1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu mức độ tồn dư một số kháng sinh, hormone trong thức ăn và sản phẩm chăn nuôi trên thị trường thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)

79 275 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu mức độ tồn dư một số kháng sinh, hormone trong thức ăn và sản phẩm chăn nuôi trên thị trường thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu mức độ tồn dư một số kháng sinh, hormone trong thức ăn và sản phẩm chăn nuôi trên thị trường thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu mức độ tồn dư một số kháng sinh, hormone trong thức ăn và sản phẩm chăn nuôi trên thị trường thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu mức độ tồn dư một số kháng sinh, hormone trong thức ăn và sản phẩm chăn nuôi trên thị trường thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu mức độ tồn dư một số kháng sinh, hormone trong thức ăn và sản phẩm chăn nuôi trên thị trường thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu mức độ tồn dư một số kháng sinh, hormone trong thức ăn và sản phẩm chăn nuôi trên thị trường thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu mức độ tồn dư một số kháng sinh, hormone trong thức ăn và sản phẩm chăn nuôi trên thị trường thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

ĐỖ THỊ THƯƠNG CHI

NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ TỒN DƯ MỘT SỐ KHÁNG SINH, HORMONE TRONG THỨC ĂN VÀ SẢN PHẨM CHĂN NUÔI TRÊN THỊ TRƯỜNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐỖ THỊ THƯƠNG CHI

NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ TỒN DƯ MỘT SỐ

KHÁNG SINH, HORMONE TRONG THỨC ĂN VÀ

SẢN PHẨM CHĂN NUÔI TRÊN THỊ TRƯỜNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số ngành: 60 62 01 05

Người hướng dẫn khoa học:

GS TS NGUYÊN DUY HOAN

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là

trung thực và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Đỗ Thị Thương Chi

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới tập thể cán bộ Ban quản lý dự án LIFSAP Hà Nội đã luôn động viên tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn khoa học: GS.TS: Nguyễn Duy Hoan, Giám đốc Trung tâm học liệu, Trưởng khoa Đào tạo Quốc

Tế Đại học Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tôi vô cùng cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của cán bộ Chi cục Thú

y Hà Nội, cán bộ các Trạm Thú y: Thường Tín, Thanh Oai…; cán bộ Trung tâm kiểm tra vệ sinh Thú y TWI đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y; Phòng đào tạo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Viện Chăn nuôi đã giúp đỡ tôi nâng cao năng lực nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chia sẻ sự thành công với bố mẹ, chồng, anh em trong gia đình

và bạn bè đồng nghiệp đã động viên, đóng góp những ý kiến quý giá cho tôi hoàn thành chương trình học tập và bản luận văn này

Hà Nội, ngày 8/9/2017

Đỗ Thị Thương Chi

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 1

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học 3

1.1.1 Kháng sinh 3

1.1.2 Hormone 11

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 16

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 16

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 18

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23

2.3 Nội dung nghiên cứu 24

2.4 Phương pháp nghiên cứu 24

2.4.1 Phương pháp điều tra 24

2.4.2 Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu 25

2.4.3 Phương pháp xác định hàm lượng kháng sinh và hormone tồn dư 28

2.4.4 Tính kết quả 30

Trang 6

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 31

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Thực trạng sử dụng thức ăn chăn nuôi trên địa bàn thành phố Hà Nội 32

3.1.1 Thực trạng sử dụng thức ăn cho lợn thịt 32

3.1.2 Thực trạng sử dụng thức ăn cho gà thịt 35

3.2 Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi lợn thịt và gà thịt tại Hà Nội 38

3.2.1 Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi gà thịt 38

3.2.2 Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi lợn thịt 41

3.3 Kết quả phân tích kháng sinh và hormone có trong thức ăn chăn nuôi 46

3.3.1 Kết quả phân tích kháng sinh 46

3.3.2 Kết quả phân tích hàm lượng hormone trong một số mẫu thức ăn chăn nuôi 53

3.4 Kết quả phân tích hàm lượng kháng sinh và hormone tồn dư trong thịt lợn, thịt gà 55

3.4.1 Kết quả phân tích hàm lượng kháng sinh tồn dư 55

3.4.2 Kết quả phân tích tồn dư hormone 56

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BYT Bộ Y tế

FAO Food Agriculture Organization

(Tổ chức Nông nghiệp và Thực phẩm thế giới) IARC International Cancer Research Institute

(Cơ quan nghiên cứu Quốc Tế về ung thư) NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

TAHHHC Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

WB World Bank (Ngân hàng thế giới)

WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Giới hạn cho phép tồn dư kháng sinh trong thực phẩm theo tiêu

chuẩn của FAO 18 Bảng 1.2 Các kháng sinh được phép sử dụng như một chất kích thích tăng

trưởng ở Việt Nam 20 Bảng 1.3 Danh mục hóa chất, kháng sinh cấm nhập khẩu sản xuất kinh doanh

và sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gia súc gia cầm tại Việt Nam 21 Bảng 1.4 Giới hạn cho phép tồn dư kháng sinh và hormone trong thịt ở

Việt Nam 21 Bảng 1.5 Danh mục các thuốc thú y không được phép có tồn dư trong thực

phẩm tại Việt Nam 22 Bảng 3.1 Tình hình sử dụng thức ăn cho lợn thịt tại các hộ chăn nuôi trên

địa bàn thành phố Hà Nội 32 Bảng 3 2 Tình hình sử dụng thức ăn cho gà thịt tại các hộ chăn nuôi trên địa

bàn thành phố Hà Nội 35 Bảng 3.3 Tình hình sử dụng kháng sinh trong thuốc thú y và biệt dược tại

các hộ chăn nuôi gà thịt trên địa bàn thành phố Hà Nội 38 Bảng 3.4 Tổng hợp tình hình sử dụng kháng sinh trong thuốc thú y và biệt

dược tại các hộ chăn nuôi gà thịt trên địa bàn thành phố Hà Nội 39 Bảng 3.5 Tình hình sử dụng kháng sinh trong thuốc thú y và biệt dược tại

các hộ chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn thành phố Hà Nội (n=300) 42 Bảng 3.6 Tổng hợp tình hình sử dụng kháng sinh trong thuốc thú y và biệt

dược cho chăn nuôi lợn thịt tại 4 huyện (số hộ điều tra n=300) 44 Bảng 3.7 Kết quả phân tích kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi 46 Bảng 3.8 Kết quả phân tích 2 loại kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi 49 Bảng 3.9 Hàm lượng kháng sinh có trong một số mẫu thức ăn 51 Bảng 3.10 So sánh hàm lượng kháng sinh tylosin có trong thức ăn với các

tiêu chuẩn của thông tư 81/2009/TT-BNNPTNT 52 Bảng 3.11 So sánh hàm lượng kháng sinh tylosin có trong thức ăn với các

tiêu chuẩn của thông tư 06/2016/TT-BNNPTNT 53 Bảng 3.12 Kết quả phân tích hormone trong thức ăn chăn nuôi 54

Trang 9

Bảng 3.13 Tỷ lệ mẫu thịt tồn dư kháng sinh 55 Bảng 3.14: Tỷ lệ mẫu thịt lợn tồn dư hormone 56

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tình hình sử dụng thức ăn cho lợn thịt tại các hộ chăn nuôi trên

địa bàn thành phố Hà Nội 33 Biểu đồ 3.2 Tình hình sử dụng thức ăn cho lợn thịt tại các hộ chăn nuôi trên

địa bàn thành phố Hà Nội 33 Biểu đồ 3.3 Tình hình sử dụng thức ăn cho gà thịt tại các hộ chăn nuôi trên

địa bàn thành phố Hà Nội 36 Biểu đồ 3.4 Tình hình sử dụng thức ăn cho gà thịt tại các huyện trên địa bàn

thành phố Hà Nội 36 Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ sử dụng từng loại kháng sinh trong chăn nuôi gà thịt trên

địa bàn thành phố Hà Nội 40 Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ sử dụng từng loại kháng sinh trong chăn nuôi gà thịt trên

địa bàn thành phố Hà Nội 45 Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ mẫu thức ăn chăn nuôi lợn thịt có kháng sinh 47 Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ mẫu thức ăn chăn nuôi gà thịt có chứa kháng sinh 47 Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ mẫu thức ăn chăn nuôi lợn thịt có kháng sinh tại các huyện

trên địa bàn thành phố Hà Nội 48 Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ mẫu thức ăn chăn nuôi gà thịt có phát hiện kháng sinh tại các

huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội 49

Biểu đồ 3.11 Tỷ lệ mẫu thức ăn chăn nuôi lợn thịt có kháng sinh tylosin 50 Biểu đồ 3.12 Tỷ lệ mẫu thức ăn chăn nuôi gà thịt có kháng sinh tylosin 50

Hình ảnh 3.1: Thức ăn sử dụng trong chăn nuôi lợn thịt và gà thịt trên địa bàn

thành phố Hà Nội 37 Hình ảnh 3.2: Thuốc và sử dụng thuốc trong chăn nuôi lợn thịt và gà thịt trên địa

bàn thành phố Hà Nội 45

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong chăn nuôi hiện nay, kháng sinh được sử dụng rất rộng rãi với mục đích kích thích tăng trưởng, phòng và điều trị bệnh Tuy nhiên, việc quản lý sử dụng này chưa thực sự được chú trọng dẫn đến thiệt hại về kinh tế rất lớn do có những đơn hàng bị hủy hoặc trả về do có tồn dư kháng sinh vượt ngưỡng cho phép của các nước nhập khẩu hoặc theo tiêu chuẩn của thế giới

Vấn đề an toàn thực phẩm nói chung, an toàn thực phẩm đối với sản phẩm là thịt lợn, thịt gà nói riêng đang ngày càng phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ đe dọa đến sức khỏe của người tiêu dùng và đang là một vấn đề nóng được xã hội quan tâm, đặc biệt là vấn đề tồn dư kháng sinh và hormone trên các sản phẩm thịt cung cấp ra thị trường

Sự cảnh báo của tổ chức Y tế thế giới về việc xuất hiện các chủng vi khuẩn kháng thuốc và sự kháng kháng sinh Vấn đề này đã trở nên nguy hiểm, cấp bách đòi hỏi phải có sự nỗ lực tổng hợp nhằm giúp nhân loại tránh khỏi nguy cơ trở lại thời kỳ chưa có kháng sinh

Xuất phát từ thực tiễn công việc, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu mức

độ tồn dư một số kháng sinh, hormone trong thức ăn và sản phẩm chăn nuôi trên thị trường thành phố Hà Nội” để từ đó đưa ra quy luật chung để quản lý đối với các

sản phẩm chăn nuôi đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng và trên cả nước nói chung

2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá được tình hình sử dụng kháng sinh, hormone trong thức ăn chăn nuôi; tình hình sử dụng kháng sinh trong phòng và điều trị bệnh cho đàn gà thịt và lợn thịt; và thực trạng tồn dư kháng sinh, chất cấm trong các sản phẩm thịt gà và thịt lợn trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Thông tin đến người tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi lợn, gà đảm bảo điều

kiện vệ sinh an toàn thực phẩm

Trang 12

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Số liệu thu được làm cơ sở định hướng công tác cho các nghiên cứu sau này Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu phát triển tiếp theo

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu giúp đánh giá được sản phẩm của các cơ sở chăn nuôi lợn thịt, gà thịt, các cơ sở giết mổ từ đó có thể thông tin đến người tiêu dùng các cơ sở cung cấp sản phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm

Tham mưu cho các cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về sử dụng kháng sinh, hormone trong chăn nuôi

Tham mưu, đề xuất với các cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về quản lý giết mổ

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học

1.1.1 Kháng sinh

1.1.1.1 Khái niệm

Fleming - 1929, lần đầu tiên thấy trong môi trường nuôi tụ cầu vàng, nếu có lẫn

nấm Penicilium thì khuẩn lạc gần nấm sẽ không phát triển được Kháng sinh đầu tiên chiết suất bởi Florey và Chain (1939) từ nấm đó là chất Penicilin dùng trong điều trị

Sau này, đặc biệt ở hai thập kỷ cuối của thế kỷ XX, công nghệ sinh học và hóa dược phát triển mạnh, người ta đã tìm ra được rất nhiều loại kháng sinh mới (Bùi Thị Tho, 2003) [35]

Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (2009) [23] có rất nhiều tác giả định nghĩa về kháng sinh như: Tác giả Phạm Khắc Hiếu và cs đã định nghĩa thuốc kháng sinh là những chất hữu cơ có cấu tạo hóa học phức tạp, phần lớn do vi trùng, nấm và xạ khuẩn sản sinh ra Chúng có tác dụng (cả invitro và invivo) diệt các vi sinh vật gây

bệnh, hoặc chỉ ngăn cản sự phát triển của vi sinh vật đó; tác giả Turpin, Velu 1857

định nghĩa: Kháng sinh là chất do vi nấm hoặc vi khuẩn tạo ra, hoặc do bán tổng hợp, tổng hợp, có tác dụng điều trị đặc hiệu với liều thấp, do ức chế một số quá trình sống

của vi sinh vật và đơn bào mà không ảnh hưởng tới vật chủ

1.1.1.2 Phân loại kháng sinh

Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và cách sử dụng thuốc, hiện nay người ta thường phân loại kháng sinh như sau:

Trang 14

* Căn cứ vào phổ tác dụng kháng sinh

- Nhóm có phổ tác dụng hẹp, chỉ tác dụng lên một loại hay nhóm vi khuẩn nào

đó như: Penicilin chỉ tác động lên vi khuẩn gram (+), streptomycin tác động lên vi

khuẩn gram (-)

- Nhóm kháng sinh có phổ tác dụng rộng, chúng tác dụng cả vi khuẩn gram

(+) và gram (-), Ricketsia, virus cỡ lớn, đơn bào như tetracyclin

- Nhóm kháng sinh dùng ngoài hay các thuốc không hoặc ít hấp thu ở đường tiêu hóa

- Nhóm kháng sinh chống lao: rifamycin

- Nhóm kháng sinh chống nấm

* Dựa vào nguồn gốc:

- Kháng sinh có nguồn gốc tự nhiên, chiết xuất từ vi sinh vật, xạ khuẩn…

- Kháng sinh có nguồn gốc hóa dược hay do con người tổng hợp nên

* Dựa vào cơ chế tác dụng:

- Kháng sinh kìm khuẩn; Kháng sinh diệt khuẩn

* Cách phân loại hiện đại

Căn cứ tổng hợp nguồn gốc, công thức, cơ chế tác dụng… thuốc kháng sinh được chia thành những nhóm sau:

Nhóm β-lactamin (gồm penicillin và cephalospoin); Nhóm aminoglucozid -

AG; Nhóm macorid; Nhóm lincosamid; Nhóm chloramphenicol; Nhóm tetracyclin; Nhóm diệt nấm và virus; Nhóm kháng sinh đa - peptid; Nhóm thuốc hóa học trị liệu

có cơ chế tác dụng như kháng sinh

Trang 15

* Hấp thu, phân phối và thải trừ:

Tylosin hấp thu tốt ở đường tiêu hóa và không cần dùng dạng viên bọc để duy

trì sự bền vững của thuốc ở dạ dày Thuốc được phân phối rộng rãi trong các tổ chức

và được chuyển hóa ở gan, thải trừ ra ngoài theo phân

(pleuropneumonia) do Hemophylus parahemolycus và nhiều bệnh nhiễm khuẩn khác

như viêm ruột (colitis) ở chó Tylosin đã được sử dụng bổ sung vào thức ăn để thúc

đẩy tăng trọng của gia súc cho thực phẩm như trâu, bò, lợn, gà Sử dụng bổ sung

tylosin tương đối an toàn

1.1.1.4 Furazolidone

Trang 16

* Nguồn gốc: Furazolidone thuộc nhóm kháng sinh Nitrofuran là một nhóm

kháng sinh tổng hợp có chứa nhóm 5-nitro, Furazolidone liên kết DNA của vi khuẩn dẫn đến sự ức chế dần dần của monoamine oxidase

* Công thức hóa học: C8H7N3O5

* Dược lực học: furazolidone có phổ kháng khuẩn rộng bao phủ phần lớn các

mầm bệnh đường tiêu hóa gồm E.coli, staphylococci, Salmonella, Shigella, Proteus,

Aerobacter aerogenes, Vibrio cholerae và Giardia lamblia Hoạt tính diệt khuẩn của furazolidone được dựa trên sự can thiệp của furazolidone vào quá trình nhân bản

DNA và sản xuất protein; hành động kháng khuẩn này giảm thiểu sự phát triển của các vi khuẩn kháng thuốc

* Cơ chế tác dụng: Furazolidone và các sản phẩm có gốc tự do liên quan của

furazolidone được cho là liên kết DNA và tạo ra liên kết chéo DNA của vi khuẩn đặc

biệt nhạy cảm với loại thuốc này, dẫn đến sự đột biến cao (chuyển tiếp và chuyển vị) trong nhiễm sắc thể vi khuẩn

* Hấp thu, chuyển hóa và thải trừ

Hấp thụ: Nghiên cứu về thuốc có nhãn hiệu cho thấy furazolidone được hấp

thu tốt sau khi uống

Chuyển hóa: Furazolidone được chuyển hóa nhanh chóng và rộng rãi; con

đường trao đổi chất ban đầu được xác định bắt đầu bằng việc giảm nitro tới dẫn chất aminofuran Hai chất chuyển hóa chính được sản xuất: 3-amino-2-oxazolidone (AOZ) hoặc beta-hydroxyethylhydrazine (HEH) AOZ chịu trách nhiệm cho sự ức chế monoamine oxidase Cai nghiện và loại bỏ thuốc được thực hiện chủ yếu bằng cách liên hợp với glutathione

* Tác dụng: Để điều trị đặc hiệu và có triệu chứng tiêu chảy do vi khuẩn hoặc

nguyên sinh và viêm ruột do các sinh vật nhạy cảm

1.1.1.5 Tồn dư kháng sinh và hậu quả tồn dư kháng sinh

* Nguyên nhân tồn dư kháng sinh trong thực phẩm:

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tồn dư kháng sinh: có thể do ý thức, trình độ hiểu biết của người chăn nuôi,… Con người là nguyên nhân hàng đầu và chịu trách nhiệm khoảng 18% các trường hợp kháng sinh tồn dư trong thực phẩm (Phùng Quốc Chướng, 2005) [15]

Thuốc đã được người chăn nuôi sử dụng nhiều tới mức lạm dụng: trộn thuốc

Trang 17

vào thức ăn, tiêm cho gia súc trước khi giết thịt, hoặc bôi lên sản phẩm động vật để

ức chế sự phân giải của vi sinh vật, kéo dài thời gian bảo quản thịt, vận chuyển các sản phẩm động vật đi xa Tất cả những việc làm trên đã dẫn đến sản phẩm chăn nuôi, thủy sản tồn dư kháng sinh (Phạm Tất Thắng và cs, 2005) [34]

Do trình độ hiểu biết về chăn nuôi còn hạn chế, không tuân thủ theo nguyên tắc thải trừ của thuốc Nguyễn Thị Hoa Lý và cs (2003) [29] đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa thời gian và tần suất dương tính thu nhận sau một ngày thí nghiệm là 100% ở cả lòng trắng, lòng đỏ Ở ngày thứ 3 là 40%, 100% Tỷ lệ này giảm xuống tương ứng 0%, 80% ở ngày thứ 5, còn lại duy nhất ở lòng đỏ 20% ở ngày thứ 7 và đến ngày thứ 9 không còn mẫu nào có kháng sinh Như vậy, tần xuất dương tính với kháng sinh tỷ lệ thuận với thời gian ngừng sử dụng thuốc Theo Nguyễn Duy Hoan

và cs (2009) [23], Paire đã tiến hành việc nghiên cứu tồn dư kháng sinh qua các năm thì năm 1982 có 76%, 1990 có 54% trường hợp tồn dư kháng sinh trong thực phẩm

là do không tuân thủ thời gian thải trừ của thuốc

Do ý thức của người chăn nuôi còn hạn chế cũng gây ra hiện tượng tồn dư kháng sinh trong thực phẩm như: Sử dụng kháng sinh liều cao để điều trị; khi con vật không thể cứu chữa thì bán rẻ cho các đầu mối thu gom chứ không đem tiêu hủy

- Tồn dư kháng sinh có thể xảy ra do thuốc hoặc do bản thân con vật Các loại thuốc các kháng sinh có nguyên tắc hấp thu, thải trừ khác nhau, cùng một loại thuốc nhưng ở mỗi nồng độ, trạng thái, tính chất khác nhau thì có thời gian bán thải khác nhau, đây là nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng tồn dư kháng sinh Các yếu tố như: loài, tuổi, thể trạng con vật cũng ảnh hưởng đến vấn đề trên (Bùi Thị Tho, 2003) [35]

* Hậu quả tồn dư kháng sinh:

Kháng sinh là con dao hai lưỡi vừa có tác dụng chống lại các bệnh truyền nhiễm

Trang 18

vừa là cái họa gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người, môi trường sống xã hội

- Ảnh hưởng tới sức khỏe con người:

Sự tồn dư kháng sinh có trong thực phẩm gây nguy hại cho sức khỏe người tiêu dùng khi tiêu thụ thực phẩm Nó gây ảnh hưởng ngay lập tức sau khi tiêu thụ sản phẩm như xảy ra phản ứng quá mẫn cảm đối với người nhạy cảm kháng sinh, gây dị ứng sau khi tiêu thụ thịt tồn dư kháng sinh

Nguyễn Duy Thịnh (2016) [52] cho biết: "Hiện tượng thích ứng của vi sinh

vật đối với kháng sinh trong cơ thể con người nếu chưa đủ liều sẽ sinh ra hiện tượng quen thuốc, hay còn gọi là nhờn thuốc Khi quen rồi, vi sinh vật này sẽ phát triển và gây bệnh cho cơ thể, không có thuốc trị Lúc này, các bác sĩ sẽ phải tìm kiếm những loại kháng sinh mạnh hơn nhiều so với kháng sinh thông thường để chữa bệnh, nghiêm trọng hơn nữa là không tìm ra thuốc để chữa"

Đoàn Khang (2015) [51] cho biết, người tiêu dùng, tiêu thụ các sản phẩm, thực phẩm từ động vật khó nhận biết được những sản phẩm có tồn dư kháng sinh trong quá trình chăn nuôi nếu không có chuyên môn Đặc biệt nguy hiểm đối với những người có sẵn cơ địa dị ứng với một số loại thuốc (phổ biến nhất là penicillin chiếm đầu bảng với tỷ lệ sốc phản vệ 1/70.000)”

Đặng Thị Hoàng Anh và cs (2004) [1] cho biết: Chloramphenicol gây

viêm dây thần kinh thị giác, viêm dây thần kinh ngoại biên, gây mê sảng, tỉ lệ quái thai cao, gây trạng thái quá mẫn cảm với các biểu hiện ban đỏ, mần đay, phù

mạch và sock phản vệ Đặc biệt nghiêm trọng hơn chloramphenicol còn gây suy

gan, suy tủy, hậu quả nhẹ của tình trạng này gây thiếu máu, còn nặng gây thiếu máu bất sản Ở trẻ em dưới một tuổi gây suy tuần hoàn cấp Vào năm 1982, Mỹ

đã công bố một trường hợp bị tử vong do thiếu máu bất sản có liên quan đến

Trang 19

Theo Phạm Thị Tâm (2005) [33] năm 2002 ngành chăn nuôi ong nước ta đã thiệt hại lớn do việc bị xóa bỏ các hợp đồng nhập khẩu mật ong từ phía Trung Quốc

do trong mật ong có tồn dư kháng sinh trong danh mục cấm

Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (2009) [23] thì năm 2004, Nhật đã chính thức gửi đơn yêu cầu Việt Nam phải cấp bách cải thiện chất lượng thủy sản và giải quyết vấn đề tồn dư kháng sinh trong thực phẩm; Năm 2005, có 85 lô hàng thủy sản xuất sang EU, 46 lô hàng xuất sang Mỹ, 18 lô xuất sang Hàn Quốc đã bị trả lại do tồn dư kháng sinh, dẫn đến tổn thất kinh tế, giảm uy tín sản phẩm của Việt Nam trên thị trường quốc tế

Theo Nguyễn Tử Cương (2016) [14], trong năm 2016, thông qua mạng cảnh báo nhanh, cơ quan thẩm quyền của các nước nhập khẩu thủy sản và các kênh ngoại giao khác Cục quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản đã nhận được thông tin cảnh báo về một số lô hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam không đảm bảo an toàn thực phẩm do phát hiện kháng sinh cấm hoặc dư lượng kháng sinh vượt mức giới hạn tối đa cho phép Cụ thể: tổng số lượng lô hàng bị cảnh báo năm 2016 là 40 lô, chiếm 0,03% và đã có chiều hướng giảm so với năm 2015 (70 lô chiếm 0,07%), trong đó số

lô bị cảnh báo gồm Nhật bản (24 lô), EU (11 lô), Australia (3 lô) và Hàn Quốc (2 lô)… điều này đã làm giảm uy tín về các sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam trên thị trường quốc tế

- Nguy cơ tạo vi khuẩn kháng thuốc:

Kháng thuốc (AMR) là tình trạng các vi sinh vật (như vi khuẩn, vi rút, nấm và

ký sinh trùng) kháng lại các thuốc kháng sinh đã nhạy cảm với các vi sinh vật này trước đây Sinh vật đề kháng (vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng) có thể chịu được sự tấn công của các thuốc chống vi khuẩn (như thuốc kháng sinh, thuốc kháng vi rút, thuốc chống sốt rét) dẫn đến việc áp dụng các phương pháp, thuốc điều trị đặc hiệu sẽ trở nên không hiệu quả, nhiễm khuẩn kéo dài thậm chí gây tử vong - Theo Bộ Y tế (2013) [10] Sự kháng thuốc (AMR) là hệ quả tất yếu của quá trình sử dụng thuốc trong điều trị và đặc biệt gia tăng khi việc lạm dụng thuốc kháng sinh ngày càng phổ biến hơn

Bất cứ kháng sinh nào dùng để chữa bệnh cho người và động vật, nếu còn tồn

dư một lượng dù nhỏ nhất cũng có thể gây kháng thuốc của E.coli Khi E.coli đã

Trang 20

kháng thuốc thì nó có thể truyền plasmid kháng thuốc của nó cho các loại vi khuẩn gây bệnh khác sống trong đường ruột

Theo Bộ Y tế (2013) [10] Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhận định, chúng ta đang sống trong kỷ nguyên phụ thuộc kháng sinh và yêu cầu toàn cầu có trách nhiệm bảo vệ nguồn thuốc kháng sinh quý giá cho thế hệ sau

Các nghiên cứu của vi khuẩn học trên thế giới đã công nhận sự kháng thuốc

là một động lực gây bệnh quan trọng Theo Trương Đức Thọ (2004) [36] tình trạng xuất hiện chủng vi khuẩn đột biến gen đề kháng những thuốc đặc hiệu gây ra nhiều bệnh lạ, khiến cho người sử dụng kháng sinh gặp nhiều khó khăn

Tìm hiểu về cơ chế kháng thuốc của vi khuẩn, Bùi Thị Tho (2003) [35] cho biết: Khả năng kháng thuốc của vi khuẩn chủ yếu là do khả năng truyền các gen kháng thuốc, theo chiều ngang giữa các vi khuẩn với nhau trong cùng một thế hệ, hoặc giữa những loài vi khuẩn với nhau Có 3 phương thức mà vi khuẩn có thể truyền gen kháng thuốc theo chiều ngang đó là: Sự biến nạp, tải nạp và tiếp hợp

Như vậy, khả năng lan tràn của vi khuẩn kháng thuốc là mối đe dọa thực sự đến sức khỏe và khả năng điều trị bệnh của người cũng như động vật, khi mà sức đề kháng bị suy giảm, khả năng miễn dịch và tạo thành miễn dịch rất kém (đặc biệt trong thời gian chuyển mùa) Mặt khác, vi khuẩn có gen kháng thuốc thì khả năng gây bệnh của chúng lại mạnh lên rất nhiều

Thói quen dùng nhiều loại kháng sinh, thuốc kích thích bao gồm cả các hoạt chất và thuốc thú y ngoài danh mục lưu hành được sử dụng nhằm kích thích tăng trưởng hoặc phòng và điều trị cho vật nuôi; Việc sử dụng kháng sinh và hóa chất thú

y chủ yếu dựa vào kinh nghiệm dẫn tới người chăn nuôi thường tự ý tăng liều và liệu trình điều trị Sử dụng kháng sinh theo triệu chứng bệnh (44%), theo chỉ định của thú

ý viên là 33%, sử dụng kháng sinh theo khuyến cáo của nhà sản xuất chiếm 17% và chỉ 6% trang trại sử dụng kháng sinh theo kết quả thử nghiệm kháng sinh đồ (Nguyễn Quốc Ân, 2009) [2] Điều này đã làm tăng nguy cơ rủi ro cho môi trường và sức khỏe con người như hiện tượng kháng thuốc, kháng kháng sinh ở người

Đoàn Khang (2015) [51] cho biết: “Đề kháng kháng sinh hiện nay là một trong những vấn đề quan trọng, mang tính chất toàn cầu Trên thực tế, khoảng vài

Trang 21

chục năm trở lại đây, chưa có thêm loại kháng sinh mới nào được phát hiện và tất

cả mọi loại kháng sinh đều có thể bị kháng Trong đó, nguyên nhân chủ yếu là do

sử dụng các loại sản phẩm từ động vật đã bị kháng kháng sinh trong quá trình chăn nuôi”

- Nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường sống:

Hiện nay, vấn đề tồn dư kháng sinh tổng thực phẩm gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người đã được rất nhiều nhà khoa học đề cập đến Còn nguy cơ ảnh hưởng tới môi trường sống như thế nào thì có rất ít các báo cáo đề cập tới Tuy nhiên, ảnh hưởng đến môi trường thì không thể phủ nhận được bởi sau khi vật nuôi được sử dụng kháng sinh

để phòng và trị bệnh, một phần kháng sinh được đào thải qua hệ bài tiết, hệ tiêu hóa ra ngoài môi trường sống, lượng kháng sinh này có thể tiêu diệt hệ vi sinh vật có ích trong môi trường nhất là những vi sinh vật hoại sinh, cũng có thể gây nên hiện tượng kháng thuốc ở vi khuẩn Người ta đã ghi nhận rằng, các vi sinh vật gây bệnh kháng nhiều loại kháng sinh có thể tồn tại một thời gian dài trong phân và kiểu kháng thuốc không thay đổi ít nhất 7 tuần Đây là nguồn chứa plasmid kháng thuốc Nếu gặp điều kiện thuận lợi

vi khuẩn có hại lan tràn trong môi trường sống gây ô nhiễm môi trường Một số nghiên cứu nghi ngờ môi trường là yếu tố làm tăng tính kháng thuốc của vi khuẩn, kết quả nghiên cứu Yes Millean (2005) [48], tác động của môi trường đến tính kháng thuốc của vi khuẩn

đường ruột E.coli được nuôi cấy từ mẫu phân của công nhân làm vườn phun thuốc

oxytetracyclin Sau khi phun từ 2-4 tháng, mẫu phân của người đó được mang đi phân

tích thì thấy sức kháng của vi khuẩn E.coli với oxytetracyclin là 12,9% Vi khuẩn E.coli

phân lập từ mẫu phân của vợ và con người làm vườn đó có sức đề kháng tới 22,7% cùng thời điểm đó

1.1.2 Hormone

1.1.2.1 Khái niệm

Quan niệm trước đây: hormone là một chất trung gian hóa học, được bài tiết bởi các tế bào chuyên biệt nằm trong các tuyến nội tiết và được chuyên chở trong máu đến các tế bào đáp ứng với nó (tế bào đích) nhằm điều hòa quá trình chuyển hóa của các tế bào này

- Quan niệm hiện nay: Hormone có thể là một trong ba chất sau:

Trang 22

+ Hormone chung (general hormone): là những hormone theo quan niệm cổ điển Ví dụ: các hormone của vùng hạ đồi, tuyến yên, tuyến giáp, tuyến cận giáp, tuyến tụy, tuyến thượng thận và tuyến sinh dục

+ Hoạt chất sinh học: là những chất trung gian hóa học do các cơ quan không phải

là tuyến nội tiết chế tiết, được dòng máu phân phối và có tác dụng sinh học trên mô đích

Ví dụ: gan tiết angiotensinogen (angiotensin I - angiotensin II); thận tiết renin, erythropoietin, 1,25dihydroxycholecalciferol; tim tiết atrial natriuretic peptid

+ Hormone địa phương (local hormone): là những chất trung gian hóa học do các tế bào chế tiết vào dịch gian bào và có tác dụng sinh học tại chỗ hormone địa

phương có thể tác động theo một trong hai phương thức là cận tiết (paracrine) và tự tiết (autocrine) Ví dụ: thần kinh phó giao cảm tiết acetylcholin, tế bào S niêm mạc

tá tràng tiết secretin, tế bào T niêm mạc tá - hỗng tràng tiết cholecystokinin

G.Maghuin - Rogister và cs (2000) [45] đã định nghĩa: Hormone là những chất

có hoạt tính sinh lý, bản chất là hợp chất hữu cơ, do những tế bào chuyên hóa sản xuất ra và có chức phận điều hòa, phối hợp những cơ quan trong cơ thể

1.1.2.2 Phân loại hormone

Dựa vào bản chất hoá học của hormone người ta chia hormone làm 2 loại:

- Loại có dẫn xuất steroit; Loại có bản chất protein, dẫn xuất protein

Dựa vào vị trí sản sinh ra hormone để phân loại:

- Hormone của tuyến yên; hormone của tuyến giáp trạng…

Dựa vào đặc tính hòa tan của hormone người ta phân ra làm 2 loại:

- Hormone tan trong nước; hormone tan trong dầu

1.1.2.3 Salbutamol

[1-(4-(RS)-hydroxy-3-hydroxymethylphenyl)-2-(t-butylamino) ethanol] là chất chủ vận thụ thể adrenergic beta2 (beta2-adrenoceptor agonist)

* Dược động học: Salbutamol được hấp thu dễ dàng qua hệ tiêu hóa

Sabutamol được chuyển hóa đáng kể trước khi vào máu Chất chuyển hóa chủ yếu

là liên hợp sulphat Salbutamol có tác dụng giãn phế quản nhanh sau 2-3 phút Thời gian bán thải của thuốc vào khoảng từ 3-8h Thuốc được thải trừ chủ yếu qua nước tiểu

Trang 23

* Tác dụng: có tác dụng trên cơ xương và cơ trơn gồm có: dãn phế quản, giãn

cơ trơn tử cung và run Tác dụng dãn cơ trơn tùy thuộc vào liều dùng

1.1.2.4 Clenbuterol

Clenbuterol (Spiropent, Ventipulmin) là một amin giao cảm được sử dụng

bởi người bị chứng rối loạn hô hấp như là một loại thuốc thông mũi và thuốc giãn phế quản Những người có rối loạn hô hấp mãn tính như hen suyễn sử dụng như một thuốc giãn phế quản để làm cho việc thở dễ dàng hơn Thuốc phổ biến nhất có sẵn dưới dạng hydrochloride hydrochloride các muối clenbuterol

Clenbuterol là loại chất kích thích tuyến thượng thận, điều tiết sinh trưởng động vật, thúc đẩy quá trình phát triển cơ bắp và tác dụng phân giải lipid Những con lợn được trộn thức ăn có chứa Clenbuterol sẽ có tỷ lệ thịt nạc nhiều hơn thịt mỡ Tại Trung Quốc người ta đã phát hiện những người chăn nuôi lợn cho chất này vào thức

ăn gia súc để sản xuất thịt lợn siêu nạc

1.1.2.5 Tồn dư hormone và hậu quả của tồn dư hormone

- Nguyên nhân tồn dư hormone:

Người chăn nuôi đã sử dụng hormone làm chất kích thích tăng trọng để tăng sản lượng, giảm lượng mỡ, tăng lượng nạc và khi giết thịt lợn có màu đỏ đẹp, giá bán của các loại thịt này cao Sử dụng thức ăn tăng trọng thì tốc độ tăng trọng của gà, lợn

có thể tăng lên 3-5%, cho bò vỗ béo và cừu tăng 5-10%, sản lượng trứng tăng 3-6%

Những steroit đồng hóa như diethylstibestrol, dexamethason… làm tăng trọng nhanh

hơn từ 15-20%, hiệu quả lợi dụng thức ăn tốt hơn từ 10-15% Nếu cho lợn ăn

metyltestosteron với liều 84-452,9mg/con/ngày sẽ làm tăng độ mọng của thịt và tăng

trọng nhanh (Phạm Khắc Hiếu, 2007) [21]

Một nguyên nhân nữa là do ý thức và trình độ của người chăn nuôi Qua nghiên cứu của các nhà khoa học cho biết: Điều cần thiết nhất là phải ngừng ngay việc cung cấp hormone (chất tăng trọng) trước 7 ngày khi bắt đầu giết thịt gia súc Trong thời gian này lượng hormone sẽ bị thải trừ ra ngoài và dư lượng hormone trong thịt sẽ không còn đáng kể, ít nguy hiểm đến sức khỏe con người Thế nhưng điều khuyến cáo đó đã ít được các nhà chăn nuôi áp dụng, vì vậy dẫn đến tình trạng tồn dư hormone nhiều trong thực phẩm (Phạm Khắc Hiếu, 2007) [21]

Trang 24

Không chỉ do các nhà chăn nuôi mà cả những nhà sản xuất, Lã Văn Kính (2006) [27] cho biết: trong thức ăn gia súc có đến 47 mẫu, chiếm 9% dương tính với hormone kích thích tăng trưởng họ β-agonist Nhiều nhất là thức ăn cho lợn 96,5%, còn lại thức ăn cho gà 3,5% Đối với các nước chỉ phát hiện thấy hormone tăng trưởng cho lợn ở giai đoạn vỗ béo Còn ở Việt Nam, phát hiện trong thức ăn của các loại lợn

từ lợn con cai sữa đến lợn nái

Một nguyên nhân khác là do sự quản lý và chế tài sử phạt chưa thích đáng đã dẫn đến tình trạng thuốc kích thích sinh trưởng ở gia súc lưu thông nhiều trên thị trường người dân dễ dàng lựa chọn những sản phẩm thức ăn chăn nuôi được trộn sẵn hormone tăng trưởng được bày bán trên thị trường

- Tác hại của tồn dư hormone:

Chúng ta không thể phủ nhận các lợi ích của việc sử dụng hormone trong chăn nuôi nhưng bên cạnh những lợi ích mà nó mang lại cũng tiềm ẩn những tác hại khó lường đối với con người sử dụng thực phẩm còn tồn dư hormone

+ Nguy cơ đối với sức khỏe người tiêu dùng:

Nó gây ung thư và rối loạn hệ thống nội tiết Qua nghiên cứu thấy có tỷ lệ nhỏ

phụ nữ dùng bổ sung estrogen sau đó có phát triển ung thư vú hoặc ung thư dạ con,

như vậy estradiol có thể là một trong nhiều nhân tố phát triển ung thư Để kiểm chứng những giả thuyết trên, cơ quan nghiên cứu Quốc Tế về ung thư (IARC) đã có nghiên

cứu từ những số liệu thực nghiệm và dịch tễ học cũng kết luận estradiol là chất gây

ung thư ở người Do vậy, ngày nay đã cấm sử dụng loại hormone này cho dù dưới bất

kỳ hình thức nào

+ Gây rối loạn nội tiết

Đã có những nghiên cứu đánh giá về độc chất học của hormone tồn dư trong thịt với nguy cơ làm biến đổi chức năng nội tiết, đặc biệt là chức năng sinh dục của người tiêu dùng

Theo Vi Thị Thanh Thủy (2011) [38] các nhà khoa học đã chỉ ra rằng dư lượng hormone trong thịt, khi ăn vào có thể làm rối loạn cân bằng hormone trên người Kết quả rối loạn nội tiết này do sử dụng hormone trong chăn nuôi gây tồn dư trên thịt

Trang 25

được ghi nhận ở Italia vào những năm 1980 Trong khoảng vài chục năm gần đây, tỷ

lệ vô sinh chiếm 20% các cặp vợ chồng trong tuổi sinh sản Các nguyên nhân vô sinh

do nữ chiếm 40% các trường hợp, do nam 30%, 20% là nguyên nhân do cả hai vợ chồng, 10% các cặp vợ chồng không tìm thấy nguyên nhân vô sinh Trong các năm

1992, đã có những nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng hormone tồn dư trong thịt lợn có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản tinh trùng của nam giới

Zhang Y và Wu Y (2002) [50] cho thấy: chất clenbuterol dùng trong chăn nuôi

làm tăng chuyển hóa chất béo sang thịt nạc, khi người ăn thịt của những gia súc còn tồn dư chất này gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe như làm rối loạn hệ thống sinh sản

và các rối loạn nội tiết tố

+ Tác động gây ngộ độc cấp tính

Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (2009) [23] thì Mitchell GA và Dunnavan G

cho biết trong nghiên cứu sử dụng thuốc β -agonist bất hợp pháp tại Mỹ đã gây ra

triệu chứng của ngộ độc cấp tính trên người sau khi ăn phải gan, kể cả thịt có nhiễm

và cs nghiên cứu dược lý lâm sàng của clenbuterol gây ngộ độc người tiêu dùng ở Italia cho thấy: clenbuterol gây tích tụ trong gan của những con bò, gây ngộ độc 15

người sau khi ăn thịt bò khoảng từ 0,5-3h có các triệu chứng như: khó thở, đánh trống ngực, đau đầu, gây tăng đường huyết vừa phải và hạ kali máu, các dấu hiệu này biến mất sau 3 - 5 ngày; tạp chí Sustainable đã đưa tin về tác động gây độc cấp

tính của các β -agonist đã được đề cập đến rất nhiều vụ ngộ độc trên người sau khi tiêu thụ gan kể cả thịt có nhiễm chất clenbuterol Các triệu chứng ngộ độc như run

cơ, tim nhanh, hồi hộp, thần kinh bị kích thích có thể kéo dài nhiều giờ cho đến nhiều ngày

Đặc biệt đối với phụ nữ mang thai sử dụng lâu dài hay ăn các thực phẩm tạo

nạc từ salbutamol cũng có nguy cơ làm tăng các dị tật thai nhi (quái thai)

Tuy chưa có nghiên cứu tầm cỡ trên cơ thể người, nhưng theo Trung tâm Chất độc sinh sản của Mỹ (Reprotox Toxicology Center), một vài nghiên cứu cho thấy Salbutamol gây cản trở phát triển phôi thai ở chuột

Trang 26

Theo Nguyễn Duy Hoan (2009) [23] tác giả Woodward K.N thuộc viện nghiên cứu về thuốc thú y ở Anh đã nghiên cứu quá trình chuyển hóa và độc

tính của salbutamol và clenbuterol trên một số loài động vật (chuột, thỏ, khỉ,

trâu, bò, ngựa)

Theo tác giả, trong nghiên cứu sinh quái thai ở chuột (liều uống 10 và 100mg/kg mỗi ngày) đã xuất hiện những dấu hiệu gây quái thai như não úng thủy, thoát vị rốn, xương sườn và xương sống bị biến thể, vỡ

Đối với thỏ (liều uống 30mg đến 50mg/kg mỗi ngày) đã thấy xuất hiện dấu hiệu ngộ độc, trong đó có trì hoãn sự thoái hóa xương, hở hàm ếch

+ Nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường:

Sử dụng hormone cho động vật cũng có tác hại đến môi trường do hormone được thải ra ngoài qua hệ tiêu hóa (phân) làm cho hệ sinh thái nước thay đổi, khả năng sinh sản của cá bị rối loạn

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Vào những năm 40 của thế kỷ XX, người ta đã sử dụng kháng sinh rộng rãi trong việc chữa bệnh cho người và gia súc, gia cầm từ khi phát hiện rằng nếu thêm một lượng nhỏ kháng sinh vào thức ăn gia súc, gia cầm thì không những hạn chế được bệnh truyền nhiễm mà làm cho con vật lớn nhanh cho nhiều thịt, trứng, sữa, lông…Vì thế, mà kháng sinh được sử dụng triệt để dẫn đến lạm dụng đặc biệt gây ra tình trạng tồn dư kháng sinh trong thực phẩm

Đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu tồn dư kháng sinh trong sản phẩm động vật như: Robert.C.Wilson (2002) [47] cho biết: Năm 1971, Huber đã báo cáo tỷ lệ tồn dư kháng sinh trong gia súc ở Mỹ như sau: có 27% trong 1381 con lợn, 9% trong

580 con bò, 17% trong 788 con bê, 21% trong số 328 con cừu thương phẩm và 20%

trong số 926 con gà Kháng sinh tìm thấy nhiều nhất là penicilin G, tylosin, neomycin,

Trang 27

trong tổng số 611 mẫu, chiếm tỷ lệ 0,8%, thận gà và thận cừu âm tính Tuy nhiên khi kiểm tra nước tiểu, tỷ lệ mẫu dương tính tăng lên 3,6% trong tổng số 2108 mẫu bò, 7,7% trong số 2409 mẫu lợn, 9,7% trong số 176 mẫu cừu Ông đưa ra kết luận mức

độ tồn dư kháng sinh cao hơn trong thận

Năm 1984, Mazatis và cs đã nghiên cứu tại nhà máy chế biến thịt bò ở Canada thấy có 12 trên 487 số mẫu có tồn dư kháng sinh, chiếm tỷ lệ 2,5% Đây là kết quả nghiên cứu để thử nghiệm phương pháp vi sinh vật

Trước cảnh báo của các nhà khoa học về nguy cơ, hậu quả của tồn dư kháng sinh gây ra cho con người Năm 1986, Thụy Điển là nước đầu tiên trên thế giới áp dụng lệnh cấm sử dụng kháng sinh như một chất kích thích sinh trưởng trong chăn nuôi Năm 1988, người chăn nuôi lợn, gia cầm ở Đan Mạch đã tự nguyện không dùng kháng sinh Cộng đồng Châu Âu đã cấm sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi như một chất kích thích sinh trưởng từ tháng 1 năm 2006 Ở Mỹ, việc giám sát nghiêm ngặt tình hình sử dụng kháng sinh đã làm giảm tỷ lệ tồn dư kháng sinh trong thực phẩm Theo kết quả nghiên cứu của Hall (1986), tồn dư kháng sinh

ở lợn đã giảm từ 5,7% (1978) xuống còn 0,4% (1980-1984), bò tỷ lệ tạp nhiễm kháng sinh từ 2,2% (1979) xuống 0,2% (1983), ở gà từ 2,4% (1971), xuống 0,01% năm 1983

Ở các nước đang phát triển và châu Âu, kiểm soát vấn đề tồn dư hóa chất cũng như kháng sinh trong thực phẩm rất chặt chẽ Tại Mỹ, giới hạn tồn dư hóa chất trong thực phẩm đăng tải trên cuốn điều lệ liên bang Đến nay, không chỉ có các nước đang phát triển mà hầu hết các quốc gia đều có quy định riêng về mức độ tồn dư kháng sinh cho từng loại thực phẩm

Các nước EU đã không cho phép sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi

từ năm 2006, Mỹ và Thái Lan sẽ ngừng sử dụng vào năm 2017

Việc nghiên cứu về dư lượng hormone còn hạn chế Theo G.Magui-Rogistor

và cs (2000) [45] từ 1991, các glucorticoid như là dexamethasone thường xuyên được

phát hiện trong các mẫu thịt đại gia súc Vì từ những năm 80 ở các nước Châu Âu đặc biệt là Mỹ, Canada đã sử dụng hormone vào chăn nuôi bò

Trang 28

Theo báo cáo của Viện giám định thú y (IEV) năm 1990 có 30% thân thịt bò

dương tính với hormone, năm 1995 chỉ còn 24% và nó đã giảm xuống 5%

Bảng 1.1 Giới hạn cho phép tồn dư kháng sinh trong thực phẩm

theo tiêu chuẩn của FAO

Giới hạn tối đa tồn dư kháng sinh, chất cấm

(µg)

1 Tylosin Thịt, mỡ, thận, gan (bò, lợn, gà)

Sữa (bò) Trứng

0,2 0,6 0,05

3 Ractopamin Thịt, mỡ (lợn, bò)

Gan (bò, lợn) Thận (bò, lợn)

10

40

90 (Nguồn: CODEX/FAO, 2017 [49])

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Theo Nguyễn Quốc Ân (2009) [2] kết quả điều tra tình hình sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi tại Hà Tây cho thấy 100% các trang trại chăn nuôi có sử dụng kháng sinh với mục đích chủ yếu để trị bệnh (63,3% với lợn thịt và 50% với gà thịt); với mục đích phòng bệnh (13,3% đối với lợn và 46,7% với gà thịt)

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoa Lý (2003) [29] cho biết: 18% mẫu thịt gà, 12,4% mẫu thịt lợn có tồn dư kháng sinh Trong đó có 8,37% số mẫu vượt

quá tiêu chuẩn cho phép của EU, hàm lượng tetracyclin vượt mức cho phép từ 100

đến 3200ppb

Trần Quang Thủy và cs (2007) [37] đã tiến hành phân tích mẫu thịt gia súc, gia cầm tại Hà Nội, có 18 mẫu dương tính chiếm tỷ lệ 18% Trong đó gan gà có tỷ lệ

Trang 29

tồn dư kháng sinh cao chiếm tỷ lệ 20%, tiếp đến là gan lợn (11,4%), thấp nhất là thịt

gà chiếm tỷ lệ 8%

Bùi Thị Phương Hoa (2008) [22] đã kiểm tra tình hình tồn dư kháng sinh

trong thịt lợn qua 2 năm: Năm 2005 tỷ lệ nhiễm oxytetracyclin là 21,7%,

chloramphenicol 20,5% Năm 2006, tỷ lệ này đã giảm xuống tetracyclin 19,5%, oxytetracyclin là 19,57%, chloramphenicol 15,2% Tỷ lệ nhiễm giảm xuống có thể

do người chăn nuôi đã ý thức được tác hại của việc tồn dư kháng sinh trong thực phẩm và có các văn bản luật mới cho việc những loại thuộc được sử dụng tại Việt Nam

Nguyễn Thị Hằng (2001) [20] cho biết: Sự tồn dư hormone có xu hướng tăng qua các năm và trở nên đáng báo động, ngay cả các loại hormone như

clenbuterol đã bị cấm sử dụng từ năm 2002 nhưng kết quả phân tích vẫn có những

loại hormone trên Kiểm tra 500 mẫu thịt tại thành phố Hồ Chí Minh có 30% mẫu dương tính và cũng qua điều tra của Chi cục thú y thành phố Hồ Chí Minh

lượng clenbuterol tồn dư 100% trong cơ thể động vật, 60% tồn dư trong gan,

thận cả khi nấu chín

Kết quả phân tích của Lã Văn Kính (2006) [27] ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: có 25% mẫu máu, 50% mẫu thận, 33,33% mẫu thịt tồn dư hormone Kết quả nghiên cứu của tác giả đã cảnh báo cho những người thường sử dụng những đồ tái sống và tiết canh Hormone tồn dư trong thực phẩm không bị phân hủy mà đi trực tiếp vào trong cơ thể làm ảnh hưởng đến sự miễn dịch và hoạt động của các tuyến sản xuất hormone

Theo Lê Thị Hồng Năm (2007) [32] cho biết: Có 75% mẫu thịt, 70% mẫu gan của gia súc gia cầm có mức tồn dư các chất kích thích sinh trưởng và kháng sinh, đã vượt quá ngưỡng cho phép gây ngộ độc mãn tính Vì thế, cần phải có cơ chế quản lý để thực phẩm không phải là điều nguy hại đe dọa đến sức khỏe cho con người

Vấn đề sử dụng kháng sinh, chất cấm trong chăn nuôi tại Việt Nam được cụ

thể tại các thông tư dưới đây:

Trang 30

Bảng 1.2 Các kháng sinh được phép sử dụng như một chất kích thích

tăng trưởng ở Việt Nam

Số

Hàm lượng (tối thiểu - tối đa) cho phép

sử dụng trong thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh

(mg /kg thức ăn)

Gà, chim cút (từ 1 đến 28 ngày tuổi)

Gà, chim cút đẻ trứng giống

Lợn nhỏ hơn 60

kg thể trọng)

Bê dưới 6 tháng tuổi

Ghi chú: Ký hiệu “ * ” là không được phép sử dụng

(Nguồn: Thông tư 06/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016 [5])

Trang 31

Bảng 1.3 Danh mục hóa chất, kháng sinh cấm nhập khẩu sản xuất kinh doanh

và sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gia súc gia cầm tại Việt Nam

1 Carbuterol 9 Ractopamine 17 Furazolidone và các

dẫn xuất của Nitrofuran

2 Cimaterol 10 Diethylstilbestrol

Melamine (với hàm lượng melamine trong thức ăn chăn nuôi lớn hơn 2,5mg/kg)

3 Chloramphenicol 11 Bacitracin Zn 19 Cisteamine

4 Clenbuterol 12 Fenoterol 20 Terbutalin

5 Carbadox 13 Isoxuprin 21 Stilbenes

6 Dimetridazol 14 Methyl-testosterol 22 Trenbolone

7 19 Nor-testosterol 15 Metronidazole 23 Zeranol

8 Olaquidox 16 Salbutamol 24 Cysteamine

(Nguồn: Thông tư 28/2014/TT-BNNPTNT ngày 4/9/2014, Thông tư

01/2017/TTBNNPTNT ngày 16/1/2017 của Bộ NN&PTNT [7], [6])

Bảng 1.4 Giới hạn cho phép tồn dư kháng sinh và hormone

trong thịt ở Việt Nam

Trang 32

Bảng 1.5 Danh mục các thuốc thú y không được phép có tồn dư

trong thực phẩm tại Việt Nam

15 Diethylstilbestrol (DES) 33 Trenbolone

16 Eprofloxacin 34 Trichlorfon (Dipterex)

17 Nhóm Fluoroquinolones 35 Trifluralin

18 Gentian Violet (Crystal violet) 36 Zeranol

(Nguồn: dự thảo thông tư sửa đổi bổ sung một số quy định của thông tư

24/2013/TT-BYT, 2016 [11])

Trang 33

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Thức ăn chăn nuôi lợn thịt và gà thịt

Thịt lợn, thịt gà

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Đối với thức ăn chăn nuôi lợn và gà thịt: Phân tích, đánh giá 02 loại kháng

sinh: furazolidone, tylosin; 02 loại hormone salbutamol, clenbuterol

+ Đối với thịt gà: Phân tích 02 loại kháng sinh: furazolidone, tylosin

+ Đối với thịt lợn: Phân tích 02 loại kháng sinh furazolidone, tylosin; 02 loại hormone salbutamol, clenbuterol

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm: 4 huyện Quốc Oai, Chương Mỹ, Thường Tín, Thanh Oai Cụ thể:

+ Địa điểm điều tra tình hình sử dụng thức ăn, thuốc thú y và lấy mẫu thức

ăn trong chăn nuôi lợn thịt:

- Huyện Quốc Oai (03 xã): Đồng Quang, Thạch Thán, Cấn Hữu

- Huyện Thường Tín (03 xã): Lê Lợi, Tô Hiệu, Nghiêm Xuyên

- Huyện Chương Mỹ (03 xã): Nam Phương Tiến, Trung Hòa, Hồng Phong

- Huyện Thanh Oai (03 xã): Đỗ Động, Hồng Dương, Liên Châu

+ Địa điểm điều tra tình hình sử dụng thức ăn, thuốc thú y và lấy mẫu thức

ăn trong chăn nuôi gà thịt:

- Xã Hòa Thạch, xã Đông Yên, xã Đồng Quang huyện Quốc Oai

- Xã Tốt Động, xã Hoàng Văn Thụ, xã Trung Hòa huyện Chương Mỹ

- Xã Lê Lợi, xã Thắng Lợi, xã Tiền Phong huyện Thường Tín

- Xã Cao Viên, xã Bích Hòa, xã Phương Trung huyện Thanh Oai

Địa điểm lấy mẫu thịt lợn: Lấy 40 mẫu thịt lợn tại các cơ sở giết mổ được

quản lý của cơ quan Thú y Cụ thể tại các huyện như sau:

+ Huyện Chương Mỹ: Lấy 05 mẫu tại cơ sở giết mổ xã Hồng Phong, 03 mẫu

cơ sở giết mổ xã Hữu Văn, 02 mẫu cơ sở giết mổ xã Tốt Động

Trang 34

+ Huyện Thanh Oai: Lấy mẫu tại các cơ sở giết mổ thuộc xã: 05 mẫu tại cơ sở giết mổ xã Liên Châu, 05 mẫu tại cơ sở giết mổ xã Hồng Dương

+ Huyện Thường Tín: Lấy mẫu tại các cơ sở giết mổ thuộc xã: Nghiêm Xuyên

03 mẫu, Tô Hiệu 03 mẫu, Thắng Lợi 04 mẫu

+ Huyện Quốc Oai: Lấy mẫu tại các cơ sở giết mổ thuộc xã: Sài Sơn 05 mẫu, Đồng Quang 03 mẫu, Cấn Hữu 02 mẫu

Địa điểm lấy mẫu thịt gà: Mẫu được lấy tại các cơ sở giết mổ được quản lý

của cơ quan thú y Cụ thể như sau:

+ Huyện Chương Mỹ: 08 mẫu thuộc 08 hộ giết mổ thuộc xã Trung Hòa, Hoàng Văn Thụ

+ Huyện Quốc Oai: 08 mẫu thuộc 08 hộ xã Cấn Hữu

+ Huyện Thanh Oai: 04 mẫu thuộc xã Bình Đà

+ Huyện Thường Tín: 06 mẫu tại 02 cơ sở giết mổ thuộc xã Lê Lợi

Thời gian tiến hành: Từ tháng 7/2016 - 5/2017

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra tình hình sử dụng thức ăn cho lợn và gà thịt của các hộ chăn nuôi trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Điều tra tình hình sử dụng thuốc kháng sinh tại một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Phân tích xác định hàm lượng 02 loại kháng sinh furazolidone, tylosin, 02 loại hormone salbutamol và clenbuterol trong thức ăn chăn nuôi

- Phân tích và xác định hàm lượng 02 loại kháng sinh furazolidone, tylosin tồn

dư trong thịt gà và thịt gà

- Phân tích và xác định hàm lượng 02 loại hormone salbutamol và clenbuterol

tồn dư trong thịt lợn

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp điều tra

2.4.1.1 Phương pháp điều tra tình hình sử dụng thức ăn chăn nuôi

Tổ chức điều tra xác định loại thức ăn, phương thức cho ăn được sử dụng tại các hộ chăn nuôi bằng phiếu điều tra

Trang 35

Mỗi huyện tiến hành điều tra 75 hộ, mỗi xã 25 hộ

Đối với chăn nuôi lợn: Điều tra dựa trên các quy mô và phương thức chăn nuôi như sau: 10 hộ chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ quy mô < 10 con/hộ; 10 hộ chăn nuôi gia trại quy mô >10 con /hộ và 05 hộ chăn nuôi trang trại công nghiệp với quy mô đàn >

200 con

Đối với chăn nuôi gà: Điều tra dựa trên các quy mô và phương thức chăn nuôi như sau: 10 hộ chăn nuôi chăn thả với quy mô <100 con/hộ; 10 hộ chăn nuôi theo phương thức bán chăn thả với quy mô > 500 con và 05 hộ chăn nuôi công nghiệp > 4.000 con

2.4.1.2 Phương pháp điều tra tình hình sử dụng thuốc kháng sinh

Tiến hành phỏng vấn trực tiếp người chăn nuôi về tình hình dịch bệnh đàn gia súc, gia cầm; Tình hình sử dụng thuốc thú y trong phòng và điều trị bệnh cho đàn gia súc, gia cầm

Điều tra tại các hộ chăn nuôi đã được điều tra tình hình sử dụng thức ăn chăn nuôi như ở trên

Ghi chép cách dùng thuốc để phòng và trị bệnh của các cơ sở chăn nuôi

2.4.2 Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu

2.4.2.1 Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu thức ăn chăn nuôi:

Mẫu thức ăn được lấy tại hộ chăn nuôi lợn, gà thịt giai đoạn chuẩn bị xuất bán,

cụ thể: trước khi xuất bán 7 -15 ngày

Số lượng mẫu lấy: mỗi huyện lấy 08 mẫu thức ăn chăn nuôi lợn thịt và 08 mẫu thức ăn chăn nuôi gà thịt

+ Mẫu thức ăn chăn nuôi lợn thịt: lấy 02 mẫu của hộ chăn nuôi công nghiệp

có quy mô > 200 lợn thịt, 01 mẫu tại hộ có quy mô < 10 lợn thịt và 06 mẫu tại các hộ

có quy mô chăn nuôi trên 10 lợn thịt

+ Mẫu thức ăn chăn nuôi gà: lấy 01 mẫu tại hộ chăn nuôi có quy mô đàn > 2.000 gà thịt, 01 mẫu tại hộ có quy mô đàn < 50 gà thịt và 06 mẫu của các hộ có quy

mô chăn nuôi trên 200 gà thịt

* Quy định chung

Mẫu thức ăn sẽ được lấy tại máng ăn hay dụng cụ chứa thức ăn đang được chuẩn bị trước khi đổ vào máng ăn

Trang 36

Nếu hộ chăn nuôi có nhiều hơn 1 ô chuồng (đối với lợn) hoặc 1 máng ăn (đối với gà), số mẫu cần lấy từ 3- 5 mẫu tại dụng cụ đựng thức ăn ngay trong khi đang cho

ăn Khối lượng mẫu lấy đảm bảo mẫu trung bình thử nghiệm đạt tối thiểu 500g/mẫu

Lấy mẫu thức ăn tại chuồng nuôi

Mẫu sẽ được lấy ngẫu nhiên tại các ô chuồng theo nguyên tắc đường chéo

Sau khi lẫy mẫu nếu các mẫu thức ăn tương đối đồng nhất sẽ được gộp lại thành mẫu chung và tiến hành rút gọn tạo mẫu thí nghiệm, mẫu lưu, mẫu phân tích

Mẫu trung bình thử nghiệm sau khi xử lý được chia làm 2 phần, mỗi phần đựng trong lọ sạch, khô, có nút mài Một phần dùng để phân tích, một phần để lưu

1 tháng Mẫu phân tích và mẫu lưu giữ được đánh mã và thông tin thống nhất như nhau

* Đóng gói vận chuyển và bảo quản, chuẩn bị mẫu phân tích

Sau khi lấy mẫu tiến hành gửi mẫu đến các phòng phân tích đã chọn, cùng với thông tin cần thiết cho việc phân tích trong vòng 12h

Mẫu thức ăn chăn nuôi được gửi đến Viện Chăn nuôi để phân tích Tất cả các mẫu này được bảo quản và chuẩn bị trước khi phân tích

2.4.2.2 Lấy mẫu thịt tại các cơ sở giết mổ

Trang 37

Hormone: Salbutamol, clenbuterol

Kháng sinh: Furazolidone, tylosin

* Dụng cụ lấy mẫu

Dụng cụ phục vụ lấy mẫu gồm dụng cụ trích mẫu, dụng cụ chia và trộn mẫu, dụng cụ đựng mẫu là các túi nhựa zip; Găng tay, áo bảo hộ; Etanol 70%; Bông thấm nước có tẩm etanol 70% đựng trong chai; Kẹp bằng thép không rỉ; Dụng cụ khoan cắt vô trùng; Thùng xốp bảo quản mẫu với túi đá lạnh

* Thời điểm lấy mẫu

Mẫu thịt được lấy ngay sau khi xẻ thân thịt, sau lần rửa cuối cùng - trước khi khám thú y, trước khi đưa vào kho chứa hoặc đưa lên phương tiện vận chuyển phân phối ra thị trường Chỉ lấy mẫu các thân thịt đã được rửa sạch, không còn vết bẩn

* Các bước tiến hành

Chuẩn bị túi nilon đựng mẫu, chuẩn bị nhãn đánh số mẫu thể hiện: loại mẫu, ngày tháng lấy, người lấy, địa điểm lấy

Để lấy mẫu kiểm tra các chỉ tiêu dư lượng sử dụng phương pháp cắt mẫu

Lấy mẫu thân thịt lợn:

Chọn ngẫu nhiên tối thiểu 5 thân thịt (hoặc 5 nửa thân thịt từ 5 thân thịt khác nhau) cho một lần lấy mẫu Sử dụng dụng cụ khoan hoặc cắt vô trùng khoan cắt, miếng mô mỏng, diện tích 5cm2 và độ dày tối đa 5mm tại bốn vị trí đã xác định trên mặt ngoài một nửa thân thịt Tổng diện tích cắt từ 20cm2 đến 25cm2 tương đươg 20-30g thịt Sử dụng dụng cụ cắt chuyên dụng để lấy từ 10g đến 20g thịt trên các mặt cắt khác nhau Gộp các miếng mô vừa cắt thành một mẫu, cho vào túi đựng mẫu vô trùng hoặc đựng trong túi dung để pha loãng và đồng nhất mẫu

Lấy mẫu thân thịt gà:

Chọn ngẫu nhiên 5 thân thịt cho một lần lấy mẫu Nếu thân thịt có da cổ thì cắt khoảng 2cm da cổ (tương đương khoảng 30-50g/thân thịt (chú ý không cắt chỗ da nơi cắt tiết) Gộp 15 miếng da cổ từ 15 thân thịt vừa cắt thành một mẫu, cho vào túi đựng mẫu vô trùng hoặc đựng trong túi dùng để pha loãng và đồng nhất mẫu Nếu thân thịt không có da cổ thì dùng phương pháp cắt miếng da, khoảng 25g bằng dụng

cụ khoan (cắt) vô trùng tại 3 vị trí: cổ, giáp hậu môn và lưng

Môi trường bảo quản mẫu: Dung dịch pha loãng nước muối pepton (0,1%

Trang 38

pepton +0,85%NaCl) vô trùng được phân phối vào ống nhựa vô trùng với lượng 10ml

và 15ml

2.4.3 Phương pháp xác định hàm lượng kháng sinh và hormone tồn dư

2.4.3.1 Các phương pháp phân tích kháng sinh furazolidone và tylosin:

* Phương pháp ELISA phân tích furazolidone

Nguyên tắc: Phương pháp ELISA (Enzyme Linked Immunosorbent Assay- xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzyme) có rất nhiều dạng mà đặc điểm chung là đều dựa trên sự kết hợp đặc hiệu giữa kháng nguyên và kháng thể, trong

đó kháng thể được gắn với một enzyme Khi cho thêm cơ chất thích hợp (thường

là nitrophenol phosphate) vào phản ứng, enzyme sẽ thủy phân cơ chất thành một chất có màu Sự xuất hiện màu chứng tỏ đã xảy ra phản ứng đặc hiệu giữa kháng thể với kháng nguyên và thông qua cường độ màu mà biết được nồng độ kháng nguyên hay kháng thể cần phát hiện

Phương pháp này được thiết kế cho việc phát hiện và định lượng vật chất như peptides, protein, antibodies, hormone… Đôi khi nó còn được gọi bởi một tên gọi khác là EIA (Enzyme ImmunoAssay)

Kĩ thuật này khá nhạy và đơn giản, cho phép ta xác định kháng nguyên hoặc kháng thể ở một nồng độ rất thấp (khoảng 0,1 ng/ml) So với kĩ thuật miễn dịch phóng

xạ (RIA- Radio Immuno Assay) thì kĩ thuật này rẻ tiền và an toàn hơn mà vẫn đảm bảo độ chính xác như nhau ELISA được dùng để xác định nhiều tác nhân gây bệnh như virus, vi khuẩn, nấm, kí sinh

Kĩ thuật ELISA gồm ba thành phần tham gia phản ứng là: kháng nguyên, kháng thể và chất tạo màu; thực hiện qua hai bước:

- Phản ứng miễn dịch học: Là sự kết hợp giữa kháng nguyên và kháng thể

- Phản ứng hóa học: Thông qua hoạt tính xúc tác của enzyme làm giải phóng oxy nguyên tử [O] từ H2O2 để oxy hóa cơ chất chỉ thị màu, do đó làm thay đổi màu của hỗn hợp trong dung dịch thí nghiệm

Trang 39

Phương pháp AOAC 995.09 phân tích Tylosin

Phương pháp này được bắt nguồn từ thí nghiệm phân tích màu thực vật trên cột chứa một chất hấp phụ của nhà hóa học Taves 1903

Nguyên tắc: Là sự chia tách trong sắc ký một pha động di chuyển qua một pha tĩnh và kéo dài các chất tan trong hỗn hợp phân tích di chuyển theo với tốc độ khác nhau Quá trình di chuyển của các chất giữa hai pha là quá trình hấp thu và phản hấp thu xảy ra hoặc phân bố liên tục Nếu gọi theo trạng thái pha động ta có sắc ký lỏng

và sắc ký khí Nếu gọi theo hình dạng của pha tĩnh ta có sắc ký cột và sắc ký lớp mỏng, sắc ký giấy

Phương pháp sắc ký giấy có một số ưu điểm hơn so với sắc ký lỏng như: Sử dụng ít môi trường, thời gian phân tích ngắn, hiệu lực tách cao Tuy nhiên phương pháp này ít được sử dụng trong thực tế để phân tích dư lượng kháng sinh vì lượng mẫu bơm nhỏ độ nhạy thấp Hiện nay, phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao là phương pháp được áp dụng phổ biến và có độ chính xác cao, phát hiện được hàm lượng rất nhỏ các kháng sinh tồn dư trong thực phẩm

Trong thực tế người ta sử dụng kết hợp các phương pháp nhằm giảm chi phí làm tăng độ chính xác Phương pháp vi sinh vật và phương pháp sắc ký lỏng cao áp thường được sử dụng kết hợp với nhau

Ngày đăng: 14/03/2018, 15:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Hoàng Anh, Đào Nhật Phương, Nguyễn Minh Hiếu, Nguyễn Thanh Phương (2004), “Nghiên cứu ảnh hưởng của kháng sinh đến sức khỏe của con người”, Tạp chí nghiên cứu khoa học - Trường ĐH Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của kháng sinh đến sức khỏe của con người”, "Tạp chí nghiên cứu khoa học
Tác giả: Đặng Hoàng Anh, Đào Nhật Phương, Nguyễn Minh Hiếu, Nguyễn Thanh Phương
Năm: 2004
2. Nguyễn Quốc Ân (2009), Báo cáo “Sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi thú y tại Việt Nam”, Cục Thú y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi thú y tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quốc Ân
Năm: 2009
3. Bộ NN&amp;PTNT (2017), Quyết định số 2625/QĐ-BNN-TY, ngày 21/6/2017 về việc “Ban hành kế hoạch hành động quốc gia về quản lý sử dụng kháng sinh và phòng chống kháng sinh trong sản xuất chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2017 - 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban hành kế hoạch hành động quốc gia về quản lý sử dụng kháng sinh và phòng chống kháng sinh trong sản xuất chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2017 - 2020
Tác giả: Bộ NN&amp;PTNT
Năm: 2017
11. Bộ Y tế (2013), Thông tư 24/2013/TT-BYT ngày 14/8/2013 về việc ban hành “Quy định mức giới hạn tối đa dư lượng thuốc Thú y trong thực phẩm” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định mức giới hạn tối đa dư lượng thuốc Thú y trong thực phẩm
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2013
12. Bộ Y tế (2016), Dự thảo thông tư sửa đổi, bổ sung một số quy định của thông tư số 24/2013/TT- ngày 14/8/2013 về việc ban hành “Quy định mức giới hạn tối đa dư lượng thuốc Thú y trong thực phẩm” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định mức giới hạn tối đa dư lượng thuốc Thú y trong thực phẩm
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2016
13. The World Bank (2017), “Quản lý nguy cơ an toàn thực phẩm ở Việt Nam những thách thức và cơ hội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nguy cơ an toàn thực phẩm ở Việt Nam những thách thức và cơ hội
Tác giả: The World Bank
Năm: 2017
14. Nguyễn Tử Cương, Trần Duy Minh, Nguyễn Tử Tuấn Anh, Phạm Mỹ Dung, Ngô Hồng Phong (2016), Báo cáo kỹ thuật hoạt động EU -24: “Cập nhật và nâng cấp khung khổ quy định về dư lượng kháng sinh và hóa chất hợp pháp của Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cập nhật và nâng cấp khung khổ quy định về dư lượng kháng sinh và hóa chất hợp pháp của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tử Cương, Trần Duy Minh, Nguyễn Tử Tuấn Anh, Phạm Mỹ Dung, Ngô Hồng Phong
Năm: 2016
15. Phùng Quốc Chướng (2005), “Kết quả kiểm tra tính mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh của vi khuẩn Salmonella phân lập được từ vật nuôi tại Đắk Lắk”, Tạp chí KHKT thú y, tập XXII, số 2/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả kiểm tra tính mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh của vi khuẩn Salmonella phân lập được từ vật nuôi tại Đắk Lắk”, "Tạp chí KHKT thú y
Tác giả: Phùng Quốc Chướng
Năm: 2005
16. Phạm Đức Chương, Cao Văn, Nguyễn Thị Kim Lan (2003), Dược lý học thú y, Nxb Nông nghiệp - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược lý học thú y
Tác giả: Phạm Đức Chương, Cao Văn, Nguyễn Thị Kim Lan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2003
17. Chi cục Thú y Hà Nội (2016), “Báo cáo 651/BC-TY ngày 12/8/2016 Báo cáo số liệu thống kê tổng đàn vật nuôi, chợ, cơ sở giết mổ trên địa bàn thành phố Hà Nội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo 651/BC-TY ngày 12/8/2016 Báo cáo số liệu thống kê tổng đàn vật nuôi, chợ, cơ sở giết mổ trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả: Chi cục Thú y Hà Nội
Năm: 2016
18. Trần Mai Anh Đào, Trần Thị Hạnh (2004), “Định tính và bán định lượng kháng sinh trong thịt lợn, trứng gà bằng phương pháp FPT”, Tạp chí KHKT thú y, tập XI số 1/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tính và bán định lượng kháng sinh trong thịt lợn, trứng gà bằng phương pháp FPT”, "Tạp chí KHKT thú y
Tác giả: Trần Mai Anh Đào, Trần Thị Hạnh
Năm: 2004
19. Phạm Kim Đăng (2005), Tiếp cận phương pháp phát hiện tồn dư kháng sinh trong thực phẩm có nguồn gốc động vật, Giáo trình sau đại học, Nxb Nông nghiệp - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận phương pháp phát hiện tồn dư kháng sinh trong thực phẩm có nguồn gốc động vật, Giáo trình sau đại học
Tác giả: Phạm Kim Đăng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2005
20. Nguyễn Thị Hằng (2001), “Dư lượng kháng sinh và Hormone trong một số mẫu thịt”, Báo Lao động số 104 ngày 15/11/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dư lượng kháng sinh và Hormone trong một số mẫu thịt
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Năm: 2001
21. Phạm Khắc Hiếu (2007), “Thuốc Tăng trọng nhìn từ góc độ dược lý”, Tạp chí KHKT Thú y, tập XVI, số 3/2007, trang 78-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc Tăng trọng nhìn từ góc độ dược lý”, "Tạp chí KHKT Thú y
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu
Năm: 2007
22. Bùi Thị Phương Hoa (2008), “Thực trạng công tác vệ sinh an toàn thực phẩm trong ngành chăn nuôi thú y và giải pháp khắc phục”, Tạp chí KHKT Thú y tập XV, số 2/2008, trang 93-99 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng công tác vệ sinh an toàn thực phẩm trong ngành chăn nuôi thú y và giải pháp khắc phục”, "Tạp chí KHKT Thú y
Tác giả: Bùi Thị Phương Hoa
Năm: 2008
23. Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân, Trần Văn Phùng, Nguyễn Thị Hải, Từ Trung Kiến, Vi Thị Thanh Thủy (2009), Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ:“Nghiên cứu mức độ tồn dư kháng sinh và Hormone trong một số thực phẩm chính trên thị trường tỉnh Thái Nguyên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mức độ tồn dư kháng sinh và Hormone trong một số thực phẩm chính trên thị trường tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân, Trần Văn Phùng, Nguyễn Thị Hải, Từ Trung Kiến, Vi Thị Thanh Thủy
Năm: 2009
24. Trần Thị Hồng (2012), “Xác định đồng thời dư lượng kháng sinh nhóm Nitrofuran trong một số loại thực phẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội bằng phương pháp sắc ký lỏng khối phổ LC/MS/MS”, Trường đại học Khoa học tự nhiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định đồng thời dư lượng kháng sinh nhóm "Nitrofuran" trong một số loại thực phẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội bằng phương pháp sắc ký lỏng khối phổ LC/MS/MS
Tác giả: Trần Thị Hồng
Năm: 2012
25. Hà Duy Khôi, Phạm Công Khuẩn, Phạm Duy Tường (2004), Dinh dưỡng và vệ sinh sản phẩm, Nxb Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng và vệ sinh sản phẩm
Tác giả: Hà Duy Khôi, Phạm Công Khuẩn, Phạm Duy Tường
Nhà XB: Nxb Y học Hà Nội
Năm: 2004
26. Lã Văn Kính và cs (2007), Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu sản xuất thịt lợn an toàn chất lượng cao” - Viện khoa học kỹ thuật Miền Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sản xuất thịt lợn an toàn chất lượng cao
Tác giả: Lã Văn Kính và cs
Năm: 2007
27. Lã Văn Kính (2006), “Thịt lợn tồn dư Hormone là có thật”, báo Lao động số 336 ra ngày 16 tháng 12 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thịt lợn tồn dư Hormone là có thật”, "báo Lao động
Tác giả: Lã Văn Kính
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm