Thương lượng trong giao tiếp mua bán của sinh viên (Luận án tiến sĩ)Thương lượng trong giao tiếp mua bán của sinh viên (Luận án tiến sĩ)Thương lượng trong giao tiếp mua bán của sinh viên (Luận án tiến sĩ)Thương lượng trong giao tiếp mua bán của sinh viên (Luận án tiến sĩ)Thương lượng trong giao tiếp mua bán của sinh viên (Luận án tiến sĩ)Thương lượng trong giao tiếp mua bán của sinh viên (Luận án tiến sĩ)Thương lượng trong giao tiếp mua bán của sinh viên (Luận án tiến sĩ)Thương lượng trong giao tiếp mua bán của sinh viên (Luận án tiến sĩ)Thương lượng trong giao tiếp mua bán của sinh viên (Luận án tiến sĩ)Thương lượng trong giao tiếp mua bán của sinh viên (Luận án tiến sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
CHU THỊ PHONG LAN
THƯƠNG LƯỢNG TRONG GIAO TIẾP MUA BÁN CỦA SINH VIÊN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI – năm 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
CHU THỊ PHONG LAN
THƯƠNG LƯỢNG TRONG GIAO TIẾP MUA BÁN CỦA SINH VIÊN
Chuyên ngành:Ngôn ngữ học
Mã số: 922 90 20
LUẬN ÁN TIẾN SĨNGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS Nguyễn Văn Khang
HÀ NỘI - năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Chu Thị Phong Lan
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 7 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
1.2 Lí thuyết về thương lượng trong giao tiếp 23
1.3 Hành động ngôn ngữ 36
1.4 Tiểu kết chương 1 42
CHƯƠNG 2 THƯƠNG LƯỢNG VÀ CÁC MÔ HÌNH THƯƠNG LƯỢNG TRONG GIAO TIẾP MUA BÁN CỦA SINH VIÊN 43
2.1 Khái quát về thương lượng trong giao tiếp mua bán 43
2.2 Các kiểu thương lượng trong giao tiếp mua bán của sinh viên 46
2.3 Tiểu kết chương 2 60
CHƯƠNG 3 HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ TRONG THƯƠNG LƯỢNG MUA BÁN CỦA SINH VIÊN 62
3.1 Giới hạn khảo sát 62
3.2 Hành động ngôn ngữ của người mua 62
3.3 Hành động ngôn ngữ của người bán 88
3.4 Tiểu kết chương 3 116
CHƯƠNG 4 YẾU TỐ LỊCH SỰ TRONG THƯƠNG LƯỢNG MUA BÁN CỦA SINH VIÊN 119
4.1 Khái quát lịch sự và lịch sự trong mua bán 119
4.2 Chiến lược trong thương lượng mua bán của sinh viên 120
4.3 Xưng hô trong thương lượng mua bán của sinh viên 133
4.4 Tiểu kết chương 4 143
KẾT LUẬN 145 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
3.1 Các hành động và biểu thức ngôn từ của người mua giai đoạn
3.2 Các hành động ngôn ngữ của người mua trong giai đoạn diễn
3.3 Các hành động ngôn ngữ của người mua trong giai đoạn kết
3.4 Các hành động ngôn ngữ của người mua trong thương lượng
3.5 Tần suất các HĐNN trong quá trình thương lượng mua bán
3.6 Hành động ngôn ngữ của người bán trong giai đoạn bắt đầu
3.7 Các hành động ngôn ngữ của người bán trong giai đoạn diễn
3.8 Các hành động ngôn ngữ của người bán kết thúc thương
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
2.1 Các kiểu thương lượng cả người mua và người bán đều trả giá
3.1 Các HĐNN trong phần kết thúc thương lượng mua bán của
3.2 Tần suất các HĐNN trong quá trình thương lượng mua bán
3.3 Các kiểu điều kiện sử dụng trong hành động đồng ý của
3.6 So sánh nhóm HĐNN người mua và người bán sử dụng trong
giai đoạn diễn biến của quá trình thương lượng 114 4.1 Tỉ lệ các kiểu chiến lược trong thương lượng mua bán 130 4.2 Tỉ lệ các kiểu xưng hô trong thương lượng mua bán của sinh
Trang 7DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 8Giao tiếp mua bán là một hình thức hội thoại mà ở đó cả người bán và người mua đều muốn đạt được mục đích của mình là mua được hàng giá rẻ và bán được hàng giá cao Vì thế hình thức hội thoại này có nhiều điểm đặc biệt hơn so với những hội thoại hàng ngày khác Đích của cuộc giao tiếp cần thỏa mãn cả người mua và người bán kéo theo việc những người tham gia phải tự chủ động phân chia, luân phiên lượt lời cũng như lựa chọn ngôn từ phù hợp Ngoài ra, sự phong phú của đối tượng tham gia khiến cho cuộc thoại mua bán trở nên đa sắc bởi đặc trưng nghề nghiệp, tầng lớp xã hội giữa hai bên mua bán có tác động lẫn nhau
Trong mua bán, thương lượng có thể xuất hiện ngay ở phần dẫn nhập nhưng chủ yếu xảy ra ở phần nội dung cuộc thoại Điều này là tất yếu vì người mua và người bán cần phải có những trao đổi, thảo luận về các vấn đề liên quan đến hàng hóa nhằm đạt sự đồng thuận về giá cả từ đó đạt được mục đích mua – bán Ở các thoại trường mua bán như chợ truyền thống – nơi giá
cả luôn được thỏa thuận trước khi quyết định thì thương lượng là một quá trình cần thiết Vì thế nghiên cứu thương lượng mua bán là việc cần làm để thấy rõ được những nét văn hóa đặc trưng trong mua bán của người Việt nhất
là khi xã hội phát triển, chợ truyền thống đang dần bị thay thế bằng các thoại trường hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại chỉ có giá niêm yết
Trang 92
Trong các công trình nghiên cứu về hội thoại mua bán, chưa có công trình nào nói đến thương lượng mua bán một cách độc lập mà chỉ xét trong chỉnh thể cấu trúc của cả cuộc thoại Đặc biệt, nghiên cứu sâu về thương lượng với đối tượng người mua cụ thể là sinh viên cũng chưa được đề cập Mong muốn từ một trường hợp riêng tiến tới xây dựng phần lí thuyết về thương lượng chung trong giao tiếp là lý do để chúng tôi lựa chọn đề tài luận
án “Thương lượng trong giao tiếp mua bán của sinh viên”
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu, khảo sát đặc điểm thương lượng trong giao tiếp mua bán của sinh viên Các cuộc thoại mua bán sẽ được giới hạn bởi người mua sinh viên và người bán thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau Từ đó, luận
án sẽ làm rõ những hành động ngôn ngữ đã được người mua và người bán sử dụng; tiếp cận giao tiếp mua bán từ góc độ lịch sự Thông qua đó, luận án:
- Góp thêm những minh chứng cho lí thuyết thương lượng trong giao tiếp
- Góp phần chỉ ra các đặc điểm giao tiếp của người Việt gắn với đặc điểm phân tầng xã hội trong giao tiếp
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, luận án đề ra những nhiệm vụ như sau:
- Đưa ra khung lí thuyết về thương lượng và chỉ ra được các kiểu mô hình thương lượng thường xuất hiện trong giao tiếp mua bán của sinh viên
- Chỉ ra các hành động ngôn ngữ cùng các biểu thức ngôn ngữ trong thương lượng thường xuất hiện trong giao tiếp mua bán của sinh viên
- Chỉ ra yếu tố lịch sự được sử dụng trong thương lượng mua bán của sinh viên
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu như sau:
Trang 103
3.1 Phương pháp phân tích hội thoại
Đây là phương pháp cơ bản và chủ đạo của luận án Dùng phương pháp này trên cơ sở tư liệu thu thập được, luận án sẽ tiến hành phân tích để tìm hiểu các vấn đề liên quan đến thương lượng trong giao tiếp mua bán
3.2 Phương pháp điều tra của ngôn ngữ học xã hội
Vì tư liệu mà luận án sử dụng là ngôn ngữ ở dạng hành chức (ngôn ngữ trong giao tiếp mua bán) nên luận án đã sử dụng phương pháp điều tra của ngôn ngữ học xã hội Cụ thể như sau:
- Ghi âm: Phương pháp này giúp thu thập được tư liệu một cách trung thực và khách quan Sau khi ghi âm, tư liệu được gỡ băng thành văn bản để tiến hành các bước phân tích tiếp theo với từng đối tượng cụ thể
- Ghi chép: Do đặc điểm thoại trường chợ có nhiều yếu tố nhiễu nên
để giúp xử lí tư liệu sau này tốt hơn, bên cạnh ghi âm chúng tôi còn thực hiện các ghi chép nhanh nhằm đảm bảo được tính khách quan, trung thực của tư liệu
3.3 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Luận án sử dụng phương pháp này bởi tư liệu không chỉ được phân tích đơn thuần về mặt ngôn ngữ mà còn được xem xét từ các góc độ xã hội, tâm lí… Điều đó phù hợp với tư liệu ở dạng hành chức
Ngoài các phương pháp trên, luận án còn sử dụng các thủ pháp: thống
kê, miêu tả, so sánh để chỉ ra tần số xuất hiện của các đơn vị nghiên cứu, đối chiếu điểm tương đồng và khác biệt của các đơn vị đó
4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, NGUỒN DỮ LIỆU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong giao tiếp mua bán, thương lượng có thể xuất hiện ngay từ phần dẫn nhập cho đến các phần tiếp theo Tuy nhiên, đối tượng luận án tập trung nghiên cứu là thương lượng xuất hiện ở phần nội dung (phần thân) cuộc thoại mua bán tính từ sau cặp trao đáp: hỏi giá – hồi đáp giá
Trang 114
Sở dĩ luận án chọn thương lượng trong phần nội dung mua bán là vì ở
đó thể hiện rõ nét dấu ấn của tương tác mua bán với hành động trung tâm là nêu/ trả giá và các hành động biên hỗ trợ, bổ sung Luận án chưa có điều kiện bàn đến thương lượng trong phần dẫn nhập vì thương lượng ở đây chủ yếu để quyết định hàng hóa nào sẽ là cuối cùng mà người mua muốn thỏa thuận về giá và các điều kiện khác Thương lượng dẫn nhập mang ý nghĩa thảo luận, bàn bạc về chủ đề (mặt hàng nào đó) sẽ được nói đến trong thương lượng nội dung
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu sẽ được thu thập tại các chợ và do người mua là sinh viên thực hiện Vì phần lớn các trường đại học tập trung tại Hà Nội nên khu vực lấy tư liệu của luận án là các chợ nội thành Hà Nội như chợ Nhà Xanh, chợ Triều Khúc, chợ Ngã Tư Sở, chợ Đồng Xuân, chợ Nghĩa Tân đặc biệt phần lớn tư liệu thu thập ở chợ nhà Xanh – nơi vẫn được coi là chợ dành cho sinh viên
4.3 Nguồn ngữ liệu
Nguồn ngữ liệu là 500 cuộc thoại mua bán có sự tham gia của người mua sinh viên và người bán thuộc nhiều lứa tuổi Trong 500 cuộc thoại này đều xuất hiện quá trình thương lượng (trao đổi về giá cả cũng như các đặc điểm khác của hàng hóa) Thông qua ngữ liệu này, luận án sẽ đi vào phân tích từng đối tượng nghiên cứu cụ thể Những cuộc thoại mà chỉ dừng ở việc hỏi giá, hồi đáp giá sau đó đồng ý lấy hàng không nằm trong nguồn ngữ liệu khảo sát của luận án
5 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN
- Luận án xây dựng khái niệm làm việc về thương lượng mua bán từ đó xây dựng các mô hình thương lượng mua bán của sinh viên
Trang 125
- Chỉ ra đặc trưng ngôn ngữ thương lượng mua bán của sinh viên qua việc sử dụng các hành động ngôn ngữ cũng như các yêu tố lịch sự Từ đó thấy tác động ảnh hưởng của tầng lớp xã hội này lên đối tượng người bán
6 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
- Thông qua các khuôn, mô hình hành động ngôn ngữ đánh dấu vai giao tiếp
trong thương lượng mua bán, luận án tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ của một tầng lớp xã hội – sinh viên
- Thông qua các khung, mô hình câu được cụ thể hóa trong phân tích hành động ngôn ngữ, chiến lược, cách xưng hô có thể hướng đến việc giúp người nước ngoài tiếp cận tiếng Việt thương mại dễ dàng hơn Ngoài ra còn giúp người Việt có cái nhìn cụ thể về tính phong phú, linh hoạt của ngôn ngữ trong đời sống
7 CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề lí thuyết hội thoại, thương lượng hội thoại và hội thoại mua bán Trên cơ sở đó, chỉ ra các vấn đề đã được thực hiện và khoảng trống cần được bổ sung Ngoài
ra còn đề cập tới các phần lí luận phục vụ trực tiếp cho luận án như lí thuyết giao tiếp, hành động ngôn ngữ
Trang 136
Chương 2 Thương lượng và các mô hình thương lượng trong giao tiếp
mua bán của sinh viên
Chương này đưa ra khung lí thuyết thương lượng trong giao tiếp mua bán của sinh viên đặc biệt xây dựng khái niệm làm việc về thương lượng Từ
đó, đưa ra các mô hình và lí giải tần số xuất hiện không giống nhau của các
Chương 4 Yếu tố lịch sự trong thương lượng mua bán của sinh viên
Trên cơ sở lí thuyết về lịch sự nói chung, luận án đi vào trường hợp lịch
sự cụ thể của mua bán Từ đó cho thấy có tồn tại lịch sự trong loại hình giao tiếp này nhưng lịch sự được thể hiện một cách biến hóa, uyển chuyển hơn Điều này thể hiện ra trong cách dùng từ nhân xưng, chiến lược giao tiếp khi tiến hành thương lượng
Trang 147
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về hội thoại và thương lượng hội thoại
1.1.1.1 Trên thế giới
Về lí thuyết hội thoại, từ những năm 70 của thế kỷ 20 các tác giả nước ngoài đã bắt đầu nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau Đầu tiên là vấn đề cộng tác hội thoại, tương tác hội thoại, logic và hội thoại được trình bày trong tác phẩm “Logic và hội thoại” (Logic and conversation) của H.P.Grice (1975) Grice được coi như người đặt viên gạch đầu tiên cho nghiên cứu hội thoại, trong đó phần đóng góp lớn chính là 4 phương châm cộng tác hội thoại gồm: phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm quan hệ, phương châm cách thức Tác giả cũng là người đầu tiên nghiên cứu lí thuyết về nghĩa hàm ẩn trong hội thoại Vẫn tiếp tục hướng nghiên cứu của Grice nhưng các tác giả như G.Gazdaz (1979), L.Horn (1984), D.Sperber và D.Wilson (1986) lại có cách nhìn nhận và quan điểm khác Theo Gazdaz chỉ cần phương châm cách thức, L.Horn lại đưa ra nguyên lý số lượng
và quan hệ trong quá trình giao tiếp chứ không nhất thiết phải đưa 4 phương châm như Grice Hai tác giả Sperber và Wilson cho rằng, chỉ cần chú trọng phương châm quan hệ của Grice khi xây dựng hội thoại và trong tác phẩm
“Quan yếu: Giao tiếp và tri nhận”(Revelance: Communication and cognition) (dẫn theo [4]) các tác giả đã nâng cao nguyên tắc này trong cả quá trình giao tiếp cũng như tri nhận của con người
Cũng nghiên cứu hội thoại nhưng các tác giả như R.Lakoff, G.Leech, P.Brown và S.Levinson lại nhìn nhận từ góc độ lịch sự Theo đó, quy tắc lịch
sự mà Lakoff và Leech nói đến trong hội thoại là dựa trên mức độ về thiệt
Trang 158
(lost) và lợi (benefit) của các bên tham gia Các tác giả đã đưa ra 3 nguyên tắc
cụ thể là: “không áp đặt, dành cho người đối thoại sự lựa chọn và khuyến khích tình cảm của bạn bè” (tên gọi các quy tắc theo cách gọi của Đỗ Hữu Châu trong [4]) Brown và Levinson đã xây dựng lí thuyết lịch sự trên cơ sở khái niệm thể diện, bao gồm thể diện dương tính và thể diện âm tính Vấn đề này khi đi vào những hoạt động giao tiếp cụ thể cho thấy sự quan trọng khi các bên tham gia hội thoại cần tôn trong thể diện của nhau như thế nào
Những vấn đề của hội thoại tiếp tục được nghiên cứu trên cơ sở xem xét trực tiếp tổ chức các đơn vị của hội thoại Đó là nghiên cứu của C.K.Orenchioni về cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại…hay G.Yule nghiên cứu
về cấu trúc hội thoại nhưng đi sâu vào cặp kế cận Các vấn đề như hành động ngôn ngữ trực tiếp và gián tiếp trong hội thoại, phương châm hội thoại, chiếu vật, nghĩa hàm ẩn… cũng được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm như M.Meyer (1983), O.Ducrot (1984), A.Wierzbicka (1991), J.Thomas (1995)
Đối với thương lượng mua bán, các bài nghiên cứu của Putthiwanit&Santipiryanpon [72] và Winnie [76] đã tìm hiểu đặc điểm trong mặc cả mua bán của người Thái và người Trung Quốc Cụ thể, Putthiwanit&Santipiryanpon khảo sát thái độ và ý định mặc cả của người tiêu dùng Thái Lan và Trung Quốc tại các chợ Băng - Cốc Kết quả cho thấy thái
độ mặc cả ảnh hưởng đến dự định mặc cả thế nào còn yếu tố văn hóa ảnh hưởng trên cả thái độ và dự định thương lượng mua bán Winnie sau khi tiến hành phân tích các hành động ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của người mua/ bán khi tiến hành thương lượng giá, phẩm chất hàng hóa tại các thị trường truyền thống ở miền Nam Trung Quốc đã chỉ ra rằng thương lượng là kiểu loại tất yếu trong mua bán Mục đích của thương lượng bị chi phối bởi việc trao đổi các giá trị của hàng hóa hơn là mối quan hệ của những người tham gia
Như vậy, những nghiên cứu về hội thoại nói chung cũng như thương lượng hội thoại mua bán đều đã được đề cập ở các khuynh hướng khác nhau
Trang 16a Trong các công trình của các nhà Việt ngữ học
Ở Việt Nam, đầu tiên là nghiên cứu của tác giả Hoàng Phê dưới dạng các bài báo về logic-ngữ nghĩa trong ngôn ngữ Sau đó, lí thuyết hội thoại được giới thiệu, nghiên cứu trực tiếp dưới dạng công trình khoa học, sách giáo trình, chuyên khảo của các tác giả như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Văn Khang, Đỗ Thị Kim Liên Ngoài ra, một
số tác giả khác cũng gián tiếp nói đến ngữ dụng học và hội thoại như Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo, Phạm Hùng Việt, Nguyễn Văn Hiệp…
Khuynh hướng nghiên cứu hội thoại theo hướng ngữ dụng học có các tác giả như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thiện Giáp… Trong hai công trình là [4, 2001] và [5, 2003] có thể thấy các vấn đề về ngữ dụng học và hội thoại được Đỗ Hữu Châu đưa ra chi tiết, sâu sắc Đồng thời trên cơ
sở tiếp thu lí thuyết của các tác giả nước ngoài, tác giả đã tìm tòi, nghiên cứu
từ thực tiễn Việt Nam Tác giả Nguyễn Đức Dân trong tác phẩm [7, 1998] đã giới thiệu và nghiên cứu một cách công phu, hệ thống các vấn đề hội thoại, cấu trúc hội thoại, lập luận trong hội thoại Những vấn đề này vẫn tiếp tục được tác giả Nguyễn Thiện Giáp dành nhiều công sức nghiên cứu Công trình [11, 2000] mang đến một cái nhìn cụ thể hơn về vấn đề cấu trúc hội thoại, lịch
sự và giao tiếp, nguyên tắc và hàm ý hội thoại với những ví dụ tiếng Việt sinh động, gần gũi
Không giống như nhiều nhà ngữ dụng học, cũng nghiên cứu hội thoại nhưng tác giả Nguyễn Văn Khang lại đứng từ góc độ ngôn ngữ học xã hội
Trang 1710
Các tác phẩm [22, 1996] [23, 2012] tiếp tục cho chúng ta cái nhìn sâu hơn về ngôn ngữ trong giao tiếp, đặc biệt ở những khía cạnh cụ thể như ngôn ngữ và giới, ngôn ngữ và chính trị, ngôn ngữ và tôn giáo…
Có thể thấy, những vấn đề lí thuyết hội thoại đã được các nhà ngôn ngữ học trong nước quan tâm nghiên cứu với nhiều phát hiện có ý nghĩa trên cơ sở
tư liệu tiếng Việt
b Trong các luận văn, luận án
Trên cơ sở lí thuyết, những vấn đề hội thoại đã được nghiên cứu cụ thể với các góc độ khác nhau ở các công trình luận văn, luận án
Nghiên cứu về cấu trúc ngữ nghĩa của một nhóm động từ nói năng các
công trình tuy chỉ nghiên cứu ở cấp độ sơ giản, xây dựng cấu trúc ngữ nghĩa của các động từ thuộc nhóm nghiên cứu song cũng đã chú trọng đến việc phân biệt động từ ngữ vi và động từ không phải ngữ vi (động từ miêu tả) Trên cơ
sở đó, các tác giả tiến hành xây dựng cấu trúc ngữ nghĩa, ngữ pháp cho mỗi động từ trong nhóm
Về mặt liên kết hay hàm ẩn trong hội thoại có luận án của Phạm Văn
Thấu [51, 2000], Đặng Thị Hảo Tâm [45, 2003]… Trong nghiên cứu của mình, tác giả Phạm Văn Thấu đã chỉ ra các mối liên hệ nội hướng và ngoại hướng của cặp thoại Theo tác giả có 5 kiểu liên kết chủ yếu giữa các cặp thoại là: liên kết đối xứng, liên kết chéo, liên kết lồng, liên kết phẳng và liên kết móc xích Tác giả Đặng Thị Hảo Tâm từ quan điểm nghiên cứu nghĩa hàm
ẩn của C.K.Orecchioni đã xây dựng mô hình lý giải nghĩa hàm ẩn và vận dụng mô hình này để tìm hiểu một số hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong mối quan hệ với hành vi ngôn ngữ trực tiếp: trần thuật, hỏi, cảm thán và cầu khiến Trên cơ sở đó, tác giả làm sáng tỏ mối quan hệ chặt chẽ giữa nghĩa hàm ẩn của phát ngôn với các dấu hiệu tường minh của các hành vi ngôn ngữ trực tiếp tạo ra nó
Trang 1811
Ngoài ra, có một số lượng khá lớn những tác giả quan tâm tìm hiểu các
đơn vị cấu trúc của cuộc thoại Đó là loạt công trình nghiên cứu hành động
ngôn ngữ trong giao tiếp trên phương diện một sự kiện lời nói: Hà Thị Hải Yến [58, 2006], Dương Tuyết Hạnh [15, 2008], Chử Thị Bích [3, 2008], Vũ
Tố Nga [34, 2010]… Việc nghiên cứu những hành động ngôn ngữ cụ thể trong cấu trúc của một sự kiện lời nói đã đưa đến cái nhìn toàn diện, bao quát hơn về chính hành động đó Các vấn đề trọng tâm và biên của hành động được xem xét không chỉ riêng biệt mà còn trong cả chỉnh thể với các đơn vị hội thoại lớn hơn như tham thoại, cặp thoại Hoặc, cũng có các nghiên cứu hội thoại trong ngữ cảnh cụ thể như của Nguyễn Thị Hồng Ngân [35, 2012] Ở đây, bối cảnh giao tiếp được giới hạn trong môi trường dạy học và cặp thoại được nghiên cứu một cách toàn diện trên các bình diện cấu trúc, chức năng và các mối quan hệ liên kết bên trong, bên ngoài
Bên cạnh những công trình nghiên cứu hội thoại theo xu hướng cấu
trúc còn có những công trình theo khuynh hướng đối chiếu như: Nguyễn Văn
Quang [42, 1998], Nguyễn Văn Độ [10,1999] hay từ một góc độ hẹp như nghiên cứu lịch sự của Đào Nguyên Phúc [39, 2007]… Điều đó cho thấy, các vấn đề của hội thoại rất phong phú, mang đến một cái nhìn sinh động, rõ ràng
về ngôn ngữ hành chức
Về nghiên cứu thương lượng trong hội thoại chưa có nhiều công trình
đề cập tới Thương lượng hội thoại được tác giả Đỗ Hữu Châu nói đến ở khía cạnh lí thuyết trong [4] trên hai bình diện là đối tượng thương lượng và phương thức thương lượng Theo đó, các đối tác có thể thương lượng về hình thức, cấu trúc hội thoại, vị thế của những người tham gia giao tiếp cũng như nội dung của hội thoại và các yếu tố ngôn ngữ sẽ sử dụng Quá trình thương lượng có thể kéo dài hoặc kết thúc nhanh chóng dựa vào thời gian và thể thức thương lượng Nếu thương lượng diễn ra trực tiếp, thẳng thắn thì thời gian
Trang 1912
được rút ngắn, kết quả thương lượng được xác định nhanh chóng Tuy nhiên,
có kiểu thương lượng ngầm, gián tiếp sẽ làm cho các bên phải kéo dài thời gian, kết quả thương lượng không dễ dàng nhận thấy
Tác giả Đặng Thị Hảo Tâm [46] tập trung nói về thương lượng nội dung hội thoại khi tiến hành phân tích mối quan hệ giữa người nghệ sĩ với quần chúng nhân dân trong trích đoạn Vĩnh biệt Cửu trùng đài - Nguyễn Huy Tưởng Ở đây, tác giả đã chỉ ra những biểu hiện trong thương lượng nội dung hội thoại giữa Vũ Như Tô và Đan Thiềm trên các phương diện: cách thức triển khai đề tài, kiểu hành động ngôn ngữ, hệ thống lí lẽ Từ đó cho thấy khát vọng sáng tạo của người nghệ sĩ cũng như những mâu thuẫn giữa nghệ sĩ và quần chúng nhân dân
Có thể nói, nghiên cứu về hội thoại được soi chiếu dưới nhiều góc độ Các phần và các đơn vị của hội thoại được đề cập đến khá phong phú Tuy nhiên, một nghiên cứu cụ thể về thương lượng hội thoại lại chưa được quan tâm nhiều
đã đưa đến khoảng trống và gợi mở cho những công trình tiếp theo
1.1.2 Tình hình nghiên cứu hội thoại mua bán và thương lượng trong hội thoại mua bán
Từ năm 1994, hội thoại mua bán bắt đầu được nghiên cứu trong các công trình luận văn và luận án từ nhiều góc độ khác nhau
1.1.2.1 Nghiên cứu đơn vị cụ thể của hội thoại mua bán từ góc độ cấu trúc
Tất cả các đơn vị của hội thoại mua bán từ nhỏ đến lớn như hành vi ngôn ngữ, tham thoại, cặp thoại, đoạn thoại, cuộc thoại đều đã được đề cập trong các luận văn, luận án
Nghiên cứu về cuộc thoại, tác giả Nguyễn Thị Đan [9, 1994] dựa vào lí
thuyết hội thoại để phân chia cuộc thoại mua bán ngày nay thành hai nhóm: cuộc thoại thực hiện bằng lời và cuộc thoại phi lời Sau đó, tác giả xem xét mặt cấu trúc chức năng của cuộc thoại mua bán để phân chia thành các phần: đoạn
Trang 2013
mở thoại, đoạn thân thoại, đoạn kết thoại, đoạn chuyển tiếp - chỉ xuất hiện ở cuộc thoại tích cực, gồm chuyển tiếp giữa mở và thân thoại, chuyển tiếp giữa kết và thân thoại Trên cơ sở đó, Nguyễn Thị Đan nêu chức năng của từng phần trong một cuộc thoại Ở mỗi phần, tác giả cố gắng mô hình hóa lượt lời bằng sơ
đồ Có thể nói, đây là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu về hội thoại mua bán dưới góc độ cấu trúc Tuy nhiên, trong mỗi phần khi đưa ra các kiểu mô hình tác giả không lí giải để giúp người tiếp nhận có một cái nhìn khác biệt về cấu trúc trong hội thoại mua bán Đặc biệt tác giả chỉ phân tích mỗi cấu trúc trên một tư liệu cụ thể mà không có số liệu so sánh ở các phần cũng như chỉ ra kiểu cấu trúc nào hay được dùng
Chọn nghiên cứu đoạn thoại nhưng Nguyễn Thị Lý [30, 1994] chỉ
nghiên cứu đoạn dẫn nhập trong hội thoại mua bán Dựa vào ba tiêu chí là người dẫn nhập, kết quả đích dẫn nhập và số lượng tham thoại yếu tố trong đoạn dẫn nhập, tác giả đã tiến hành phân loại các kiểu đoạn dẫn nhập của người bán và người mua Từ đó, tác giả đã chỉ ra sự khác biệt giữa hai bên mua bán về số lượng đoạn dẫn nhập, cấu trúc đoạn dẫn nhập và các hành động ngôn ngữ khi dẫn nhập Nguyễn Thị Lý cho biết do cạnh tranh trong kinh doanh và vị thế giao tiếp của người mua và người bán thay đổi nên đoạn dẫn nhập do người bán dẫn nhập có số lượng nhiều hơn đoạn dẫn nhập do người mua dẫn nhập Cấu trúc đoạn dẫn nhập của người mua ngắn gọn hơn so với đoạn dẫn nhập của người người bán nhưng tỉ lệ đoạn dẫn nhập thành công
và đoạn dẫn nhập thất bại của người mua lại lớn hơn của người bán Các hành
vi trong đoạn dẫn nhập của người mua và người bán cũng có sự khác biệt Nếu là dẫn nhập thành công thì của người bán thường là hỏi/ trả lời, mời/ chấp nhận hoặc giới thiệu/ hưởng ứng còn dẫn nhập thất bại thì người bán thường dùng hành vi hỏi/ trả lời, mời/ trình bày… Việc phân chia của tác giả trong nghiên cứu rất cụ thể nhưng lại không chỉ ra kiểu dẫn nhập ưa dùng của
Trang 21Luận án đầy đủ ở file: Luận án full