này có thể chọn khôngsửa chữa những sai sót đó nếu họ cho rằng chúng không trọng yếu Tuy nhiênviệc xem xét giá trị nào là trọng yếu hay không trọng yếu phụ thuộc vào đánhgiá chuyên môn và đo đó có khả năng rằng những đánh giá này bị ảnh hưởngbởi các vấn đề chiến lược của công ty (Keune và Johnstone, 2012)
Sai sót trọng yếu thường được đo lường bằng cách xem xét việc điềuchỉnh các báo cáo tài chính đã phát hành; chúng ít khi xảy ra và dưới sự kiểmsoát trực tiếp của công ty kiểm toán và được coi là sai sót kiểm toán quantrọng (Defond & Zhang, 2013)
Phép đo này chỉ biểu diễn chất lượng kiểm toán thấp và là một phép đonhị phân, do đó phép đo này không biểu diễn được sự thay đổi nhỏ trong chấtlượng kiểm toán và cũng có những trường hợp khi mà sai sót trọng yếu xảy ranhưng không được phát hiện và sửa chữa bởi công ty kiểm toán và các bênliên quan
Ý kiến kiểm toán
Một ý kiến về khả năng hoạt động liên tục có ý nghĩa rằng kiểm toánviên có nghi ngờ đáng kể về khả năng công ty được kiểm toán có tiếp tục hoạtđộng hay không (Defond & Zhang, 2013) Carson (2013) giải thích rằng cácđánh giá này dựa trên các bằng chứng thu thập được trong quá trình kiểm toán
và nếu có bằng chứng về khả năng công ty được kiểm toán sẽ không tiếp tụchoạt động, kiểm toán viên phải yêu cầu thông tin từ nhà quản lý để giải quyết
Trang 23vấn đề Carson tiếp tục lưu ý rằng nếu các kiểm toán viên tiếp tục nghi ngờ
về khả năng tiếp tục hoạt động của công ty được kiểm toán và điều này khôngđược trình bày đầy đủ trong báo cáo tài chính thì kiểm toán viên phải điềuchỉnh ý kiến kiểm toán và trình bày lý do đối với mối lo ngại của mình
Một sự suy giảm xu hướng của kiểm toán viên trong việc phát hành các
ý kiến kiểm toán về khả năng hoạt động liên tục của khách hàng được xemnhư việc các kiểm toán viên không chịu đựng được các áp lực từ nhà quản lý
và do đó chất lượng kiểm toán được xác định là suy giảm (DeFond & Zhang,2013) DeFond & Zhang (2013) cũng cho rằng đây là một quan sát trực tiếp
để đo lường chất lượng kiểm toán vì kiểm toán viên có toàn quyền ra ý kiếnkiểm toán và là một sự nghiêm trọng khi kiểm toán viên không đưa ra ý kiếnthích hợp Tuy nhiên DeFond & Zhang (2013) cũng lưu ý rằng phép đo nàychỉ biểu diễn được chất lượng kiểm toán thấp và không phản ánh được sựthay đổi nhỏ trong chất lượng kiểm toán và ý kiến này chỉ được trình bày chocác công ty có hiểu quả kinh tế kém và không nói gì trường hợp các công ty
có hiệu quả kinh tế tốt
Đánh giá của người sử dụng thông tin
Đo lường dựa trên đánh giá của người sử dụng thông tin là phép đolường chất lượng kiểm toán dựa trên cách người sử dụng thông tin cảm nhận
và phản ứng với những thông tin được kiểm toán (Defond& Zhang, 2013) Ví
dụ về các quan sát của phép đo này bao gồm: sự phản ứng của thị trườngchứng khoán với các sự kiện được kiểm toán, đánh giá của ủy ban kiểm toán
về chất lượng kiểm toán, sự thay đổi trong thị phần của công ty kiểm toán … Defond và Zhang (2013) xem đây là một phép đo gián tiếp của chấtlượng kiểm toán, đặc biệt khi các phản ứng của nhà đầu tư được đo lường khi
mà kiểm toán có tác động rất nhỏ đến việc định giá công ty so với hiệu quảhoạt động của công ty và các yếu tố kinh tế toàn cầu Hơn nữa với các phản
Trang 24ứng của thị trường chứng khoán là ảnh hưởng của nhiều sự kiện khác nhaubên ngoài yếu tố kiểm toán, đo đó phép đo này là vô cùng gián tiếp.
Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh
Mục tiêu của đo lường chất lường chất lượng lợi nhuận là nghiên cứumức độ đại diện của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh nhằm phản ánhcác sự kiện kinh tế và một trong những mục đích chính của kiểm toán là ngănnhà quản lý đưa ra các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tốt hơn thực tế(Defond & Zhang, 2013) Và quản trị lợi nhuận là kim chỉ nam của báo cáotài chính chất lượng thấp (Kinney, 2004)
Chất lượng kiểm toán được xem xét thông qua chất lượng lợi nhuận củaBCTC đã được kiểm toán, thường được đo lường bằng biến kế toán dồn tích
có thể điều chỉnh (DA) Lợi nhuận được trình bày trên báo cáo kết quả hoạtđộng kinh doanh gồm hai phần là phần dòng tiền từ hoạt động kinh doanh vàphần giá trị kế toán dồn tích Và phần giá trị kế toán dồn tích này gồm haiphần: Phần không điều chỉnh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh và phầnđiều chỉnh bởi các hành vi kế toán bị thao túng bởi nhà quản lý
Defond và Zhang (2013) chỉ rõ rằng DA không phải là một quan sát đolường trực tiếp chất lượng kiểm toán như là ý kiến kiểm toán vì kiểm toánviên không thể kiểm soát trực tiếp DA như đối với việc đưa ra ý kiến kiểmtoán Nếu quản trị lợi nhuận trong phạm vi cho phép của chuẩn mực và quyđịnh kế toán thì nó không phải là một vi phạm nghiêm trọng Defond vàZhang (2013) cũng chỉ ra rằng phép đo này có bất lợi là thiếu sự đồng nhất vềcách thức đo lường quản trị lợi nhuận để phản ánh kết quả nghiên cứu Tuynhiên hai ông cho rằng quan sát này nắm bắt được sự thay đổi nhỏ trong chấtlượng kiểm toán xảy ra trong giới hạn chuẩn mực kế toán được áp dụng và lợithế khác là quan sát này đại diện cho chất lượng báo cáo kết quả hoạt độngkinh doanh là mục tiêu cuối cùng kiểm toán
Trang 25c Các mô hình đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA)
- The Healy Model (1985)
Discretionary accruals (DA) = TAt/At-1 - NDAt
Trong đó:
NDAit : Non discretionary accruals năm sự kiện t của công ty iTaiit : Total accruals năm t của công ty i
Ait : Tổng tài sản năm t của công ty i
n : Số năm trong kỳ ước tính
t : t-n; t-n+1; ; t-1 trong kỳ ước tính
- The DeAngelo Model (1986)
Biến kế toán không thể điều chỉnh của công ty i tại năm sự kiện t:
REVt = Doanh thu thuầnt – Doanh thu thuầnt-1
PPEt : Nguyên giá TSCĐ hữu hình cuối năm t
At-1 : Tổng tài sản cuối năm t-1
α1, α2, α3 : các tham số của từng công ty
Ước tính các tham số α1, α2, α3 thông qua mô hình sau ở kỳ ước tính:
Trang 26a1, a2, a3 : Kết quả ước tính α1, α2, α3 thông qua ước tính OLS
TAit : Total accruals của năm t của công ty i
ε : Residual, tương đương với phần discretionary accruals
- The Modified Jones Model (1991)
RECt = Phải thu khách hàng nett – Phải thu khách hàng nett-1
- Industry Model (Mô hình ngành) của Dechow và Sloan (1991)
Trong đó:
Salesit : Doanh thu năm t của công ty i
Trang 271.3 KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN 2008-2009 (GFC)
1.3.1 Khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008-2009
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (GFC) bắt đầu từ nước Mỹ trongnăm 2007 (Bergman, 2011) và là cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọngnhất trong lịch sử kể từ cuộc đại khủng hoảng (Friedman & Friedman, 2009)
Theo Osterholm (2010, trang 26): “Các khoản cho vay nhà đất trong thị trường nhà ở Mỹ trong thời gian này đã được chứng khoán hóa và bán trên toàn thế giới và từ đó chúng được tái hình thành trong các công cụ tài chính khác nhau trên toàn cầu Sự điều chỉnh giá cả trong thị trường nhà đất do đó không chỉ ảnh hưởng đến Mỹ mà lan ra toàn cầu và các ngân hàng phải chịu đựng những khó khăn kinh tế vô cùng lớn Điều này dẫn đến một giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu”.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 -2009 là một sựđiều chỉnh lại giá nhà đất tại Mỹ sau thời gian thực hiện chính sách tiền tệ mởrộng và điều kiện tín dụng rộng rãi đối với thị trường nhà đất tại Mỹ, nơi màcác khoản tín dụng này được chứng khoán hóa và bán đi dưới dạng các công
cụ tài chính phức tạp trên toàn thế giới Khi bong bóng thị trường nhà tại Mỹ
vỡ ra, các khoản cho vay tín dụng nhà đất dưới chuẩn tan biến, các ngân hàngphải gánh chịu những tổn thất kinh tế to lớn, kéo theo niềm tin vào hệ thốngngân hàng suy giảm nghiêm trọng Mỹ là trung tâm của hệ thống tài chínhtoàn cầu đo đó toàn bộ hệ thống tài chính toàn cầu bị cuốn vào khủng hoảng
và cuộc khủng hoảng tài chính lần này cũng khác biệt hoàn toàn với nhữngcuộc khủng hoảng trước (Singala và Kumar, 2012)
Khủng hoảng kinh tế cũng phơi bày những khó khăn của kiểm toán vớitính hình kinh kế khó khăn và sự giảm sút tính thanh khoản của thị trường( Xu, 2013) Xu viết: “Nhiều công ty phải đối mặt với vấn đề đảm bảo đủ vốn
Trang 28vay để tiếp tục hoạt động và chúng gia tăng áp lực lên các công ty kiểm toán
để đưa ra ý kiến về khả năng hoạt động liên tục” Trong một giai đoạn khókhăn kinh tế nghiêm trọng, ngày càng khó khăn cho kiểm toán viên đánh giákhi nào là thích hợp để phát hành nhận xét về khả năng hoạt động liên tục và
vì GFC làm tăng rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp nên nó cũng làm tăngrủi ro các kiểm toán viên phát hành ý kiến không chính xác (Xu, 2013)
1.3.2 Khủng hoảng tài chính tại Việt Nam
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác động mạnh tới nền kinh tếViệt Nam với tư cách là nền kinh tế đang hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàncầu Việt Nam vừa mở rộng cánh cửa với thế giới vào năm 2007 với việc trởthành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO thì năm
2008 Việt Nam đã phải đón nhận cơn khủng hoảng kinh tế thế giới Giai đoạntăng trưởng GDP liên tục trên mức 7% của Việt Nam kết thúc, và suy giảmliên tục trong hai năm khủng hoảng Việt Nam xoáy sâu trong khủng hoảngvới xuất khẩu là lĩnh vực chịu ảnh hưởng đầu tiên Thị trường xuất khẩu quantrọng của hàng hóa Việt Nam là Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản … đang gánh chịukhủng hoảng nghiêm trọng do đó tác động trực tiếp tới giá trị xuất khẩu củaViệt Nam Xuất khẩu vốn là động lực tăng trưởng của cả nền kinh tế, sự sụtgiảm xuất khẩu càng khiến cho nền kinh tế trong nước lao dốc Trước năm
2007, ngành công nghiệp tăng trưởng mạnh mẽ và là trụ cột trong tiến trìnhcông nghiệp hóa đất nước tuy nhiên khủng hoảng tài chính đã làm chỉ số côngnghiệp của Việt nam lao dốc trong hai năm liên tiếp Nhiều ngành côngnghiệp quan trọng của nền kinh tế như khai khoáng, sản xuất thép lao đao thểhiện ở số lượng tồn kho lớn Đi kèm với sự sụt giảm sản xuất công nghiệp là
sự suy giảm trong sức mua thị trường nội địa, tiêu thụ hàng hóa khó khăn trênthị trường
Trang 29Trên thị trường chứng khoán, cùng với đà sụt giảm của các chỉ số chứngkhoán của các thị trường chính trên thế giới: Dow Jones (Mỹ) giảm 34.6%,FTSE 100 (Anh) giảm 31.5%, Nikkei 225 (Nhật) giảm 42.1%, ShanghaiComposite (Trung Quốc) giảm 65.2%, BSE30 (Ấn Độ) 52.2% … Chứngkhoán Việt Nam cũng sụt giảm nghiêm trọng trong năm 2008, thậm chí còncao hơn mức sụt giảm của các thị trường chứng khoán lớn với mức giảm65.95% với VN-Index và 67.51% với HASTC-Index Giá trị vốn hóa của toànthị trường mất khoảng 270 nghìn tỉ đồng (16 tỷ USD) Sự bốc hơi hàng trămngàn tỷ đồng trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2008 chứng tỏsức ảnh hưởng lớn và nghiêm trọng của khủng hoảng tài chính toàn cầu tớiViệt Nam, đồng thời nó còn cho thấy một cơn bão khó khăn mà các doanhnghiệp tại Việt Nam đang hứng chịu Năm 2009, thị trường chứng khoán ViệtNam chạm đáy trong quý I, tuy có phục hồi trong giữa và cuối năm như cácchỉ số VN-Index và HASTC-Index vẫn thấp hơn nhiều mức cuối năm 2007chứng tỏ tác động của cuộc khủng hoảng tài chính vẫn còn nghiêm trọng vàcác doanh nghiệp vẫn đang chật vật đối phó với cuộc khủng hoảng tài chínhtoàn cầu.
Trang 30CHƯƠNG 2
GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008-2009 gây nhữngkhó khăn hết sức nghiêm trọng cho các doanh nghiệp trên phạm vi toàn cầutrong đó có Việt Nam Các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty niêm yết khiđối mặt với những khó khăn của khủng hoảng tài chính toàn cầu, ảnh hưởngđến hoạt động, đến lợi nhuận của công ty thì thường tìm mọi cách nhằm giảmthiểu tác động này trong đó có việc trình bày các báo cáo tài chính tốt hơnthực tế nhằm che dấu hiệu quả kinh doanh tồi tệ thực trong khủng hoảng Mặtkhác nhiều công ty lại lựa chọn che dấu thực tế hiệu quả hoạt động yếu kém,thua lỗ của nhiều năm đã qua bằng cách “làm quá” tác động và ảnh hưởng củakhủng hoảng Kousenidis (2013) cho rằng các doanh nghiệp vào thời điểmkhó khăn thường tăng mức độ dồn tích kế toán và tham gia vào các vụ “tẩyrửa” kế toán lớn, chú tâm tạo lập một khoản lỗ lớn trong điều kiện khó khăncủa cuộc khủng hoảng Choi (2011) lại cho rằng nhiều doanh nghiệp khác cómột động lực để thực hiện điều chỉnh lợi nhuận trong khủng hoảng nhằm chedấu lợi nhuận hoặc lỗ thực tế của doanh nghiệp, đặc biệt trong các tình huốngkhi hiệu quả kinh tế kém của doanh nghiệp đặt họ vào các tình huống vi phạmcác điều khoản kinh tế hoặc các giao ước nợ liên quan Các rủi ro mà doanhnghiệp thực hiện các hành vi không minh bạch trong khủng hoảng tài chínhtương ứng với các rủi ro mà kiểm toán viên có thể đưa ra các ý kiến khôngchính xác về thực trạng của doanh nghiệp được kiểm toán hay rủi ro về chấtlượng kiểm toán suy giảm dưới tác động của khủng hoảng tài chính Đặc biệtđối với các công ty niêm yết thì động cơ điều chỉnh lợi nhuận của nhóm này
rõ ràng hơn khi mà tác động của hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận được trìnhbày trên báo cáo tài chính ảnh hưởng mạnh tới giá trị thị trường, nguồn vốn,
Trang 31hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, do đó rủi ro về việc được ra ý kiếnkiểm toán không chính xác hay rủi ro chất lượng kiểm toán đối với nhómcông ty niêm yết suy giảm là nghiêm trọng hơn Nhiều nhận định của các nhànghiên cứu trên thế giới nêu rõ ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chínhtới chất lượng kiểm toán Holm & Zaman (2012) đánh giá rằng khủng hoảngtài chính toàn cầu và những thất bại, sụp đổ của các công ty mà cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu gây ra đã dấy lên nhiều lời chỉ trích về nghề nghiệpkiểm toán và tạo áp lực nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán Quy trình kiểmtoán và khả năng của kiểm toán viên bị đặt dấu hỏi trong cuộc khủng hoảng(Sikka, 2009) Liệu chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêmyết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam sẽ suy giảm dưới tác động củacuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Giả thuyết nghiên cứu được đặc ra là:
H1: Chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên
thị trường chứng khoán Việt Nam suy giảm trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Chọn mẫu và dữ liệu thực hiện nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên từ tổng thể là các công ty bắt đầuniêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán là HNX và HOSE từ năm 2006trở về trước và không bao gồm các công ty tài chính và ngân hàng Phươngpháp chọn mẫu:
- Nghiên cứu chỉ tập trung vào các công ty niêm yết vì các công ty này
có sự tách biệt giữa chủ sở hữu và nhà quản lý và vì thế thông tin kiểm toán làrất quan trọng và mục đích của nghiên cứu này cũng đồng thời tìm hiểu vấn
đề đại diện trong điều kiện khủng hoảng nên các công ty niêm yết là đốitượng phù hợp nhất để nghiên cứu vấn đề này
Trang 32- Từ hơn 150 công ty niêm yết từ năm 2006 trở về trước, sau khi loạitrừ các công ty thuộc nhóm tài chính và ngân hàng thì có khoảng 130 công tyniêm yết phù hợp Các công ty được lựa chọn phải bắt đầu niêm yết trên thịtrường chứng khoán từ năm 2006 trở về trước và hoạt động liên tục trong giaiđoạn 2006-2009.Và báo cáo kiểm toán mà các công ty này nhận được tronggiai đoạn nghiên cứu phải có ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần hoặc ýkiến chấp nhận từng phần (ngoại trừ) và yếu tố ngoại trừ được công bố trongbáo cáo kiểm toán không ảnh hưởng trọng yếu đến lợi nhuận của công ty Saukhi loại trừ các yếu tố trên tổng thể còn lại 110 công ty – đây là tổng thể cuốicùng phù hợp để thực hiện chọn mẫu trong nghiên cứu.
- Chọn ngẫu nhiên 80 công ty trong tổng thể này bằng hàm ngẫu nhiênkhông lặp của phần mềm Microsoft Excel Như vậy số mẫu được chọn đảmbảo trên mức 50% số công ty trong tổng thể
- Kết quả mẫu chọn được bao gồm 26 công ty niêm yết trên sàn HNX
và 54 công ty niêm yết trên sàn HOSE Tổng cộng là 80 công ty được chọntrong mẫu
Dữ liệu thu thập để thực hiện nghiên cứu được lấy từ bảng cân đối kếtoán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ đãđược kiểm toán và báo cáo kiểm toán tương ứng trong giai đoạn 2004 – 2009được công bố bởi các công ty trong mẫu được chọn
Trong quá trình thu thập dữ liệu nếu công ty nào mà tác giả không thểthu thập được dữ liệu đầy đủ hoặc dữ liệu không phù hợp thì công ty đó sẽ bịloại ra khỏi mẫu
2.2.2 Mô hình tính toán biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh
Như đã đề cập, nhiều mô hình được sử dụng để đo lường biến kế toándồn tích có thể điều chỉnh DA Trong những nghiên cứu này, nhiều biến được
sử dụng để đo lường bao gồm : Tài sản ( Healy 1985, DeAngelo 1986),
Trang 33Doanh thu (Friedlan 1994, Aharony, Lee và Wong, 2000), sự thay đổi trongdoanh thu và mức độ tài sản, máy móc, thiết bị (Jone 1991) Trong đó môhình phổ biến nhất để đo lường biến kế toán dồn tích là mô hình Jone Môhình này cũng được chứng minh là hiệu quả nhất trong việc phát hiện hành viđiều chỉnh lợi nhuận (Tianran Chen, 2000) Tuy nhiên việc áp dụng mô hìnhJone đối với nghiên cứu này đòi hỏi việc thu thập và phân tích một quy mô dữliệu lớn với số lượng quan sát rất nhiều trong thời gian dài, đây là điều vôcùng khó khăn đối với quy mô của nghiên cứu này Tìm kiếm một mô hìnhhiệu quả để thay thế mô hình Jones 1991 trong việc đo lường biến kế toán dồntích có thể điều chỉnh DA, tác giả nhận thấy mô hình Friedlan (1994), điềuchỉnh từ mô hình DeAngelo (1986) là phù hợp Lựa chọn mô hình Friedlan(1994) nhằm thay thế cho mô hình Jones (1991) khi có những hạn chế trongviệc thu thập, phân tích dữ liệu đã được tiến hành trong các nghiên cứu củaJonas Spohr (2002), Nguyễn Thị Minh Trang (2012) và được chứng minhhoàn toàn phù hợp và hiệu quả trong việc đo lường biến kế toán dồn tích cóthể điều chỉnh
Mô hình Friedlan được sử dụng để phát hiện hành vi điều chỉnh lợinhuận thông qua việc đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh
Trang 34Biến kế toán dồn tích TA bao gồm biến kế toán dồn tích không điềuchỉnh NDA và biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh DA.
Trong mô hình của DeAngelo, biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnhchính trong kỳ t là chênh lệch giữa biến kế toán dồn tích kỳ t và biến kế toándồn tích kỳ t-1
Ước tính NDA trong mô hình của DeAngelo chỉ chính xác khi mà NDAkhông thay đổi theo thời gian Tuy nhiên, mức độ hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp ảnh hưởng đến NDA.Nếu hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp đang ở kỳ tăng trưởng với việc đầu tư thêm tài sản, thiết bị và mở rộngquy mô kinh doanh thì sẽ dẫn đến NDA biến động Do đó, mô hình củaDeAngelo có thể không chính xác trong đo lường NDA khi các doanh nghiệpđang trong thời kỳ phát triển, mở rộng sản xuất Nhận định rõ nhược điểm của
mô hình DeAngelo nên Friedlan đã cải tiến mô hình bằng cách kiểm soátphần NDA thay đổi do mức độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Môhình của Friedlan là điều chỉnh mô hình DeAngelo theo biến doanh thu Do
đó, nhược điểm tính toán giá trị NDA trong thời kì tăng trưởng của doanhnghiệp của mô hình DeAngelo được hạn chế
2.2.3 Mô hình nghiên cứu
Như đã đề cập, nhiều nghiên cứu sử dụng biến DA để đo lường chất lượngkiểm toán và nghiên cứu này cũng sử dụng biến DA để đo lường chất lượng kiểmtoán Do việc điều chỉnh lợi nhuận theo hướng khai khống hay làm giảm lợi
Biến kế toán = Biến kế toán dồn tích + Biến kế toán dồn tíchdồn tích TA không điều chỉnh NDA có thể điều chỉnh DA
Biến kế toán dồn tích = Biến kế toán - Biến kế toán cóthể điều chỉnh kỳ t dồn tích kỳ t dồn tích kỳ t-1
Trang 35nhuận thực tế thì đều là biểu hiện của báo cáo tài chính chất lượng thấphay chấtlượng kiểm toán thấp nên chất lượng kiểm toán được đo lường theo giá trị tuyệtđối của biến DA; giá trị tuyệt đối DA (ABSDA) càng lớn biểu hiện cho chấtlượng kiểm toán càng thấp và ngược lại.
Vì nghiên cứu này nhằm mục đích kiểm tra ảnh hưởng của khủng hoảng tàichính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán nên biến khủng hoảng CRISIS là mộttrong những biến độc lập của mô hình Công ty với hiệu quả hoạt động kinhdoanh kém thường có xu hướng tăng cường điều chỉnh lợi nhuận (Defond vàJiambalvo, 1994) nên các biến đại diện cho hiệu quả hoạt động kinh doanh baogồm biến tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản ROA, biến thua lỗ LOSS được đưa vào môhình để kiểm tra ảnh hưởng của hiệu quả kinh doanh đến chất lượng kiểm toán.Đồng thời trong giai đoạn khủng hoảng thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của cácdoanh nghiệp thường không tốt do đó đây cũng là một biến phù hợp để kiểm traảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán Cácnghiên cứu của DeAngelo (1981), Francis (1999), Defond (2002), … cho rằngchất lượng kiểm toán được thực hiện bởi nhóm bốn công ty kiểm toán lớn BIG4bao gồm KPMG, PricewaterhouseCoopers (PWC), Deloitte Touche Tohmatsu(D&T), Ernst and Young (E&Y) cao hơn các công ty kiểm toán khác nên biếnBIG4 được đưa vào mô hình nhằm kiểm tra xem liệu chất lượng kiểm toán củanhóm BIG4 có thực sự cao hơn các công ty khác không Biến quy mô khách hàngđược đo lường bằng logarit cơ số tự nhiên e của tài sản cũng được bao gồm trong
mô hình khi có những hoài nghi cho rằng kiểm toán viên có thể thỏa hiệp tính độclập của mình khi kiểm toán cho những khách hàng lớn (Reynolds và Francis(2001) đo đó ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán Một biến khác cũng được baogồm trong nghiên cứu này là biến tăng trưởng tài sản, một nghiên cứu củaMadhogarhia (2009) cho rằng các công ty tăng trưởng cao hơn thường có xuhướng tăng cường điều chỉnh lợi nhuận
Trang 36Mô hình nghiên cứu được phát triển trong nghiên cứu này là:
ABSDA = β 1 + β 2 ROA +β 3 BIG4 + β 4 LOSS + β 5 LNASSET +
β 6 GROWTHASSET + β 7 CRISIS + Ɛ i
ABSDA Chất lượng kiểm toán Giá trị tuyệt đối của biến kế toán
dồn tích có thể điều chỉnh DA (Giá trị ABSDA càng cao thì chất lượng kiểm toán càng thấp)CRISIS
(KHỦNG
HOẢNG)
Quan sát đã được thực hiện trong giai đoạn khủng hoảng hay không(2008-2009)
0= không trong thời gian khủng khoảng
1= trong thời gian khủng hoảng
ROA Đo lường hiệu quả hoạt
động của công ty được kiểm toán
Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản
BIG4 Nếu các công ty kiểm
toán là một trong 4 công
ty kiểm toán lớn;
KPMG, E&Y, D&T hoặc PWC
0= không được kiểm toán bởi 4 công ty kiểm toán lớn
1= được kiểm toán bởi một trong 4 công ty kiểm toán lớn
LOSS (LỖ) Đo hiệu quả hoạt động
của công ty được kiểm toán
0 = lợi nhuận sau thuế>0
1 = lợi nhuận sau thuế<0
Logarit tự nhiên của tổng tài sảncông ty
Bảng2.1: Bảng tổng hợp các biến trong mô hình
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH VÀ TRÌNH BÀY KẾT QUẢ
Trang 37- Dòng tiền hoạt động
= Biến kế toán dồn tích t - Biến kế toán dồn tích t-1
Ngoài ra các giá trị khác được tính toán trong mô hình bao gồm:
Tỷ suất sinh lời tài sản t
Lợi nhuận sau thuế t
Tổng tài sản bình quân t
Lôgarit cơ số tự nhiên tổng tài sản năm t (LNASSET) = Log e (Tổng tài sản t )
Tỷ lệ tăng trưởng tài
Công ty đang lỗ trong năm t LOSSt = 1 LOSSt = 0
Công ty được kiểm toán bởi công ty thuộc BIG4t = 1 BIG4t = 0
Trang 38nhóm BIG 4 trong năm t
Năm t là năm khủng hoảng CRISISt = 1 CRISISt = 0
Bảng3.1: Bảng gán giá trị cho biến giả trong mô hình
Ví dụ:Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang – Mã chứng khoán: DHG.Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang hoạt động từ năm 2004 và bắt đầu niêmyết trên sàn giao dịch chứng khoán HOSE từ tháng 12/2006 Công ty hoạtđộng trong lĩnh vực hóa chất, thực phẩm Tính toán giá trị các biến của môhình trong năm 2009 và năm 2007 với ví dụ tại Công ty Cổ phần Dược HậuGiang được trình bày bên dưới:
Tổng tài sản (TS) 1,521,973 1,081,782 942,209 482,847Doanh thu thuần từ
hoạt động kinh doanh
Công ty kiểm toán A&C
Công ty kiểm toán A&C
Công ty kiểm toán A&CBảng 3.2: Tổng hợp dữ liệu thu thập từ báo cáo tài chính của Công ty Cổ
phần Dược Hậu Giang – Đơn vị tính : triệu đồng
Tính toán các biến trong năm 2009:
Biến kế toán dồn tích2009 = LNST2009 – DTTHĐKD2009= 362,340 – 353,895
= 8,445
Biến kế toán dồn tích2008 = LNST2008 – DTTHĐKD2008= 129,995 – 195,108
= -65,113
Trang 39Biến kế toán
dồn tích có thể
điều chỉnh 2009
= Biến kế toán dồn tích2009 - Biến kế toán dồn tích2008
Doanh thu2009 Doanh thu2008
Vậy ABSDA = |DA| = |0.0486702| = 0.0486702
Tỷ suất sinh lời tài sản 2009
Lợi nhuận sau thuế2009
Tổng tài sản bình quân2009
= (1,521,973 + 1,081,782)/2362,340 = 0.28
Tỷ lệ tăng trưởng tài
= Loge (Tổng tài sản2009) = Loge (1,521,973) = 14.23552
Các biến giả được gán giá trị phù hợp bao gồm:
Biến CRISIS = 1: Do năm 2009 là năm diễn ra khủng hoảng tài chínhBiến BIG4 = 0: Do trong năm 2009 công ty không được kiểm toán bởicông ty kiểm toán thuộc nhóm BIG 4
Biến LOSS = 0: Do năm 2009 công ty có lợi nhuận sau thuế lớn hơn 0
Tính toán các biến trong năm 2007
Biến kế toán dồn tích2007 = LNST2007 – DTTHĐKD2007= 128,312 – 51,317
= 76,995
Trang 40Vậy ABSDA = |DA| = |0.0108| = 0.0108
Tỷ suất sinh lời tài sản 2007
Tỷ lệ tăng trưởng tài sản 2007 =
Lôgarit cơ số tự nhiên tổng tài sản năm t (LNASSET) = Loge (Tổng tài sảnt)
= Loge (Tổng tài sản2007) = Loge (942,209) = 13.7560
Các biến giả được gán giá trị phù hợp bao gồm:
Biến CRISIS = 0: Do năm 2007 là năm diễn ra khủng hoảng tài chínhBiến BIG4 = 0: Do trong năm 2007 công ty không được kiểm toán bởicông ty kiểm toán thuộc nhóm BIG 4
Biến LOSS = 0: Do năm 2009 công ty có lợi nhuận sau thuế lớn hơn 0
3.1.2 Kết quả phân tích
a Thống kê mô tả
Để kiểm tra ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đếnchất lượng kiểm toán, tác giả thu thập dữ liệu của 80 công ty trong giai đoạn