Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà đẻ trứng ISA Brown thương phẩm nuôi trong các điều kiện chuồng trại khác nhau trên địa bàn thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà đẻ trứng ISA Brown thương phẩm nuôi trong các điều kiện chuồng trại khác nhau trên địa bàn thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà đẻ trứng ISA Brown thương phẩm nuôi trong các điều kiện chuồng trại khác nhau trên địa bàn thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà đẻ trứng ISA Brown thương phẩm nuôi trong các điều kiện chuồng trại khác nhau trên địa bàn thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà đẻ trứng ISA Brown thương phẩm nuôi trong các điều kiện chuồng trại khác nhau trên địa bàn thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà đẻ trứng ISA Brown thương phẩm nuôi trong các điều kiện chuồng trại khác nhau trên địa bàn thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà đẻ trứng ISA Brown thương phẩm nuôi trong các điều kiện chuồng trại khác nhau trên địa bàn thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ QUỐC PHẤN
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GIỐNG GÀ
ĐẺ TRỨNG ISA BROWN THƯƠNG PHẨM NUÔI TRONG
CÁC ĐIỀU KIỆN CHUỒNG TRẠI KHÁC NHAU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên - 2017
Trang 2ĐỖ QUỐC PHẤN
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GIỐNG GÀ
ĐẺ TRỨNG ISA BROWN THƯƠNG PHẨM NUÔI TRONG
CÁC ĐIỀU KIỆN CHUỒNG TRẠI KHÁC NHAU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số: 60 62 01 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Ngô Thị Kim Cúc
2 TS Phạm Thị Hiền Lương
Thái Nguyên - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
- Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa được sử dụng để bảo vệ bất cứ một học vị nào
- Mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện nghiên cứu và viết luận văn
đã được cảm ơn Tất cả các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 11 năm 2017
TÁC GIẢ
Đỗ Quốc Phấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện Luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè và sự động viên khích lệ của gia đình Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Xin trân trọng cảm ơn cô giáo TS Ngô Thị Kim Cúc và cô giáo TS
Phạm Thị Hiền Lương đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi hết sức tận tình
trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Trân trọng cảm ơn các cơ sở chăn nuôi gà đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự ủng hộ, động viên, giúp đỡ của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 11 năm 2017
TÁC GIẢ
Đỗ Quốc Phấn
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Cơ sơ khoa học của việc nghiên cứu sự di truyền các tính trạng ở gà 3
1.1.2 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng của gia cầm 4
1.1.3 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản 5
1.1.4 Một số đặc điểm của giống gà Isa Brown 18
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 19
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 19
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 22
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 25
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 25
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 25
2.3 Nội dung nghiên cứu 25
2.4 Phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1 Bố trí thí nghiệm 25
2.4.2 Chế độ dinh dưỡng 26
Trang 62.4.3 Mô tả điều kiện chuồng trại nuôi dưỡng 26
2.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định 27
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 30
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Khả năng sinh trưởng của gà Isa Brown giai đoạn hậu bị 31
3.1.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà Isa Brown giai đoạn hậu bị (10 - 20 tuần tuổi) 31
3.1.2 Khối lượng của gà Isa Brown giai đoạn hậu bị 34
3.1.3 Lượng thức ăn thu nhận của gà thí nghiệm giai đoạn hậu bị 37
3.2 Khả năng sinh sản của gà Isa Brown thương phẩm 39
3.2.1 Tỷ lệ giảm đàn của gà Isa Brown giai đoạn sinh sản 39
3.2.2 Tuổi thành thục sinh dục của gà Isa Brown thương phẩm nuôi theo 2 hình thức chuồng kín và hở 41
3.2.3 Khối lượng cơ thể gà Isa Brown thương phẩm nuôi thí nghiệm ứng với từng tỷ lệ đẻ 44
3.2.4 Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng 45
3.2.5 Tỷ lệ trứng dập vỡ 48
3.2.6 Ảnh hưởng của nhiệt độ chuồng nuôi đến năng suất trứng của gà Isa Brown thí nghiệm 50
3.2.7 Khả năng chuyển hóa thức ăn của gà Isa Brown thương phẩm 52
3.3 Một số chỉ tiêu chất lượng trứng 58
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61
1 Kết luận 61
2 Đề nghị 62
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 26
Bảng 2.2 Chế độ dinh dưỡng của gà Isa Brown nuôi sinh sản 26
Bảng 3.1: Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm giai đoạn 10 - 20 tuần tuổi (%) 32
Bảng 3.2: Khối lượng cơ thể của gà Isa Brown hậu bị qua các tuần tuổi nuôi theo 2 loại hình chuồng kín và chuồng hở 35
Bảng 3.3: Lượng thức ăn thu nhận của gà Isa Brown giai đoạn hậu bị nuôi theo 2 hình thức chuồng kín và chuồng hở 37
Bảng 3.4: Tỷ lệ giảm đàn của gà Isa Brown thí nghiệm giai đoạn 21 - 38 tuần tuổi nuôi theo 2 loại hình chuồng trại 40
Bảng 3.5: Tuổi thành thục tính dục của gà Isa Brown thương phẩm nuôi theo 2 loại hình chuồng kín và hở 41
Bảng 3.6 Khối lượng cơ thể gà Isa Brown thương phẩm nuôi thí nghiệm ứng với từng tỷ lệ đẻ 44
Bảng 3.7: Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng của gà Isa Brown thương phẩm nuôi chuồng kín và chuồng hở 46
Bảng 3.8 Tỷ lệ trứng gà Isa Brown thương phẩm bị dập, vỡ nuôi theo 2 loại hình chuồng kín và hở 49
Bảng 3.9 Nhiệt độ cao nhất và năng suất trứng gà Isa Brown thương phẩm 51
Bảng 3.10: Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng (kg) 53
Bảng 3.11: Tiêu tốn năng lượng trao đổi (ME) /10 quả trứng (Kcal) 55
Bảng 3.12: Tiêu tốn protein /10 quả trứng (g) 57
Bảng 3.13: Một số chỉ tiêu chất lượng trứng 59
Trang 8DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
Trang
Hình 3.1 Biểu đồ về tỷ lệ nuôi sống của gà Isa Brown giai đoạn hậu bị
nuôi theo 2 loại hình chuồng kín và chuồng hở 33Hình 3.2 Đồ thị về khối lượng cơ thể của gà Isa Brown hậu bị qua các
tuần tuổi nuôi theo 2 loại hình chuồng kín và chuồng hở 36Hình 3.3 Biểu đồ về tuổi thành thục tính dục của gà Isa Brown thương
phẩm nuôi chuồng kín và chuồng hở 43
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi gà là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong ngành chăn nuôi của Thành phố Hà Nội; hàng năm nghề chăn nuôi gà cung cấp từ 38 - 40 ngàn tấn thịt Trong đó sản lượng thịt gà công nghiệp chiếm 25 - 28 ngàn tấn và hơn 350 - 370 triệu quả trứng, trong đó có khoảng 230 - 300 triệu quả là trứng gà công nghiệp
Tuy vậy, chăn nuôi gà ở Thành phố Hà Nội vẫn còn trong tình trạng nhỏ
lẻ phân tán, lạc hậu, năng suất thấp, dịch bệnh nhiều, sản phẩm hàng hóa còn ít, bình quân sản lượng thịt/người chỉ đạt 4,5 - 5 kg/người/năm, sản lượng trứng/người chỉ đạt 54 - 55 quả/người/năm Như vậy, sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu tiềm năng về tiêu thụ sản phẩm của Thành phố, một lượng lớn thực phẩm có nguồn gốc từ nghề nuôi gà phải nhập từ các tỉnh lân cận và nhập khẩu Tiềm năng phát triển ngành chăn nuôi gà còn rất lớn, Thành phố cần có định hướng cho ngành chăn nuôi gà phát triển phù hợp với nhu cầu thực phẩm sạch để ổn định thị trường và hội nhập kinh tế TPP
Trong những năm gần đây, chăn nuôi công nghiệp đã phát triển một cách mạnh mẽ trên địa bàn Thành phố Hà Nội; nhiều giống gà chuyên thịt, chuyên trứng cao sản, cho năng suất cao đã được nhập vào nuôi trên địa bàn Tuy nhiên, các giống gà này vẫn chỉ được nuôi tại các trang trại công nghiệp, gia công cho các công ty nước ngoài, các trang trại chăn nuôi hiện đại công nghiệp (chiếm số ít) mà vẫn chưa được nhân rộng ra các quy mô chăn nuôi khác vốn tồn tại phổ biến ở Hà Nội như hình thức chăn nuôi bán công nghiệp
Hiện nay, trên địa bàn Hà Nội chăn nuôi gà Isa Brown đã được phổ biến khá rộng rãi Giống gà chuyên trứng nhập nội cao sản Isa Brown là giống gà đang được nuôi phổ biến ở nước ta
Trang 10Gà mái thương phẩm có màu nâu, lúc 1 ngày tuổi, con trống lông màu trắng, con mái có màu nâu tuy nhiên chưa có báo cáo kết quả nghiên cứu nào về khả năng sản xuất của giống gà này nuôi theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp
Để góp phần đánh giá đầy đủ khả năng sản xuất của gà Isa Brown ở các phương thức chăn nuôi khác nhau và lựa chọn phương pháp chăn nuôi hiệu quả,
an toàn dịch bệnh chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà đẻ trứng Isa Brown thương phẩm nuôi trong các điều kiện chuồng trại khác nhau trên địa bàn thành phố Hà Nội”
2 Mục tiêu của đề tài
Đánh giá được khả năng sinh trưởng và sinh sản của gà Isa Brown thương
phẩm nuôi trong các điều kiện chuồng trại khác nhau
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu đề tài đóng góp thêm cơ sở khoa học về ảnh hưởng
của phương thức chăn nuôi đến khả năng sản xuất của gà Isa Brown trên địa bàn
Hà Nội
- Đề tài là tài liệu tham khảo cho các nhà khoa học, học sinh, sinh viên
trong trường Đại học và Cao đẳng ngành Chăn nuôi
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sơ khoa học của việc nghiên cứu sự di truyền các tính trạng ở gà
Khi nghiên cứu để tìm ra các quy luật di truyền, Mendel đưa ra khái niệm tính trạng Tính trạng là đặc trưng của một cá thể mà ta có thể quan sát hay xác định được Có hai loại tính trạng: Tính trạng chất lượng và tính trạng số lượng Tính trạng số lượng là những tính trạng mà sự khác nhau giữa các cá thể là sự sai khác về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại
Trong quá trình lai, các tính trạng chất lượng sẽ phân li theo tỷ lệ nhất định, nhưng đối với tính trạng số lượng sự phân li không phù hợp với các tỷ lệ
đó Cho nên khi mới bắt đầu nghiên cứu sự di truyền các tính trạng số lượng người ta đã thu được những kết quả hầu như đối lập với các định luật Mendel,
và vì thế Ganton, Pearson đã cho rằng tính trạng số lượng không tuân theo các định luật Mendel, thậm chí Bateson, De Vries còn khẳng định tính trạng số lượng là những tính trạng không di truyền Mãi đến năm 1908 nhờ các công trình nghiên cứu của Nilsson-Ehle người ta mới xác định rõ: các tính trạng số lượng có biến dị liên tục, cũng di truyền theo đúng các định luật của các tính trạng chất lượng có biến dị gián đoạn, tức là các định luật cơ bản về di truyền của Mendel
Ngành di truyền có liên quan đến các tính trạng số lượng gọi là di truyền học số lượng hay di truyền học sinh trắc Giá trị của bất kỳ tính trạng số lượng nào (giá trị kiểu hình) đều được biểu thị thông qua giá trị kiểu gen và sai lệch môi trường:
P = G + E
Trang 12Trong đó: P - Giá trị kiểu hình (phenotypic value)
G - Giá trị kiểu gen (genotypic value)
E - Sai lệch môi trường (environmental deviation) Tùy theo phương thức tác động khác nhau của các gen - allen, giá trị kiểu gen bao gồm các thành phần khác nhau: giá trị cộng gộp (additive value) hoặc giá trị giống (breeding value): A; sai lệch trội (dominance deviation): D; sai lệch át gen (epistasic deviation) hoặc sai lệch tương tác (interaction deviation): I, do đó:
G = A + D + I
Sai lệch môi trường cũng thể hiện thông qua sai lệch môi trường chung (general environmental deviation): Eg là sai lệch giữa cá thể do hoàn cảnh thường xuyên và không cục bộ gây ra; sai lệch môi trường riêng (special environmental deviation): Es là sai lệch trong cá thể do hoàn cảnh tạm thời và cục bộ gây ra
Như vậy, khi một kiểu hình của một cá thể được cấu tạo từ 2 locus trở lên thì giá trị kiểu hình của nó được biểu thị:
P = A + D + I + Eg + Es
Tất cả các giá trị kiểu hình và kiểu gen của các tính trạng số lượng luôn biến thiên do tác động qua lại giữa các tổ hợp gen và môi trường Để định hướng cho việc chọn lọc các tính trạng cần phải đánh giá phương sai của chúng
Cho tới nay, hầu như toàn bộ các thành tựu về cải tiến di truyền ở vật nuôi
mà ngành sản xuất chăn nuôi được thừa hưởng đều là những kết quả nghiên cứu ứng dụng dựa trên cơ sở di truyền học số lượng
1.1.2 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng của gia cầm
Sinh trưởng là quá trình tích lũy hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền của đời trước Sinh trưởng là sự tích lũy
Trang 13dần các chất, chủ yếu là protein nên tốc độ và khối lượng tích lũy các chất, tốc
độ và sự tổng hợp protein cũng là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể Đối với gia cầm, sự sinh trưởng được chia làm hai giai đoạn chính: thời kì hậu phôi và thời kì trưởng thành Như vậy, sinh trưởng sẽ thông qua 3 quá trình: phân chia tế bào để tăng số lượng, tăng thể tích của tế bào
và tăng thể tích giữa các tế bào Khi nghiên cứu về sinh trưởng không thể không nói đến phát dục Phát dục là quá trình thay đổi về chất tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các bộ phận của cơ thể Phát dục của cơ thể con vật hình thành từ khi trứng thụ tinh, trải qua nhiều giai đoạn phức tạp cho đến khi trưởng thành
Tỷ lệ nuôi sống của gà con khi nở là chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá sức sống của gia cầm Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng cao hơn các giống vật nuôi ở xứ lạnh Tỷ lệ nuôi sống của gia cầm phụ thuộc vào chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu…Ngoài ra, tỷ lệ nuôi sống của gia cầm còn phụ thuộc vào sức sống của đàn gà bố mẹ, gà mái đẻ tốt thì tỷ lệ nuôi sống của gà con sẽ tốt và ngược lại Đối với cơ thể sinh vật những phản ứng sinh lý trong phản ứng stress là tác động tương quan giữa gen và môi sinh, trong đó tất nhiên chịu ảnh hưởng vai trò của các quy luật di truyền đa gen, trội, lặn, giới tính
1.1.3 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản
1.1.3.1 Sinh lý sinh sản của gia cầm mái
Gia cầm là động vật đẻ trứng, con mái thoái hóa buồng trứng bên phải, chỉ còn lại buồng trứng và ống dẫn trứng bên trái tồn tại và phát triển Khi giao phối gai giao cấu của con trống áp sát vào lỗ huyệt của con mái và phóng tinh vào âm đạo
Buồng trứng nằm ở phía trái của xoang bụng, về phía trước và hơi thấp hơn thận trái, được đỡ bằng các nếp gấp của màng bụng từ trên xuống Nếp gấp khác của màng bụng nối nó với ống dẫn trứng Kích thước và hình dạng của buồng
Trang 14trứng phụ thuộc vào tuổi và loài gia cầm Gà 1 ngày tuổi buồng trứng có kích thước 1 - 2 mm, khối lượng 0,03g Thời kỳ gà đẻ trứng, buồng trứng có hình chum nhỏ, khối lượng khoảng 45 - 55g chứa rất nhiều tế bào trứng Sự hình thành buồng trứng và tuyến sinh dục xảy ra vào thời kỳ đầu của sự phát triển phôi Sau mỗi lứa tuổi lại có những thay đổi về cấu trúc và chức năng của buồng trứng
Buồng trứng có chức năng tạo lòng đỏ, các ống dẫn trứng có chức năng tiết ra lòng trắng đặc, lòng trắng loãng, màng vỏ, vỏ và lớp keo mỡ bao ngoài và
vỏ trứng Thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng từ 20 - 24h, tế bào trứng tăng trưởng nhanh, đặc biệt là lòng đỏ
Lòng đỏ được tạo thành trước khi đẻ 9 - 10 ngày, trong thời kỳ sinh trưởng lớn dài 4 -13 ngày lòng đỏ chiếm 90 - 95% khối lượng tế bào trứng, thành phần chính gồm phôt pho lipit, mỡ trung hòa, các chất khoáng và vitamin; tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ không tương quan đến cường độ đẻ trứng Quá trình hình thành trứng và rụng trứng là một quá trình sinh lý phức tạp do sự điều khiển của hocmon, thời gian từ khi đẻ trứng đến khi rụng trứng tiếp theo kéo dài
từ 15 - 75 phút
Sự rụng trứng được tính khi tế bào trứng rời khỏi buồng trứng rơi vào loa kèn Sự rụng trứng chỉ xảy ra một lần trong ngày, nếu gà đẻ trứng vào cuối buổi chiều (16h) thì sự rụng trứng thực hiện vào buổi sáng hôm sau
Trứng được giữ lại trong ống dẫn trứng làm đình trệ sự rụng trứng tiếp theo Sự rụng trứng của gà thường xảy ra từ 2 giờ đến 14 giờ
Chu kỳ rụng trứng phụ thuộc vào các yếu tố: điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, lứa tuổi và trạng thái sinh lý của gia cầm Nếu thức ăn kém chất lượng, nhiệt độ không khí cao sẽ làm giảm sự rụng trứng và đẻ trứng Ví dụ, ở Xí nghiệp gà giống Lương Mỹ, Tam Dương vào mùa nóng (tháng 5 - 7) với nhiệt
độ 35 - 400C thì sức đẻ trứng của gà ISA đã giảm 15 - 20% Gà nhiễm bệnh cũng hạn chế khả năng rụng trứng (Lê Huy Liễu và cs., 2003) [17]
Trang 151.1.3.2 Tuổi thành thục sinh dục
Tuổi thành thục sinh dục là tuổi bắt đầu con vật có hoạt động sinh dục và
có khả năng tham gia quá trình sinh sản Ở gà mái tuổi thành thục sinh dục là tuổi đẻ quả trứng đầu tiên đối với từng cá thể hoặc lúc tỷ lệ đẻ đạt 5% đối với mỗi đàn (quần thể) gà (Pingel và cs, 1980 - dẫn theo Trần Thị Mai Phương 2004) [25] Trong một đàn gà mái chỉ tiêu này được xác định bằng tuổi đẻ 5% số
cá thể trong đàn, tuổi đẻ quả trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng, thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm Theo Siegel (1962) khối lượng
cơ thể và cấu trúc thành phần cơ thể là những nhân tố ảnh hưởng đến tính thành thục ở gà màu
Tuổi thành thục về tính chịu ảnh hưởng của giống và môi trường Các giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Pingel và cs (1980) (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004) [25] cho rằng, tuổi thành thục sinh dục của gà khoảng 170 - 180 ngày, biến động trong khoảng 15 - 20 ngày
Tuổi đẻ quá trứng đầu của gà Lạc Thủy là 136 - 140 ngày (Trần Thanh Vân
và cs, 2015) [38], gà Đông Tảo 157 ngày (Phạm Thị Hoà, 2004) [9], Tuổi đẻ đầu trung bình của gà mèo là 171,4 ngày, gà lai Ri - Mèo là 162,34 ngày và gà lai Mèo
- Ri là 164,82 ngày (Nguyễn Duy Hoan và Nguyễn Hữu Hòa, 2008) [10]
Kết quả nghiên cứu của Vũ Quang Ninh (2002) [24] cho biết tuổi đẻ quả trứng đầu của gà Ác Thái Hòa 152- 158 ngày; đạt tỷ lệ 50% lúc 195 - 198 ngày Phùng Đức Tiến và cs (2007) [32] chỉ ra rằng tuổi đẻ đạt tỷ lệ 5% của gà Ai Cập
Trang 16Ri là 164,82 ngày Sản lượng trứng/mái/năm của gà Mèo là 95,31 quả; của gà Ri
- Mèo là 135,4 quả và gà Mèo - Ri là 124,3 quả
Tuổi đẻ sớm hay muộn liên quan chặt chẽ đến khối lượng cơ thể ở một thời điểm nhất định Các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục sinh dục sớm là ngày, tháng nở của gà con (độ dài của ngày chiếu sáng), khoảng thời gian chiếu sáng tự nhiên hay nhân tạo, cũng như khối lượng cơ thể Sự biến động trong tuổi thành thục sinh dục có thể còn do các yếu tố khác có ảnh hưởng đến sinh trưởng
và phát triển như chăm sóc, quản lý, thú y hay khẩu phần ăn cũng có ảnh hưởng mạnh đến chỉ tiêu này (Jonhanson, 1972) Khối lượng gà mái thành thục và khối lượng trứng gà tăng dần qua từng thời điểm đẻ 5% và đẻ đỉnh cao
Nhiều tác giả nghiên cứu về tuổi đẻ quả trứng đầu ở gia cầm cho rằng, đây
là chỉ tiêu đánh giá sự thành thục sinh dục, cũng được coi là yếu tố cấu thành năng suất trứng Đối với từng cá thể, tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là số ngày kể từ khi nở ra đến khi đẻ quả trứng đầu tiên Trong thực tế sản xuất, tuổi đẻ quả trứng đầu được xác định khi có 5% số cá thể đàn gà đã đẻ
Tuổi đẻ và năng suất trứng có mối tương quan thuận, tuổi đẻ trứng đầu phụ thuộc vào bản chất di truyền, chế độ nuôi dưỡng, yếu tố môi trường Đặc biệt là thời gian chiếu sáng sẽ thúc đẩy gia cầm thành thục sinh dục Thời gian chiếu sáng kéo dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ trứng sớm (Khavecman, 1972) (dẫn theo Trần Quốc Hùng, 2012) [12]
1.1.3.3 Năng suất trứng
Năng suất trứng là số trứng một gia cầm mái sinh ra trong một đơn vị thời gian Đối với gia cầm đẻ trứng, đây là chỉ tiêu năng suất quan trọng nhất, phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào giống, đặc điểm của cá thể, hướng sản xuất, mùa vụ và dinh dưỡng
Trang 17Năng suất trứng của gà Đông Tảo/36 tuần đẻ đạt 67,71 quả/ mái (Nguyễn Đăng Vang và cs, 1999) [37] Phùng Đức Tiến và cs (2007) [32] nghiên cứu trên
gà Ai Cập, công bố năng suất trứng từ 22 - 64 tuần đạt 158,4 quả/ mái
Giữa các dòng trong một giống, dòng trống có năng suất trứng cao hơn dòng mái, Bùi Quang Tiến và cs (1999) [30], nghiên cứu trên gà Ross - 208 cho biết năng suất trứng/ 9 tháng đẻ của dòng trống đạt 106,39 quả dòng mái đạt 151,08 quả
1.1.3.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia cầm
Khả năng sinh sản của gia cầm phụ thuộc vào hai yếu tố chủ yếu là yếu tố
di truyền và ngoại cảnh
* Yếu tố di truyền
Theo Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [16], sức sản xuất trứng chịu sự chi phối của các tập hợp gen khác nhau; các gen quy định tính trạng này nằm trên nhiễm sắc thể thường và bị hạn chế bởi giới tính Sản lượng trứng được truyền lại cho đời sau từ bố mẹ
Theo nghiên cứu của nhiều tác giả, việc sản xuất trứng của gia cầm do 5 yếu tố ảnh hưởng mang tính di truyền đó là tuổi thành thục sinh dục, cường độ
đẻ trứng, bản năng đòi ấp, thời gian kéo dài của chu kì đẻ
- Tuổi thành thục sinh dục: Tuổi thành thục sinh dục liên quan đến năng suất trứng của gia cầm, thành thục sớm là một tính trạng mong muốn tuy nhiên cần chú ý đến khối lượng cơ thể Tuổi bắt đầu đẻ và kích thước cơ thể có tương quan nghịch, chọn lọc theo hướng tăng khối lượng quả trứng sẽ làm tăng khối lượng cơ thể gà và tăng tuổi thành thục sinh dục Tuổi thành thục sinh dục xác định qua tuổi đẻ quả trứng đầu tiên Tuổi thành thục sinh dục của một nhóm hoặc một đàn gia cầm được xác định theo tuổi đạt tỷ lệ đẻ là 5% Có nhiều yếu
tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục sinh dục của gia cầm loài, giống, dòng, hướng sản xuất, mùa vụ nở, thời gian chiếu sáng, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc quản lý
Trang 18- Cường độ đẻ: Do 2 cặp gen R - r và R’ - r’ phối hợp cộng lại để điều hành, cường độ đẻ trứng càng cao thì sản lượng trứng càng cao và ngược lại
- Bản năng đòi ấp: Do 2 gen A và C điều khiển, phối hợp với nhau Nếu phản xạ đòi ấp mạnh thì năng suất trứng ít do thời gian đẻ trứng ngắn Theo King và Hauddersson, hệ số di truyền của bản năng đòi ấp là 31% Tuy nhiên,
nó còn phụ thuộc yếu tố ngoại cảnh như thức ăn, nhiệt độ cao, bóng tối, sự có mặt của gia cầm con… đều tạo điều kiện kích thích sự ham ấp và nghỉ đẻ
- Thời gian kéo dài của chu kì đẻ:
Chu kì đẻ trứng sinh học liên quan tới thời vụ nở của gia cầm con Tùy thuộc vào thời gian nở mà bắt đầu và kết thúc của chu kì đẻ trứng sinh học có thể xảy ra trong thời gian khác nhau trong năm Ở gà, chu kì này thường kéo dài một năm; gà tây, vịt và ngỗng chu kì thường ngắn hơn và theo mùa Chu kì đẻ trứng sinh học có mối tương quan thuận với tính thành thục sinh dục, nhịp độ đẻ trứng, sức bền đẻ trứng và chu kì đẻ trứng Giữa sự thành thục và thời gian kéo dài chu kì đẻ trứng sinh học có tương quan nghịch rõ rệt Các cá thể có sự khác nhau về bản chất di truyền của thời điểm kết thúc năm sinh học, điều này cho phép tiến hành chọn lọc theo sự đẻ trứng ổn định và do đó nâng cao năng suất trứng của cả năm, giữa thời gian kéo dài đẻ trứng và sức sản xuất trứng có hệ số tương quan dương rất cao Lerner and Taylor (1943) cho rằng thời gian kéo dài chu kì đẻ trứng là yếu tố quyết định năng suất trứng (dẫn theo Trịnh Thị Tú, 2015) [36]
Sau mỗi chu kì đẻ trứng sinh học gia cầm thường nghỉ đẻ và thay lông Trong điều kiện bình thường thay lông lần đầu tiên là đặc điểm quan trọng để đánh giá gia cầm đẻ tốt hay xấu, những gia cầm thay lông sớm thường đẻ kém
và thời gian thay lông kéo dài 4 tháng Ngược lại nhiều gia cầm thay lông muộn
và nhanh, thời gian nghỉ đẻ dưới 2 tháng
Trang 19* Yếu tố ngoại cảnh
Ngoài 5 yếu tố di truyền cá thể, khả năng sinh sản cua gia cầm còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau như giống, dòng gia cầm, tuổi gia cầm, dinh dưỡng, chế độ chăm sóc, tiểu khí hậu chuồng nuôi…
Theo Alagawany M và cs (2016) [42], dinh dưỡng hợp lý là bước đầu tiên cực kỳ quan trong đối với khả năng tăng trọng và năng suất trứng của gia cầm, đồng thời làm giảm các tác động tiêu cực đến môi trường
Yếu tố dinh dưỡng quan trọng là protein, vitamin sau đó đến muối khoáng, một số chất có hoạt tính sinh học…
Alagawany M và cs (2016) [42] cho biết, protein đóng vai trò quan trọng trong nền công nghiệp sản xuất thức ăn cho gia cầm và động vật nói chung Lượng protein hợp lý trong khẩu phần ăn làm tăng khả năng tăng trọng, tăng hiệu suất sử dụng thức ăn, tăng khả năng sản xuất và khả năng miễn dịch cho gia cầm
Gia cầm rất mẫn cảm với nhiệt độ và ẩm độ Khi nhiệt độ thấp thì nhu cầu tiêu thụ thức ăn cao để dùng cho việc sưởi ấm, khi nhiệt độ cao thì giảm mức tiêu thụ thức ăn thì không đáp ứng được nhu cầu gia cầm Theo các nghiên cứu khi nhiệt độ môi trường thay đổi thì nhu cầu năng lượng thay đổi 1,4%, độ ẩm quá cao (>80%) làm không thoát được khí độc trong chuồng nuôi dẫn đến chuồng nuôi ngột ngạt nếu kéo dài tình trạng này thì gia cầm sẽ bị ảnh hưởng đường hô hấp Độ ẩm quá thấp (<30%) làm cho gia cầm mổ lông, cắn đuôi nhau gây ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng sản xuất của gia cầm Chế độ chiếu sáng là yếu tố bên ngoài quan trọng nhất ảnh hưởng đến sản lượng trứng với gà
đẻ chế độ chiếu sáng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính, cường độ đẻ trứng Vì chế độ chiếu sáng ảnh hưởng đến hypothalamus
Trang 201.1.3.5 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng
* Khối lượng trứng
Khối lượng trứng là một trong những chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng, khối lượng trứng của các loài khác nhau thì khác nhau, trứng gà 55 - 56g, trứng vịt 90 - 110g, trứng gà tây 110g, trứng ngỗng 110 - 180g Khối lượng trứng cũng
là một chỉ tiêu để đánh giá về hiệu quả trong chăn nuôi gà lấy trứng, đồng thời khối lượng trứng cũng phản ánh sinh lực, sức sống của gia cầm non Ngoài yếu
tố di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc vào các yếu tố như khối lượng cơ thể mái khi thành thục sinh dục, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Hệ số di truyền về khối lượng trứng khá cao h2 = 0,52 Theo Brandsch and Bilchel (1978), h2 = 0,48 - 0,8; theo Wyatt (1953) h2 = 45 - 75; theo Lerner and Cruden (1951); Brandsch and Bilchel (1978) cho biết khối lượng trứng có hệ số di truyền cao hơn sức đẻ trứng, h2 = 0,52 nên dễ chọn giống (dẫn theo Trịnh Thị Tú, 2015) [36] Nhiều tác giả đã nghiên cứu và cho biết khối lượng trứng có tương quan
âm với sản lượng trứng (r = 0,36), tương quan dương với tuổi thành thục sinh dục (r = 0,31) Do đó, khối lượng trứng phụ thuộc vào mức chọn lọc; ở những dòng đã chọn lọc kỹ, khối lượng trứng trung bình cao hơn dòng chưa chọn lọc
10 - 15
Khối lượng trứng tăng theo tuổi đẻ của gia cầm và sự thay đổi khối lượng trứng ứng với sự thay đổi khối lượng cơ thể Bùi Quang Tiến và cs (1999) [30] nghiên cứu về gà Ross - 208 cho biết khối lượng trứng ở các tuần tuổi 27; 32; 38
và 42 lần lượt là: 53,96; 54,85; 56,76; 57,10 g/ quả đối với dòng trống và 52,41; 54,20; 56,38; 56,89 g/ quả đối với dòng mái
* Hình dạng trứng
Trứng gia cầm có hình dạng phổ biến là hình ovan và được thể hiện qua tỷ
số giữa chiều dài và chiều rộng của trứng hay ngược lại Chỉ số này không biến đổi theo mùa (Bransch and Bilchel, 1978 - dẫn theo Trịnh Thị Tú, 2015) [36]
Trang 21Tác giả cũng cho biết trứng của cùng một mái đẻ ra, lúc còn non tròn hơn lúc gà mái đã già Trứng gia cầm có thể phân biệt rõ đầu to và đầu nhỏ, những trứng không có hình dạng như trên mà quá tròn, quá dài, thắt ngẫng ở giữa đều không được chọn làm trứng ấp do có ảnh hưởng không chỉ với cấu tạo, chất lượng vỏ trứng mà còn ảnh hưởng đến vị trí đĩa phôi Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, chỉ số hình dạng của trứng là một chỉ tiêu để xem xét chất lượng của trứng ấp, những quả trứng dài hoặc quá tròn đều có tỷ lệ nở thấp
Lê Thị Nga (2005) [23] cho biết khi nghiên cứu xác định tính năng sản xuất của gà Goldline 54 cho thấy chỉ số hình dạng là 1,32 - 1,36
Như vậy, mỗi loài đều có chỉ số hình dạng đặc trưng và những trứng có hình dạng trung bình sẽ cho tỷ lệ nở cao; càng xa giá trị trung bình thì tỷ lệ nở càng thấp
* Độ dày vỏ trứng và mật độ lỗ khí
Vỏ trứng là lớp bảo vệ cho trứng tránh các tác động cơ học, tránh sự xâm nhập của vi khuẩn và còn là kho cung cấp canxi, photpho cho phôi phát triển, trao đổi chất trong quá trình ấp trứng; vỏ trứng được hình thành từ khi trứng nằm trong tử cung từ chất dịch nhầy cacbonatcanxi và cacboprotein
Theo Perdrix (1969); Card and Nesheim (1970) khi so với tổng khối lượng trứng thì vỏ chiếm 10 - 11,6%, lòng trắng chiếm 57 - 60% và lòng đỏ chiếm 30 - 32% (dẫn theo Trịnh Thị Tú, 2015) [36]
Theo Lê Thị Nga (2005) [23] trong vỏ theo tỷ lệ so với toàn bộ vỏ thì hơn 98% là vật chất khô, trong đó 95% là chất vô cơ, trong các chất vô cơ có khoảng 98% là canxi và 1% là photpho
Chất lượng vỏ trứng được thể hiện qua độ bền vững và độ dày của vỏ trứng Nhiều nhà nghiên cứu cho biết độ dày vỏ trứng gà chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền Trịnh Thị Tú (2015) [36] cho biết, hệ số di truyền tính được là
Trang 220,3 - 0,6 ngoài ra độ dày vỏ trứng còn phụ thuộc vào môi trường, không khí, dinh dưỡng, stress… Tuy vậy, hệ số di truyền của vỏ trứng tương đối cao
Theo Trịnh Thị Tú (2015) [36] độ dày vỏ trứng gà là 0,229 - 0,373 mm Trên các vị trí của vỏ trứng độ dày không đồng nhất dày nhất vùng đầu nhỏ và mỏng nhất vùng đầu to của trứng Theo Lê Thị Nga (2005) [23] độ dày của vỏ trứng có liên quan đến sự sống của phôi và kết quả ấp nở của chúng; trên bề mặt của vỏ trứng được bao phủ một lớp màng mỏng trong suốt gọi là cutin (90% protein là những sợi muxin đan xen kẽ, một ít hydratcacbon và một ít mỡ Độ dày màng ngoài khoảng 0,005 - 0.01 mm Màng cutin vừa có tác dụng bảo vệ, vừa có tác dụng ngăn cản thoát hơi nước của trứng, khi mất lớp vỏ này nhìn quả trứng nhẵn bóng, đây là đặc điểm để phân biệt trứng mới và trứng cũ Trứng gà Mía ở tuần tuổi 38 có độ dày trung bình 0,33mm và độ chịu lực 2,88kg/cm2(Trịnh Xuân Cư và cs, 2001) [2]
Trên bề mặt vỏ trứng có các lỗ khí có khả năng khuếch tán không khí các
lỗ khí này cho phép nước bay hơi đi cũng như oxi từ bên ngoài thẩm thấu vào trong trứng, khí cacbonic từ trong thoát ra Mặt trong lớp vỏ canxi rất gồ ghề gồm nhiều mỏm nhô ra khỏi bề mặt vỏ các mỏm này mềm hơn mặt ngoài và dễ hòa tan dưới tác dụng hóa học khi phôi phát triển, đây là nguồn cung cấp canxi, photpho cho phôi Vì vậy trong quá trình ấp nở trứng mỏng dần và dễ vỡ
Qua nhiều nghiên cứu cho thấy các loài khác nhau có lỗ khí trên bề mặt khác nhau và phân bố không đều Đầu to có biến động lỗ khí từ 77 - 144 lỗ/cm2, vùng giữa 106 - 131 và đầu nhỏ biến động 16 - 99 lỗ khí/cm2
Lớp tiếp giáp phía trong vỏ trứng là màng vỏ, gồm hai lớp dính sát nhau
và tách nhau ra ở đầu to gọi là buồng khí, lớp này cũng cho không khí đi qua, chất lượng vỏ trứng thể hiện ở độ bền, độ chịu lực, độ xốp Theo Đỗ Kim Dung (2014) [3] độ chịu lực của vỏ trứng gà Lạc Thủy là 4,07 kg/cm2, độ dày vỏ là 0,35mm
Trang 23Mặc dù độ dày vỏ trứng có hệ số di truyền rất lớn (yếu tố di truyền), 70% canxi cần cho vỏ trứng lại lấy trực tiếp từ thức ăn, do vậy điều kiện ngoại cảnh cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng vỏ trứng như dinh dưỡng, nhiệt độ… Khi nhiệt độ tăng từ 20 - 300C thì độ dày vỏ trứng giảm 6 - 10 %, không vỏ hoặc biến dạng theo (dẫn theo Lê Thị Nga, 2005) [23]
* Chất lượng lòng trắng trứng
Lòng trắng trứng được tiết ra từ ống dẫn trứng, chứa nhiều chất dinh dưỡng và nước để cung cấp cho nhu cầu phát triển của phôi và bảo vệ phôi khỏi những tác động cơ học Lòng trắng trứng cấu tạo gồm hai lớp lòng trắng đặc và lòng trắng loãng, chất lượng lòng trắng được thể hiện qua chỉ số lòng trắng Chỉ
số này được tính dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa tỷ số chiều cao lòng trắng đặc
và đường kính của chúng Trịnh Thị Tú (2015) [36] cho biết kết quả nghiên cứu của Toscovasev (1968) đã tính được hệ số di truyền của khối lượng lòng trắng là 0,22 - 0,27; tỷ lệ lòng trắng đặc/lòng trắng chiếm 62 - 64,5% Kết quả nghiên cứu của Orlov (1974) cho rằng chỉ số lòng trắng càng lớn thì tỷ lệ nở càng cao
và trên cơ sở nghiên cứu được cho biết trứng mùa đông có chất lượng lòng trắng cao hơn mùa hè… Tác giả còn cho biết chỉ số lòng trắng cao quá 0,1 cũng không phải là tốt, trứng của gà mái tơ và gà mái già có chỉ số lòng trắng thấp hơn trứng của gà mái đang độ tuổi sinh sản, trứng để lâu chỉ số lòng trắng thấp hơn trứng mới đẻ
Trứng có chất lượng tốt khi đổ ra một mặt phẳng nhẵn thì lớp lòng trắng đặc gọn và còn giữ nguyên hình ovan bao quanh lòng đỏ Lớp này có màu hơi phớt xanh hoặc màu vàng cam, lớp lòng trắng loãng ở ngoài có giới hạn rõ ràng
và cũng giữ hình ovan, tuy loãng nhưng vẫn có độ dày và không chảy thành dòng Dây chằng ở vị trí giữa theo chiều dọc trục lớn của quả trứng
Trứng có chất lượng kém quan sát thấy lòng trẵng loãng không màu hoặc màu đục, lòng trắng không giữ được hình dạng, chảy loang rộng ra và dây chằng
Trang 24nằm ở vị trí khác nhau Theo Marco (1982), hệ số di truyền của khối lượng lòng trắng h2 = 0,22 - 0,78 Orlov (1974) cho biết chỉ số lòng trắng trứng gà về mùa đông cao hơn mùa xuân và mùa hè, ở giống gà nhẹ cân chỉ số này không dưới 0,09 và giống kiêm dụng khoảng 0,08 Nguyễn Huy Đạt và cs (2001) [5] cho biết trứng gà Lương Phượng Hoa có chỉ số lòng trắng và lòng đỏ ở 38 tuần tuổi tương ứng là 0,14 và 0,53; ở 60 tuần tuổi tương ứng là 0,091 và 0,49
Chất lượng lòng trắng còn được đánh giá bằng đơn vị Haugh là mối quan
hệ giữa chiều cao lòng trắng đặc và khối lượng trứng Đơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng tốt Đơn vị Haugh bị ảnh hưởng bởi thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm mái (gà càng già trứng có đơn vị Haugh càng thấp), bệnh tật, nhiệt độ, thay lông (sau thay lông đơn vị Haugh cao hơn trước thay lông) và giống Trịnh Thị Tú (2015) [36] cho biết kết quả nghiên cứu của Xargava (1977) ở trứng ấp có chất lượng lòng trắng tốt cần có đơn vị Haugh từ
75 - 90
Nguyễn Huy Đạt và cs (2001) [5] cho biết trứng gà Lương Phượng Hoa
có chỉ số Haugh ở 38 tuần tuổi đạt 94,4 và 60 tuần tuổi đạt 91,1
Đỗ Kim Dung (2014) [3] cho biết trứng gà Lạc Thủy có chỉ số Haugh ở
38 tuần tuổi đạt 85,89 Nguyễn Thị Ngọc Minh (2015) [21] nghiên cứu và cho biết trứng gà đa cựa có chỉ số Haugh là 71,11
* Chất lượng lòng đỏ
Lòng đỏ là tế bào trứng của gia cầm có dạng hình cầu, đường kính khoảng
35 - 40mm và được bao bọc lớp màng lòng đỏ rất mỏng Màng có tính đàn hồi vừa giữ cho tế bào trứng ở dạng hình cầu, vừa có tính thẩm thấu chọn lọc để thực hiện việc trao đổi chất giữa lòng trắng trứng và lòng đỏ; chất lượng lòng đỏ được xác định thông qua chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng đỏ là tỷ số chiều cao lòng đỏ
và đường kính của nó; trứng có chỉ số lòng đỏ cao sẽ cho kết quả ấp nở cao Chỉ
số lòng đỏ biến đổi còn phụ thuộc vào mùa vụ, tuổi gia cầm, sức sản xuất và
Trang 25điều kiện nuôi dưỡng Theo Trịnh Thị Tú (2015) [36], chỉ số lòng đỏ của trứng
gà tươi là 0,40 - 0,42 Theo Nguyễn Quý Khiêm (2003), chỉ số lòng đỏ giảm còn 0,33 chứng tỏ lòng đỏ đã bị biến dạng (dẫn theo Lê Thị Nga, 2005) [23]
Hệ số di truyền chất lượng lòng đỏ là 0,43 (Marco, 1982) - trích theo Trịnh Thị Tú (2015) [36] vì vậy nếu được chọn lọc nó sẽ cho kết quả ấp nở cao Chỉ số lòng đỏ ít biến đổi hơn lòng trắng, nó bị giảm còn 0,25 - 0,29 nếu tăng nhiệt độ môi trường và bảo quản lâu
Chất lượng lòng đỏ còn có một chỉ tiêu cần xác định đó là tỷ lệ lòng trắng/lòng đỏ, chỉ tiêu này càng hẹp chất lượng trứng càng tốt Tỷ lệ lý tưởng giữa lòng trắng và lòng đỏ từ 1,8 - 2,0 Orlov (1974) cũng cho biết trứng có tỷ lệ lòng trắng/lòng đỏ nhỏ hơn 2 cho kết quả ấp nở tốt (dẫn theo Trịnh Thị Tú, 2015) [36]
Theo Đỗ Kim Dung (2014) [3], chỉ số lòng đỏ của trứng gà Lạc Thủy nuôi tại Hòa Bình là 0,45; tỷ lệ lòng đỏ là 35,43%
Nguyễn Thị Ngọc Minh (2015) [21] cho biết, chỉ số lòng đỏ của trứng gà
đa cựa nuôi tại Thái Nguyên là 0,52, tỷ lệ lòng đỏ là 29,07%
Màu sắc của lòng đỏ phụ thuộc vào lượng sắc tố trong máu, lượng caroten trong thức ăn Nói chung, màu lòng đỏ ổn định trong suốt thời gian đẻ nếu thay đổi thành phần và khẩu phần ăn, đặc biệt là khẩu phần nhiều caroten thì màu lòng đỏ cũng thay đổi đậm hơn Tuy nhiên màu sắc không biểu hiện đầy đủ thành phần dinh dưỡng của lòng đỏ mà chỉ là đặc điểm hấp dẫn người tiêu dùng
Rayan G N và cs (2013) [51] cho biết, tuổi gà càng cao thì khối lượng trứng, chỉ số lòng đỏ và khối lượng vỏ trứng gà càng tăng trong khi chỉ số hình dạng, tỷ lệ vỏ, độ dày vỏ giảm
Trang 261.1.4 Một số đặc điểm của giống gà Isa Brown
Isa Brown là giống gà chuyên trứng, đẻ trứng màu nâu của Viện Chọn giống vật nuôi (Institut de selection animal) viết tắt là ISA của Pháp Năm 1986
Xí nghiệp liên hợp giống gia cầm I, thuộc liên hiệp xí nghiệp gia cầm có nhận một số trứng gà Isa Brown do Việt kiều ở Pháp gửi về để ấp nuôi thử Đàn gà này được nhận xét tốt do có màu trứng đẹp, vỏ trứng dày, năng suất đẻ cao, thích nghi với phương thức nuôi đơn giản ở Việt Nam Cuối năm 1990 và giữa năm 1991, Công ty gia cầm thành phố Hồ Chí Minh đã nhập gà bố mẹ Isa Brown Gà bố có màu lông nâu đỏ, gà mẹ có màu lông trắng Gà con thương phẩm tự phân biệt giới tính qua màu lông: Con mái có màu nâu đỏ giống bố, con trống có màu trắng giống mẹ
Isa Brown là một dòng được phát triển cho chăn nuôi gà theo quy mô công nghiệp Gà có tầm vóc trung bình và lông màu nâu Đây là dòng đẻ trứng rất tốt, tỷ lệ đẻ lúc đạt cao nhất là 96%, và không bị nghỉ đẻ theo mùa Một ưu điểm rất lớn của dòng này là năng suất đẻ trứng của gà cao hơn hẳn so với các giống đẻ trứng khác
Theo tài liệu kỹ thuật của ISA (1993), một số chỉ tiêu của gà đẻ thương phẩm Isa Brown đạt như sau: Tỉ lệ nuôi sống từ 1 ngày đến 20 tuần tuổi là 98%
và từ 20 tuần tuổi đến 78 tuần tuổi là 93,3% Sản lượng trứng thay đổi qua các tuần tuổi từ 20 - 72 tuần tuổi là 303 quả/ năm và từ 20 - 76 tuần tuổi là 320,6 quả/ năm Khối lượng trứng cũng thay đổi qua các tuần tuổi, vào tuần tuổi thứ
24 là 56g/quả, tuần tuổi thứ 35 là 62g/quả và 72 tuần tuổi: 65g/quả (dẫn theo Trịnh Thị Tú, 2015) [36]
Khối lượng gà mái lúc bắt đầu đẻ là 1,7kg/con Gà bắt đầu đẻ bói vào tuần tuổi thứ 19, tỷ lệ đẻ 50% vào tuần thứ 21, tỷ lệ đẻ đạt đỉnh cao (93%) tuần thứ
26 - 33, và tuần 76 còn lại 73% (Phạm Thị Hiên, 2015) [8]
Trang 27Theo Nguyễn Văn Quyên (2000) [26] thì giống gà thương phẩm Isa Brown có thời gian sinh trưởng và phát dục chậm hơn các giống gà chuyên trứng khác khoảng 2 tuần
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Gà Đông Tảo có sản lượng trứng đạt 67,7 - 68,3 quả (Lê Viết Ly và cs,
2001 [18]) Gà Mía có khối lượng cơ thể lúc 14 - 15 tuần tuổi, gà trống nặng
2175 g, gà mái 1740 g (Nguyễn Văn Thiện và Hoàng Phanh, 1999) [28] Từ năm 1974, được sự giúp đỡ của nước Cộng hoà Cu Ba Việt Nam nhập nội hai
bộ giống gà thuần chủng: Giống gà chuyên trứng Leghorn với hai dòng X và Y; giống chuyên thịt Plymouth Rock với 3 dòng 799, 488, 433 Từ đây ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam mới chính thức được tổ chức thực hiện theo phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp
Trần Huê Viên (2006) [39] cho biết, hệ thống chuồng kín có tác dụng làm giảm tỷ lệ hao hụt và làm tăng khả năng sản xuất của gà mái Isa 30 MPK so với chuồng hở Năng suất trứng, tỷ lệ đẻ, tỷ lệ trứng giống của gà Isa 30 MPK nuôi chuồng kín đều cao hơn so với chuồng hở
Theo Lê Hồng Mận (2007) [19], gà thịt Isa Vedet có 4 dòng được tạo ra từ Pháp, gà bố mẹ được nhập vào nước ta từ năm 1994, gà thịt 49 ngày tuổi con trống đạt 2570 g, con mái 2270 g, sản lượng trứng 170 quả/ mái/ năm Gà trứng Brownick là gà cao sản trứng nhập về từ Mỹ, năng suất trứng 280 - 300 quả/ mái/ năm
Gà Isa Brown của Pháp, nhập vào nước ta sau năm 1995, lông màu nâu nhạt, thân hình nhỏ nhẹ, sản lượng trứng 280 - 300 trứng/ mái/ năm, trứng nặng
55 - 60g/ quả; tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 1500 - 1600g (Lê Hồng Mận, 2008) [20]
Trang 28Phùng Đức Tiến và cs (2004) [31] cho biết kết quả nghiên cứu chọn lọc một số tính trạng sản xuất của gà Ai Cập qua các thế hệ như sau gà Ai Cập ổn định về ngoại hình, màu sắc lông qua các thế hệ, gà có sức sống tôt, tỷ lệ nuôi sống cao, giai đoạn gà con (0 - 9) tuần tuổi trung bình đạt 98,06%; giai đoạn dò, hậu bị (10 - 21) tuần tuổi đạt 97,03%; giai đoạn sinh sản (40 tuần đẻ) đạt 90 - 91% Quá trình thích nghi, chọn lọc nâng cao năng suất đã đưa năng suất trứng
từ 149,9 quả/40 tuần đẻ ở thế hệ V; tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng giống giảm từ 2,27kg xuống còn 1,92kg
Lương Thị Hồng (2005) nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa
gà H’ Mông x gà Ai Cập Tác giả cho biết gà lai F1 (trống H’ Mông x mái Ai Cập) mang đặc điểm di truyền về tính trạng da đen, thịt đen của gà H’ Mông là 62,19% và cải thiện được các tính trạng năng suất trứng, tỷ lệ phôi, tỷ lệ nở, tỷ
lệ hao hụt đàn và tiêu tốn thức ăn cho 10 trứng so với gà H’ Mông (dẫn theo Nguyễn Thị Mười, 2006) [22]
Đào Lệ Hằng (2001) [6] nghiên cứu trên giống gà H’Mông tại Viện Chăn nuôi cho biết gà H’Mông có ngoại hình cao to, mào cờ, chân có nhiều lông, màu sắc lông đa dạng, tỷ lệ nuôi sống đến 7 tuần tuổi 94,64 - 98,31% Khối lượng sơ sinh 31,96g, lúc 16 tuần tuổi gà trống nặng 1232,55g và gà mái nặng 1071,90g; tuổi thành thục sinh dục lúc 21 tuần; năng suất trứng đạt 74,6 quả/36 tuần đẻ; tỷ
lệ trứng có phôi 81,23%, tỷ lệ nở 44,37%; năng suất trứng đạt 66,2 - 74,6 quả/mái/năm
Phùng Đức Tiến và cs (2010) [33] cho biết gà lai TP1 đạt tỷ lệ đẻ 5% ở
168 ngày tuổi, 50% ở 186 ngày tuổi Gà SA3IL đạt tỷ lệ đẻ 5% lúc 172 ngày tuổi, 50% lúc 194 ngày tuổi
Nguyễn Nhựt Xuân Dung và cs (2011) [4] cho biết, bổ sung mỡ cá tra và dầu phộng vào khẩu phần đã có ảnh hưởng khác biệt lên chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng trắng và tỷ lệ lòng trắng của gà Isa Browwn nuôi chuồng hở
Trang 29Giáp Thị Thu Huyền (2011) [13] nghiên cứu về khả năng sản xuất trứng của gà Ai Cập nuôi tại HTX chăn nuôi gà giống Cường Thịnh xã Đông Thọ - Yên Phong - Bắc Ninh cho biết gà Ai Cập có tuổi thành thục sinh dục sớm, tuổi
đẻ quả trứng đầu tiên là 132 ngày, tuổi đẻ 5% là 148 ngày, tuổi đẻ đỉnh cao là
217 ngày Tỷ lệ đẻ bình quân từ tuần tuổi 21 đến tuần 46 là 61,24%, tỷ lệ đẻ đạt đỉnh cao là 76,88%
Theo Bùi Thế Hoàn (2014) [11], tuổi đẻ quả trứng đầu của gà đa cựa nuôi tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ là 144,73 ngày
Nguyễn Thị Kim Khang và cs (2014) [15] cho biết bổ sung vitamin E trong khẩu phần ăn giúp nâng cao rõ rệt tỷ lệ đẻ của gà Isa Brown (tỷ lệ đẻ trong tuần của gà lô thí nghiệm cao nhất lên đến 98,07%)
Trần Thanh Vân và cs (2015) [38] cho biết, tuổi đẻ đầu của gà Lạc Thủy
là 136 - 140 ngày, đẻ đỉnh cao ở tuần 31 - 32, đẻ bình quân là 33,58%, năng suất mái đến 40 tuần tuổi đạt 49,42 quả/mái
Trịnh Thị Tú (2015) [36] đã nghiên cứu khả năng sản xuất của gà Isa Brown nuôi tại xã Yên Trường, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa và cho biết: Gà Isa Brown có tỷ lệ đẻ bình quân 27 tuần đẻ là 78,39%; tỷ lệ đẻ đỉnh cao đạt 90,26% , năng suất trứng tích lũy sau 27 tuần đẻ là 148,27 quả/mái; tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng cho giai đoạn từ tuần đẻ thứ 1 đến tuần đẻ thứ 27 là 2,2kg, chi phí thức
ăn cho 10 quả trứng trung bình trong 27 tuần đẻ là 22.000 đồng
Gà mái Isa Brown lúc bắt đầu đẻ có khối lượng khoảng 1,6 - 1,7 kg/con,
tỷ lệ đẻ cao 93,9%, khoảng 144 ngày đạt tỷ lệ đẻ 50%, đến 76 tuần tuổi sản lượng trứng đạt 329 quả/mái; khối lượng trứng trung bình 62,7 g/quả, vỏ trứng màu nâu Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 1,5 - 1,6 kg (Phạm Thị Hiên, 2015) [8]
Nguyễn Khánh Toàn (2016) [35] cho biết, tuổi đẻ quả trứng đầu của gà 6 ngón nuôi tại xã Mai Pha, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn là 140,8 ngày;
Trang 30tuổi đẻ đạt 5% là 147,50 ngày; tuổi đẻ đạt 50% là 181,6 ngày; tuổi để đỉnh cao
là 197,4 ngày
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Ngành chăn nuôi gà của thế giới trong thời gian qua đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh nhờ có sự tiến bộ vượt bậc về khoa học và công nghệ trong lĩnh vực chọn lọc, lai tạo giống, thức ăn, thú y và chuồng trại và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng
Nếu như trong thập niên 60 - 70 người ta sử dụng các tổ hợp lai 2 giống hoặc 2 dòng và đến thập niên 80 là những tổ hợp lai 3 dòng thì trong những năm gần đây, các tổ hợp lai chéo đã bao gồm nhiều dòng (4, 6 hoặc 8 dòng) và đã tận dụng một cách triệt để ưu thế lai của các dòng bố mẹ, tạo ra những sản phẩm có năng suất cao Hiện nay có nhiều giống gà nổi tiếng của các hãng sản xuất lớn
đã được nuôi phổ biến rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới như: Arbor Acres, Avian, Cobb, Hybro, Lohman meat, Ross, Isa những giống gà chuyên thịt lông trắng mà bố mẹ có thể sản xuất 150 - 160 gà con/ mái Gà thịt thương phẩm 35 -
42 ngày tuổi đã đạt khối lượng 2,0 - 2,3 kg, tiêu tốn thức ăn 1,7 - 1,9 kg thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng Những giống gà chuyên trứng vỏ trắng hoặc vỏ nâu với năng suất 310 - 340 quả trứng/ mái/ năm, tiêu tốn 2,0 - 2,2 kg thức ăn cho 1
kg trứng
Bên cạnh những tiến bộ về công tác giống, các tiến bộ về sản xuất thức ăn hỗn hợp, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và sự cải tiến không ngừng về chuồng trại, điều kiện chăm sóc đã làm cho ngành chăn nuôi gà của thế giới có được những tiến bộ nhảy vọt về các chỉ tiêu năng suất Trong thời gian từ 1950 đến
1990 để đạt được khối lượng gà broiler xuất chuồng 1,82 kg người ta đã giảm một nửa thời gian nuôi, giảm 40% lượng thức ăn tiêu tốn
Rahman và cs (2003) [50] cho biết năng sản xuất trứng của gà lai (Rhode -Islandred) x Fayoumi trong điều kiện chăn nuôi chuyên sâu ở Bangladesh Tác
Trang 31giả cho biết năng suất trứng của gà lai trống Fayoumi x mái RIR được cải thiện đáng kể so với công thức lai ngược nhưng tuổi bắt đầu vào đẻ, tỷ lệ chết và tiêu thụ thức ăn không có sự sai khác
Bouyeh M và Gevorgian O X (2011) [43] cho biết, trong chu kỳ sản xuất trứng của gà Hy-Line thì hàm lượng protein trong khẩu phần có ảnh hưởng đán kể đến trọng lượng cơ thể gà thí nghiệm Thức ăn có hàm lượng protein 14% có tác dụng tốt đến khả năng tăng khối lượng của gà hơn so với thức ăn có hàm lượng protein 13%
Rayan G N và cs (2013) [51] đã nghiên cứu so sánh năng suất và chất lượng trứng của 2 giống gà Ai Cập (gà trắng và gà nâu) trong cùng điều kiện nuôi dưỡng Kết quả cho thấy, gà nâu có khối lượng cao hơn đáng kể so với gà trắng Năng suất trứng của 2 giống gà là tương đương nhau, trong khi khối lượng trứng gà nâu lớn hơn so với gà trắng Khả năng chuyển hóa thức ăn của gà trắng cao hơn gà nâu
Rayan G N và cs (2013) [51] cũng cho biết, trứng gà nâu có chất lượng
vỏ (chỉ số hình dạng trứng, độ bền vỏ trứng, tỷ lệ vỏ và độ dày lớp vỏ) cao hơn đáng kể so với trứng gà trắng Ngoài ra, khối lượng và tỷ lệ lòng trắng của trứng
gà nâu cao hơn so với gà trắng (P < 0,05), ngược lại, chỉ số Hu của gà trắng cao hơn gà nâu
Laudadio V và cs (2014) [45] cho biết, việc thay thế bột đỗ tương bằng bột hướng dương trong khẩu phần ăn của gà ISA Brown có tác dụng cải thiện chất lượng trứng và làm cho hàm lượng cholesterol trong trứng ở mức thấp
Alagawany M và Mahrose K M (2014) [41], muốn duy trì và nâng cao khả năng sản xuất của gia cầm thì việc sử dụng hợp lý thức ăn là điều hết sức quan trọng Sử dụng thức ăn hợp lý sẽ nâng cao khả năng sản xuất của gia cầm đồng thời làm giảm chi phí sản xuất và giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Trang 32Laudadio V và cs (2014) [46] đã thí nghiệm thay thế một phần bột đỗ tương bằng bột cỏ linh lăng (Medicago sativa L) trong khẩu phần ăn của gà ISA Brown và cho biết, việc thay đổi chế độ ăn làm chất lượng trứng được cải thiện
mà không ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của gà
Manju G U và cs (2015) [47] đã nghiên cứu ảnh hưởng của mức protein (15% và 16%) có bổ sung thêm lysine trong khẩu phần ăn của gà đẻ, kết quả cho thấy tỷ lệ protein cao thì tỷ lệ đẻ của gà, màu sắc lòng đỏ và chỉ số lòng đỏ tăng, trong khi hiệu suất sử dụng thức ăn của gà giảm
Wei Lu và cs (2016) [52] đã nghiên cứu ảnh hưởng của của việc bổ sung
bột Moringa oleifera đối với năng suất, chất lượng trứng ở gà Hy-line Tác giả
đã tiến hành với 3 mức bổ sung bột Moringa oleifera trong khẩu phần ăn của gà thí nghiệm là 5%, 10% và 15% Kết quả cho thấy, tỷ lệ bột Moringa oleifera
trong khẩu phần càng cao thì tỷ lệ lòng trắng trứng và đơn vị Hu tăng, màu sắc lòng đỏ kém Tác giả cũng khuyến cáo, bổ sung 5% bột Moringa oleifera trong khẩu phần ăn của gà không làm ảnh hưởng đến năng suất chất lượng trứng mà còn làm tăng khả năng chuyển hóa protein và cải thiện màu sắc lòng đỏ trứng
Oke O E và cs (2016) [48] cho biết: tuổi đẻ quả trứng đầu của gà Isa Brown dao động từ 139 - 146 ngày tuổi tùy điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng
Park J W và cs (2017) [49] đã nghiên cứu và cho biết, việc bổ sung probiotic (Enterococcus faecium) vào khẩu phần ăn của gà ISA Brown đã làm tăng đáng kể sản lượng trứng, độ dày vỏ trứng và tỷ lệ tiêu hóa chất dinh dưỡng
ở gà đẻ
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Gà Isa Brown đẻ trứng thương phẩm (10 - 38 tuần tuổi), được nuôi trong hai điều kiện chuồng kín và chuồng hở (1500 gà 10 tuần tuổi/ 1 loại hình chuồng nuôi)
2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Đàn gà Isa Brown nuôi trong điều kiện chuồng kín (theo hướng dẫn của hãng) tại xã Đại Yên, huyện Chương Mỹ, Hà Nội
- Đàn gà Isa Brown được nuôi trong điều kiện chuồng hở (điều kiện thực
tế của Hà Nội) tại xã Trung Hòa, huyện Chương Mỹ, Hà Nội
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 7 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017
2.3 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của gà Isa Brown giai
đoạn hậu bị (10 - 20 tuần tuổi) nuôi theo 2 hình thức chuồng kín và chuồng hở
Nội dung 2: Nghiên cứu khả năng sinh sản của gà Isa Brown thương
phẩm nuôi theo 2 hình thức chuồng kín và chuồng hở, xác định một sô chỉ tiêu chất lượng trứng của gà Isa Brown thương phẩm
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Bố trí thí nghiệm
Đàn gà được bố trí thí nghiệm theo phương pháp phân lô so sánh Giữa các lô có sự đồng đều về tuổi, nguồn gốc, quy trình, chế độ chăm sóc nuôi
dưỡng và thú y phòng bệnh
Trang 34Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm Diễn giải Lô thí nghiệm 1 Lô thí nghiệm 2
(Tham khảo chế độ dinh dưỡng gà Isa của hãng)
2.4.3 Mô tả điều kiện chuồng trại nuôi dưỡng
* Chuồng kín: Chuồng được thiết kế theo hình thức nuôi công nghiệp,
nuôi theo phương thức nuôi lồng, bên trong chuồng có các dãy lồng cho gà đẻ, hai bên chiều dài chuồng có hệ thống rèm che đảm bào cách ly với môi trường bên ngoài, hai bên đầu chiều rộng của chuồng bố trí hệ thông quát thông gió và phun mưa để làm mát, đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi luôn đáp ứng với nhu cầu của gà đẻ (từ 20 - 240C), độ ẩm tương đối 60 - 80%, chuồng nuôi được trang bị
Trang 35đầy đủ hệ thống cung cấp thức ăn, đèn chiếu sáng để đàm bảo đáp ứng cơ bản các điều kiện cho gà đẻ theo yêu cầu của Nhà sản xuất giống
* Chuồng hở: Chuồng được thiết kế theo phương thức nuôi nền, nền
chuồng bằng bê tông và được thiết kế ở nơi cao ráo, mặt nền nhẵn và có rãnh thoát nước để tiện cho việc vệ sinh Khung nhà chuồng trại được làm bền vững
và chịu được gió mạnh, mái làm bằng tôn, thiết kế theo hình thức 2 mái, hệ thống rèm và làm mát đảm bảo mát về mùa hè và ấm vào mùa đông, các hệ thống phụ trợ như nhà kho chứa thức ăn, kho trứng đều đảm bào theo các yêu cầu vệ sinh, phòng dịch
2.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định
2.4.4.1 Khả năng sinh trưởng của gà Isa Brown hậu bị
- Tỷ lệ nuôi sống của gà Isa Brown giai đoạn hậu bị (10 - 20 tuần tuổi)
- Khả năng sinh trưởng của gà Isa Brown giai đoạn hậu bị
- Lượng thức ăn thu nhận của gà thí nghiệm giai đoạn hậu bị
* Phương pháp xác định tỷ lệ nuôi sống (%)
Hàng ngày đếm chính xác số gà chết trong từng lô thí nghiệm Tỷ lệ nuôi sống và tỷ lệ giảm đàn được tính theo công thức:
Tỷ lệ nuôi sống (%) = Số con cuối kỳ (con) x 100
Số con đầu kỳ (con)
Tỷ lệ giảm đàn (%) = Số con bị chết và loại thải tính đến cuối kỳ (con) x 100
Số con đầu kỳ (con)
* Xác định khối lượng cơ thể gà giai đoạn hậu bị:
Hàng tuần cân ngẫu nhiên 50 con/lô vào buổi sáng trước khi cho ăn, bằng cân đồng hồ có độ chính xác 5g Xác định bằng khối lượng trung bình cơ thể
gà qua các tuần tuổi (từ 10 - 20 tuần tuổi), tính bằng gam
Trang 36X X
n
i i
Trong đó: X : Khối lượng trung bình của đàn gà (g)
Xi : Khối lượng của gà thứ i (i = 1,…,n) (g)
n : Số lượng gà đem cân (con)
* Phương pháp xác định khả năng thu nhận thức ăn của gà thí nghiệm:
Giai đoạn 10 - 20 tuần tuổi cho ăn hạn chế theo quy trình nuôi gà sinh sản
Cân chính xác lượng thức ăn cho ăn và ngày hôm sau cân lại thức ăn thừa trước
khi cho ăn thức ăn mới Lượng thức ăn tiêu thụ trung bình hàng ngày được tính
theo công thức:
Tiêu thụTA/con/ngày (gam) =
Lượng TĂ cho ăn (g) – Lượng TĂ thừa (g)
Số gà có mặt (con)
2.4.4.2 Đánh giá khả năng sinh sản của gà Isa Brown thương phẩm
Ghi chép số lượng trứng đẻ ra hàng ngày đến 38 tuần Thức ăn cho gà đẻ
được cân vào đầu giờ sáng và thức ăn dư thừa được cân vào cuối mỗi ngày
* Phương pháp xác định khả năng sinh sản
- Theo dõi tuổi đẻ quả trứng đầu tiên, 5%, 50%, đẻ đỉnh cao; tỷ lệ đẻ và
năng suất trứng đến 38 tuần tuổi Theo dõi tỷ lệ nuôi sống, tiêu tốn thức ăn trong
giai đoạn từ 21 đến 38 tuần tuổi để đánh giá tiêu tốn thức ăn/10 trứng
- Theo dõi, ghi chép số lượng trứng dập, vơ hàng ngày, tính tỷ lệ trứng
dập vỡ hàng tuần
- Phương pháp xác định tuổi thành thục sinh dục
+ Tuổi đẻ quả trứng đầu: Là thời gian từ một ngày tuổi đến thời điểm gà
mái trong đàn đẻ quả trứng đầu tiên (đơn vị tính: ngày tuổi)
Trang 37+ Tuổi đạt tỷ lệ đẻ 5%, 50%, đẻ đỉnh cao đơn vị tính: ngày tuổi
- Phương pháp xác định tỷ lệ đẻ: Hàng ngày đếm chính xác lượng trứng
đẻ ra và số gà có mặt trong chuồng Tỷ lệ đẻ được xác định theo tuần trong suốt thời gian theo dõi và được tính bằng công thức:
Tỷ lệ đẻ (%) = M x 100
N Trong đó: M: Tổng số trứng đẻ ra trong kỳ (quả)
N: Tổng số mái đẻ có mặt bình quân (con)
- Phương pháp xác định năng suất trứng: Năng suất trứng được tính hàng tuần hoặc giai đoạn theo công thức:
NST (quả/mái/tuần) =
Tổng số trứng đẻ ra trong tuần (quả)
Số mái bình quân có mặt trong tuần (con)
2.4.4.3 Một số chỉ tiêu về chất lượng trứng
Xác định các chỉ tiêu chất lượng trứng tại thời điểm 38 tuần tuổi được đánh giá thông qua các thiết bị đo FHK - Nhật bản tại Trung tâm nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi
Chỉ tiêu chất lượng trứng được xác định theo phương pháp của Orlov (1963) và Xergeev (1997) (dẫn theo Trịnh Thị Tú, 2015) [36], dùng thước đo chiều cao điện tử có độ chính xác 0,01 mm, đo đường kính lòng đỏ (đo 2 lần lấy giá trị trung bình) và đường kính của lòng trắng đặc (đo chiều dài và chiều rộng lấy giá trị trung bình) tính theo các công thức
* Chỉ số hình dạng trứng: xác định chiều dài (D), chiều rộng (R) bằng thước
kẹp điện tử có độ chính xác 0,01 mm
Chỉ số hình dạng trứng = D
R
Trang 38* Độ chịu lực vỏ trứng (kg/cm 2 ): được xác định bằng bằng lực kế ép của Nhật
* Chỉ số lòng đỏ (I D )
ID = HD
dD Trong đó: ID là chỉ số lòng đỏ; HD là cao lòng đỏ
dD là đường kính lòng đỏ
* Chỉ số lòng trắng (I E )
IE = HE
DE Trong đó: HE là cao lòng trắng
dE là đường kính trung bình của lòng trắng (dE = (dEmin +dEmax)/2
* Đơn vị Haugh (Hu): Là chỉ số của mối liên hệ giữa chiều cao của lòng trắng
đặc và khối lượng trứng, được tính theo công thức của Haugh R (1930)
Hu = 100log (H - 1,7 W0,37 +7,6)
Trong đó: H là chiều cao lòng trắng đặc (mm)
W: khối lượng trứng (g)
* Độ dày vỏ trứng (mm): Được xác định bằng micromet cân điện tử có độ chính
xác 0,01 Độ dày vỏ trứng là trung bình của 3 lần đo ở các vị trí được xác định: đầu tù, đầu nhọn và phần xích đạo (bóc bỏ lớp màng trước khi đo)
* Màu sắc lòng đỏ: được xác định bằng quạt màu của hãng Roche
2.5 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học theo tài liệu của Nguyễn Văn Thiện và cs (2002) [29] trên phần mềm Excel 7.0 và Minitab 14.0