1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế của hộ nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)

109 266 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế của hộ nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Khóa luận tốt nghiệp)Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế của hộ nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Khóa luận tốt nghiệp)Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế của hộ nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Khóa luận tốt nghiệp)Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế của hộ nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Khóa luận tốt nghiệp)Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế của hộ nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Khóa luận tốt nghiệp)Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế của hộ nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Khóa luận tốt nghiệp)

Trang 1

–––––––––––––––––––––––

ĐỖ HỒNG PHƯƠNG

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KINH TẾ

CỦA HỘ NÔNG DÂN SAU KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐỂ XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP

TẠI HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

–––––––––––––––––––––––

ĐỖ HỒNG PHƯƠNG

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KINH TẾ

CỦA HỘ NÔNG DÂN SAU KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐỂ XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP

TẠI HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp

Mã số ngành: 60 62 01 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS Kiều Thu Hương

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu kết quả nêu trong Luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Những tư liệu được sử dụng trong Luận án có nguồn gốc và trích dẫn rõ ràng

Tác giả luận văn

Đỗ Hồng Phương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Khoa Sau đại học và Khoa Kinh tế & PTNT - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên; UBND huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh cùng các ban ngành khác có liên quan

TS Kiều Thi Thu Hương, giáo viên hướng dẫn đề tài đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn

Các thầy, cô giáo Khoa Kinh tế và PTNT, Khoa Sau đại học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ và đóng góp những ý kiến quý báu trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn

Lãnh đạo và cán bộ Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bắc Ninh; UBND huyện Quế Võ đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, thu thập thông tin, số liệu để tôi thực hiện đề tài nghiên cứu

Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi, cũng như hỗ trợ, động viên tôi thực hiện đề tài nghiên cứu

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn về tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó

Tác giả luận văn

Đỗ Hồng Phương

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

Chương 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5

1.1.1 Tổng quan về khu công nghiệp 5

1.1.2 Kinh tế hộ nông dân 10

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ 13

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 19

1.2.1 Kinh nghiệm về vấn đề sinh kế và nâng cao thu nhập cho nông dân trong phát triển các khu công nghiệp ở một số nước trên thế giới 19

1.2.2 Chủ trương, biện phát của Đảng và nhà nước ta trong vấn đề giải quyết việc làm và sinh kế cho hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp phục vụ quá trình CNH - HĐH ở Việt Nam 22

1.2.3 Một số kinh nghiệm giải quyết vấn đề sinh kế và việc làm cho hộ nông dân bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam 24

Chương 2 : NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29

2.2 Nội dung nghiên cứu 29

2.3 Phương pháp nghiên cứu 30

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu 30

Trang 6

2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 30

2.3.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 31

2.3.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 32

Chương 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 34

3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 34

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 37

3.1.3 Tiềm năng, lợi thế và những tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế 46

3.2 Quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa ảnh hưởng đến kinh tế của người dân trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 48

3.2.1 Khái quát chung về các khu công nghiệp của huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 48

3.2.2 Thực trạng thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp 52

3.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống của các hộ dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp 70

3.2.4 Chuyển đổi sinh kế địa phương sau thu hồi đất 75

3.3 Đánh giá chung về ảnh hưởng đến kinh tế của hộ nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh 80

3.3.1 Kết quả đạt được 80

3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 80

3.4 Một số hướng giải pháp cơ bản nhằm ổn định và nâng cao đời sống hộ dân vùng bị ảnh hưởng của các khu công nghiệp trên địa bàn nghiên cứu 83

3.4.1 Giải pháp chung 83

3.4.2 Giải pháp cụ thể cho từng nhóm hộ 93

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95

1 Kết luận 95

2 Kiến nghị 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCH Ban chấp hành

BHYT Bảo hiểm y tế

LLSX Lực lượng sản xuất

Trang 8

TTCN Tiểu thủ công nghiệp

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai huyện Quế Võ qua 3 năm

2014 - 2016 38

Bảng 3.2: Tình hình nhân khẩu và lao động của huyện qua 3 năm 2014 - 2016 41

Bảng 3.3: Cơ cấu sử dụng đất của Khu công nghiệp Quế Võ 49

Bảng 3.4: Quy mô phát triển khu, cụm công nghiệp 50

Bảng 3.5: Lĩnh vực sản xuất kinh doanh của các khu, cụm công nghiệp 51

Bảng 3.6: Tình hình nhân khẩu, lao động trong các nhóm hộ điều tra ở 3 xã 54

Bảng 3.7: Tình hình đất đai của các nhóm hộ điều tra ở 3 xã 57

Bảng 3.8: Tình hình thu hồi đất của các hộ điều tra 58

Bảng 3.9: Tình hình thu nhập từ đền bù của các hộ điều tra 59

Bảng 3.10: Các khoản chi tiêu bằng tiền đền bù của các hộ điều tra 60

Bảng 3.11: So sánh tỷ lệ số người có việc làm trước và sau thu hồi đất 62

Bảng 3.12: Sự thay đổi thu nhập của hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất 66

Bảng 3.13: Số liệu các công trình CSHT xã hội tại các khu dân cư nông thôn năm 2016 68

Bảng 3.14: Tổng hợp đánh giá cơ sở hạ tầng ở địa phương 69

Bảng 3.15: Sự thay đổi cơ sở hạ tầng khi có KCN 70

Bảng 3.16: Nguồn vốn của các hộ điều tra 72

Bảng 3.17: Kết quả quan trắc môi trường tại cụm công nghiệp sau thu hồi đất 75

Bảng 3.18: Phân tích SWOT trong sinh kế người nông dânsau khi bị thu hồi đất 79

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH

Sơ đồ 1.1: Khung sinh kế bền vững 17 Hình 2.1: Bản đồ Khu công nghiệp Quế Võ 29

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa diễn ra khá mạnh mẽ tại các trung tâm kinh tế lớn của đất nước và nhanh chóng lan tỏa ra các vùng phụ cận và vùng nông thôn xung quanh

Tính đến tháng 11/2010, cả nước đã có 250 khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất và khu kinh tế được thành lập ở 57 tỉnh, thành phố, trong đó có 170 khu đã đi vào hoạt động, các khu này thu hút 8500 dự án đầu tư trong và ngoài nước với tổng vốn đăng ký lên tới khoảng 70 tỷ USD, trong đó vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

là 52 tỷ USD để tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp hàng năm là 25 tỷ USD, chiếm trên 30% giá trị công nghiệp của cả nước [10]

Để phát triển các khu công nghiệp, không thể không thu hồi đất mà người dân đang sử dụng Trong thời gian 10 năm trở lại đây, việc thu hồi đất phục vụ cho việc xây dựng các khu công nghiệp và các cơ sở hạ tầng cho quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đã trở thành mối quan tâm “đặc biệt”, là yêu cầu phát triển khách quan của đất nước Theo số liệu thống kê của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, bình quân mỗi năm có khoảng 73 nghìn ha đất nông nghiệp được thu hồi để phục vụ cho việc xây dựng này Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp - dịch

vụ, tạo điều kiện thu hút đầu tư, đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước Thế nhưng, quá trình này cũng đặt ra nhiều vấn đề bất cập liên quan đến đời sống của người dân sau khi bị thu hồi đất Trung bình cứ mỗi ha đất thu hồi có

12 lao động mất việc làm, phải chuyển đổi nghề mới, ảnh hưởng đến thu nhập cũng như khiến đời sống của người nông dân gặp nhiều khó khăn

Để giải quyết các vấn đề cấp bách nhằm đảm bảo đời sống cho người dân tốt hơn trước khi thu hồi đất, nhà nước ta phải có những biện pháp và chiến lược như thế nào đang là câu hỏi lớn chưa có lời giải đáp hợp lý cho người nông dân

Bắc Ninh là một tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm và tam giác tăng trưởng của đất nước, gần các khu công nghiệp lớn của khu

Trang 12

vực Bắc Bộ, có những “ưu ái” của nhà nước để phát triển kinh tế về mọi mặt Trong những năm qua, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Bắc Ninh diễn ra rất mạnh mẽ, nhiều khu công nghiệp được hình thành: Khu công nghiệp Quế Võ; Khu công nghiệp Yên Phong; Khu công nghiệp Thuận Thành; Khu công nghiệp VSIP đem lại lợi ích kinh tế và nguồn thu khá lớn cho tỉnh Nhưng cũng không thể không nhắc đến những vấn đề liên quan đến chất lượng đời sống của người dân sau khi bị nhà nước thu hồi đất Đây là vấn đề giải quyết lâu dài cần được nghiên cứu và có những giải pháp chiến lược cụ thể cho người dân

Vấn đề thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng KCN trên toàn tỉnh Bắc Ninh nói chung và thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Quế Võ nói riêng đã làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, kèm theo đó là sự thay đổi về chỗ ở, việc làm

và điều kiện sống, ảnh hưởng đến kinh tế của hộ dân sau khi bị thu hồi đất

Từ những thực tế trên, để làm rõ những vấn đề liên quan đến đời sống kinh tế của người dân, nhằm giải quyết những khó khăn và vướng mắc của họ sau khi bị

thu hồi đất một cách lâu dài, tôi lựa chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế

của hộ nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế hộ nông dân sau khi sau khi thu hồi đất nông nghiệp tại KCN Quế Võ Từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục vấn đề kinh tế hộ cho người nông dân bị thu hồi đất trên địa bàn trong thời gian tới

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá thực trạng về kinh tế của các hộ dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp cho dự án xây dựng khu công nghiệp tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2010 - 2015

Trang 13

- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế của hộ dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp, bao gồm các hộ bị thu hồi đất và các hộ không bị thu hồi đất tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh qua đó xác định được nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế của hộ dân

- Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình kinh tế hộ của các hộ dân sau khi bị thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tiếp theo

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Nghiên cứu đề tài giúp học viên củng cố lại kiến thức cơ bản và những kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập tại nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho học viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế

- Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính chủ động của mỗi học viên Nâng cao tinh thần tìm tòi, sáng tạo và khả nặng vận dụng kiến thức vào thực tế

- Có được cái nhìn tổng thể về đời sống của các hộ dân sau khi bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Quế Võ

- Từ kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm rõ cơ sở thực tiễn và lý luận

để phân tích kinh tế hộ nông dân tại địa bàn bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp

- Là cơ sở khoa học cho việc định hướng các giải pháp cải thiện đời sống các

hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc tìm hiểu và phân tích những ảnh hưởng trực tiếp của việc thu hồi đất nông nghiệp tới kinh tế của người nông dân tại KCN Quế Võ - Bắc Ninh Từ đó đưa ra giải pháp giải hợp lý giúp ổn định đời sống cho các hộ dân này Đồng thời trong quá trình nghiên cứu ta có thể phát hiện ra

Trang 14

điểm mạnh điểm yếu trong công tác quản lý, giải quyết đền bù giải tỏa, vấn đề việc làm cho các hộ dân của cơ quan chức năng từ đó đưa ra một số kiến nghị để ổn định đời sống cho các hộ sau khi thu hồi đất sao cho phù hợp với định hướng phát triển trong thời gian tới

- Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế của các hộ trong 3 xã thuộc huyện Quế Võ Từ đó, nắm bắt được nhu cầu, mong muốn của các hộ và đề ra các giải pháp giải quyết các nhu cầu trước mắt của người dân Góp phần thúc đẩy kinh

tế - xã hội, tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống cho người dân trên địa bàn

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Tổng quan về khu công nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm về khu công nghiệp

Trên thế giới loại hình KCN đã có một quá trình lịch sử phát triển hơn 100 năm nay bắt đầu từ những nước công nghiệp phát triển như Anh, Mỹ cho đến những nước có nền kinh tế công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore,…và hiện nay vẫn đang được các quốc gia học tập và kế thừa kinh nghiệm để tiến hành công nghiệp hóa Tùy điều kiện từng nước mà KCN có những nội dung hoạt động kinh tế khác nhau và có những tên gọi khác nhau nhưng chúng đều mang tính chất

và đặc trưng của KCN Hiện nay trên thế giới có hai mô hình phát triển KCN, cũng

từ đó hình thành hai định nghĩa khác nhau về KCN như sau:

- KCN là khu vực lãnh thổ rộng lớn, có ranh giới địa lý xác định, trong đó chủ yếu là phát triển các hoạt động sản xuất công nghiệp và có đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ đa dạng; có dân cư sinh sống trong khu Ngoài chức năng quản lý kinh

tế, bộ máy quản lý các khu này còn có chức năng quản lý hành chính, quản lý lãnh thổ KCN theo quan điểm này về thực chất là khu hành chính - kinh tế đặc biệt như các công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu

- KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống và được tổ chức hoạt động theo cơ chế ưu đãi cao hơn so với các khu vực lãnh thổ khác Theo quan điểm này, ở một số nước và vùng lãnh thổ như Malaysia, Indonesia, ….đã hình thành nhiều KCN với qui mô khác nhau và đây cũng là loại hình KCN nước ta đang áp dụng hiện nay [1]

Chức năng chủ yếu của KCN là sản xuất và cung cấp dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất Trong những trường hợp cụ thể KCN có thể có khu dịch vụ công cộng, khu nhà ở… trong KCN có thể có khu chế xuất, khu kỹ thuật cao Các KCN ở Việt

Trang 16

Nam do Chính phủ quyết định thành lập và quản lý phát triển theo một quy chế riêng Nguồn nhân lực chủ yếu là lao động trong nước và tại chỗ

Tóm lại, KCN là đối tượng đặc thù của quản lý nhà nước về kinh tế trong các

giai đoạn phát triển với các đặc điểm về mục tiêu thành lập, giới hạn hoạt động tập trung vào công nghiệp, ranh giới địa lý và thẩm quyền ra quyết định thành lập.[16] 1.1.1.2 Vai trò của xây dựng KCN

KCN hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế đất nước, xuất phát từ chủ trường đúng đắn của Đảng, Chính phủ trong việc xây dựng một mô hình mang tính đột phá trong thu hút đầu tư, tăng trưởng công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH Qua nhiều năm xây dựng và phát triển, thành tựu của các KCN đã được chứng minh sống động bằng những đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế đát nước, thể hiện qua các mặt kinh tế, môi trường và xã hội như sau:

+ Thu hút vốn đầu tư trên quy mô lớn của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước phục vụ công cuộc CNH - HĐH của đất nước

+ Tăng trưởng ngành sản xuất công nghiệp, nâng cao giá trị xuất khẩu và sức cạnh tranh của nền kinh tế

+ Hình thành và phát triển một hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ và

có giá trị lâu dài

+ Chuyển giao công nghệ mới

+ Phát triển hệ thống doanh nghiệp vừa và nhở đảm bảo sự phát triển kinh tế

xã hội trong vùng

+ Kiểm soát được vấn đề ô nhiễm môi trường, góp phần tích cực vào việc bảo

vệ môi trường sinh thái

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương và cả nước theo hướng CNH - HĐH

+ KCN đóng vai trò tiên phong trong sự phát triển kinh tế quốc dân, là đầu tầu tăng trưởng kinh tế, kéo theo sự phát triển ở những vùng lân cận và những vùng khác của đất nước

Trang 17

+ Giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ của người lao động

1.1.1.3 Tính tất yếu phải phát triển các khu công nghiệp ở vùng nông thôn

Trong những năm qua, các KCN tập trung trong vùng là động lực đóng góp quan trọng cho sự nghiệp phát triển KTXH của vùng Cơ cấu chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng CN và DV, giảm tỷ trọng NN trong GDP với tốc độ khá nhanh

Bộ mựt nông thôn đổi mới theo hướng văn minh, hiện đại Nhiều nhà máy, xí nghiệp, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có quy trình sản xuất CN hiện đại, công nghệ cao được xây dựng và phát triển, thu hút hàng chục tỷ USD và hàng nghìn tỷ đồng từ các nhà đầu tư trong nước Các KCN đã và đang thu hút hàng trăm nghìn lao động nông thôn, tạo ra thị trường sức lao động mới để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội trong vùng Hệ thống kết cấu hạ tầng được xây dựng mới và nâng cấp, nhất là khu vực nông thôn, tỷ lệ hộ nghèo giảm

Nông thôn là khu vực đông dân cư nhất, có trình độ phát triển nhìn chung tháp nhất so với các khu vực khác của nền kinh tế Nhưng khu vực nông nghiệp, nông thôn lại có tài nguyên lớn về đất đai và các tiềm năng thiên nhiên khác nên nó giữ vai trò chủ đạo trong cung cấp các nguồn nguyên, vật liệu cho phát triển cụm CNDV

Kinh nghiệm từ các nước trên thế giới và trong khu vực đều cho chúng ta thấy CNH -HĐH nông nghiệp nông thôn là cơ sở để chuyển dịch cơ cấu phát triển KT đất nước [7]

1.1.1.4 Tác động của các khu công nghiệp tới đời sống của các hộ nông dân

a Tác động đến đất đai

Quá trình phát triển các khu công nghiệp đã làm diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, nhu cầu về sử dụng đất chuyên dùng xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng và đất đô thị tăng nhanh Việc thu hồi đất nông nghiệp đã tác động đén đời sống của hộ dân vì họ thiểu phương tiện lao động và kế sinh nhai truyền thống

Theo số liệu thống kê của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, bình quân mỗi năm có 73 nghìn ha đất nông nghiệp được thu hồi Điều đó tác động đến đời sống khoảng 2.5 triệu người tương đương với 630 nghìn hộ nông dân Số liệu cho

Trang 18

thấy, trung bình cứ mỗi ha đất thu hồi, sẽ làm hơn 10 lao động nông dân mất việc

Do thiếu trình độ, sau khi thu hồi đất có tới 67% số nông dân vẫn giữ nguyên nghề sản xuất nông nghiệp, 13% chuyển sang nghề mới, 20% không có việc làm hoặc có việc làm không ổn định, 53% số hộ nông dân bị thu hồi đất có thu nhập sụt giảm so với trước đây nên đời sống gặp nhiều khó khăn

b Tác động đến môi trường

Thực tế hiện nay nhiều doanh nghiệp tồn tại tình trạng nhập dây chuyền công nghệ lạc hậu hàng chục năm Điều này khiến hoạt động sản xuất không ổn định, gây

ô nhiễm môi trường

Việc xử lý chất thải của các nhà máy trước khi thải ra môi trường đang làm ảnh hưởng rất xấu đến môi trường xung quanh Theo ước tính, mỗi KCN thải khoảnh 3000 - 10000 m³ nước thải/ngày đêm Như vậy, tổng lượng nước thải CN của các KCN trên cả nước lên khoảng 500.000 - 700.000 m³/ngày đêm Ngay cả những khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải thì thực tế chất lượng vẫn hạn chế, chưa đạt được những tiêu chuẩn quy định gây ô nhiễm môi trường (Các ngành công nghiệp dệt may, thuộc da, hóa chất )

Bên cạnh đó, ô nhiễm khí bụi và tiếng ồn là loại hình ô nhiễm khó kiểm soát và không được quan tâm Khí thải của các cơ sở sản xuất chứa nhiều chất độc hại được xả trực tiếp vào môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân quanh vùng

Hơn thế nữa, người dân phải gánh chịu những ảnh hưởng tiêu cực từ việc phát triển khu công nghiệp ở địa phương, sự ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, sự thoái hóa đất đai do nhiều chất thải độc từ khu công nghiệp gây ra

Phải kể đến công tác quy hoạch các KCN không hợp lý mới dẫn đến sự gia tăng ô nhiễm môi trường trong KCN Việc bố trí một số KCN gần đường giao thông, quá gần khu dân cư càng dễ gây ảnh hưởng không tốt đến môi trường xung quanh Thêm vào đó là nhận thức bảo vệ mội trường trong các KCN của các cấp chính quyền địa phương chưa cao Nhà nước chưa có chế tài và giám sát chặt chẽ việc xây dựng KCN theo quy hoạch và theo đúng dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trước đó Mặt khác, chi phí xây dựng hệ thống xử lý chất thải cùng

Trang 19

với việc chưa có cơ chế hỗ trợ thỏa đáng từ phía Nhà nước, là một trong những nguyên nhân khiến các nhà đầu tư chậm triển khai các hệ thống này

Chất thải CN cũng đang là mối nguy cơ đe dọa tới cuộc sống của một số địa phương có KCN Chất thải CN chưa được xử lý kỹ càng sẽ gây ô nhiễm trầm trọng tới nguồn nước, không khí, tiếng ồn…đời sống nhân dân bị đe dọa

c Tác động đến lao động

Việc phát triển các khu công nghiệp đã tạo ra một kênh thu hút lao động rất có tiềm năng và hiệu quả, góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho lao động địa phương và lao động nhập cư Tuy nhiên tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn

ít, thiếu đồng bộ, dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực thấp, tạo nên rào cản cho việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp Tại các KCN, phần lớn lao động vừa mới thoát khỏi đồng ruộng hoặc các trường PT chưa qua đào tạo ngành nghề cơ bản Tình trạng thiếu việc làm trong thời vụ đang là khó khăn hiện nay ở nông thôn Mức thụ hưởng của người nông dân còn thấp, khoảng cách thu nhập và đời sống giữa thành thị và nông thôn nagyf càng tăng

d Tác động đến kinh tế hộ nông dân

Sản xuất nông nghiệp ở các địa phương vẫn theo phương thức nhỏ lẻ, phân tán nên hiệu quả kinh tế thấp và có nguy cơ kém bền vững trước thiên tai, dịch bệnh và

biến động của thị trường Diện tích nông nghiệp giảm quá nhanh làm hạn chế cơ hội

nâng cao thu nhập từ ngành chính là trồng trọt trong khi khả năng phát triển khu vực chăn nuôi, thủy sản và các ngành nghề phi nông nghiệp còn hạn chế Người dân

bị rơi vào tình trạng tư liệu sản xuất bị mất hoặc giảm đi trong khi chưa có điều kiện

để chuyển đổi nghề nghiệp Phần đông nông dân có tiền (tiền đền bù do bị thu hồi

đất) cũng khó tìm được phương án hiệu quả để sử dụng cho KDSX

e Tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Sự phát triển của khu công nghiệp đã đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Cơ cấu ngành theo hướng giảm

tỉ trọng khu vực nông nghiệp và gia tăng nhanh tỉ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ Đối với sản xuất nông nghiệp nói riêng góp phần làm thay đổi cơ cấu diện

Trang 20

tích gieo trồng và cơ cấu giá trị sản xuất.Trong tổng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp thì xu hươngs chung là giảm tỷ trọng của ngành trồng trọt và tăng tỉ trọng ngành chăn nuôi

f Tác động đến xã hội nông thôn

Mức hưởng thụ của người nông dân còn thấp, khoảng cách thu nhập và đời sống giữa thành thị và nông thôn ngày càng cao Nhà nước chưa quan tâm giải quyết đúng mức ngay từ đầu những yếu tố hạ tầng xã hội hỗ trợ thiết yếu (y tế, văn hóa, giáo dục ) dẫn đến tình trạng đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng dân

cư mới và công nhân ở trọ xung quanh các khu công nghiệp thực sự bức xúc, đôi khi trở thành nơi sản sinh ra các loại tệ nạn xã hội

Việc tổ chức triển khai xây dựng các dự án đều theo đúng trình tự, đúng qui định của Chính phủ về BTHT và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất Tuy nhiên, do giá

cả thị trường bất động sản luôn biến động tăng, cùng với sự lôi kéo kích động của các phần tử xấu nên việc khiếu kiện đông người vượt cấp kéo dài, nội dụng chủ yếu

là đòi nâng giá BTHT, giảm giá đất TĐC…làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Sự tập trung cao của lao động tại các KCN đang khiến cho vấn đề xã hội ngày càng trở thành áp lực đối với chính quyền địa phương và người dân xung quanh KCN Đó là tình trạng thiếu nhà ở, điều kiện sinh hoạt khó khăn, giá cả hàng hóa

tiêu dùng tăng và đáng lo ngại nhất là tệ nạn xã hội nảy sinh rất nhiều[8]

1.1.2 Kinh tế hộ nông dân

1.1.2.1 Tổng quan về kinh tế nông thôn

Nông thôn theo định nghĩa truyền thống là một khái niệm chỉ một bộ phận của đất nước dùng để phân biệt với khái niệm thành thị Đó là một địa bàn không gian rộng lớn mà đại bộ phận dân cư là những người nông dân, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu; quan hệ xã hội chủ yếu trong lũy tre làng, trên cơ sở huyết thống, dòng họ… Tuy nhiên ngày nay cùng với quá trình phát triển của xã hội những yếu tố truyền thống có sự biến động Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan

hệ sản xuất về nông thôn cũng có sự thay đổi

Trang 21

Trước đây, khi nói tới nông thôn, ta thường nghĩ đến địa bàn mà ở đó hoạt động sản xuất nông nghiệp bao trùm Nhưng ngày nay, với sự phát triển của LLSX

và phân công lao động thì khu vực nông thôn không đơn thuận chỉ có hoạt động nông nghiệp mà còn có cả CN và DV KTNT là khu vực kinh tế quan trọng, là khu vực sản xuất vật chất cung cấp tư liệu tiêu dùng thiết yếu để đảm bảo cho sự tồn tại

và phát triển của con người, để tái sản xuất ra sức lao động cho xã hội, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp…Quá trình phát triển của mỗi quốc gia đều gắn liền với quá trình đô thị hóa, nhưng không vì vậy mà khu vực KTNT mất đi, mà trái lại

nó luôn tồn tại và phát triển

Qua đây, khái niệm KTNT được định nghĩa như sau: “ Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn, kinh tế nông thôn vưà mang tính chất đặc trưng chung của nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế kinh tế vừa có những đặc điểm riêng biệt gắn liền với nông nghiệp và nông thôn.”

- Xét về mặt kinh tế nông thôn bao gồm nhiều ngành: nông nghiệp, lâm nghiệp, tiêu thụ công nghiệp, dịch vụ Xét về mặt kinh tế xã hội kinh tế nông thôn bao gồm nhiều thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước, kinh tế hộ gia đình, kinh tế tập thể [13]

1.1.2.2 Hộ nông dân và đặc trưng cơ bản

Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo định nghĩa

bao gồm cả nghề rừng, nghề cá, và hoạt động phi nông nghiệp Hộ nông dân là các

nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về

cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoành chỉnh không cao[15]

Đặc điểm cơ bản của kinh tế hộ nông dân

Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, trong

đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung; mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tùy thuộc và chủ hộ, được nhà

Trang 22

nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện để phát triển Do vậy, hộ không thuê lao động nên hộ không có khái niệm về tiền lương và không tính được lợi nhuận, địa tô, địa tức Nông hộ chỉ có thu nhập trung của tất cả các hoạt động kinh tế Đó là sản lượng thu được hàng năm của hộ trừ các chi phí mà hộ đã bỏ ra để phục vụ sản xuất Đặc trưng cơ bản của hộ nông dân:

+ Sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất Sở hữu trong kinh tế hộ là sở hữu chung, tất cả mọi thành viên trong hộ đều có quyền sở hữu tư liệu sản xuất vốn có cũng như các tài sản khác của hộ Mặt khác,

do dựa trên cơ sở kinh tế chung và có ngân quỹ nên các thành viên trong hộ có ý thức trách nhiệm cao và bố trí sắp xếp công việc trong hộ cũng rất linh hoạt và hợp

ls cho từng người, từng việc tạo nên việc thống nhất cao trong tổ chức sản xuất hộ + Sự gắn bó giữa lao động quản lý và lao động sản xuất Trong nông hộ, mọi thành viên thường gắn bó chặt chẽ với nhau theo quan hệ huyết thống Hơn nữa, kinh tế hộ quy mô nhỏ, người quản lý điều hành và đồng thời cũng là người tham gia lao động sản xuất Cho nên tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động là rất cao

+ Kinh tế hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh cao Do kinh tế hộ có quy mô nhỏ nên bao giờ cũng thích nghi nhanh hơn so với các hình thức sản xuất khác có quy mô sản xuất lơn hơn, vậy nên có thẻ mở rộng sản xuất khi có điều kiện thuận lợi và thu hẹp quy mô khi gặp điều kiện bất lợi

+ Sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với lợi ích của những người lao động Trong khi kinh tế hộ, mọi người gắn bó với nhau không chỉ trên cơ sở cùng huyết thống mà còn dựa trên cơ sở kinh tế nên dễ dàng đồng tâm hiệp lực xây dựng

và phát triển kinh tế hộ, tạo sự liên kết chặt chẽ hơn giữa kết quả sản xuất và lơi ích của người lao động Lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân,

là nhân tố nâng cao hiệu quả sản xuất của kinh tế hộ

+ Kinh tế hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả Sản xuất với quy mô nhỏ không đồng nghĩa với lạc hậu và năng suất thấp Kinh tế hộ nông dân vẫn có khả năng cho năng suất lao động cao hơn các xí nghiệp nông nghiệp có quy

mô lớn Hơn nữa kinh tế nông dân là hình thức kinh tế hợp nhất với đặc điểm sản

Trang 23

xuất nông nghiệp mà đối tượng sản xuất chủ yếu là cây trồng và vật nuôi Thực tế phát triển sản xuất nông nghiệp trên thế giới đã chứng minh cho chúng ta thấy: Kinh

tế nông hộ có quy mô nhỏ, chủ yếu sử dụng lao động gia đình gắn bó với vật nuôi

và cây trồng, là đơn vị sản xuất có hiệu quả

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ

1.1.3.1 Nhân tố về các yếu tố sản xuất

Thứ nhất là đất đai

Các HND sản xuất kinh doanh và thu hoạch các sản phẩm chủ yếu từ ruộng đất do đó đất đai có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình sản xuất của kinh tế HND cả về

số lượng lẫn chất lượng Quy mô đất đai càng lớn càng lớn càng phản ánh rõ quy

mô sản xuất kinh doanh của hộ và ngược lại

Đất đai các tỉnh miền núi phía Bắc chủ yếu là đất đỏ vàng, tầng canh tác dầy,

độ phì tương đối cao rất thích hợp với cây chè, cây mía đường, cây ăn quả ôn đới, nhiệt đới, cây cà chè… đây được coi như một lợi thế của vùng này

Tuy nhiên quy mô đất đai bình quân mỗi hộ còn thấp đặc biệt là các hộ sản xuất hàng hoá cần nhiều đất để phát triển trang trại

Vì vậy, để phát triển quy mô ruộng đất các hộ có thể nhận thầu đất của các

hộ khác, khai hoang đất trống đồi núi trọc

Thứ hai là vốn

Vấn đề vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp là đặc biệt quan trọng Hiện nay phần lớn các HND ở các tỉnh miền núi còn nghèo vì vậy họ rất cần vốn để sản xuất Vốn được coi như nhân tố quyết định sự phát triển của kinh tế HND Muốn vậy cần có biện pháp thích hợp đáp ứng mong muốn cho các HND để họ có vốn sản xuất cần có sự điều chỉnh về cường độ cho vay vốn và thời điểm vay vì sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ

Thứ ba là lao động

Quá trình sản xuất được thành lập trên cơ sở kết hợp các tư liệu sản xuất và con người Vì vậy lao động có vai trò rất quan trọng với quá trình phát triển của kinh tế HND Nếu không có con người thì không thể tiến hành sản xuất được Nếu lao động được đào tạo có trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng thành thạo, có khả năng hiệp tác và đạo đức nghề nghiệp thì quá trình sản xuất có hiệu quả hơn, năng

Trang 24

suất lao động cao hơn ngược lại nếu lao động không có trình độ hoặc có trình độ chuyên môn thấp quá trình sản xuất sẽ kém hiệu quả Các tỉnh phía Bắc bao gồm nhiều dân tộc có phong tục, tập quán rất đa dạng, trình độ dân trí thấp, trình độ canh tác lạc hậu, lao động chưa qua đào tạo là chủ yếu Đây coi như một cản trở cho sự phát triển của kinh tế HND Vì vậy, nâng cao chất lao động được coi như giải pháp

cơ bản và lâu dài trong chiến lược phát triển kinh tế HND

Hệ thống thuỷ lợi thiếu hệ thống mương máng nội đồng cũng làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất của các HND đặc biệt trong mùa khô nhiều nơi vùng cao khô

ng có nước tưới làm nhiều diện tích gieo trồng bị hạn hán Do thiếu kênh dẫn nước nội đồng nên các HND không chủ động được trong sản xuất, ảnh hưởng đến thời vụ gieo trồng làm cho kết quả sản xuất giảm

Hệ thống điện, trường học, thông tin liên lạc còn yếu kém về nhiều mặt ảnh hưởng đến quá trình tiếp cận thông tin của các HND, chữa trị bệnh không kịp thời,

tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao, tỷ lệ trẻ em chưa được đến trường còn cao

Vấn đề xã hội ở các tỉnh phía Bắc cũng rất phức tạp do tập quán sinh hoạt của các dân tộc khác nhau Đa phần các HND còn nghèo, đời sống khó khăn, thu nhập thấp các hoạt động văn hoá xã hội không được quan tâm, các tệ nạn xã hội ngày một gia tăng, sinh đẻ không có kế hoạch

1.1.3.3 Nhân tố về chính sách vĩ mô

Nhân tố này thể hiện sự tác động của Nhà nước đến sự phát triển của kinh tế HND Nếu chính sách đúng, hợp lý tác động vào đúng trạng thái của kinh tế HND thì sẽ góp phần thúc đẩy, kích thích sự phát triển của kinh tế HND Ngược lại, nếu chính sách không đúng, không hợp lý thì sẽ trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển của kinh tế HND bao gồm:

Trang 25

+ Chính sách nhiều thành phần kinh tế: Đó là kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình, kinh tế có nhân tố nước ngoài Điều đó, nói lên kinh tế HND phát triển trong mối quan hệ hợp tác, liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế nhằm sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn Trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác phát triển

+ Chính sách đầu tư và hỗ trợ cho các tỉnh miền núi

Với những điều kiện về sản xuất không được thuận lợi vì vậy sự ưu tiên đầu tư của Nhà nước cho các tỉnh có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát của kinh tế HND Đầu

tư trước hết vào việc xây dựng và cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng như giao thông, điện, các cơ sở chế biến, đưa tiến bộ khoa hộc công nghệ vào sản xuất, chuyển đổi

cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển các nghành nghề mới, khôi phục các làng nghề truyền thống Hỗ trợ các tỉnh trong việc xoá đói, giảm nghèo

+ Các chính sách liên quan khác như chính sách thuế, chính sách giá cả, chính sách vốn

1.1.4 Khái niệm và nội dung sinh kế

1.1.4.1 Khái niệm về sinh kế

Ý tưởng về sinh kế đã được Robert Chambers đưa vào những tác phẩm của mình từ những năm 80 Dựa vào ý tưởng của ông, một số cơ quan phát triển đã tiếp

nhận khái niệm về sinh kế và cố gắng đưa vào thực hiện Từ đó, khái niệm về sinh

kế được bao quát như sau: “Một sinh kế gồm có những khả năng, những tài sản

(bao gồm cả tài nguyên vật chất và xã hội) và những hoạt động cần thiết để kiếm sống Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác dộng của những áp lực và những cú sốc, và duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên” - Chambers, R And G Conway, 1992[15]

Phương pháp tiếp cận sinh kế dã được phát triển và hoàn hiện ở các nước phát triển trên thế giới, dựa trên khuôn khổ cam kết hỗ trợ của Bộ phát triển quốc tế Anh (DFID) về “Những chính sách và hành động cho việc xúc tiền các loại hình sinh kế bền vững”

Trang 26

Khái niệm của DFID: “Một sinh kế có thể được miêu tả như là sự tập hợp

các nguồn lực và khả năng con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ” Theo khái niệm này thì sinh kế bao gồm toàn bộ những hoạt động

của con người để đạt được uc tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có của con người như các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn vốn, lao động, trình độ phát triển

của khoa học công nghệ

Phương pháp tiếp cận sinh kế được sử dụng để xác định, thiết kế và đánh giá các chương trình, dự án, sử dụng cho đánh giá lại các hoạt động hiện có, sự dụng để cung cấp thông tin cho việc hoạch định chiến lược và sử dụng cho nghiên cứu Một trong những điểm nội trội của tiếp cận sinh kế là khả năng linh hoạt và khả năng áp dụng của chúng đối với nhiều tình huống

Chiến lược kinh kế là quá trình ra quyết định về các vấn đề cấp hộ, bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bố các nguồn lực vật chất và phi vật chất của bộ Để duy trì hộ, hộ gia dình thường có các chiến lược sinh kế khác nhau:

- Chiến lược tích lũy: là chiến lược dài hạn nhằm hướng tới tăng trưởng và

có thể là kết hợp của nhiều hoạt động hướng tới tích lũy và giàu có

- Chiến lược tái sản xuất: là chiến lược trung hạn gồm nhiều hoạt động tạo thu nhập, nhưng ưu tiên có thể nhắm tới hoạt động của cộng đồng và an sinh xã hội

- Chiến lược tồn tại: là chiến lược ngắn hạn, gồm cả các hoạt động tạo thu nhập chỉ để tồn tại mà không thích lũy[15]

1.1.4.2 Khung sinh kế bền vững

Khung sinh kế bền vững bao gồm những nhân tố ảnh hưởng đến sinh kế của con người, và những mối quan hệ cơ bản giữa chúng Nó có thể sử dụng để lên kế hoạch cho những hoạt động phát triển mới và đánh giá sự đóng góp vào sự bền vững sinh kế của những hoạt động hiện tại Cụ thể là:

- Cung cấp bảng liệt kê những vấn đề quan trọng nhất và phác họa mối liên hệ giữa những thành phần này

Trang 27

- Tập trung sự chú ý vào các tác động và các quy trình quan trọng

- Nhấn mạnh sự tương tác phức tạp giữa các nhân tố khác nhau, làm ảnh hưởng tới sinh kế

Khung sinh kế bền vững có dạng như sau:

Sơ đồ 1.1: Khung sinh kế bền vững

Nguồn: Bộ phát triển quốc tế Anh quốc (DFID)

Chiến lược sinh kế của hộ hay khung sinh kế bền vững bao gồm:

- Nguồn lực tự nhiên: Là cơ sở các tài nguyên thiên nhiên của hộ hay của cộng

đồng, được trông cậy vào để sử dụng cho mục đích sinh kế như đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng…

Trong thực tế, sinh kế của người dân thường bị tác động rất lớn bởi những biến động của nguồn lực tự nhiên Trong các chương trình di dân tái định cư, việc di chuyển dân đã làm thay đổi nguồn lực tự nhiên của người dân và qua đó đã làm thay đổi sinh kế của họ

- Nguồn lực con người: Bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và

sức khoẻ con người Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của

họ Ở mức độ gia đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn

H: Nhân lực S: Xã hội N: Tự nhiên P: Vật chất F: Tài chính

Tài sản tạo sinh kế hộ

Chiến lược kiếm sống

Kết quả của quá trình kiếm sống

Trang 28

- Nguồn lực vật chất: Bao gồm tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như nhà

ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin…

- Nguồn lực tài chính: Là những gì liên quan đến tài chính mà con người có

được như: Nguồn thu nhập tiền mặt, tiền tiết kiệm, tín dụng và các nguồn khác như lương, nguồn hỗ trợ, viện trợ từ bên ngoài cho hộ gia đình và cho cộng đồng

- Nguồn lực xã hội: Là những nguồn lực định tính dựa trên những gì mà con

người đặt ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ Chúng bao gồm uy tín của

hộ, các mối quan hệ xã hội của hộ

Đây là khung giúp cho người sử dụng hiểu được các loại hình sinh kế hiện hữu

và dùng nó làm cơ sở để lập kế hoạch cho các hoạt động phát triển và các hoạt động khác Điều này kéo theo việc phân tích và sử dụng nhiều loại công cụ hiện có như phân tích xã hội và phân tích các bên liên quan, các phương pháp đánh giá nhanh và đánh giá kinh tế về:

- Bối cảnh sống của người dân, trong đó bao gồm những ảnh hưởng của các xu hướng bên ngoài với họ (xu hướng về kinh tế, xu hướng phát triển dân số)

- Khả năng tiếp cân của người dân đối với các loại tài sản sinh kế và khả năng

có thể quản lý được KSK luôn được đặt trong trạng thái động, nó không có điểm đầu điểm cuối Giá trị của một khung sinh kế giúp cho người sử dụng nhìn nhận một cách bao quát và có hệ thống các tác nhân gây ra nghèo khổ và mối quan hệ

Trang 29

giữa chúng Có thể đó là những cú sốc và các xu hướng bất lợi, các chính sách và thể chế hoạt động kém hiệu quả hoặc việc thiếu cơ bản các tài sản sinh kế

Mục đích sử dụng khung sinh kế là để tìm hiểu những cách thức mà con người

đã kết hợp và sử dụng các nguồn lực; khả nnwg nhằm kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện cảu họ Mà những mục tiêu và ước nguyệ mà con người đạt được nhờ sử dụng và kết hợp các nguồn lực khác nhau có thể gọi là kết quả sinh kế Đây là những thứ mà con người muốn đạt được trong cuộc sống kể cả trước mắt cũng như lâu dài

Nghiên cứu kết quả sinh kế sẽ cho chúng ta hiểu được động lực nào dẫn tới các hoạt động mà họ đang thực hiện và những ưu tiên của họ là gì Đồng thời cũng cho thấy phản ứng của người dân trước những cơ hội và nguy cơ mới Kết quả sinh

kế thể hiện trên chỉ số như cuộc sống hưng thịnh hơn, đời sống được nâng cao, khả năng tổn thương giảm, an ninh lương thực được củng cố và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên Do đó phải kết hợp và sử dụng khác nhau như đất đai, vốn, khoa học công nghệ

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Kinh nghiệm về vấn đề sinh kế và nâng cao thu nhập cho nông dân trong phát triển các khu công nghiệp ở một số nước trên thế giới

1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia có điều kiện tự nhiên và phong tục tập quán tương đối giống Việt Nam Là nước đông dân nhất thế giới, với trên 1.3 tỷ người nhưng cũng giống như Việt Nam, gần 70% dân số Trung Quốc vẫn sống ở khu vực nông thôn, hàng năm có tới hơn 10 triệu lao động đến tuổi tham gia vào lực lượng lao động Vì thế nhu cầu giải quyết việc làm càng trở nên gay gắt Sau cải cách và

mở cửa nền kinh tế năm 1978, Trung Quốc thực hiện phương châm “Ly nông bất ly hương” thông qua chính sách khuyến khích phát triển mạnh mẽ công nghiệp Hương Trấn nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động xã hội ở

Trang 30

nông thôn Từ đó rút ngắn khoảng cách nông thôn và thành thị Trung Quốc coi việc phát triển công nghiệp nông thôn là con đường giải quyết vấn đề việc làm và sinh

kế của người dân Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã thu hút lực lượng lao động dôi dư ở nông thôn Bên cạnh đó, chính sách khuyến khích đầu tư của nhà nước cùng với sự đầu tư kinh tế tư nhân vào khu vực phi công nghiệp đã thúc đẩy

sự phát triển của các doanh nghiệp địa phương Trong những năm đầu đã có trên 20% thậm chí có nơi lên tới 50% tổng thu nhập của người dân nông thôn là từ các doanh nghiệp địa phương

Cùng với việc đưa ra các chính sách phát triển thì nhà nước cũng đẩy mạnh xây dựng CSHT nông thôn, tạo điều kiện cho các hộ nông dân sản xuất hàng hóa Thu mua bảo trợ hàng hóa nông nghiệp, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thị trường tín dụng

Chỉ trong vòng 10 năm (từ năm 1978 đến năm 1991) Trung Quốc đã thu hút được 96 triệu lao động vào các xí nghiệp Hương Trấn (bằng 13.8% lực lượng lao động ở nông thôn), tạo ra được 1162 tỷ nhân dân tệ (chiếm đến 60% giá trị sản phẩm khu vực nông thôn, 1/3 giá trị sản lượng công nghiệp và ¼ GDP cả nước) Đây là một thành công lớn, nó đã làm chotyr lệ lao động nông nghiệp giảm từ trên 70% (năm 1978) xuống còn dưới 50% (năm 1991)[16]

Trong những năm gần đây, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân vẫn được chú trọng phát triển ở Trung Quốc Những chính sách nhằm nâng cao thu nhập cho nông dân luôn được coi trọng Trong đó đặc biệt chú trọng việc nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế cho người nghèo bằng việc mở mang các ngành nghề dịch

vụ, tiểu thủ công nghiệp, chính sách vốn, tín dụng…

Từ thực tiễn phát triển công nghiệp và giải quyết vấn đề sinh kế cho người dân nông thôn Trung Quốc trong thời gian qua có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

- Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, đa dạng hóa ngành nghề, khuyến khích nông dân đầu tư dài hạn để phát triển sản xuất, mở mang hoạt động

Trang 31

phi nông nghiệp…đã góp phần tạo nên tốc độ phát triển kinh tế và làm đa dạng mô hình sinh ké cho người dân nông thôn, thu hút nhiều lao động vào các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn

- Trong một giai đoạn nhất định, nhà nước bảo hộ sản xuất trong nước, giải quyết vấn đề lao động, việc làm ở nông thôn Từ đó sinh kế của người dân được cải thiện hơn

- Việc hạn chế lao động di chuyển giữa các vùng miền làm hạn chế sinh kế của người dân nông thôn, Do các doanh nghiệp sẽ gây khó dễ trong việc trả lương hoặc hạn chế trong việc sử dụng tay nghề của người dân [15]

1.2.1.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Hàn Quốc là một quốc gia có nhiều sự tương đồng với sự phát triển kinh tế của Việt Nam Trước những năm 70, Hàn Quốc cũng là một nước nông nghiệp, nông nghiệp chiếm 50% GDP Hàn Quốc Nông dân Hàn Quốc cũng là người Châu

Á, mang ý thức hệ của người Á Đông: mặc cảm, tự ti Trước năm 1970, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc tương tự nước ta vào năm 1991, 1992, khoảng 300 -

350 USD/người/năm

Cũng là nước bị chiến tranh tàn phá nặng nệ, năm 1954 thực hiện cải cách ruộng đất Nhà nước mua lại đất của chủ có trên 3 ha để bán lại cho nông hộ thiếu đất với phương thức trả dần để tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển Từ năm 1965 đến năm 1971 tốc độ phát triển nông nghiệp tăng 2.5% Năm 1971 đến năm 1978 tăng 6.9%, 3/5 đất hoang được nông hộ khai thác sử dụng có hiệu quả kinh tế cao Năm 975

tự túc được nhiều lương thực và nhiều nông sản khác, chăn nuôi tăng 8-10%/năm Cơ cấu sản xuất chuyển dịch theo hướng hàng hóa với hệ thống cây, con, ngành nghề có giá trị kinh tế cao Thu nhập phi nông nghiệp chiếm 35% tổng số [13]

Trước năm 1970 Hàn Quốc lấy CNH- HĐH làm trọng điểm, công nghiệp tăng trưởng rất nóng nhưng lại không có cơ hội vì không có thị trường Trong khi đó nông nghiệp tăng chậm dần Khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa giàu - nghèo lớn

Trang 32

Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra một con đường giải phóng đó là phong trào

“Sumomidon” (phong trào xây dựng nông thôn mới) Học tập phương châm “Lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp” Một mặt vẫn phát triển công nghiệp, mặt khác đầu tư vào nông nghiệp, phát huy nội lực của người nông dân trên mảnh đất của họ để phát triển kinh tế Chính phủ đầu tư, hỗ trợ vào nông nghiệp bằng vật chất để phát triển nông nghiệp, nông thôn Với tư tưởng chỉ là đầu tư tài chính một phần mà chủ yếu là vật chất bằng cách đưa sản phẩm công nghiệp không thể ra thị trường tiêu thụ về nông thôn như sắt, thép…xây dựng cơ sở vật chất như: đường giao thong, các công trình công cộng (trường học, bệnh viện…) Mặt khác chuyển giao một số khoa học công nghệ tiên tiến vào lĩnh vực nông thôn Xây dựng các phương án, dự án phát triển theo từng cấp:

- Cấp 1: Nâng cao điều kiện sống cho người dân

- Cấp 2: Nâng cao cơ sở hạ tầng

- Cấp 3: Tăng thu nhập cho nông dân

Làm từ thấp đến cao, chỉ khi nào hoàn thành cấp 1 mới được làm tiếp cấp 2

Từ thực tiễn của Hàn Quốc rút ra kinh nghiệm: Phát triển công nghiệp song song với đầu tư phát triển nông nghiệp Như vậy vừa thực hiệm được CNH - HĐH đất nước, vừa đảm bảo được an ninh lương thực Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo từng bước không nóng vội, hoàn thành cấp này mới làm tiếp cấp kia

1.2.2 Chủ trương, biện phát của Đảng và nhà nước ta trong vấn đề giải quyết việc làm và sinh kế cho hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp phục vụ quá trình CNH - HĐH ở Việt Nam

Việt Nam là một nước nông nghiệp với trên 70% dân số sống ở nông thôn và làm nông nghiệp Theo thống kê của hội Nông dân Việt Nam, mỗi năm nước ta có khoảng 200.000 ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đich sử dụng, tương ứng với mỗi hộ có khoảng 1,5 lao động mất việc làm Điều này đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải có biện pháp giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất, làm sao để đảm bảo sinh kế bền vững cho họ Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 11/2006/CT - TTG yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương có định hướng quy

Trang 33

hoạch, kế hoạch về chuyển đổi mục đích sử dụng, chủ động xây dựng kế hoạch hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm và vay vốn giải quyết việc làm cho người lao động ngay trong quá trình xây dựng quy hoạch và kế hoạch thu hồi đất nông nghiệp[22]

- Việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sao cho có hiệu quả, nâng cao độ phì của đất, bồi dưỡng đất, tăng hiệu quả kinh tế của đất Vì đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, không sinh thêm mà lại ngày càng thu hẹp cho nên phải có kế hoạch sử dụng đất hợp lý tiết kiệm, đất nào sử dụng với mục đích ấy, hạn chế tối đa sử dụng đất 2 vụ lúa vào xây dựng KCN, khu đô thị Nên sử dụng đất đồi, đất bãi để xây dựng KCN Trước khi quy hoạch sử dụng đất để xây dựng KCN, khu chế xuất, khu

đô thị mới thì cần thông báo công khai cho nhân dân biết Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, chính quyền các cấp để tuyên truyền chủ trương, chính sách đất đai của Đảng và Nhà nước Thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và đền bù phải theo quy định

- Việc giải quyết việc làm cho nông dân đang là vấn đề bức xúc Trong những năm qua, Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ cho người dân những vùng

bị thu hồi đất như chính sách định cư tại chỗ, hỗ trợ đào tạo nghề và chuyển đổi nghề… Các cấp chính quyền nên tạo điều kiện cho những hộ nông dân bị mất đất sản xuất có việc làm mới ngay trên địa bàn: cho họ vào làm tại các nhà máy, xí nghiệp ngay trên mảnh đất của họ trước đây Thực hiện phương châm “Ly nông bất

ly nương” Phải có biện pháp bắt buộc thực hiện chính sách dạy nghề miễn phí cho người dân trong vùng bị lấy đất đi Phải có lớp tập huấn, đào tạo để giúp người nông dân có kiến thức về sản xuất, kinh doanh, giúp họ tiếp cận thị trường Chính sách cho vay vốn với lãi suất ưu đãi cũng cần cải cách Ngoài ra, một biện pháp đang được đánh giá ưu việt là khi thu hồi đất nhà đầu tư không bồi hoàn tất cả mà

để lại cho người dân một phần cổ phần nhất định trong dự án đó Nếu bồi hoàn toàn

bộ lượng tiền, người nông dân không có nghề nghiệp có thể sẽ tiêu hết tiền và trở thành người trắng tay, trong khi nếu có cổ phần họ sẽ được lợi ích lâu dài để đảm bảo cuộc sống

Trang 34

Để tạo việc làm một cách bền vững và phát triển mạnh thị trường xuất khẩu lao động, chiến lược đào tạo của quốc gia cần có sự định hướng rõ ràng ngay từ cấp trung học Trên cơ sở chiến lược phát triển Quốc gia, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần

có những định hướng đào tạo nghề cho học sinh ngay từ bậc trung học: Khoảng 1/3

số học sinh PTTH sẽ tiếp tục học lên Cao đẳng, Đại học; 1/3 đào tạo nghề theo mô hình công nhân kỹ thuật cao, số này sẽ cung cấp lao động cho các KCN, khu chế xuất và phục vụ xuất khẩu, 1/3 còn lại sẽ được đào tạo nghề kỹ thuật cơ bản, nghề thủ công truyền thống, số này có thể đáp ứng được lực lượng lao động cho các khối doanh nghiệp vừa và nhỏ

Với những hộ nông dân có nhu cầu đến vùng khác để sinh sống thì chính quyền địa phương nên phối hợp với hội nông dân và các ban ngành khác để có chính sách hỗ trợ việc di dân, định canh định cư

- Tình trạng hộ nông dân thiếu đất sản xuất do phát triển KCN ngày càng có

xu hướng tăng Vì vậy việc giao đất ở địa phương không chỉ giao cho những hộ có

hộ khẩu trong vùng, mà phải mở rộng cho các đối tượng nghèo không có ruộng khác Tuy nhiên phải có biện pháp quản lý chặt chẽ, không để bị lợi dụng giao đất sai đối tượng, sai mục đích Chính quyền các cấp kết hợp với các đoàn thể, đặc biệt

là hội đồng nông dân vận động người dân nâng cao nhận thức, tuân thủ luật pháp nói dúng và luật đất đai nói riêng

1.2.3 Một số kinh nghiệm giải quyết vấn đề sinh kế và việc làm cho hộ nông dân

bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam

1.2.3.1 Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội

Theo thống kê của Bộ lao động - TBXH trong 5 năm (2001 - 2004) số người mất việc do bị thu hồi đất để phục vụ cho các nhu cầu: xây dựng KCN, khu chế xuất, khu đô thị…ở Hà Nội là gần 800.000 người Trong 8 năm (2001 - 2007), Hà Nội đã triển khai hơn 2800 dự án đầu tư liên quan đến thu hồi đát Thành phố đã bàn giao cho chủ đầu tư gần 1300 dự án với 6300 ha đất, trong đó trên 80% là đất nông nghiệp, liên quan đến gần 180.000 hộ dân Bình quân mỗi năm Hà Nội đã giải phóng mặt bằng gần 1000ha

Trang 35

Trong những năm qua, mặc dù Trung ương và Thành phố đã có những chính sách về hỗ trợ việc làm và học nghề nhưng lại chưa đồng bộ và hiệu quả , dẫn đến nguy cơ thất nghiệp ở người nông dân mất tư liệu sản xuất là đất đai rất lớn Bởi họ khó nhọc nghề mới, phần lớn lại ở độ tuổi cao, trình độ văn hóa hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu lao động chất lượng cao Một bộ phận nông dân khi bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp đã trở thành hộ nghèo Ở 5 quận huyện bị thu hồi nhiều nhất, có 1223 hộ nghèo với 4389 nhân khẩu

Hạn chế chủ yếu trong cơ chế chính sách hỗ trợ hiện có được Hà Nội chỉ ra là việc bồi thường, hỗ trợ đều dưới hình thức chi trả trực tiếp tiền cho người dân bị thu hồi (tức là mới chỉ quan tâm đến khía cạnh vật chất) dẫn đến tình tạng người dân dùng tiền để mua sắm chứ ít quan tâm đến học nghề, chuyển đổi nghề để có thể đảm bảo cuộc sống ổn định khi bị Nhà nước thu hồi đất [21]

Gần đây, thành phố Hà Nội đã đưa ra các chủ trương tìm cách hỗ trợ nông dân

bị thu hồi đất như sau:

- UBND thành phố đề xuất thành lập Quỹ hỗ trợ ổn định đời sống, phổ cập giáo dục, học nghề và việc làm cho các hộ nông dân bị mất trên 30% đất sản xuất nông nghiệp được giao theo NDD64/CP của Chính phủ Quỹ này sẽ có vốn ban đầu

là 40 tỷ đồng từ ngân sách thành phố cấp, tiếp theo sẽ trích nguồn kinh phí của các nhà đầu tư khi được giao đất

- Trẻ của các gia đình bị thu hồi đất sẽ được hỗ trợ học phí phổ thông trong 3 năm Người lao động có nhu cầu học nghề sẽ được cấp thẻ học nghề có giá trị tối đa

6 triệu đồng, ưu tiên những người này tham gia kinh doanh các hoạt động dịch vụ tại các khu đô thị và KCN Hỗ trợ 100% kinh phí BHYT cho người trên 60 tuổi đối với nam và trên 55 tuổi đối với nữ

Ngoài ra các giải pháp được UBND Thành phố quan tâm đó là xây dựng, ban hành quy chế ưu tiên đấu thầu kinh doanh dịch vụ tại các khu đô thị, KCN mới hình thành, xã hội hóa các hoạt động dịch vụ tại các khu đô thị, KCN xây dựng trên diện tích đất nông nghiệp Cho người dân có đất bị thu hồi tham gia kinh doanh, đặc biệt

sẽ ưu tiên cho lao động của hộ bị thu hồi trên 30% diện tích đất sản xuất Có cơ chế

Trang 36

về đầu tư, xây dựng hạ tầng nông thôn tại các khu vực thu hồi nhiều đất nông nghiệp

để tạo điều kiện kinh doanh dịch vụ phục vụ các KCN, khu đô thị, giải quyết việc làm tại chỗ, đảm bảo sự gắn kết hạ tầng của khu đô thị và KCN với vùng dân cư

Từ thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân mất đất tại Hà Nội ta thấy:

- Chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề bằng thẻ học nghề sẽ tránh được việc người dân sử dụng tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề vào việc khác mà không phải là việc học nghề Tuy vậy, Hà Nội chưa quan tâm rõ đến từng đối tượng, chưa có chính sách cho những người lao động đã qua độ tuổi lao động hoặc gần hết tuổi lao động

Họ không có điều kiện chuyển đổi nghề mới

- Hà Nội đã có chính sách hỗ trợ học phí cho con em những hộ bị mất đất Lập quỹ hỗ trợ ổn định đời sống

1.2.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc

Vĩnh Phúc là tỉnh có tốc độ đô thị hóa nhanh, trong vòng 10 năm (1997 - 2007) nhờ phát triển các KCN tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt được 17.1% Nhưng cũng chính vì thế mà nhiều diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi để xây dựng các khu đô thị, KCN… Mỗi năm trên địa bàn tỉnh có hàng nghìn nông dân bị mất việc làm Theo thống kê của các cơ quan chức năng, sau 10 năm kể từ khi tái lập tỉnh (năm 1997), Vĩnh Phúc đã thu hồi hơn 4000 ha đất nông nghiệp để xây dựng các KCN, khu đô thị và hạ tầng Việc thu hồi đất đã khiến hơn 10.000 hộ dân mất một phần hoặc toàn bộ đất ở, đất canh tác Sau khi bị thu hồi đất, có khoảng 45.000 lao động nông thôn mất hoặc thiếu việc làm Thời gian tới đây, đất nông nghiệp ở nhiều địa phương trong tỉnh sẽ tiếp tục bị thu hồi để phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH Số lượng nông dân không còn tư liệu sản xuất sẽ tiếp tục gia tăng, tạo

sức ép rất lớn trong vấn dề giải quyết việc làm Trước thực trạng đó, các cấp, các

ngành chức năng của tỉnh đã có nhiều chủ trương, biện pháp giải quyết cơ bản… Với quan điểm: Có “an cư” mới “lạc nghiệp” Để sớm ổn định đời sống hco người dân có đất ở bị thu hồi phải nhanh chóng giải quyết tốt vấn đề tái định cư cho dân Đây là quan điểm nhất quán của tỉnh Vì vậy, tỉnh chủ trương khi tái định cư cho dân phải đảm bảo nơi ở mới có điều kiến ống, sinh hoạt tốt hơn nơi ở cũ Trên

Trang 37

thực tế đã có nhiều địa phương làm khá tốt việc này, được dư luận nhân dân đánh giá cao như Vĩnh Yên, Mê Linh, Phúc Yên…

Tỉnh Vĩnh Phúc cũng đã sớm xây dựng đề án “Dạy nghề cho lao động nông thôn, lao động ở vùng dành đất phát triển công nghiệp” Theo đề an, từ thời điểm thực hiện cho đến năm 2010, tỉnh sẽ dành khoảng 87 tỷ đồng để đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống trường dạy nghề, mua sắm, hiện đại hóa máy móc thiết bị; hỗ trợ học phí cho 14.000 lao động nông thôn (chủ yếu là thanh niên); phát triển hệ thống các trung tâm giới thiệu việc làm…Tỉnh phấn đấu nâng tỷ lệ lao động được đào tạo nghề lên 45% vào năm 2010 Đến nay toàn tỉnh đã có 52 cơ sở đào tạo nghề, với cơ cấu nghề đào tạo khá đa dạng, quy mô đào tạo hơn 31.000 lao động mỗi năm, cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu học nghề của người lao động Ngành nông nghiệp Vĩnh Phúc đã tổ chức 385 lớp đào tạo về các nghề chăn nuôi, trồng trọt, thủy sản, thú y, điện, kinh tế, tin học…cho trên 11.640 nông dân tham gia học tập Để nâng cao hơn nữa số lượng thanh niên nông thôn được đào tạo nghề cũng như được nhận vào làm tại các khu, cụm công nghiệp tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách để

hỗ trợ như: các hộ gia đình dành đát để phát triển công nghiệp, dịch vụ nếu tham gia các khóa đào tạo nghề dài hạn sẽ được hỗ trợ 10 tháng/khóa học; tham gia học bổ túc văn hóa và nghề sẽ được hỗ trợ 15 tháng/khóa học (mức hỗ trợ 200.000 đồng/học viên/tháng) Tỉnh hỗ trợ các doanh nghiệp khi tiếp nhận lao động nông thôn vào làm việc với mực 500.000 đồng/người (nếu lao động chưa được đào tạo nghề); 200.000 đồng/người (nếu lao động đã được đào tạo nghề), hỗ trợ học phí với mức 250.000 đến 300.000 đồng/tháng/học viên/khóa đào tạo nghề; hỗ trợ 1.000.000 đồng/người/khóa đào tạo ngoại ngữ, giáo dục định hướng xuất khẩu lao động Tỉnh cũng khuyến khích đưa lao đọng đi làm việc ngoài tỉnh theo chế độ mỗi lao động thuộc hộ có đất chuyển đổi mục đich sử dụng đi làm việc ở các tỉnh phía Bắc được

hỗ trợ 300.000 đồng, đi miền Trung 500.000 đồng và đi miền Nam là 700.000 đồng Tính đến năm 2010, tỉnh sẽ mở 3.000 lớp đào tạo các nghề mới cơ khí, may, điện tử…cho trên 90.000 nông dân; đồng thời mở các điểm tư vấn, thông tin việc làm, cơ chế chính sách, thị trường lao động từ tỉnh đến huyện, xã phục vụ người dân Chính

Trang 38

từ những chủ trương đúng đắn này mà đến nay, 23% lao động nông thôn có đất bị thu hồi đã được nhận vào làm việc ổn định trong các khu công nghiệp[21]

Đối với những lao động bị thu hồi đất nhưng tuổi đã cao, khó chuyển đổi nghề, tỉnh xác định hướng giải quyết là tạp việc làm tại chỗ Đễ làm được điều này, một mặt tỉnh chú trọng đến công tác quy hoạch, phát triển các làng nghề truyền thống , các nghề thủ công, tiểu thủ công… Huy động Hội Nông dân, Hội phụ nữ…vào cuộc, nhằm định hướng, dạy nghề, tạo việc làm cho những đối tượng phù hợp, có nhu cầu Mặt khác, một mô hình được dư luận đánh giá có tính “đột phá” đã

và đang được tỉnh áp dụng rộng rãi Đó là mô hình “đổi đất lấy dịch vụ” Quyết định 2502/2004/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc giao đất dịch

vụ cho các hộ gia đình, các nhân có đất bị thu hồi để xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị…đã nêu rõ: các hộ gia đình, cá nhân có đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm 40% tổng diện tích đất nông nghiệp trở lên của hộ gia đình, cá nhân đó sẽ được cấp đất để làm dịch vụ Cứ 1 sào (360m² ) đất thu hồi sẽ được cấp 10m² đất dịch vụ (tối thiểu 20m2, tối đa 100m2) Đất “dịch vụ” sẽ được người nông dân sử dụng để xây nhà cho công nhân thuê, kinh doanh hàng hóa, tạp phẩm…tùy từng gia đình Đây thực sự là một quyết định đúng đắn, được sụ đồng tình, nhất trí cao của đông đảo người dân có đất bị thu hồi Đất “dịch vụ” không những giải quyết việc làm cho một lực lượng lớn lao động mà còn có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy nhanh tiến

độ giải phóng mặt bằng…[22]

Từ thực tiễn giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho người dân tỉnh Vĩnh Phúc ta thấy: Tỉnh Vĩnh Phúc đã có những chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cụ thể cho từng đối tượng Tỉnh cũng đã có những hỗ trợ dành cho những lao động bị thu hồi đất nhưng tuổi đã cao Tuy nhiên đó mới chỉ là những giải pháp bước đầu giải quyết được tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp của hộ nông dân Các biện pháp

đó chưa mang tính đồng bộ và dài hạn, chưa gắn kết với các Sở, Ban, Ngành và lồng ghép sâu rộng với các chương trình, dự án của Tỉnh cũng như trên phạm vi toàn quốc

Trang 39

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế của hộ nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

Hình 2.1: Bản đồ Khu công nghiệp Quế Võ

(Nguồn: UBND huyện Quế Võ 2016)

- Phạm vi: Huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2014 – 2016, số liệu sơ cấp thu thập năm 2016

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế hộ sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp

để xây dựng khu công nghiệp tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

Trang 40

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế hộ sau khi bị thu hồi đất (bao gồm yếu tố chủ quan - khách quan, yếu tố bên trong - bên ngoài…)

- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hỗ trợ phát triển kinh tế

hộ sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu

Kết hợp cả phương pháp định tính và phương pháp định lượng

- Nghiên cứu định tính: phỏng vấn sâu đối với những người nắm rõ thông tin

về đề tài nghiên cứu; tiến hành tổ chức thảo luận nhóm với các đối tượng nghiên cứu ( tiến hành 3 cuộc thảo luận nhóm với các hộ dân điển hình bị thu hồi đất để thảo luận về thực trạng thu hồi đất nông nghiệp ở địa bàn nghiên cứu, những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến kinh tế hộ sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp)

- Nghiên cứu định lượng: tiến hành điều tra thu thập số liệu thông qua bảng

hỏi, người nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi có sẵn để phân nhóm hộ dân bị ảnh hưởng sau khi bị thu hồi đất và tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp Sử dụng khung sinh kế để xác định và phân tích những thay đổi về sinh kế sau thu hồi đất (các tài sản sinh kế, chiến lược sinh

kế, kết quả sinh kế) và các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi kết quả sinh kế của hộ sau khi thu hồi đất

2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin

2.3.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp

- Thu thập các số liệu thứ cấp từ các cơ quan thông kê của tỉnh Bắc Ninh và huyện Quế Võ; Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Bắc Ninh; Sở Nông nghiệp; Sở Tài nguyên và môi trường; một số phòng ban có liên quan trong thời gian nghiên cứu tại địa bàn

- Sách, báo, các văn kiện nghị quyết, các đề tài, dự án, các công trình nghiên cứu đã được xuất bản và công bố, các tài liệu trên các trang mạng xã hội,

- Các báo cáo, quyết định liên quan đến thu hồi đất trong địa bàn nghiên cứu

Ngày đăng: 14/03/2018, 13:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w