Trongkhi thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự ra quyết định của nhàđầu tư cũng như ảnh hưởng đến quá trình hoạt động và phát triển của thịtrường chứng khoán.Chính vì
Trang 1Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
VŨ THỊ MAI HƯƠNG
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Bố cục của luận văn 5
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 13
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 13
1.1.1 Khái niệm về công bố thông tin 13
1.1.2 Tầm quan trọng của việc công bố thông tin 15
1.1.3 Yêu cầu về công bố thông tin 18
1.1.4 Báo cáo thường niên – kênh công bố thông tin quan trọng 20
1.2 ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 22
1.2.1 Phương pháp đo lường mức độ công bố thông tin 22
1.2.2 Danh mục đánh giá mức độ công bố thông tin 24
1.2.3 Trọng số trong đo lường mức độ công bố thông tin 27
1.3 LÝ THUYẾT ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN 27
1.3.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory) 28
1.3.2 Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory) 29
1.3.3 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary costs theory) 30
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 31
Trang 3KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 40
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 41
2.1 TỔNG QUAN VỀ THỰC TIỄN CÔNG BỐ THÔNG TIN TẠI VIỆT NAM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH VẬN TẢI 41
2.1.1 Khái quát về môi trường công bố thông tin tại Việt Nam 41
2.1.2 Thực trạng công bố thông tin của các doanh nghiệp Việt Nam niêm yết trên thị trường chứng khoán 44
2.1.3 Đặc điểm ngành vận tải 46
2.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 47
2.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 47
2.2.2 Giả thuyết nghiên cứu 47
2.2.3 Chọn mẫu 52
2.2.4 Đo lường mức độ công bố thông tin 53
2.2.5 Đo lường các biến 55
2.2.6 Mô hình nghiên cứu 60
2.2.7 Thu thập và xử lý số liệu 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 62
3.1 MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VẬN TẢI NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 62
3.2 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 66
3.2.1 Thống kê mô tả các biến độc lập và biến kiểm soát 66
3.2.2 Phân tích tương quan các biến trong mô hình 68
Trang 4CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN 86
4.1 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 86
4.1.1 Đối với doanh nghiệp niêm yết 86
4.1.2 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 87
4.2 KẾT LUẬN 92
4.2.1 Kết quả nghiên cứu đạt được 92
4.2.2 Những hạn chế của nghiên cứu 93
4.2.3 Hướng nghiên cứu tiếp theo 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
GIẤY ĐỀ NGHỊ BẢO VỆ LUẬN VĂN
BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN (Bản sao)
NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 1
NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 2
BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN
Trang 5CBTT : Công bố thông tin
DN : Doanh nghiệp
SGDCK : Sở giao dịch chứng khoánHĐQT : Hội đồng quản trị
UBCKNN : Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
Trang 61.1 Phương pháp phân tích thông tin trên báo cáo thường
niên
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 73.1 Bảng thống kê mức độ công bố thông tin 643.2 Thống kê mô tả các biến độc lập và biến kiểm soát 673.3 Ma trận tương quan giữa các biến
3.4 Kết quả đánh giá độ phù hợp của mô hình
3.5 Phân tích hồi quy
3.6 Kết quả kiểm tra giả thiết phương sai sai số thay đổi
3.7 Kết quả đánh giá độ phù hợp của mô hình lần 2
3.8 Phân tích hồi quy lần 2
3.9 Tổng hợp kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng
đến mức độ công bố thông tin
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh thị trường mang tính toàn cầu hóa ngày càng cao, đốitượng tham gia thị trường ngày càng đa dạng đòi hỏi doanh nghiệp phải theokịp xu thế tất yếu đang hình thành trên thị trường chứng khoán đó là thông tinphải ngày càng minh bạch và được truyền thông, phản hồi hai chiều giữadoanh nghiệp niêm yết và nhà đầu tư Khi nguồn cung cổ phiếu dồi dào thì sựcạnh tranh giữa các doanh nghiệp niêm yết trong việc giữ chân cổ đông và thuhút sự quan tâm của nhà đầu tư tiềm năng trên thị trường diễn ra ngày cànggay gắt Hiển nhiên, doanh nghiệp nào có hoạt động công bố thông tin tốt vàxây dựng quan hệ nhà đầu tư một cách chuyên nghiệp sẽ góp phần giúp nhàđầu tư, cổ đông thường xuyên cập nhật tin tức, so sánh, đánh giá và phân tích
để đưa ra các quyết định về định giá kịp thời và chính xác, từ đó tạo nên sứchút của cổ phiếu và sức mạnh toàn diện của doanh nghiệp Do đó, có thể thấythông tin là yếu tố then chốt, nhạy cảm và ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vicủa tất cả các đối tượng tham gia thị trường, đó là nhà đầu tư, cơ quan quản lýnhà nước, các công ty chứng khoán
Tính đến thời điểm 12/2015, trên thị trường chứng khoán Việt Nam cótổng cộng 1.670 công ty đại chúng, trong đó có 695 công ty đã niêm yết trên 2
Sở Giao dịch Chứng khoán, 400 công ty đăng ký giao dịch trên UPCOM, 80công ty chứng khoán, 50 công ty quản lý quỹ và hơn 1,6 triệu tài khoản nhàđầu tư trong và ngoài nước Tuy nhiên, theo kết quả công bố từ vietstock.vnvào năm 2012 chỉ có 23 doanh nghiệp trên tổng số 688 doanh nghiệp niêmyết, tương ứng tỷ lệ 3.3% hoàn thành nghĩa vụ công bố thông tin theo quyđịnh Tỷ lệ này tăng lên 4.2% vào năm 2013 và là 9.7% vào năm 2015 Nhưvậy có rất nhiều doanh nghiệp niêm yết đã chậm công bố thông tin hoặc bỏsót những thông tin quan trọng, ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư
Trang 9Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triểnnhư hiện nay thì ngành vận tải đóng vai trò ngày càng quan trọng trong sựphát triển của đất nước Vận tải là yếu tố cần thiết của tất cả các giai đoạn củaquá trình sản xuất Trong quá trình hoạt động của mình, dịch vụ vận tải đãgóp phần tiêu thụ một khối lượng lớn các sản phẩm của ngành khác, bằngcách đưa các sản phẩm đó từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng, làm cho giá trịsản phẩm được tăng lên Do đó, khi nền kinh tế tăng trưởng, nhu cầu vậnchuyển hàng hóa tăng lên thì ngày càng nhiều các doanh nghiệp cổ phần kinhdoanh dịch vụ vận tải ra đời để đáp ứng nhu cầu phát triển của toàn ngành.Trong đó, nguồn vốn huy động từ thị trường chứng khoán đối với ngành nàychiếm tỷ trọng không hề nhỏ Nhưng dường như nhà đầu tư chưa nhận đượcnhững thông tin tương xứng về doanh nghiệp mà họ đã bỏ vốn đầu tư Trongkhi thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự ra quyết định của nhàđầu tư cũng như ảnh hưởng đến quá trình hoạt động và phát triển của thịtrường chứng khoán.
Chính vì vậy việc nghiên cứu mức độ công bố thông tin và các nhân tốảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các công ty đại chúng lớn, công
ty niêm yết rất cần được quan tâm kể cả đối với cả nhà đầu tư, công ty niêmyết và cả cơ quan quản lý Có nhiều tác giả trong nước và thế giới đã nghiêncứu ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ công bố thông tin trong doanhnghiệp niêm yết nhưng hiện nay chưa có nghiên cứu về mức độ công bốthông tin của các doanh nghiệp ngành vận tải để giúp người đọc, nhà đầu tư
có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề này, từ đó có thể giúp nhà đầu tư và cácbên liên quan có đánh giá chung trước khi ra quyết định
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp thuộc nhóm
Trang 10ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” được lựa
chọn để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá mức độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệpvận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tựnguyện của các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoánViệt Nam
- Gợi ý các chính sách nhằm nâng cao mức độ công bố thông tin
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu của nghiên cứu đặt ra ở trên, nội dung chính của
đề tài cần phải trả lời được các câu hỏi sau:
- Mức độ công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp vận tải niêmyết trên thị trường chứng khoán Việt Nam như thế nào?
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện củacác doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về mức độ công bố thôngtin tự nguyện của các doanh nghiệp vận tải niêm yết trên thị trường chứngkhoán Việt Nam, trên cơ sở đó đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố tác độngđến mức độ công bố thông tin tự nguyện
Phạm vi nghiên cứu: Các báo cáo thường niên năm 2015 của 47 doanhnghiệp vận tải niêm yết tại tại sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ ChíMinh (HOSE) và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX)
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong luận văn này là phương phápnghiên cứu định lượng Với phương pháp này luận văn sử dụng mô hình hồi
Trang 11quy để kiểm tra những giả thuyết nghiên cứu đặt ra Trong đó biến về về đặcđiểm quản trị doanh nghiệp gồm số lượng thành viên hội đồng quản trị, thànhviên hội đồng quản trị độc lập và việc kiêm nhiệm giữa chủ tịch hội đồngquản trị và tổng giám đốc, loại công ty kiểm toán độc lập Yếu tố về cơ cấu sởhữu gồm: sở hữu nhà nước, sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, sở hữu củanhóm nhà quản lý Cuối cùng là các yếu tố về đặc tính của doanh nghiệp gồmquy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời, đòn bẩy nợ.
- Trình tự nghiên cứu: Bước đầu tiên, tác giả đã tiến hành tìm hiểu và
tổng hợp các lý thuyết có liên quan Tiếp theo, lựa chọn mẫu nghiên cứu làcác doanh nghiệp vận tải niêm yết tại HOSE và HNX trước năm 2015 và thuthập báo cáo thường niên năm 2015 của các doanh nghiệp này Bước 3, xâydựng bảng các yếu tố thông tin tự nguyện công bố trong báo cáo thường niên,tính toán chỉ số công bố thông tin đồng thời xác định các nhân tố có thể cóảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của cácdoanh nghiệp thuộc nhóm ngành vận tải niêm yết, đặt ra các giả thuyết nghiêncứu Và cuối cùng là tiến hành phân tích hồi quy, kiểm định các giả thuyết,rút ra kết luận về vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp phân tích:
Nghiên cứu sử dụng chỉ số công bố thông tin theo cách tiếp cận khôngtrọng số để đo lường mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên củacác doanh nghiệp vận tải và sử dụng phương pháp thống kê mô tả để xem xétđặc điểm, đánh giá mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên củacác doanh nghiệp này
Đồng thời, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội (áp dụngphương pháp bình phương bé nhất - OLS regression model) với phần mềmứng dụng SPSS nhằm xác định các nhân tố có ảnh hưởng đến mức độ công bốthông tin trong báo cáo thường niên của các doanh nghiệp vận tải
Trang 126 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục các từ viết tắt, sơ đồ, bảng biểu và phụlục, bố cục của luận văn được chia làm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công bố thông tin và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chuơng 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Hàm ý chính sách và kết luận
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết là một chủ đề luônnhận được nhiều sự quan tâm, chú ý của các nhà nghiên cứu, học thuật trongnước cũng như trên thế giới trong thời gian qua
- Các nghiên cứu trên thế giới:
Đã có rất nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa mức độ công bố thôngtin và đặc điểm của doanh nghiệp nhằm xem xét những yếu tố quyết định đếnhành động công bố thông tin của các doanh nghiệp Những yếu tố hay đượcxem xét trong các nghiên cứu trước là các đặc điểm trong quản trị doanhnghiệp như hội đồng quản trị, quy mô hội đồng quản trị, thành phần hội đồngquản trị, thành phần ban kiểm toán và cơ cấu sở hữu Trong khi các thuộc tínhcông ty được sử dụng nhiều ở các nghiên cứu trước là quy mô công ty, lợinhuận, tính thanh khoản, đòn bẩy nợ, chất lượng công ty kiểm toán, tình trạngniêm yết, tuổi công ty Có thể kể đến các nghiên cứu của Gray và cộng sự(1995), Ho và Wong (2001), Chau và Gray (2002), Eng và Mak (2003),Barako và cộng sự (2006), Yuen và cộng sự (2009), Rouf (2010) [25], [30],[16], [20], [10], [49], [39] Luận văn sẽ trình cụ thể từng nghiên cứu của họ đểgiúp hiểu bản chất, phương pháp và kết quả của nghiên cứu này
Trang 13Nghiên cứu của Gray và cộng sự (1995): Nghiên cứu này đã phân tích
các yếu tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin tự nguyện của các công ty ở
Mỹ, Anh và châu Âu [25] Họ đã sử dụng một bảng điểm để đo lường số điểmmức độ công bố thông tin tự nguyện Các mục thông tin trong bảng điểmđược chia thành chiến lược, thuyết minh tài chính và phi tài chính Các yếu tốđược kiểm tra bao gồm quy mô công ty, quốc gia/khu vực, tình trạng niêmyết, ngành, đòn bẩy tài chính, đa dạng hóa kinh doanh và lợi nhuận Nghiêncứu này đã không kiểm tra các yếu tố về cơ cấu sở hữu
Kết quả phân tích hồi quy đã cho thấy rằng quy mô công ty và quốc gia/khu vực là những yếu tố quan trọng nhất giải thích mức độ công khai thôngtin Đòn bẩy cho một mối quan hệ ngược chiều đáng kể đối với mức độ công
bố thông tin đã được quan sát trong khi đó ít có bằng chứng cho thấy lợinhuận có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
Nghiên cứu của Ho và Wong (2001): Nghiên cứu này bàn về mối quan
hệ giữa quản trị doanh nghiệp và mức độ công bố thông tin tự nguyện của cáccông ty niêm yết tại Hồng Kông [30] Các biến trong nghiên cứu bao gồmgiám đốc điều hành độc lập, sự tồn tại của một ủy ban kiểm toán, sự tồn tạicủa các nhân chi phối và tỷ lệ phần trăm của các thành viên gia đình trong hộiđồng quản trị
Kết quả nghiên cứu tìm thấy rằng tỷ lệ phần trăm của các thành viên giađình trong hội động quản trị là biến quan trọng nhất ảnh hưởng đến mức độcông bố thông tin tự nguyện Hơn nữa, kết quả cũng cho thấy sự tồn tại củamột ủy ban kiểm toán tự nguyện là tích cực đối với mức độ công bố tựnguyện Hai biến khác, thành viên hội đồng quản trị độc lập và cá nhân chiphối không có mối liên hệ đáng kể với mức độ công bố tự nguyện
Nghiên cứu của Chau và Gray (2002): Nghiên cứu này đã phân tích
mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và công bố tự nguyện của công ty tại Hồng
Trang 14Kông và Singapore [16] Mẫu của họ đã được lựa chọn gồm 60 công ty trongngành công nghiệp, trong đó báo cáo thường niên năm 2007 là nguồn dữ liệuchính Nghiên cứu đã sử dụng một bảng điểm đo lường mức độ công khai để
đo lường số điểm công bố thông tin tự nguyện Cơ cấu sở hữu được đo bằng
tỷ lệ cổ phần thuộc sở hữu của bên ngoài
Kết quả cho thấy có sự ủng hộ cho giả thuyết tỷ lệ sở hữu bên ngoàicông ty lớn hơn làm cho công bố thông tin tự nguyện cao hơn Hơn nữa,nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có một mối quan hệ ngược chiều giữa quyền sởhữu hoặc quyền sở hữu gia đình tập trung và các công bố thông tin tự nguyện
Nghiên cứu của Eng và Mak (2003): Nghiên cứu đã kiểm tra mối quan
hệ giữa quản trị doanh nghiệp và các công bố thông tin tự nguyện tạiSingapore [20] Họ đã sử dụng một mẫu của 158 công ty niêm yết vào cuốinăm 1995 Các tác giả đã phát triển một bảng điểm công bố thông tin để đánhgiá mức độ công bố thông tin tự nguyện Các yếu tố sử dụng trong nghiên cứunày bao gồm thành phần hội động quản trị và cơ cấu sở hữu Đối với cơ cấu
sở hữu họ sử dụng các yếu tố sở hữu cổ đông lớn, quyền sở hữu của ban điềuhành, quyền sở hữu của nhà nước Kết quả cho thấy rằng quyền sở hữu củanhà quản lý thấp hơn làm tăng mức độ công bố thông tin tự nguyện Hơn nữa,
họ không tìm thấy liên hệ giữa quyền sở hữu của cổ đông lớn và mức độ công
bố thông tin tự nguyện Liên quan đến quyền sở hữu của chính phủ nghiêncứu cho thấy rằng quyền sở hữu của chính phủ nhiều hơn dẫn đến công bốthông tin tự nguyện cao hơn
Nghiên cứu của Barako và công sự (2006): Nghiên cứu này phân tích
các yếu tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin tự nguyện của các công tyKenya [10] Các yếu tố được sử dụng trong nghiên cứu của họ là sự xuất hiệncủa ủy ban kiểm toán, thành phần hội đồng quản trị, sở hữu nước ngoài, sởhữu tổ chức, sự tập trung cổ đông, quy mô doanh nghiệp, công ty kiểm toán
Trang 15độc lập, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, ngành và tỷ lệ đòn bẩy Mẫucủa họ bao gồm 54 công ty niêm yết trên NSE Kết quả cho thấy rằng sự hiệndiện của một ủy ban kiểm toán liên quan tích cực đến mức độ công bố thôngtin tự nguyện Nghiên cứu này được thực hiện qua nhiều năm và trong nhữngnăm đầu có một mối quan hệ ngược chiều giữa các thành phần hội đồng quảntrị và số lượng công bố thông tin tự nguyện trong khi trong những năm saunày là một mối quan hệ cùng chiều Ngoài ra, sở hữu nước ngoài, tổ chức sởhữu, quy mô doanh nghiệp và đòn bẩy cũng có một mối quan hệ cùng chiềuđáng kể với mức độ công bố tự nguyện Tập trung sở hữu cổ đông cho thấymột mối quan hệ ngược chiều với mức độ công bố thông tin.
Nghiên cứu của Yuen và cộng sự (2009): Nghiên cứu này xem xét tác
động của sở hữu, cơ chế quản trị doanh nghiệp, và đặc điểm công ty với việccông bố tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoánThượng Hải [49] Các tính năng cơ cấu sở hữu và cơ chế quản trị doanhnghiệp bao gồm: (1) mức độ sở hữu tập trung, (2) sở hữu của các tổ chức nhànước; (3) quyền sở hữu cá nhân, (4) giám đốc điều hành kiêm chủ tịch hộiđồng quản trị, (5) hội đồng quản trị độc lập, và (6) sự tồn tại của ủy ban kiểmtoán Các đặc tính công ty gồm (1) quy mô doanh nghiệp, (2) đòn bẩy, (3) lợinhuận, và (4) ngành Nghiên cứu này sử dụng một bảng chỉ số để đo lườngmức độ công bố tự nguyện Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng quyền sởhữu cá nhân, sự tồn tại của một ủy ban kiểm toán, quy mô doanh nghiệp, vàđòn bẫy tài chính, bao gồm cả tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập cóliên quan đáng kể đến mức công bố thông tin Nghiên cứu này cung cấp bằngchứng thực nghiệm cho các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc và cơquan quản lý để cải thiện các cơ chế quản trị doanh nghiệp và minh bạch củacác công ty niêm yết được nghiên cứu
Trang 16Nghiên cứu của Akhtaruddin và cộng sự (2009): Nghiên cứu này điều
tra mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và mức độ công bố tự nguyện củacác doanh nghiệp niêm yết tại Malaysia [6] Các yếu tố quản trị được kiểm trabao gồm số lượng thành viên hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên hội đồngquản trị độc lập, sở hữu cổ phần bên ngoài, kiểm soát gia đình, và tỷ lệ phầntrăm của các thành viên ủy ban kiểm toán trên tổng số thành viên hội đồngquản trị Kết quả nghiên cứu cho thấy một mối liên hệ thuận giữa số lượngthành viên hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập vàcông bố thông tin tự nguyện Tuy nhiên, kiểm soát gia đình có tác động ngượcchiều đến công bố thông tin tự nguyện tại Malaysia, trong khi đó tỷ lệ của cácthành viên ủy ban kiểm toán trên tổng số thành viên hội đồng quản trị khôngliên quan đến mức độ công bố thông tin
Nghiên cứu của Rouf (2010): Nghiên cứu này tác giả muốn kiểm tra
các mối quan hệ giữa "đặc điểm của công ty", "thuộc tính quản trị" và "mức
độ công bố thông tin tự nguyện" ở Bangladesh [39] Bài nghiên cứu này dựatrên một mẫu gồm 120 công ty phi tài chính niêm yết tại sàn giao dịch chứngkhoán DSE trong năm 2007 Nghiên cứu sử dụng phương pháp OLS để kiểmtra các mối quan hệ giữa các biến giải thích và công bố thông tin Kết quảthực nghiệm cho thấy một mối liên hệ thuận giữa số lượng thành viên hộiđồng quản trị, cơ cấu hội đồng quản trị và Ủy ban ban kiểm toán với công bố
tự nguyện Ngược lại, mức độ công bố thông tin tự nguyện có liên quanngược chiều đối với việc kiêm nhiệm Chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giámđốc, cơ cấu sở hữu và lợi nhuận ròng
- Các nghiên cứu tại Việt Nam
Việc nghiên cứu các chủ đề liên quan đến công bố thông tin được thựchiện tại các quốc gia trên thế giới sớm hơn so với Việt Nam, tuy nhiên, trong
Trang 17thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đã quan tâm nhiềuhơn và đã có những nghiên cứu liên quan đến chủ đề này.
Nghiên cứu của Kelly Vu (2012): “Determinants of Voluntary
Disclosure for Vietnamese Listed Firms” Nghiên cứu này xem xét các yếu tố
tác động đến mức độ công bố thông tin của 252 doanh nghiệp niêm yết trênsàn chứng khoán Việt Nam trong năm 2009 [34] Nghiên cứu này sử dụngbảng điểm gồm 84 mục và không có trọng số để xác mức độ công bố thôngtin các doanh nghiệp tại Việt Nam Tác giả đã sử dụng phân tích hồi quy hỗtrợ cho việc giải thích nghiên cứu về thực tế công bố thông tin tự nguyện tạiViệt Nam Các bằng chứng cho thấy công bố thông tin tự nguyện của doanhnghiệp bị ảnh hưởng tích cực bởi sức mạnh của quản trị doanh nghiệp (tỷ lệthành viên hội đồng quản trị độc lập) Sở hữu nhà nước cao là một đặc thù củacác công ty niêm yết Việt Nam, có liên quan đáng kể và ngược chiều với mức
độ công bố thông tin Trong khi một tỷ lệ cao hơn về quyền sở hữu của banđiều hành làm giảm mức độ công bố thông tin tự nguyện, sở hữu nước ngoàikhông ảnh hưởng đến công bố thông tin Quy mô doanh nghiệp, lợi nhuận,ngành, yếu tố về công ty kiểm toán, thời gian niêm yết và nơi niêm yết lànhững thuộc tính quan trọng liên quan đến việc công bố tự nguyện trong cácbáo cáo thường niên tại Việt Nam
Bằng chứng từ nghiên cứu này cho thấy rằng quản trị doanh nghiệp cóthể như là một cơ chế giám sát hiệu quả để nâng cao mức độ công bố thôngtin tại Việt Nam Phát hiện này khuyến nghị các nhà ban hành chính sách ViệtNam cần áp dụng mạnh hơn cơ chế quản trị doanh nghiệp để nâng cao mức
độ minh bạch thông tin Ảnh hưởng ngược chiều của sở hữu nhà nước đếnmức độ công bố tự nguyện tại Việt Nam cung cấp những lý luận có giá trị vàocác kế hoạch cổ phần hóa trong tương lai của các doanh nghiệp nhà nước.Hơn nữa, mối quan hệ ngược chiều giữa quyền sở hữu quản lý và thực thi
Trang 18công bố thông tin tự nguyện cho thấy các vấn đề về quyền sở hữu quản lý,đặc biệt trong một thị trường mới nổi như Việt Nam.
Nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2012) nghiên cứu về “Mối quan
hệ giữa cơ chế quản trị công ty và công bố thông tin trong báo cáo thường niên: nghiên cứu tại thị trường Việt Nam” [4] Số mẫu thực nghiệm gồm 101
công ty niêm yết bao gồm 46 công ty niêm yết trên HOSE và 55 công ty niêmyết trên HNX được thu thập Điểm số công bố thông tin trong bài nghiên cứunày được khảo sát từ 24 mục trong thông tư 52/2012/TT-BTC về thông tincần có trong báo cáo thường niên tại Việt Nam Kết quả chỉ ra rằng, các biếnđại diện cho cơ chế quản trị công ty như: số lượng thành viên hội đồng quảntrị, tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập không điều hành, sở hữu vốn củacác tổ chức có mối tương quan thuận và có ý nghĩa thống kê với biến mức độcông bố thông tin Tuy nhiên, sự bất kiêm nhiệm giữa Tổng giám đốc và chủtịch hội đồng quản trị có mối tương quan nghịch với mức độ công bố thôngtin Các biến độc lập trong mô hình giải thích được 26,7% biến phụ thuộc
Nghiên cứu mới nhất về vấn đề này là nghiên cứu của Hiếu và Lan
(2015): "Factors Influencing the Voluntary Disclosure of Vietnamese Listed
Companies" Bài nghiên cứu này nhằm mục đích để đánh giá các yếu tố ảnh
hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện bằng cách kiểm tra các báocáo hàng năm của 205 công ty công nghiệp và sản xuất niêm yết trên SGDCKThành phố Hồ Chí Minh (HSX) và Sở GDCK Hà Nội (HNX) cho năm 2012[37] Những yếu tố ảnh hưởng bao gồm quy mô công ty, lợi nhuận, đòn bẩy,quyền sở hữu nhà nước, quyền sở hữu ban điều hành, sở hữu nước ngoài,thành viên hội đồng quản trị độc lập, chủ tịch hội đồng quản trị kiêm tổnggiám đốc và công ty kiểm toán Bài viết đánh giá mức độ công bố thông tindựa trên một bảng gồm 42 câu và được chia làm 4 nhóm chính Bằng chứng
từ nghiên cứu này cho thấy hai phát hiện chính: (1) Các công ty có sở hữu
Trang 19nước ngoài cao có mức độ công bố thông tin tự nguyện tốt hơn; (2) Quy môcông ty là một yếu tố quan trọng liên quan đến sự gia tăng mức độ công bốthông tin tự nguyện trong các báo cáo hàng năm của các công ty niêm yếtViệt Nam Tuy nhiên, các yếu tố còn lại không có tác động đên mức độ công
bố thông tin như đưa ra trong giả thuyết trong nghiên cứu
Kết quả của các nghiên cứu về công bố thông tin trên thế giới và tại ViệtNam được tác giả thể hiện tóm tắt trong bảng phụ lục A
- Kết luận tổng quan tài liệu nghiên cứu:
Qua việc tổng quan các nghiên cứu được thực hiện trên thế giới và tạiViệt Nam có liên quan đến công bố thông tin, có thể thấy rằng, công bố thôngtin và các nhân tố ảnh hưởng là một trong những chủ đề được đặc biệt quantâm Hầu hết các nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng tiếp cậntheo quy trình từ các nghiên cứu trước, lý thuyết nền tảng và đặc điểm kinh tế
xã hội ở mỗi quốc gia để xây dựng mô hình và kiểm định mô hình Tuy nhiêncác nghiên cứu vẫn còn chưa thống nhất về các nhân tố ảnh hưởng đến công
bố thông tin, có thể do xuất phát về đo lường hoặc do chọn mẫu Hơn nữa hầuhết các nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu mức độ công bố thông tin cho cácdoanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thuộc tất cả cácnhóm ngành nghề, có rất ít các nghiên cứu liên quan đến công bố thông tinriêng cho một nhóm ngành cụ thể, ví dụ như nhóm ngành vận tải Vì vậy, tấtyếu cần phải có các nghiên cứu về chủ đề này cho từng nhóm ngành cụ thể đểcác cơ quan quản lý nhà nước có thể có những chính sách, quy định chặt chẽhơn, phù hợp hơn với thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 20CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ
THÔNG TIN1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
1.1.1 Khái niệm về công bố thông tin
Công bố thông tin là quá trình cung cấp thông tin liên quan đến tình hìnhtài chính, vị thế cạnh tranh, triển vọng phát triển và các thông tin phi tài chínhcủa công ty, quan trọng là các khoản mục bằng tiền cho các bên có quan tâm
và có lợi ích liên quan đến công ty (Owusu-Ansah, 1998) [36]
Trong hoạt động của thị trường chứng khoán các nhà đầu tư yêu cầuthông tin phải kịp thời và chính xác để đưa ra quyết định đầu tư hiệu quả.Thông tin có thể được thu thập qua nhiều cách khác nhau và một trong nhữngnguồn quan trọng nhất là từ các công bố thông tin của công ty Vai trò quantrọng nhất của công bố thông tin là cung cấp thông tin tài chính liên quan, hữuích và đáng tin cậy cho các nhà đầu tư, cổ đông và những người quan tâmkhác về tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động công ty Đồng thời cung cấpnhững thông tin về triển vọng trong tương lai của công ty để giúp các nhà đầu
tư trong việc ra quyết định Có bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng việccông bố thông tin tăng làm giảm chi phí vốn của một công ty bằng cách giảmthông tin bất cân xứng (Botosan, 1997) [12] Như vậy, công bố thông tin tự
nó là một công cụ chiến lược giúp tăng cường khả năng của một công ty đểhuy động vốn với chi phí thấp nhất có thể Các thông tin được cung cấp bởicác công ty bao gồm hai loại: công bố thông tin bắt buộc và công bố thông tin
tự nguyện
- Công bố thông tin bắt buộc:
Trang 21Là việc công bố những thông tin cơ bản theo quy định của pháp luật mà
cụ thể là các quy định công bố thông tin theo luật doanh nghiệp, luật chứngkhoán 2005 (đã có sửa đổi và bổ sung), thông tư 155/2015/TT-BTC về công
bố thông tin Theo Simon (2001) công bố thông tin bắt buộc là các quy tắccho phép truy cập những thông tin cơ bản [40] Hay công bố thông tin bắtbuộc là các thông tin mà các doanh nghiệp nhất thiết phải công bố theo quychuẩn, nội dung và thời gian bắt buộc do luật quy định (Durukan, 2003) [19].Hiện tại theo quy định của thông tư 155/2015/TT-BTC việc công bố thông tinđược phân chia làm 3 loại gồm: công bố thông tin định kỳ, công bố thông tinbất thường, công bố thông tin theo yêu cầu
Công bố thông tin định kỳ: Công bố thông tin định kỳ gồm những báo
cáo: báo cáo tài chính quý, bán niên, năm, đối với công ty là công ty mẹ công ty con hoặc công ty có kế toán phụ thuộc phải có cả báo cáo tài chínhriêng và báo cáo tài chính hợp nhất Ngoài ra, công bố thông tin định kỳ còn
-có báo cáo thường niên và báo cáo quản trị Thông tư 155 còn quy định cụ thểnội dung, thời hạn và cách thức công bố thông tin
Công bố thông tin bất thường: Cũng theo quy định của thông tư 155
những sự kiện, thông tin xảy ra ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinhdoanh, cổ đông của công ty thì phải công bố thông tin trong thời hạn quy địnhcủa thông tư này Một số sự kiện phải công bố thông tin bất thường như: tàikhoản công ty bị phong tỏa, nghị quyết/quyết định của Đại hội đồng cổ đông,các nghị quyết quan trọng của Hội đồng quản trị, thay đổi nhân sự chủ chốt,
sự kiện ảnh hưởng lớn đến họat động sản xuất kinh doanh…
Công bố thông tin theo yêu cầu: Công ty phải công bố thông tin trong
vòng 24h khi có yêu cầu của Ủy ban chứng khoán nhà nước khi xảy ra các sựkiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của cổ đông, giá chứng khoán Cáchthức và nội dung công bố thông tin cũng được quy định rõ trong thông tư 155
Trang 23Âu, Châu Mỹ thì đây là thuật ngữ phổ biến Như FASB (FinancialAccounting Standard Board in US) đã định nghĩa công bố thông tin tự nguyện
là các thông tin được công bố ngoại trừ những báo cáo tài chính đã công bốtheo yêu cầu Gray và cộng sự (1995) xác định công bố thông tin tự nguyệnnhư là những công bố được thực hiện vượt quá những yêu cầu thông tin cơbản Công bố thông tin tự nguyện như là công cụ giảm bớt thông tin bất cânxứng giữa lãnh đạo công ty và nhà đầu tư Công bố thông tin tự nguyệnthường xuyên được chia thành ba loại thông tin: chiến lược, tài chính và phitài chính Nghiên cứu đầu tiên về ba loại thông tin này là của Gray và cộng sự(1995) Chiến lược và thông tin tài chính thường liên quan đến nhà đầu tư vàcác nhà sản xuất Trong khi đó thông tin phi tài chính tập trung nhiều hơn vềtrách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp, bên cạnh việc thông tin cho cácnhà đầu tư, cũng liên quan đến công chúng nói chung Có nhiều phương thứckhác nhau để cung cấp thông tin tự nguyện, thông qua các báo cáo thườngniên, nửa năm, hàng quý, báo cáo quan hệ nhà đầu tư, báo cáo phát triển bềnvững, chú thích, phỏng vấn, thông cáo báo chí và những cách thức khác [25]
1.1.2 Tầm quan trọng của việc công bố thông tin
Verrecchia (1983) lập luận rằng quyết định của người quản lý tiết lộhoặc che giấu thông tin phụ thuộc vào sự cân bằng giữa chi phí và lợi ích củaviệc cung cấp thông tin [45] Chi phí liên quan công bố tự nguyện, bao gồmchi phí thu thập, lưu trữ, kiểm toán và chi phí cạnh tranh bất lợi Trong đó, chiphí cạnh tranh bất lợi là đến từ các thông tin như các chiến lược và đổi mớicông nghệ, quản lý về hoạt động của một công ty Như công bố thông tin liênquan đến kế hoạch phát triển sản phẩm trong tương lai của công ty với công
Trang 24chúng thì dễ xảy ra một nguy cơ cạnh tranh tiềm tàng cho chính công ty đãcông bố thông tin Đó chính là đối thủ cạnh tranh có thể sử dụng công bốthông tin của công ty để phát triển một sản phẩm tương tự hoặc cập nhật sảnphẩm, kết quả là gây bất lợi trong cạnh tranh với công ty.
Tuy nhiên, có nhiều ích lợi trong việc công bố thông tin của các công tynhư khuyến khích các giao dịch thị trường vốn Khi quản lý một công ty dựkiến giao dịch thị trường vốn trong tương lai gần, một số công bố thông tin tựnguyện được sử dụng để làm giảm sự bất đối xứng thông tin giữa công ty vànhà đầu tư Lý do việc nhà quản lý làm như vậy là nó có thể làm giảm chi phítài chính bên ngoài Nhiều nghiên cứu cũng tìm thấy bằng chứng thực nghiệmcho lý thuyết này Botosan (2000) kết luận rằng kết quả công bố thông tinnhiều hơn thì có chi phí vốn thấp hơn [13]
Nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng tăng công bố tự nguyện có thể cải thiệntính thanh khoản thị trường vốn bằng cách giảm chi phí giao dịch và do đólàm tăng nhu cầu đối với cổ phiếu của một công ty Nhu cầu cao hơn đối với
cổ phiếu dẫn đến giá cổ phiếu cao hơn, dẫn đến chi phí thấp hơn vốn(Verrecchia, 1983) [45] Trong một nghiên cứu về công bố tự nguyện vàthanh khoản thị trường trong thị trường mới nổi ở Jordan, Cormier (1999)thấy rằng tăng cường công bố thông tin tự nguyện giúp giảm thiểu khoảngcách giữa lệnh đặt mua – lệnh đặt bán trong các hoạt động giao dịch cổ phiếu,làm giảm chi phí vốn và do đó cải thiện tính thanh khoản của thị trường [18] Hiệu quả của việc công bố thông tin tốt là làm giảm chi phí nợ cũngđược xem xét trong nghiên cứu trước đây Bằng chứng thực nghiệm từBotosan (2000) nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ lãi suất thấp có liên quan vớimức độ cao hơn trong công bố thông tin [13] Điều này là do khi các vấn đềthông tin bất đối xứng tồn tại, chủ nợ có thể cho rằng các công ty đang chegiấu thông tin, có thể dẫn đến sự gia tăng trong chi phí đi vay vì chủ nợ phải
Trang 25tự bảo vệ mình từ các thông tin không đầy đủ nhận được từ các công ty Điều
đó cũng có nghĩa là khi một công ty công bố thêm thông tin tự nguyện giúpchủ nợ tiết kiệm chi phí tìm kiếm thông tin và giúp làm giảm chi phí đi vay.Mức độ công bố thông tin tự nguyện có thể làm giảm sự không chắcchắn xung quanh một công ty cụ thể và cho phép nhà đầu tư hoặc các nhà đầu
tư tiềm năng có được dự báo chính xác hơn từ đó, cổ phiếu chịu ít biến động
và giá trị của chúng được xác định chính xác hơn (Healy và Palepu , 2001)[28] Các nghiên cứu trước đây cũng tìm thấy rằng mức độ công bố thông tintốt có một tác động tích cực trở lại cổ phiếu của một công ty Barako (2004)cho rằng việc công bố thông tin tự nguyện phi tài chính có thể nâng cao giá trị
cổ phiếu của một công ty cũng như uy tín xã hội [9]
Công bố thông tin là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc phân
bổ hiệu quả các nguồn lực của xã hội và giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tingiữa doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanhnghiệp, (Adina, 2008) [5] Thật vậy, một số các vấn đề liên quan đến thôngtin và động cơ công bố thông tin đã cản trở việc phân bổ nguồn lực tối ưutrong thị trường vốn Đó chính là các vấn đề như vấn đề bất đối xứng thôngtin, vấn đề đại diện, Vấn đề bất đối xứng thông tin nảy sinh từ sự khác biệt
về mức độ và nội dung thông tin, từ sự khác biệt về động cơ giữa chủ doanhnghiệp, nhà quản trị doanh nghiệp với các nhà đầu tư Thông tin bất đối xứngtạo ra những kỳ vọng về giá khác nhau đối với mỗi chủ thể trên thị trường dẫnđến sự khác nhau về mặt hiệu quả kinh tế và thường là thiệt hại cho các nhàđầu tư có những thông tin không đầy đủ hay những thông tin thiếu chính xác,thậm chí còn gây ra các hành vi tiêu cực như đầu cơ, giao dịch nội gián, tungtin đồn thất thiệt, làm cho thị trường kém hiệu quả, dễ chao đảo, hoạt độngđầu tư của các nhà đầu tư cũng dễ rủi ro hơn, Còn vấn đề đại diện phátsinh khi các cổ đông của doanh nghiệp, tức là những nhà đầu tư đã đầu tư vốn
Trang 26vào doanh nghiệp, bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý doanh
nghiệp (người đại diện - agents), để thực hiện việc quản lý doanh nghiệp cho
họ, trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tàisản của doanh nghiệp Nếu cả cổ đông và người quản lý doanh nghiệp đềumuốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì chắc chắn rằng người quản lý doanhnghiệp sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tứccác cổ đông và doanh nghiệp, mà trái lại họ luôn có xu hướng tìm kiếm lợi íchcá nhân (lý thuyết đại diện) Và một trong số những giải pháp làm giảm cácvấn đề nêu trên là việc thúc đẩy công bố thông tin doanh nghiệp trên thịtrường chứng khoán
Nhìn chung, tăng cường công bố thông tin cho phép các công ty dễ dànghuy động vốn bên ngoài thông qua một chi phí vốn giảm và chi phí nợ giảm,đồng thời nâng cao giá trị của công ty và cải thiện thanh khoản thị trường,đóng góp vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế của một quốc gia
1.1.3 Yêu cầu về công bố thông tin
Yêu cầu công bố thông tin đối với các doanh nghiệp niêm yết
Thông tư số 155/2015/TT-BTC của Bộ Tài Chính hướng dẫn về việccông bố thông tin trên thị trường chứng khoán có các quy định điều về yêucầu thực hiện công bố thông tin như sau:
- Việc công bố thông tin phải đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy địnhpháp luật;
- Đối tượng công bố thông tin phải chịu trách nhiệm về nội dung thôngtin công bố Trường hợp có sự thay đổi nội dung thông tin đã công bố, đốitượng công bố thông tin phải công bố nội dung thay đổi và lý do thay đổi sovới thông tin đã công bố trước đó;
- Trường hợp có sự kiện, thông tin làm ảnh hưởng đến giá chứng khoán,đối tượng công bố thông tin phải xác nhận hoặc đính chính về sự kiện, thông
Trang 27tin đó trong vòng 24 giờ, kể từ khi nhận biết được về sự kiện, thông tin đóhoặc theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứngkhoán;
-Việc công bố thông tin phải do người đại diện theo pháp luật của công
ty hoặc người được uỷ quyền công bố thông tin thực hiện Người đại diệntheo pháp luật của công ty phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, kịp thời
và đầy đủ về thông tin do người được uỷ quyền công bố thông tin công bố;-Việc công bố thông tin phải được thực hiện đồng thời với việc báo cáoUBCKNN, Sở GDCK về nội dung thông tin công bố
Các tiêu chí đánh giá chất lượng công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
- Độ tin cậy của thông tin được công bố
Mức độ tin cậy của các thông tin được biểu hiện qua các khía cạnh nhưsau: Độ rõ ràng của các thông tin được công bố, thông tin được công bố bởicác chủ thể có thẩm quyền, các thông tin đó có thể dễ dàng tìm kiếm và đượckiểm chứng khi cần thiết, các thông tin sai sót (nếu có) có thể dễ dàng đượcđính chính, sửa chữa
- Tính khách quan của thông tin được công bố
Tính khách quan của thông tin được hiểu là, các thông tin được công bốphải phục vụ cho sự phát triển của công ty, vì quyền lợi của cổ đông Tínhkhách quan của thông tin được công bố phải phản ánh trung thực tình hìnhhoạt động tại thời điểm công bố, công ty không được che giấu những thôngtin gây bất lợi cho nhà đầu tư
- Thông tin công bố phải đa dạng và dễ dàng truy cập, tiếp cận bình
đẳng đối với mọi chủ thể
Khi công bố thông tin các chủ thể có nghĩa vụ công bố thông tin phảibảo đảm những thông tin đó phản ánh trung thực tình hình hoạt động của
Trang 28công ty, đồng thời cũng phải bảo đảm khi nhà đầu tư hay cơ quan quản lý nhànước cần tra cứu hay kiểm chứng thông tin thi có thể tìm kiếm trên trangthông tin điện tử của công ty, quyền bình đẳng trong tiếp cận thông tin của cổđông phải tuyệt đối được tôn trọng
- Thông tin công bố phải kịp thời
Tính kịp thời của thông tin có ý nghĩa rất quan trọng Tính kịp thời củathông tin được hiểu là thông qua kênh thông tin, diễn biến hoạt động của công
ty được phản ánh đầy đủ, thông tin thường xuyên được cập nhất, tìm kiếm.Khi có những dấu hiệu bất lợi cho công ty thì phải thông báo kịp thời để cổđông biết và tìm cách tháo gỡ những khó khăn Nếu tiêu chí này được bảođảm sẽ hạn chế được tình trạng cố tình che giấu hoặc không cung cấp thôngtin và hạn chế được tình trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường chứngkhoán
1.1.4 Báo cáo thường niên – kênh công bố thông tin quan trọng
Có một số lượng lớn nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việccông bố thông tin thông qua báo cáo thường niên cho tính toán và đầu tư Báocáo thường niên thường được coi như là một phương tiện quan trọng giải trìnhnhững sự việc của công ty trong năm và nó là một trong những phương tiệngiúp công ty có thể nâng cao nhận thức của cổ đông và các bên liên quan vềtrách nhiệm của công ty Botosan (1997) cho rằng mặc dù các báo cáo thườngniên không phải là phương tiện công bố thông tin duy nhất của công ty nhưng
là một biểu hiện tốt nhất cho mức độ công bố thông tin tự nguyện cung cấpbởi các công ty [12] Flack và Douglas (2007) cho rằng hoạt động công bốthông tin báo cáo thường niên là hoạt động nhằm nâng cao nhận thức về tráchnhiệm giữa các bên liên quan và cộng đồng rộng lớn hơn [23] Ngoài ra, công
bố thông tin trong báo cáo thường niên là một công cụ chiến lược, có thể tăngcường khả năng của công ty trong việc huy động vốn với chi phí thấp nhất có
Trang 29thể (Healy và Palepu, 1993) [28] Báo cáo thường niên được sử dụng như mộtphương tiện để giao tiếp thông tin doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượngcho các cổ đông, các nhà đầu tư và người sử dụng khác (Al-Shammari, 2008)[7] Tầm quan trọng của báo cáo thường niên cũng đã được đưa ra trong cácnghiên cứu trước ở các thị trường vốn mới nổi Hassan và Christopher (1999)cho rằng các nhà phân tích đầu tư tại Malaysia xem các báo cáo thường niên
là nguồn thông tin quan trọng nhất để ra quyết định đầu tư [27] Ho và Wong(2001) thấy rằng các nhà phân tích đầu tư tại Hồng Kông xem xét các báo cáothường niên như là nguồn thông tin quan trọng nhất của công ty [30] Trongkhi đó, báo cáo thường niên được coi là một tài liệu quan trọng của cán bộ tíndụng ngân hàng trong nước mới nổi như Kenya (Barako 2004) [9]
Báo cáo thường niên của các công ty niêm yết là một yếu tố quan trọngtrong quá trình công bố thông tin (Todd và Sherman, 1991) [44] Hơn nữa,mức độ công bố thông tin trong các báo cáo thường niên là có mối tươngquan dương đến việc việc công bố các thông tin hàng quý và các loại công bốthông tin khác (Gray và cộng sự, 1995) [25] Ngoài ra, ở Việt Nam báo cáothường niên còn tập hợp các báo cáo có mức độ uy tín cao của doanh nghiệpnhư Thư ngỏ chủ tịch hội đồng quản trị, Báo cáo tài chính được kiểm toán,Báo cáo hoạt động của tổng giám đốc, hội đồng quản trị Vì vậy, có thể nóirằng mức độ công bố thông tin được thực hiện trong các báo cáo thường niênphản ánh thái độ của công ty đối với việc công bố thông tin cho nhà đầu tưbên ngoài
Bài viết này cũng sẽ sử dụng báo cáo thường niên như là nguồn thu thậpthông tin chủ yếu để đo lường mức độ công bố thông tin của các doanhnghiệp
Trang 301.2 ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN
1.2.1 Phương pháp đo lường mức độ công bố thông tin
Theo Wallace và Naser (1995) công bố thông tin là một khái niệm trừutượng mà khó để đo lường trực tiếp [46] Nó không có đặc trưng vốn có để cóthể xác định cường độ hoặc chất lượng của nó Mức độ công bố thông tin ởđây cũng không đồng nghĩa với việc chỉ công bố thông tin đầy đủ, nghĩa là đolường “mức độ” phải là thể hiện như là một thước đo về chất lượng tổng thểtrong các báo cáo thường niên Vì vậy đo lường mức độ công bố thông tin làmột vấn đề khó khăn vì phải lượng hóa những yếu tố trừu tượng thành mộtthước đo thống kê đo lường mức độ công bố thông tin thể hiện được cácthuộc tính của thông tin (1) thể hiện độ tin cậy của thông tin (2) tính kháchquan của thông tin (3) tính kịp thời của thông tin (4) tính toàn diện của thôngtin Nghiên cứu của Beattie và cộng sự (2004) [11] về phân tích thông tintrong báo cáo thường niên cho thấy các phương pháp chủ yếu để phân tíchthông tin như sơ đồ sau :
Trang 31Sơ đồ 1.1: Phương pháp phân tích thông tin trên báo cáo thường niên
(Nguồn: Beattie và cộng sự, 2004)
Hiện nay phương pháp tiếp cận bán khách quan được sử dụng nhiềunhất, phương pháp này sử dụng số lượng công bố thông tin như một đại diệncho chất lượng công bố thông tin (Beattie và cộng sự, 2004) [11] Cách tiếpcận bán khách quan được chia thành phân tích văn bản và phân tích chỉ số Phân tích văn bản là việc phân tích toàn bộ văn bản, điều này có thể chiathành các hình thức phân tích nội dung chuyên đề, nghiên cứu khả năng đọc
và phân tích ngôn ngữ Phân tích nội dung chuyên đề nhìn vào đó chủ đềđược nêu trong các văn bản, điều này có thể là trong toàn bộ văn bản hoặctrong một phần nhất định Nghiên cứu khả năng đọc đánh giá những khó khăncủa văn bản mà thường được thực hiện bằng cách sử dụng một công thức dễ
Đo lường không
có trọng số
Đo lường không
có trọng số
Phân tích nội dung chuyên đề
Phân tích ngôn ngữ
Nghiên cứu khả năng đọc
Đo lường có trọng số
Trang 32đọc (Beattie và cộng sự, 2004) [11] Các điểm thu được sau đó được so sánhvới một bộ tiêu chuẩn để xác định mức độ khó hoặc dễ đọc Phân tích ngônngữ còn được gọi là một phương pháp tập trung vào các điểm tường thuật Cóhai hạn chế chính liên quan đến phân tích văn bản theo Beattie và cộng sự(2004) là phân tích một chiều, như tập trung chủ yếu vào việc phân loại cácchủ đề và sự vắng mặt hay hiện diện của các thông tin về chủ đề này [11].Thứ hai, thường không phải là toàn bộ nội dung của các báo cáo thường niênđược phân tích và do đó chỉ phân tích là một phần.
Một cách tiếp cận bán khách quan khác là phân tích chỉ số Số lượngthông tin được cung cấp trong báo cáo thường niên liên quan đến một chủ đề
cụ thể được đo và sử dụng như một đại diện cho chất lượng công bố thông tin(Beattie và cộng sự , 2004) [11] Các nghiên cứu chỉ ra rằng có hai hình thứcphổ biến, đo lường không trọng số nghĩa là không có tỉ trọng điểm giữa cácmục Đo lường không trọng số là tương đối đơn giản, được sử dụng ghi lại sựtồn tại hay không tồn tại của một mục Cách tiếp cận trọng số là khi trọng sốkhác nhau (ví dụ từ 1-10) được ấn định cho các thông tin, nghĩa là các mụcthông tin càng quan trọng thì được cho điểm số nhiều hơn
1.2.2 Danh mục đánh giá mức độ công bố thông tin
Các nghiên cứu trước đây đã kiểm tra các hành vi công bố thông tin củacác công ty bằng cách sử dụng một danh sách kiểm tra công bố thông tin.Phương pháp này lần đầu tiên được sử dụng bởi Cerf (1961) trong nghiên cứucủa 527 công ty niêm yết của Mỹ trong năm 1956 và 1957 [14] Kể từ đó,nhiều nghiên cứu tính toán theo phương pháp này đã áp dụng tương tự để đolường cả về số lượng và chất lượng công bố thông tin Tuy nhiên, chưa cómột sự thống nhất về lựa chọn và đo lường các mục công bố thông tin chomỗi chỉ số Danh sách kiểm tra mức độ công bố thông tin được phát triển bởiGray và cộng sự (1995) đã được sử dụng để kiểm tra việc công bố thông tin
Trang 33tự nguyện của các doanh nghiệp ở các nước phát triển [25] Chau và Gray(2002) cũng đã sử dụng danh sách của Gray và cộng sự (1995) với một số sửađổi để kiểm tra công bố thông tin của các doanh nghiệp Hồng Kông vàSingapore [16] Một danh sách kiểm tra việc công bố thông tin đã được sửdụng như một công cụ trong rất nhiều nghiên cứu về công bố thông tin [17],[12], [20] Hầu hết các nhà nghiên cứu thực hiện những nỗ lực để tạo ra mộtdanh sách kiểm tra hợp lý trong môi trường nghiên cứu cụ thể đang được điềutra
Một số nhà nghiên cứu áp dụng một chỉ số được lập sẵn của các tổ chức
để đo lường mức độ công bố thông tin Ví dụ, Rajan và Zingales (1998) sửdụng chỉ số của (CIFAR) để đo lường mức độ công bố thông tin [38] Trongkhi, Khanna và cộng sự (2004) sử dụng các chỉ số minh bạch của Standardand Poor (S&P) [35] Tuy nhiên phương pháp này không được khách quankhi bảng điểm được xây dựng dựa trên nhận thức của các nhà phân tích tàichính Hơn nữa, các chỉ số này thường được thiết kế và phục vụ cho nhu cầucủa các tổ chức phát triển nó Vì vậy, các bảng điểm này ít có giá trị để trả lờicác câu hỏi của từng nghiên cứu cụ thể Tuy nhiên, cũng có các nhà nghiêncứu như Cooke (1989) dựa trên bộ khuyến nghị công bố thông tin củaSwedish Institute of Authorized Public Accountants and the InternationalStandards Committee để tạo ra danh sách 146 mục để kiểm tra mức độ công
bố thông tin tại Thụy Điển [17] Hay Yuen và cộng sự (2009) tham chiếu cácmục trong khuyến nghị công bố thông tin và quản trị doanh nghiệp củaOECD, Sàn chứng khoán Úc (ASX), Sàn chứng khoán Hồng Kông (HKSE)
và CSRC để tạo ra ban đầu gồm 120 mục về mức độ công bố thông tin, sau
đó sàng lọc cho phù hợp với nghiên cứu tại Trung Quốc đã đưa ra danh sáchcuối cùng gồm 51 mục [49] Tại Việt Nam nghiên cứu của Phạm Thị BíchVân (2012) sử dụng thông tư 52/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về
Trang 34Công bố thông tin để tạo ra 24 câu hỏi để đánh giá mức độ công bố thông tincủa các doanh nghiệp niêm yết trên 2 Sở giao dịch chứng khoán HOSE, HNX[4].
Một phương pháp tạo ra bảng tính điểm mức độ công bố thông tin khác
đó là tham khảo những bảng điểm được tạo ra ban đầu của các nghiên cứuđầu tiên như Cooke (1989), Gray và cộng sự (1995), Botosan (1997) sau đósửa đổi để tạo ra một chỉ số đáng tin cậy và phù hợp để đánh giá mức độ công
bố thông tin phù hợp với môi trường nghiên cứu cụ thể Cách tiếp cận này đãđược sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu sau này về vấn đề xác định mức
độ công bố thông tin Cụ thể, Hossain và cộng sự (1995) tham khảo cácnghiên cứu trước của Cooke (1989), Gray và cộng sự (1995) và những quyđịnh bắt buộc về công bố thông tin tại New Zealand để chọn lọc và cuối cùnglựa ra 95 mục trong bảng điểm đánh giá về công bố thông tin từ danh sách
110 mục ban đầu [31] Nghiên cứu của Ferguson và cộng sự (2002) đã sànglọc từ ban đầu 102 mục công bố thông tin từ danh sách tham khảo của cácnghiên cứu trước như Gray và cộng sự (1995), Hossain và cộng sự (1995) sosánh và đánh giá với yêu cầu tại Hong Kong để loại bỏ và kết quả là một danhmục gồm 93 câu hỏi để đánh giá [22] Tại Malaysia có nghiên cứu của Ho(2009) đã tích hợp nhiều nghiên cứu trước để có ban đầu 151 mục về công bốthông tin và sau quá trình sàng lọc cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu thìdanh sách điểm đánh giá công bố thông tin còn 85 mục [29] Kelly Vu (2012)khi nghiên cứu mức độ công bố thông tin tự nguyện tại Việt Nam cũng tạo radanh sách ban đầu gồm 119 mục được tích hợp từ các nghiên cứu của Gray vàcộng sự (1995), Ferguson và cộng sự (2002), Xiao và Yuan (2007), Ho(2009), Akhtaruddin và cộng sự (2009) [34] Sau đó, nghiên cứu này đã sànglọc danh mục này so với những quy định luật kế toán 2003, luật chứng khoán
2006, Quyết định 38/2007/TT – BTC để loại bỏ 35 mục là những quy định bắt
Trang 35buộc về công bố thông tin để tạo ra danh mục gồm 84 mục để đánh mức độcông bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam vàonăm 2009.
1.2.3 Trọng số trong đo lường mức độ công bố thông tin
Một số nghiên cứu đã ủng hộ cho quan điểm mỗi mục trong một danhsách kiểm tra mức độ công bố thông tin khác nhau có mức độ quan trọng khácnhau [12], [21] Trong nghiên cứu Botosan (1997) gán một điểm cho từnghạng mục giới thiệu công ty, hai điểm cho thống kê hiệu suất và các tỷ số tàichính của công ty, và ba điểm về các thông tin dự báo tương lai [12] Phươngpháp tương tự được sử dụng bởi Eng và cộng sự (2001); Eng và Mak (2003)[21], [20]
Cũng có nhiều nghiên cứu lại cho rằng không có trọng số nào cho mỗimục trong danh sách kiểm tra tiêu biểu là Cooke (1989); Gray và cộng sự(1995); Chau và Gray (2002); Akhtaruddin và cộng sự (2009); Hossain(1995) [17], [25], [15], [6], [31] Theo cách tiếp cận này cách tính điểm “1”cho công ty khi có một thông tin nào đó trong báo cáo thường niên và “0” nếukhông công bố thông tin này trên báo cáo thường niên Cách thức này đượccoi là thích hợp để áp dụng vì phương pháp không trọng số này được xem là ítchủ quan hơn Do đó việc áp dụng không trọng số đối với điểm số công bốthông tin tự nguyện tại Việt Nam có thể coi là thích hợp
1.3 LÝ THUYẾT ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN
Như nội dung đã trình bày ở phần trên, có khá nhiều công trình trên thế
giới nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin vàkết quả của các nghiên cứu này cho thấy có nhiều nhân tố ảnh hưởng đếncông bố thông tin Tuy nhiên kết quả của các nghiên cứu không giống nhau,
có nhân tố trong nghiên cứu này không tác động nhưng trong nghiên cứu kháclại có tác động, thêm vào đó cũng có trường hợp nhân tố tác động thuận chiều
Trang 36đến công bố thông tin ở nghiên cứu này nhưng lại có kết quả ngược chiều ởnghiên cứu khác Vì vậy để có cơ sở cho việc phát triển giả thuyết nghiêncứu, tác giả thực hiện phân tích các lý thuyết nền tảng có liên quan, các lýthuyết đó là lý thuyết đại diện (Agency theory), lý thuyết tín hiệu (Signallingtheory), lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary costs theory).
1.3.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory)
Lý thuyết đại diện xuất hiện từ những năm 1970 với sự phát triển vượtbậc của các công ty trên thế giới và cũng từ đó phát sinh mối quan hệ giữangười chủ và người quản lý thông qua hợp đồng đại diện Nghiên cứu này sửdụng lý thuyết được đề cập trong nghiên cứu của Jensen và Meckling (1976).Theo nghiên cứu này chủ sở hữu hay cổ đông người cung cấp vốn cho công tyhoạt động, phát triển và kỳ vọng sẽ nhận được những mức lợi tức nhất định từcông ty trong tương lai [32] Người quản lý là một dạng của lao động nhưngvới một vai trò đặc biệt đó là điều phối hoạt động của toàn công ty hướng tớimục đích của người chủ Theo lý thuyết về đại diện, quan hệ giữa các cổ đông
và người quản lý công ty được hiểu như là quan hệ đại diện – hay quan hệ ủythác Mối quan hệ này được coi như là quan hệ hợp đồng mà theo đó, các cổđông bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý công ty để thực hiện việcquản lý công ty cho họ mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để raquyết định định đoạt tài sản của công ty Lý thuyết đại diện mô hình hóa mốiquan hệ giữa người sở hữu thực sự và người đại diện Trong trường hợp mộtcông ty thì người đại diện làm việc thay mặt các cổ đông Nói cách khác, cácgiám đốc điều hành là những người được cổ đông ủy quyền đứng ra điều hànhcông ty, đem lại lợi ích cho cả hai phía Kết quả nghiên cứu Jensen vàMeckling (1976) có một số điểm chính như sau:
Thứ nhất, chủ sở hữu và người quản lý luôn có sự đối lập về mặt lợi ích.Người chủ sở hữu quan tâm đến giá trị và định hướng lâu dài của công ty
Trang 37Trong khi nhà quản trị quan tâm đến lợi ích của bản thân, thích nghỉ ngơi hơnthích làm, thích những vấn đề ít rủi ro hơn và thu nhập nhiều hơn, luôn có xuhướng tư lợi và không đủ mẫn cán và có thể tìm kiếm lợi ích cá nhân chomình hay người thân của mình chứ không phải cho công ty
Thứ hai, từ việc không đồng nhất lợi ích giữa chủ sở hữu và nhà quản lýlàm phát sinh chi phí người đại diện Jensen và Meckling (1976) cho rằng chiphí người đại diện càng lớn khi nhà quản lý sở hữu ít cổ phiếu công ty [32] Cuối cùng, một vấn đề quan trọng nảy sinh khi có sự tách rời giữa quyền
sở hữu và quyền quản lý là hiện tượng thông tin bất đối xứng giữa người đạidiện và các cổ đông Trong mối quan hệ này, người bên trong có thông tin nội
bộ rõ ràng hơn, sớm hơn Vì vậy, các cổ đông đang đối mặt với nhiều vấn đềnhư: họ không thể xác định và đánh giá một cách chính xác giá trị của cácquyết định mà nhà quản trị đưa ra Lý thuyết người đại diện có khả năng lýgiải hành động công bố hoặc không công bố thông tin của người quản lý công
ty từ đó ảnh hưởng tới mức độ công bố thông tin của công ty
Các đặc tính tự nhiên của quan hệ đại diện dẫn đến tình trạng các cổđông cần thường xuyên giám sát hoạt động của người quản lý công ty nhằmđảm bảo lợi ích của mình Lý thuyết về đại diện cho rằng cổ đông cần sửdụng cơ chế thích hợp để hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và ngườiquản lý công ty bằng cách thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho cácnhà quản trị và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vikhông minh bạch và tư lợi của người quản lý công ty
1.3.2 Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory)
Lý thuyết tín hiệu đã được hình thành vào đầu những năm 1970 và đượcdựa trên hai đóng góp nghiên cứu chính Arrow (1972) và Spence (1973) [8],[42] Lý thuyết tín hiệu xuất phát từ nguồn thông tin bất cân xứng giữa chủdoanh nghiệp và nhà đầu tư cũng như giữa các nhà đầu tư Thông tin bất cân
Trang 38xứng trên thị trường chứng khoán xảy ra khi một hoặc nhiều nhà đầu tư sởhữu được nhiều thông tin hơn các nhà đầu tư khác Đây được xem là một lý
do cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sử dụng thông tin tài chính đểgửi tín hiệu đến thị trường Thông tin được công bố bởi các nhà quản lý đếnthị trường làm giảm thông tin bất đối xứng và được xem như là một tín hiệutốt của thị trường Sự bất đối xứng thông tin ở các doanh nghiệp có quy môlớn sẽ lớn hơn nên các doanh nghiệp này thường công bố thông tin nhiều hơn
để giảm thiểu sự bất đối xứng thông tin
Xét trên thị trường chứng khoán, nhà đầu tư khi mua cổ phiếu của mộtcông ty niêm yết, ít nhiều họ cũng cần biết công ty đó hoạt động ra sao, sảnxuất cái gì…Các công ty muốn nâng cao vị thế, bán cổ phiếu với giá cao vàhợp lý, nó phải cho nhà đầu tư thấy được danh tiếng, hiệu quả hoạt động vàtiềm năng phát triển của nó Vì vậy các công ty có quy mô, lợi nhuận và khảnăng tăng trưởng cao có xu hướng công bố thông tin nhiều hơn đến thị trườngnhằm tăng độ tin cậy, sức hấp dẫn trên thị trường
1.3.3 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary costs theory)
Lý thuyết chi phí sở hữu áp dụng đối với việc công bố thông tin đượcphát triển bởi nghiên cứu của Verrecchia (1983) [45]
Lý thuyết chi phí sở hữu lưu ý đến chi phí công bố thông tin cũng nhưcác lợi ích của nó Các nhà quản lý xem xét các chi phí công bố thông tin vàkhông công bố khi chi phí lớn hơn lợi ích Các chi phí này bao gồm không chỉnhững chi phí lập và công bố các thông tin mà còn là các chi phí để có đượccác thông tin của đối thủ cạnh tranh
Lý thuyết chi phí sở hữu cho thấy rằng các nhà quản lý có động cơ đểgiữ lại một số thông tin nếu công bố nó có nghĩa là công ty phải chịu một sốchi phí (Verrecchia, 1983) [45]
Trang 39Một công ty cũng sẽ phải chịu chi phí sở hữu hay chi phí cạnh tranh bấtlợi khi các bên liên quan, như đối thủ cạnh tranh, các nhà cung cấp, các kháchhàng, các nhóm lao động và các cơ quan quản lý vốn đầu tư, có thể dựa trêncác thông tin được công bố mà có tác động tiêu cực đến công ty chỉ vì các lợiích riêng của họ Các thành phần trên có thể sử dụng các thông tin được công
bố bởi các công ty để đánh giá lại lần lượt các mối quan hệ hợp đồng của họvới công ty và có thể làm giảm dòng tiền của công ty (Cormier, 1999) [18]
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
Dựa vào việc phân tích các lý thuyết về các vấn đề ảnh hưởng đến công
bố thông tin và tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thôngtin từ các nghiên cứu trước, có thể thấy rằng các nhân tố liên quan đến cơ cấu
sở hữu, quản trị doanh nghiệp và đặc điểm doanh nghiệp được dùng để giảithích mức độ công bố thông tin của các công ty niêm yết trên thị trườngchứng khoán, cụ thể như sau:
1.4.1 Nhóm nhân tố liên quan đến cơ cấu sở hữu
Các khía cạnh khác nhau của các cấu trúc quyền sở hữu đã được đề cậptrong các nghiên cứu trước đây như quyền sở hữu tập trung, sở hữu gia đình,quyền sở hữu của chính phủ, sở hữu nước ngoài, sở hữu tổ chức (Barako,2006) [10] Nghiên cứu này xem xét ba khía cạnh của cơ cấu sở hữu của mộtcông ty, cụ thể là, quyền sở hữu nhà nước, quyền sở hữu nước ngoài và sởhữu nhóm quản lý
Sở hữu nhà nước: Nghiên cứu của Ghazali và Weetman (2006) tại
Malaysia, nơi có một kết nối chính trị mạnh mẽ, lập luận rằng các công ty có
sở hữu nhà nước cao không được khuyến khích cung cấp thêm thông tin đểbảo vệ mối quan hệ chính trị, lợi ích của các chủ sở hữu chính là nhà nước[24] Ngoài ra, Jiang và Habib (2009) lập luận rằng các công ty nhà nước ít có
Trang 40nhu cầu huy động vốn vì họ dễ dàng được tiếp cận với nguồn vốn nhà nước[33] Ngay cả khi nhà nước không cung cấp tài chính trực tiếp, các doanhnghiệp có thể có nguồn từ các công ty nhà nước khác, nên họ có thêm lý do
để hạn chế công bố thông tin Như vậy công ty có sở hữu nhà nước cao hơnthường thiếu động lực cho việc công bố thông tin tự nguyện cho các cổ đôngbên ngoài Thực trạng tại Việt Nam, khi các doanh nghiệp nhà nước được cổphần hóa và niêm yết, cho thấy phần lớn các chức danh quản lý như giámđốc, phó giám đốc và kế toán trưởng vẫn do những người cũ nắm giữ Nhữngcon người cũ áp dụng các biện pháp quản trị của doanh nghiệp nhà nước nênchậm thay đổi trong mô hình quản trị (Duy và Anh , 2012) [1] Hành độngcủa ban điều hành công ty bị hạn chế và do đó, tối đa hóa lợi nhuận và giá trị
cổ đông không phải là các mục tiêu chính của các công ty Cùng với đó cácnhà quản lý của các công ty có sở hữu nhà nước cao không có động cơ đểcung cấp thêm thông tin ngoài những thông tin bắt buộc
Sở hữu nhà đầu tư nước ngoài: Có thể thấy cổ đông nước ngoài dường
như chịu nhiều rủi ro khi đầu tư hơn so với các cổ đông trong nước như: rủi ropháp luật, chính trị, tỉ giá, thông tin bất cân xứng…Đặc biệt là rủi ro về thôngtin bất cân xứng trong các thị trường mới nổi nên có một nhu cầu thông tinlớn hơn từ phía các nhà đầu tư nước ngoài Xiao và Yuan (2007) cho rằng thịtrường vốn mới nổi như Trung Quốc thì các vấn đề thông tin bất cân xứngthậm chí còn cao hơn bởi vì khó tiếp cận được các bản báo cáo thường niên[48] Trong trường hợp này các công ty có một động lực cao hơn trong việccông bố thông tin, minh bạch thông tin nhằm mục đích gia tăng vốn từ cácnhà đầu tư nước ngoài Điều này phù hợp với nghiên cứu của Barako (2004)cung cấp bằng chứng cho thấy sở hữu nhà đầu tư nước ngoài tỷ lệ thuận vớimức độ công bố thông tin tại Kenya [9] Haniffa và Cooke (2002) tìm thấymột mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ sở hữu nước ngoài và mức độ công bố