1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

“Phân tích và trình bày những vấn đề cơ bản của nguyên tắc khi xét xử, thẩm phán, hội thẩm phải xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật ”

10 491 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Phân tích và trình bày những vấn đề cơ bản của nguyên tắc Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.” I. Những vấn đề chung về nguyên tắc “ Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.” 1.1. Quá trình hình thành và cơ sở của nguyên tắc Xuất phát từ vị trí, vai trò của tòa án trong bộ máy nhà nước. Là cơ quan trong hệ thống tư pháp, tòa án có những đặc thù so với các cơ quan khác trong hệ thống. Tòa án là người đại diện của quyền lực tư pháp khác với cơ quan lập pháp và hành pháp ở chỗ không giải quyết các vấn đề ở tầm vĩ mô, không hoạch định chính sách kinh tế xã hội mà có chức năng giải quyết các vấn đề rất cụ tể, từng tình huống, từng sự kiện cụ thể trong đời sống xã hội. Xuất phát từ thực tiễn hoạt động xét xử của tòa án. Hoạt động xét xử của tòa án là một hoạt động khó khăn, phức tạp, đòi hỏi độ chính xác cao. Do đó, nguyên tắc này được đặt ra nhằm đảm bảo không ai có thể can thiệp vào công việc xét xử của thẩm phán và hội thẩm nhân dân trong quá trình xét xử. ()Nguyên tắc: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” được Hiến pháp và pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định là một nguyên tắc hiến định và được ghi nhận trong các bản Hiến pháp cũng như được thể chế trong các đạo luật về tổ chức Tòa án cơ quan xét xử, cũng như các đạo luật về tố tụng của Nhà nước Việt Nam. Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên của nền dân chủ cộng hòa Hiến pháp năm 1946, thì Điều 69 đã trang trọng ghi nhận: Trong khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp. Hiến pháp năm 1959, nguyên tắc này được quy định ở Điều 100: Khi xét xử, Toà án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Hiến pháp năm 1980 ghi nhận ở Điều 131: Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Đến Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi bổ sung năm 2001) thì nguyên tắc này được ghi nhận ở Điều 130: Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Sau quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc, Hiến pháp năm 2013 đã kế thừa những thành tựu lập hiến của các bản Hiến pháp đồng thời, tiếp thu những tư tưởng mới về Nhà nước pháp quyền cũng như thực tiễn công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay và đã hoàn thiện hơn về nguyên tắc Khoản 2, Điều 103:” Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nghiêm cấm các cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.” Nguyên tắc này không chỉ quy định tại Hiến pháp mà nguyên tăc này còn được quy định trong Luật Tổ chức Tòa án và các đạo luật tố tụng.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lí của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lí của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc (xét xử vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại, ) Là hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của các Tòa án Các Tòa

án là những cơ quan duy nhất của một nước được đảm nhiệm chức năng xét xử Mọi bản án do các Tòa án tuyên đều phải qua xét xử Không một ai có thể bị buộc tội mà không qua xét xử của các tòa án Phán quyết của tòa án ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của công dân

Do đó yêu cầu đòi hỏi trong quá trình xét xử chính là sự độc lập, khách quan, công bằng, toàn diện, đúng người đúng tội Chính vì vậy để thực hiện tốt những yêu cầu

đó thì khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Đây cũng là một trong nhiều nguyên tắc được quy định trong Hiến Pháp 2013 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân

2013, cũng như pháp luật Tố tụng chuyên ngành khác Tuy nhiên việc áp dụng nguyên tắc này trên thực tế có được hiểu đúng, đầy đủ và thực hiện triệt để hay

không thì bài viết dưới đây em xin đi: “Phân tích và trình bày những vấn đề cơ bản của nguyên tắc Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.”

Trang 2

NỘI DUNG

I Những vấn đề chung về nguyên tắc “ Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.”

1.1 Quá trình hình thành và cơ sở của nguyên tắc

Xuất phát từ vị trí, vai trò của tòa án trong bộ máy nhà nước Là cơ quan trong hệ thống tư pháp, tòa án có những đặc thù so với các cơ quan khác trong hệ thống Tòa án là người đại diện của quyền lực tư pháp khác với cơ quan lập pháp và hành pháp ở chỗ không giải quyết các vấn đề ở tầm vĩ mô, không hoạch định chính sách kinh tế- xã hội mà có chức năng giải quyết các vấn đề rất cụ tể, từng tình huống, từng sự kiện cụ thể trong đời sống xã hội Xuất phát từ thực tiễn hoạt động xét xử của tòa án Hoạt động xét xử của tòa án là một hoạt động khó khăn, phức tạp, đòi hỏi độ chính xác cao Do đó, nguyên tắc này được đặt ra nhằm đảm bảo không ai

có thể can thiệp vào công việc xét xử của thẩm phán và hội thẩm nhân dân trong quá trình xét xử

()Nguyên tắc: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” được Hiến pháp và pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định là một nguyên tắc hiến định và được ghi nhận trong các bản Hiến pháp cũng như được thể chế trong các đạo luật về tổ chức Tòa án - cơ quan xét xử, cũng như các đạo luật về tố tụng của Nhà nước Việt Nam Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên của nền dân chủ cộng hòa - Hiến pháp năm 1946, thì Điều 69 đã trang

trọng ghi nhận: "Trong khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các

cơ quan khác không được can thiệp" Hiến pháp năm 1959, nguyên tắc này được quy định ở Điều 100: "Khi xét xử, Toà án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" Hiến pháp năm 1980 ghi nhận ở Điều 131: "Khi xét xử, Thẩm

Trang 3

năm 1992 (được sửa đổi bổ sung năm 2001) thì nguyên tắc này được ghi nhận

ở Điều 130: "Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" Sau quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc, Hiến pháp năm 2013

đã kế thừa những thành tựu lập hiến của các bản Hiến pháp đồng thời, tiếp thu những tư tưởng mới về Nhà nước pháp quyền cũng như thực tiễn công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay và đã hoàn thiện hơn về nguyên tắc - Khoản 2, Điều 103:” Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nghiêm cấm các cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.”

Nguyên tắc này không chỉ quy định tại Hiến pháp mà nguyên tăc này còn được quy định trong Luật Tổ chức Tòa án và các đạo luật tố tụng

1.2 Nội dung cơ bản của nguyên tắc.

Ngay từ quy đinh của pháp luật ta cũng thấy rõ nguyên tắc được chia làm 2 nội dung cơ bản đó là: Nội dung 1: Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và nội dung còn lại là Thẩm phán và Hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật

* Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập

Sự độc lập của Thẩm phán và Hội Thẩm thể hiện ở hai góc độ:

Độc lập với yếu tố bên ngoài: Khi tham gia xét xử vụ án hình sự hay các vụ việc dân sự thì Thẩm phán và Hội thẩm phải xét xử , giải quyết vụ việc, vụ án dựa trên

hồ sơ, tài liệu do cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát cung cấp hay dựa trên yêu cầu của những người tham gia tố tụng, tuy nhiên hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm tại phiên tòa không phụ thuộc vào bất kì chủ thể nào, tài liệu, chứng cứ,

hồ sơ của cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát cũng chỉ là căn cứ giúp cho hoạt động xét xử khách quan, minh bạch hơn Còn việc đưa ra các quyết định của Tòa án hoàn toàn phụ thuộc vào những quy định pháp luật và đưa ra kết quả xét xử theo ý mình

Độc lập với yếu tố bên trong: là sự độc lập giữa các tòa án với nhau, tòa án Thẩm phán, Hội thẩm công tác phải độc lập với các tòa án khác Chánh án với tư cách là người lãnh đạo tòa án không có quyền can thiệp, chỉ đạo, gây sức ép với

Trang 4

họ Tòa án cấp trên không có quyền chỉ đạo, tòa án cấp dưới làm theo yêu cầu của mình trong hoạt động xét xử, giải quyết vụ việc Bên cạnh đó thì chính Thẩm phán

vầ Hội Thẩm cũng độc lập với nhau trong đánh giá chứng cứ, xem xét, trình bày quan điểm và biểu quyết của họ là như nhau, không ai phụ thuộc ai

* Thẩm phán, Hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật

Pháp luật là những quy tắc xử sự chung được nhà nước ban hành, thừa nhận và bắt buộc phải thực hiện với mọi chủ thể Chính vì vậy trong mọi hoạt động, ngay cả hoạt động xét xử thì Thẩm phán, Hội thẩm cũng phải dựa trên những quy định của pháp luật để đưa ra một quyết định đúng đắn, hợp pháp Nếu như Thẩm phán và Hội thẩm ra một quyết định trái với pháp luật thì quyết định đó sẽ bị hủy bỏ ngay

và có thể Thẩm phán, Hội thẩm sẽ phải chịu những biện pháp cưỡng chế của nhà nước cho quyết định sai đó

II Ý nghĩa của nguyên tắc “ Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.”

Nguyên tắc này đống vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án

và nó cũng mang một ý nghĩa to lớn không chỉ cho hoạt động xét xử mà còn trong nhiều lĩnh vực khác nhau

Thứ nhất, Độc lập trong xét xử là một trong những nguyên tắc đặc thù của ngành

luật tố tụng và mang tính chất riêng trong tố tụng nước ta Đây là nguyên tắc cơ bản quy định cho mọi thủ tục tố tụng, tuy nhiên trong mỗi thủ tục của mỗi ngành luật khác nhau thì nguyên tắc này được thể hiện khác nhau Trong Tố tụng Dân sự thì nguyên tắc này tương đối mềm dẻo Khi hai đương sự có lợi ích bị xâm phạm quyền khởi kiện hoặc không khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình khi đương sự khởi kiện thì mọi hành vi tố tụng tiếp theo do đương

sự quyết định Tòa án chỉ giải quyết những gì mà đương sự yêu cầu, mặc dù tóa án giữ vai trò chủ động trong xét xử, chính vì vậy trong tố tụng dân thì nguyên tắc không được áp dụng triệt để

Trong tố tụng hình sự giai đoạn xét xử là giai đoạn quyết định tới lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của tổ chức xã hội, cá nhân nên được coi là hoạt động

Trang 5

trung tâm của tố tụng Chính vì vậy việc áp dụng các nguyên tắc trong xét xử phải được đảm bảo tối ưu Khi xét xử thì Thẩm phán và Hội sẽ dựa trên hồ sơ, tài liệu, văn bản khác liên quan đên vụ án nhằm đưa ra quyết định đúng đắn nhất Quyết định này hoàn toàn phù hợp với pháp luật và theo ý chí của các chủ thể có thẩm quyền là Thẩm phán và Hội thẩm

Thứ hai, Ý nghĩa chính trị, xã hội, Nguyên tắc đã xác định vai trò, vị trí của cơ

quanTòa án trong hệ thống cơ quan Nhà nước nói chung và cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng.Tòa án là có vị trí trung tâm trong các cơ quan tư pháp, chỉ có tòa án mới có chức năng xét xử và khi thực hiện chức năng xét xử tòa án hoàn toàn độc lập với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân khác Nguyên tắc này còn đảm bảo tính khách quan công bằng trong xã hội Mọi cá nhân, chủ thể ở vị trí nào, nếu vi phạm pháp luật thì đều bị xét xử như nhau Bên cạnh đó việc xét xử độc lập, công bằng cũng mang ý nghĩa quan trọng là đảm bảo cho hoạt động đầu tư kinh doanh được

ổn định, lành mạnh Nguyên tắc cũng góp phần giải quyết những bức xúc của nhân dân về tình trạng lạm quyền, lộng quyền của các cơ quan, chủ thể có thẩm quyền

Thứ ba, ý nghĩa pháp lý, nguyên tắc là cơ sở để Thẩm phán và Hội thẩm hoạt

động xét xử khách quan, trung thực, là cơ sở đảm bảo thực hiện Hiến pháp và pháp luật nghiêm khắc của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các cơ quan Nhà nước khác

Thứ tư, Ý nghĩa thực tiễn, nguyên tắc góp phần giúp cho việc giải quyết các vụ

việc vụ án diễn ra công bằng, minh bạch, là cơ sở để các Thẩm phán và Hội thẩm đưa ra những bản án đúng người đúng tội, tạo niềm tin cho nhân dân

Chính nguyên tắc xét xử độc lập này không những góp phần giúp Tòa án thực hiện đúng chức năng, quyền hạn của mình mà góp phần giảm thiểu tình trạng lạm quyền, lộng quyền của các chủ thể quyền lực

III Thực trạng việc thực hiện, áp dụng nguyên tắc ở nước ta hiện nay

3.1 Những bất cập và nguyên nhân trongviệc thực hiên, áp dụng nguyên tắc trên thực tế

Trang 6

Trên thực tế nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và tuân theo pháp luật được các chủ thể hoạt động xét xử thực hiện đúng vai trò và ý nghĩa của nó.Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những biểu hiện tiêu cực, ảnh hưởng đến chất lượng xét xử, xâm hại đến quyền và lợi ích của công dân, gây dư luận xấu và bất bình trong quần chúng nhân dân

Thứ nhất, Hoạt động xét xử chủ yếu là do Thẩm phán còn Hội thẩm không phát

huy hết quyền năng của mình Theo quy định của pháp luật thì vị trí vai trò của Hội thẩm chỉ phát sinh từ thời điểm Chánh án phân công và tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử Và từ thời điểm này thì Hội thểm sẽ có quyền xem xét và nghiên cứu hồ sơ để xác định thẩm quyền xét xử, các hành vi phạm tội và các tình tiết liên quan ( trong tố tụng hình sự) Song đối với một số vụ án không phức tạp thì Hội thẩm chỉ nghiên cứu hồ sơ trước một ngày khi phiên tòa được mở, dẫn đến tình trạng Hội thẩm không thể nắm bắt hết được các tình tiết của vụ án và dẫn đến việc đưa ra quyết đinh cho bản án sẽ thường là theo ý chí của Thẩm phán Hiện nay trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các Hội thẩm không được đào tạo chuyên sâu mà thường là hình thức nên cũng phần nào họ bị phụ thuộc vào Thẩm phán và việc có Hội thẩm tham gia xét xử đôi khi cũng chỉ là hình thức để thể hiện tính dân chủ, mà trong phiên tòa đó Hội thẩm gần như không thể hiện quyền hạn của mình một cách rõ ràng Chính vì việc nghiên cứu hồ sơ gấp rút của Hội thẩm dẫn tới trong quá trình xét hỏi thì Thẩm phán sẽ giữ vai trò “ độc diễn” mà dường nhưn không thấy những câu hỏi từ Hội thẩm

Thứ hai, Việc xét xử của Tòa án và kết quả của vụ án gần như phụ thuộc vào

những kết quả điều tra của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát Như chúng ta đã biết thì Tòa án nước ta không có chức năng điều tra, xây dựng hồ sơ nên trong nhiều vụ

án Hội đồng xét xử tin vào kết quả điều tra nên đưa ra những câu hỏi áp đặt cho người bị buộc tội phải trả lời theo đúng lời khai như trước đó.Nhiều vụ án Thẩm phán và Hội thẩm quá tin theo kết quả điều tra mà đưa ra kết quả không đúng đắn, phù hợp

Trang 7

Thứ ba, Hoạt động xét xử của tòa án bị ảnh hưởng bởi nhiều tố bên ngoài Về mặt

lý thuyết thì các cơ quan sẽ độc lập với hoạt động xét xử và không ai được can thiệp vào hoạt động xét xử Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp nhiều Chánh án đã can thiệp cụ thể vào việc xét xử thông qua hoạt động họp bản án, lạm dụng sự chỉ đạo để tác động trái pháp luật vào hoạt động xét xử Ngoài ra còn có sự ảnh hưởng

từ chỉ đạo của cấp Uỷ đảng từ những ý kiến lãnh đạo địa phương, lãnh đạo ngành Ngoài ra chính dư luận cũng là sức ép mà khiến cho việc áp dụng nguyên tắc không còn đúng đắn Trong một số vụ án đáng lẽ tòa án nên đưa ra một mức án phù hợp với tội phạm đó nhưng do sức ép của nhân dân mà có thể họ phải giảm mưc án đó thấp hơn mức án phù hợp với quy định pháp luật

3.2 Một số giải pháp nâng cao tính độc lập xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm

Thứ nhất, ( )Hoàn thiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn Hội thẩm theo hướng quy định người được bầu hoặc cử làm Hội thẩm cần phải có trình độ pháp

lý nhất định, ví dụ phải có bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn về pháp lý hoặc phải trải qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ pháp luật có thời hạn; đồng thời Tòa án cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có thẩm quyền thực hiện tốt công tác bồi dưỡng, tập huấn cho Hội thẩm Bên cạnh đó, cần có những thay đổi trong quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính để hoàn thiện cơ chế hoạt động của Thẩm phán và Hội thẩm

Thứ hai, Nâng cao trình độ chuyên môn của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân để

đảm bảo hiệu quả nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Thẩm phán, cần làm tốt công tác bồi dưỡng thường xuyên cho Thẩm phán để họ nâng cao về kiến thức, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp và cập nhật kiến thức mới ở trong và ngoài nước

Về trình độ chuyên môn của Hội thẩm nhân dân Để Hội thẩm nhân dân thật sự phát huy được vai trò của mình, cần phải cung cấp kịp thời những thông tin về hoạt động xét xử cũng như các kiến thức pháp luật cho Hội thẩm Tổ chức các đợt tập

Trang 8

huấn dài hạn hoặc ngắn hạn kết hợp với kỹ năng xét xử Mặt khác, ngành Tòa án cũng cần quản lý một cách chặt chẽ hơn đối với đội ngũ Hội thẩm nhân dân

Thứ ba, Giải pháp trau dồi đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán và Hội thẩm,

Nâng cao đạo đức nghề nghiệp, phẩm chất của người Thẩm phán là điểm đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả thực tiễn của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Ta thấy năng lực xét xử và đạo đức phẩm chất trong sáng không thể tách rời nhau trong con người của thẩm phán và Hội thẩm Có năng lực thì đạo đức mới được phát huy, có đạo đức thì năng lực mới giữ vững phẩm chất trong sạch Một yếu tố quan trọng nữa là, nếu thẩm phán chỉ có trình độ nghiệp vụ cao nhưng không có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp chỉ trở thành những phán quan độc tài, vô cảm, không thể bảo vệ được công lý Ngược lại các thẩm phán chỉ có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp thì họ dễ có thể bị cám dỗ về chất làm mất lòng tin của dân vào Đảng, giảm

uy tín chất lượng độc lập của các thẩm phán trong hoạt động xét xử, khó có thể trở thành những thẩm phán đủ mạnh và độc lập thực sự, kiên định với Hiến định,

“phụng công, thủ pháp”, chí công vô tư Chính vì vậy, ngành Tòa án cũng cần xem xét về các tiêu chí để xây dựng nên một quy chế về đạo đức cho người Thẩm phán

và Hội thẩm nhân dân, trong đó quy định về những ứng xử mà Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải làm

Thứ tư, (2)Cần xây dựng quy chế quản lý, giám sát đối với Thẩm phán và Hội thẩm trong việc thực thi nhiệm vụ, nếu áp dụng không đúng các quy định của pháp luật cần phải có biện pháp chế tài hành chính cụ thể nhằm tránh áp dụng pháp luật một cách tùy tiện theo ý chí chủ quan của Thẩm phán và Hội thẩm

Tóm lại để phát huy tốt được nguyên tắc này thì mục tiêu cao nhất chính là Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đây không chỉ là mục tiêu mà còn là một nhiệm vụ cơ bản, quan trọng và lâu dài của hệ thống chính trị

Trang 9

KẾT LUẬN

Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm tham gia xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là quan trọng cần thiết trong hoạt động của tòa án, là nguyên tắc đảm bào pháp chế xã hội chủ nghĩa trong pháp luật Tố tụng Cả yếu tố ”độc lập” và yếu tố “tuân theo pháp luật” đều là điều kiện, cơ sở cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm đưa ra những quyết định khách quan, công bằng, chính xác Nhưng muốn thực hiện tốt nguyên tắc này, cũng như hoàn thành ý nghĩa, mục đích mà nó hướng tới thì hiện nay nhà nước Việt Nam còn phải hoàn chỉnh hơn không những về hệ thống pháp luật và phải hoàn thiện hơn về nhiều yếu tố khác liên quan, nhưng cơ bản trước mắt là hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành để làm cơ sở chuẩn mực, vững chắc

để phát huy và hoàn chỉnh công tác thực hiện nguyên tắc

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Luật tổ chức Tòa án Nhân dân 2013

2 Bình luận Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 của TS Trần Văn Biên - TS Đình Thế Hưng (Đồng chủ biên) -

3.Bình Luận Khoa học Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, NXB Chính Trị Quốc Gia - Sự Thật Hà Nội 2012

4.http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=107

Trang 10

5.https://baomoi.com/bao-dam-nguyen-tac-khi-xet-xu-tham-phan-va-hoi-tham-doc-lap-va-chi-tuan-theo-phap-luat/c/13653460.epi

6.http://congly.vn/hoat-dong-toa-an/cai-cach-tu-phap/mot-so-giai-phap-nham-nang-cao-tinh-doc-lap-cua-toa-an-trong-xet-xu-79616.html

Ngày đăng: 14/03/2018, 13:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w