1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu một số đặc điểm hội chứng tiêu chảy do vi khuẩn Escherichia coli, Salmonella ở lợn tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị (Luận văn thạc sĩ)

88 256 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu một số đặc điểm hội chứng tiêu chảy do vi khuẩn Escherichia coli, Salmonella ở lợn tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm hội chứng tiêu chảy do vi khuẩn Escherichia coli, Salmonella ở lợn tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm hội chứng tiêu chảy do vi khuẩn Escherichia coli, Salmonella ở lợn tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm hội chứng tiêu chảy do vi khuẩn Escherichia coli, Salmonella ở lợn tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm hội chứng tiêu chảy do vi khuẩn Escherichia coli, Salmonella ở lợn tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm hội chứng tiêu chảy do vi khuẩn Escherichia coli, Salmonella ở lợn tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm hội chứng tiêu chảy do vi khuẩn Escherichia coli, Salmonella ở lợn tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐINH VĂN THÙY

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HỘI CHỨNG TIÊU

CHẢY DO VI KHUẨN ESCHERICHIA COLI, SALMONELLA

Ở LỢN TẠI HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐINH VĂN THÙY

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HỘI CHỨNG TIÊU

CHẢY DO VI KHUẨN ESCHERICHIA COLI, SALMONELLA

Ở LỢN TẠI HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ Chuyên ngành: THÚ Y

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho một bảo vệ học vị nào Mọi thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng năm 2017

Tác giả

Đinh Văn Thùy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn, tôi luôn

nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức và cá nhân Nhân dịp này tôi xin trân trọng

cảm ơn Ban giám hiệu Nhà trường, bộ phận quản lý đào tạo Sau đại học, khoa Chăn

nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi được

theo học tại trường

Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại

học Nông Lâm Thái Nguyên; Công ty cổ phần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet,

nhà máy vắc xin Marphavet và Chi cục Chăn nuôi và thú y tỉnh Bắc Giang đã nhiệt

tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô TS Phan Thị Hồng Phúc đã

trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành

luận văn

Tôi luôn biết ơn gia đình, bạn bè và các em sinh viên đã đóng góp công sức,

động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn./

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số hiểu biết chung về hội chứng tiêu chảy 3

1.1.1 Khái niệm về hội chứng tiêu chảy 3

1.1.2 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn con 3

1.1.3 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn 4

1.1.4 Bệnh lý lâm sàng của hội chứng tiêu chảy 7

1.1.5 Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy 9

1.1.6 Biện pháp phòng trị tiêu chảy cho lợn 10

1.2 Một số nghiên cứu về vi khuẩn E.coli gây bệnh đường tiêu hoá 12

1.2.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc của vi khuẩn E.coli 13

1.2.2 Đặc tính nuôi cấy, sinh vật, hoá học 14

1.2.3 Đặc tính gây bệnh của vi khuẩn E.coli 15

1.2.4 Khả năng mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn E.coli 19

1.3 Một số nghiên cứu về vi khuẩn Salmonella gây bệnh đường tiêu hoá 20

1.3.1 Khả năng gây bệnh của vi khuẩn Salmonella spp 20

1.3.2 Cơ chế gây bệnh của vi khuẩn Salmonella 20

1.3.3 Các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella spp 21

Trang 6

1.3.4 Khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn Salmonella spp 23

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NGUYÊN LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Nội dung nghiên cứu 24

2.1.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi tại một số xã của huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang 24

2.1.2 Nghiên cứu xác định vai trò gây bệnh của vi khuẩn E.coli và vi khuẩn Salmonella trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con 24

2.1.3 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con 24

2.2 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 25

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 25

2.2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/ 2016 đến tháng 9/ 2017 25

2.3 Nguyên liệu dùng trong nghiên cứu 25

2.3.1 Mẫu bệnh phẩm 25

2.3.2 Các loại môi trường, hoá chất 25

2.3.3 Động vật thí nghiệm 25

2.4 Phương pháp nghiên cứu 26

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ 26

2.4.2 Thu thập mẫu và phân lập vi khuẩn 27

2.4.3 Xác định số lượng vi khuẩn E.coli, Salmonella trong 1 gam phân lợn tiêu chảy và lợn bình thường 28

2.4.4 Phương pháp xác định độc lực của các chủng vi khuẩn E.coli, Salmonella 28

2.4.5 Phương pháp xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn E.coli, Salmonella phân lập được 29

2.4.6 Xây dựng phác đồ điều trị tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi 30

2.4.7 Phương pháp xử lý số liệu 31

Trang 7

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang 32 3.1.1 Tỷ lệ lợn con dưới 2 tháng tuổi tiêu chảy và chết do tiêu chảy tại một

số xã của huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang 32 3.1.2 Tỷ lệ lợn con dưới 2 tháng tuổi mắc và chết do tiêu chảy theo mùa vụ 35 3.1.3 Tỷ lệ lợn con dưới 2 tháng tuổi mắc và chết do tiêu chảy theo phương thức chăn nuôi tại một số xã của huyện Việt Yên 37 3.1.4 Tỷ lệ lợn con dưới 2 tháng tuổi mắc và chết do tiêu chảy theo lứa tuổi tại một số xã của huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang 40 3.1.5 Một số triệu chứng thường gặp ở lợn con mắc tiêu chảy 42

3.2 Nghiên cứu xác định vai trò của vi khuẩn E coli, Salmonella spp trong

hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi 44

3.2.1 Kết quả xác định số lượng vi khuẩn E.coli, Salmonella spp có trong

phân của lợn tiêu chảy và lợn bình thường 44

3.2.2 Kết quả phân lập E.coli, Salmonella spp ở lợn con tiêu chảy 48 3.2.3 Kết quả giám định đặc tính sinh học của các chủng E.coli, Salmonella spp phân lập được 50 3.2.4 Kết quả kiểm tra độc lực một số chủng vi khuẩn E.coli, Salmonella spp phân lập được 52

3.3 Kết quả nghiên cứu thử nghiệm phác đồ điều trị tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi 56 3.3.1 Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi

khuẩn E.coli, Salmonella spp phân lập được 56

3.3.2 Kết quả thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con tại huyện Việt Yên, Bắc Giang 60

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

AEEC : Adhenicia Enteropathogenic Escherichia coli

BHI : Brain-heart infusion

cs : Cộng sự

CPU : Colinial Forming Unit

ED : Endema disease

EDP : Eudema disease pathogenic

EHEC : Entero haemarrhagic

EMB : Eosin Methylene Blue Agar

EPEC : Enteropathogenic Escherichia coli

ETEC : Enterotoxigenic Escherichia coli

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ mẫn cảm và kháng kháng sinh theo

NCCLS (1999) 29 Bảng 3.1 Tỷ lệ lợn con tiêu chảy và chết do tiêu chảy tại một số xã 32 Bảng 3.2 Tỷ lệ lợn con mắc tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo mùa vụ 35 Bảng 3.3 Tỷ lệ lợn con tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo phương thức

chăn nuôi 38 Bảng 3.4 Tỷ lệ lợn con mắc tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo lứa tuổi 41 Bảng 3.5 Một số triệu chứng thường gặp ở lợn con mắc tiêu chảy 43

Bảng 3.6 Kết quả xác định số lượng vi khuẩn E.coli có trong 1gam phân của

lợn bị tiêu chảy và lợn khỏe mạnh bình thường 45

Bảng 3.7 Kết quả xác định số lượng vi khuẩn Salmonella spp có trong

1gam phân của lợn bị tiêu chảy và lợn khỏe mạnh bình thường 47

Bảng 3.8 Kết quả phân lập vi khuẩn E.coli từ lợn con tiêu chảy 48 Bảng 3.9 Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp từ lợn con tiêu chảy 49

Bảng 3.10 Kết quả giám định đặc tính sinh học của các chủng vi khuẩn

E.coli phân lập được 51

Bảng 3.11 Kết quả giám định đặc tính sinh học của các chủng vi khuẩn

Salmonella spp phân lập được 52

Bảng 3.12 Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng E.coli trên chuột bạch

(Đường tiêm: Phúc xoang) 53

Bảng 3.13 Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng Salmonella spp trên

chuột bạch (Đường tiêm: Phúc xoang) 55 Bảng 3.14 Kết quả xác định tính mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi

khuẩn E.coli phân lập được 57

Bảng 3.15 Kết quả xác định tính mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi

khuẩn Salmonella spp phân lập được 59

Bảng 3.16 Kết quả điều trị thực nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy cho

lợn con 61

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn con mắc và chết do tiêu chảy giữa các xã 33 Hình 3.2 Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn con mắc và chết do tiêu chảy theo mùa vụ 36 Hình 3.3 Biểu đồ so sánh tỷ lệ lợn con mắc và chết do tiêu chảy theo

phương thức chăn nuôi 39 Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ lợn mắc và chết do tiêu chảy theo lứa tuổi 42 Hình 3.5 Biểu đồ so sánh tỷ lệ mẫn cảm và kháng kháng sinh của các chủng

vi khuẩn E.coli phân lập được Error! Bookmark not defined

Hình 3.6 Biểu đồ so sánh tỷ lệ mẫn cảm và kháng kháng sinh của các chủng

vi khuẩn Samonella phân lập được Error! Bookmark not defined

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bắc Giang là tỉnh có nghề chăn nuôi phát triển đem lại nguồn thu nhập cao cho nhiều hộ gia đình, những năm qua trên địa bàn tỉnh đã có nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất chăn nuôi như: Nghị quyết 37/2012/NQ-HĐND về hỗ trợ phát triển chăn nuôi giai đoạn 2012 - 2017; chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi nông hộ theo Quyết định số 50/QĐ -TTg của Thủ tướng chính phủ Do vậy, tỉnh Bắc Giang đã thực hiện nhiều nội dung như hỗ trợ con giống, đưa nái ngoại vào chăn nuôi ở các nông hộ Theo báo cáo thống kê chăn nuôi năm 2016 tổng đàn lợn của tỉnh đạt 1.133.188 con; trong đó, đàn lợn nái là 191.957 con và đàn lợn thịt là 939.809 con Tại thời điểm 01/4/2017 đàn lợn của tỉnh Bắc Giang là 1.132.383 con, đứng thứ 3 toàn quốc (sau Đồng Nai, Hà Nội) Trên địa bàn tỉnh có 490 trại chăn nuôi lợn tập trung với quy mô trang trại 20 nái

và 100 lợn thịt trở lên Đây thực sự là một bước tiến mới trong chăn nuôi lợn của tỉnh, góp phần phát triển chăn nuôi lợn bền vững, tạo ra sản phẩm an toàn có sức cạnh tranh cao trên thị trường

Tuy nhiên, song song với sự phát triển chăn nuôi thì tình hình dịch bệnh cũng đang diễn biến hết sức phức tạp, hàng năm làm chết nhiều đầu lợn của tỉnh Theo báo cáo dịch tễ của Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Bắc Giang trong 3 năm (2014 - 2016) [5] như sau: năm 2014 toàn tỉnh có 79.430 con lợn bị ốm trong đó 7.620 con chết; năm 2015 có 71.671 con lợn bị ốm và 5.100 con chết; năm 2016 có 88.036 con lợn bị ốm và 5.970 con chết, gây thiệt hại lớn về kinh tế, hay gặp và phổ biến là

hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi, trong đó vi khuẩn E.coli và

Salmonella được đánh giá là nguyên nhân gây bệnh phổ biến và quan trọng nhất

Nhiều kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã kết luận Salmonellosis và E.coli

là bệnh chung của nhiều loài vật nuôi và gây bệnh cho cả con người Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, trong đó có thịt lợn sạch bệnh

nhất là sạch E.coli và Salmonella là một yêu cầu cấp thiết

Hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ xảy ra quanh năm, nhưng cao nhất từ tháng 5 đến tháng 8 (Hoàng Văn Tuấn và cs, 1998)[57] Trong năm, lợn nuôi ở mùa xuân và mùa hè mắc tiêu chảy cao hơn so với hai mùa còn lại (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2006b)[20] Đặc biệt lợn con thường bị tiêu chảy

Trang 12

khi thời tiết thay đổi đột ngột (lạnh, ẩm, mưa phùn…) kết hợp với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng không đảm bảo vệ sinh; lợn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố stress; lợn con sinh ra không được bú sữa kịp thời hoặc do sữa đầu của lợn mẹ thiếu, không đảm bảo chất lượng dinh dưỡng

Tổng hợp báo cáo dịch tễ hàng năm của Trạm Chăn nuôi và thú y các huyện, thành phố trong tỉnh cho thấy hội chứng tiêu chảy ở lợn hai năm 2015 và

2016 xảy ra phổ biến chiếm tỷ lệ 60% so với tổng số các ca bệnh thường gặp ở lợn, riêng năm 2016 số lợn mắc bệnh tiêu chảy là 62.151 con /88.036 con mắc các ca bệnh thông thường (chiếm tỷ lệ 71%) Khi áp dụng các phác đồ điều trị hộ chứng tiêu chảy ở lợn do tính kháng thuốc của vi khuẩn cao nên kết quả điều trị rất thấp Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm hội chứng tiêu chảy do vi khuẩn Escherichia coli, Salmonella ở lợn tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng trị”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới hai tháng tuổi tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

- Xác định vai trò gây bệnh của vi khuẩn E.coli, Salmonella trong hội

chứng tiêu chảy ở lợn

- Xây dựng và đề xuất phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con do vi

khuẩn E.coli, Salmonella gây ra đạt hiệu quả cao

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Đề tài là một công trình nghiên cứu có hệ thống, lý luận gắn liền với

thực tiễn sản xuất, chứng minh vai trò của vi khuẩn E.coli, Salmonella trong hội

chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo như phục vụ cho công tác bào chế các chế phẩm sinh học phòng bệnh (vắc xin, kháng thể…), đồng thời đóng góp thêm tư liệu tham khảo cho nghiên cứu và giảng dạy, cho cán bộ thú y cơ sở và người chăn nuôi

- Kết quả nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con có hiệu quả cao sẽ giúp cho thú y cơ sở, người chăn nuôi trong phòng trị bệnh, góp phần giảm thiệt hại và tăng thu nhập trong chăn nuôi lợn

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số hiểu biết chung về hội chứng tiêu chảy

1.1.1 Khái niệm về hội chứng tiêu chảy

Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa,

là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước

do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiết dịch Hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc bình thường khi gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn Tiêu chảy xảy ra ở nhiều bệnh và bản thân nó không phải là bệnh đặc thù (Archie H., 2000)[2]

Tuỳ theo đặc điểm, tính chất, diễn biến bệnh, hoặc loài gia súc, hoặc nguyên nhân chính gây bệnh mà hội chứng tiêu chảy được gọi bằng tên khác nhau như bệnh xảy ra đối với gia súc non theo mẹ, gọi là bệnh lợn con phân trắng, hay bê nghé phân trắng,… còn ở gia súc sau cai sữa là chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hoá, hoặc hội chứng rối loạn tiêu hoá Nếu xét về nguyên

nhân chính gây bệnh thì có các tên gọi như bệnh Colibacillosis do vi khuẩn

E.coli gây ra, bệnh phó thương hàn lợn do vi khuẩn Samonella Cholerae Suis

gây ra, bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) do Coronavirus gây ra …

1.1.2 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn con

1.1.2.1 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con

Ở gia súc non sau khi sinh ra, chức năng của các cơ quan trong cơ thể nhất

là cơ quan tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, nồng độ HCl và các men tiêu hóa chưa đảm nhiệm đầy đủ chức năng tiêu hóa, rất dễ gây rối loạn trao đổi chất, hậu quả dễ nhận biết là rối loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy, còi cọc, thiếu máu và chậm lớn Trong dịch vị của gia súc non chưa có đủ axit HCl tự do nên không hoạt hóa được men pepsin vì vậy không tiêu hóa hết sữa mẹ, trong khi đó sữa mẹ lại là môi trường phát triển tốt của nhiều loại vi khuẩn

Nguyễn Quang Tuyên và cs (2007) [58] cho rằng, trong dịch vị của lợn con dưới 1 tháng tuổi không có HCl tự do, vì lúc này axit tiết ra ít và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy Do vậy, vi sinh vật có điều kiện phát triển và gây bệnh viêm dạ dày, viêm ruột ở lợn con

Giai đoạn sau cai sữa sẽ là một giai đoạn khó khăn đối với lợn con khi chuyển từ sữa mẹ sang thức ăn tổng hợp (dạng rắn) Điều đó có thể gây mất cân

Trang 14

bằng hệ vi sinh vật đường ruột tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại phát triển và cũng

là nguyên nhân gây ra bệnh, dẫn đến kết quả là lợn con chậm lớn và có thể chết

Ngoài ra, lợn con còn chịu nhiều tác động của lợn mẹ, sự thay đổi ngoại cảnh cũng góp phần làm tăng stress của lợn con

1.1.2.2 Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con

Là khả năng của cơ thể đáp ứng lại các kích thích của mầm bệnh khi xâm nhập vào cơ thể Ở gia súc non, mầm bệnh có nhiều thuận lợi khi xâm nhập vào cơ thể Trong hệ thống tiêu hóa của lợn con lượng enzym tiêu hóa và lượng HCl tiết

ra còn ít nên chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hóa, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hóa kém, hấp thu kém Chính vì vậy, ở giai đoạn này mầm bệnh như

Salmonella, E.coli… dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa và gây

bệnh cho lợn con

Do cấu tạo đặc biệt của gia súc non nên tiêu chảy thường xảy ra ở giai đoạn lợn con tập ăn và cai sữa Bên cạnh đó còn một yếu tố quan trọng nữa là sự phát triển của hệ vi sinh vật trong đường ruột của gia súc non, việc cân bằng hệ

vi sinh vật có lợi trong đường ruột như thế nào để khắc phục, hạn chế sự loạn khuẩn trong quá trình phát triển và trưởng thành của cơ thể gia súc non là rất quan trọng

1.1.3 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn

Theo Lê Minh Chí (1995) [5], Nguyễn Tất Thành (2007) [48] tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý có liên quan đến nhiều yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát Vì vậy việc phân biệt rạch ròi giữa các nguyên nhân gây tiêu chảy là rất khó khăn

Phạm Sỹ Lăng (2009) [24] cho biết, tiêu chảy ở lợn là biểu hiện lâm sàng của nhiều tác nhân gây bệnh khác nhau như virut, vi khuẩn, ký sinh trùng, thời tiết, môi trường ngoại cảnh, độc tố

1.1.3.1 Do môi trường ngoại cảnh

Môi trường ngoại cảnh là một trong 3 yếu tố cơ bản gây bệnh dịch, mối quan hệ giữa Cơ thể - Mầm bệnh - Môi trường là nguyên nhân của sự không ổn định sức khoẻ, đưa đến phát sinh bệnh (Nguyễn Như Thanh, 2001)[47]

Khi gia súc bị nhiễm lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác dụng thực bào, làm cho gia súc dễ bị nhiễm khuẩn gây bệnh (Hồ Văn Nam và cs, 1997)[26]

Trang 15

Khẩu phần ăn cho vật nuôi không thích hợp, trạng thái thức ăn không tốt, thức ăn kém chất lượng như mốc, thối và nhiễm các tạp chất, các vi sinh vật có hại dễ dẫn đến rối loạn tiêu hoá kèm theo viêm ruột, ỉa chảy ở gia súc (Trịnh Văn Thịnh, 1985a [51], Hồ Văn Nam, 1997 [26])

Khi gặp điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, thay đổi đột ngột về thức

ăn, vitamin, protein, thời tiết, vận chuyển… làm giảm sức đề kháng của con vật,

vi khuẩn thường trực sẽ tăng độ độc và gây bệnh (Bùi Quý Huy, 2003)[18]

1.1.3.2 Nguyên nhân do vi sinh vật

Vi sinh vật bao gồm các loại virus, vi khuẩn, nấm mốc chúng vừa là nguyên nhân nguyên phát, cũng vừa là nguyên nhân thứ phát gây tiêu chảy

* Tiêu chảy do vi khuẩn

Trong đường tiêu hoá của gia súc có hệ vi khuẩn gọi là hệ vi khuẩn đường ruột, được chia thành 2 loại, trong đó vi khuẩn có lợi lên men phân giải các chất dinh dưỡng, giúp cho quá trình tiêu hoá được thuận lợi và vi khuẩn có hại, khi có điều kiện thì sẽ phát triển nhanh và gây bệnh cho vật chủ

Lê Văn Tạo (1997)[43] cho biết, họ vi khuẩn đường ruột gồm những vi khuẩn cộng sinh thường trực trong đường ruột Những vi khuẩn này, muốn từ vi khuẩn cộng sinh trở thành gây bệnh phải có 3 điều kiện:

- Trên cơ thể vật chủ có cấu trúc giúp cho vi khuẩn thực hiện được chức năng bám dính

- Vi khuẩn phải có khả năng sản sinh các yếu tố gây bệnh, đặc biệt là sản

sinh độc tố, trong đó quan trọng nhất là độc tố đường ruột Enterotoxin

- Có khả năng xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô của niêm mạc ruột, từ đó phát triển nhân lên

Đào Trọng Đạt và cs (1996)[12] cho biết, chiếm tỷ lệ cao nhất trong

số các vi khuẩn đường ruột gây tiêu chảy là E.coli (45,6%) Vi khuẩn yếm khí Cl.perfringens gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi và khi nó trở thành

Trang 16

khuẩn Treponema hyodysenterriae; vi khuẩn yếm khí Cl.perfringens thường gây

bệnh nặng cho lợn con theo mẹ trong khoảng 1 tuần tuổi đến cai sữa

Phạm Sỹ Lăng (2009)[24] cho biết, tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn chủ yếu

là: do vi khuẩn E.coli, bệnh hồng lỵ do Treponema hyodysenteriae, bệnh do

Campylobacter, bệnh do Salmonella, bệnh do Clostridium perfringens

* Tiêu chảy do virus

Theo Phạm Ngọc Thạch (1996)[45] virus cũng là tác nhân gây bệnh tiêu chảy ở gia súc Sự xuất hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc ruột, làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và thường gây ỉa chảy ở dạng cấp tính với tỷ lệ chết cao

Archie H (2000)[2] cho biết Rotavirus và Coronavirus là những virus gây

tiêu chảy quan trọng ở gia súc non mới sinh như nghé, dê, cừu con, lợn con, ngựa con và đặc biệt là bê do những virus này có khả năng phá huỷ màng ruột và gây tiêu chảy nặng

Các nghiên cứu trong nước của Lê Minh Chí (1995)[5] và Nguyễn Như Pho

(2003)[30], cho thấy Rotavirus và Coronavirus gây bệnh tiêu chảy chủ yếu cho

lợn con trong giai đoạn theo mẹ, với các triệu chứng tiêu chảy cấp tính, nôn mửa, mất nước với tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006)[23] cho rằng, tiêu chảy ở lợn do Rotavirus

thường chỉ xảy ra ở lợn con bú sữa mẹ lứa tuổi 1-3 tuần lễ và lợn con sau cai sữa

khoảng 6 tuân lễ Bệnh tiêu chảy ở lợn do Rotavirus sẽ trở nên trầm trọng, nếu lợn con bị nhiễm kế phát các chủng E.coli có độc lực và các loài cầu trùng gây bệnh

* Tiêu chảy do nấm mốc

Thức ăn khi chế biến hoặc bảo quản không đúng kỹ thuật dễ bị nấm mốc

Một số loài như Aspergillus, Penicillium, Fusarium… có khả năng sản sinh

nhiều loại độc tố, nhưng quan trọng nhất là nhóm độc tố aflatoxin (aflatoxin B1, B2, G1, G2, M1)

Lợn khi nhiễm độc thường bỏ ăn, thiếu máu, vàng da, ỉa chảy, ỉa chảy

ra máu Nếu trong khẩu phần có 500 - 700g aflatoxin/ kg thức ăn sẽ làm cho lợn con chậm lớn, còi cọc, giảm sức đề kháng với các bệnh truyền nhiễm khác (Lê Thị Tài, 1997)[40]

1.1.3.3 Tiêu chảy do ký sinh trùng

Có nhiều loại ký sinh trùng gây tiêu chảy ở lợn như: cầu trùng (Eimeria),

Isospora suis, Crytosporidium hoặc một số loài giun tròn lớp Nematoda (Ascaris suum, Trichuris suis, Strongyloides, Haemonchus, Mecistocirrus…)

Trang 17

Bệnh do Isospora, Crytosporidium thường tập trung vào giai đoạn lợn con

từ 5 đến 25 ngày tuổi, còn ở lợn trên 2 tháng tuổi do cơ thể đã tạo được miễn dịch đối với bệnh cầu trùng, nên lợn chỉ mang mầm bệnh mà ít khi xuất hiện triệu chứng tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 2003)[30]

Cầu trùng, một số loại giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ gia đình tại Thái Nguyên (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2006a)[19]

Giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa Ở lợn bình thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại giun đũa, giun lươn, giun tóc và sán lá ruột, nhưng ở lợn tiêu chảy nhiễm tỷ lệ cao hơn và nặng hơn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2009)[21]

Cầu trùng một số loại giun tròn là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn sau cai sữa nuôi trong các hộ gia đình tại Hà Nội (Thân Thị Đang và

cs, 2010)[10] Qua nghiên cứu tác giả nhận xét lợn nuôi bình thường nhiễm cầu trùng là 35,54%, giun đũa là 31,82%, giun lươn là 41,32%, giun tóc là 23,14% Lợn chủ yếu nhiễm nhẹ, không có lợn nào nhiễm nặng Trong khi đó, lợn tiêu chảy nhiễm cầu trùng là 56,93%, giun đũa là 35,77%, giun lươn là 60,58%, giun tóc là 28,47% Tỷ lệ nhiễm nặng biến động từ 7,83- 13,46%

Như vậy có thể thấy, có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy, nhưng theo một số nhà khoa học nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy ở lợn như Nguyễn Thị Nội (1985)[28], Lê Văn Tạo (1993)[41], Hồ Văn Nam và cs (1997) [26] thì dù nguyên nhân nào gây tiêu chảy cho lợn đi nữa, cuối cùng cũng là quá trình nhiễm khuẩn, vi khuẩn kế phát làm viêm ruột, tiêu chảy nặng thêm, có thể dẫn đến chết hoặc viêm ruột tiêu chảy mãn tính

1.1.4 Bệnh lý lâm sàng của hội chứng tiêu chảy

1.1.4.1 Cơ chế sinh bệnh

Cơ chế sinh bệnh của hội chứng tiêu chảy là quá trình rối loạn chức phận

bộ máy tiêu hoá và nhiễm khuẩn Hai quá trình này có thể diễn ra đồng thời hoặc cũng có thể quá trình này trước, quá trình này sau và ngược lại, song không thể phân biệt được từng quá trình

Vũ Văn Ngũ và cs (1975)[27], Trịnh Văn Thịnh (1985b)[52] cho rằng, do một tác nhân bất lợi nào đó, trạng thái cân bằng của khu hệ vi khuẩn đường ruột

bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loài nào đó sinh sản quá nhiều sẽ gây hiện tượng loạn khuẩn, gây ra sự biến động ở nhóm vi khuẩn đường ruột, cũng như ở nhóm

Trang 18

vi khuẩn vãng lai, các vi khuẩn gây bệnh có cơ hội tăng mạnh cả về số lượng và độc lực, các vi khuẩn có lợi cho quá trình tiêu hóa do không cạnh tranh nổi nên giảm đi, cuối cùng loạn khuẩn xảy ra, hấp thu bị rối loạn, gây tiêu chảy

Theo Phạm Ngọc Thạch (1996)[45] khi thiếu mật thì tới 60% mỡ không tiêu hoá được, gây ra chứng đầy bụng, khó tiêu và tiêu chảy hoặc việc giảm hấp thu cũng dẫn đến tiêu chảy

1.1.4.2 Bệnh lý, lâm sàng của hội chứng tiêu chảy

Bệnh lý, lâm sàng của hội chứng tiêu chảy ở gia súc đó là sự biến đổi về chức năng, tình trạng mất nước và chất điện giải, trạng thái trúng độc của cơ thể bệnh

Khi nghiên cứu về tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn E.coli, Nguyễn Như Pho (2003)[30] cho biết, ruột của lợn tiêu chảy do vi khuẩn E.coli chỉ sung huyết, không

thấy xuất huyết, không có loét hoặc hoại tử như trong bệnh phó thương hàn

Sự mất nước kéo theo mất các chất điện giải trong dịch thể, đặc biệt là các ion như HCO3-, K+, Na+, CL-… Đồng thời khi gia súc bị rối loạn tiêu hoá thì cũng làm cản trở đến khả năng tái hấp thu nước Ở gia súc bị tiêu chảy, nếu lượng dịch mất đi trong đường ruột vượt quá lượng dịch đưa vào khi ăn hoặc uống, thận sẽ cố gắng bù lại bằng cách cô đặc nước tiểu để giảm lượng nước thải

ra Nếu thận không bù được, mức dịch thể trong tổ chức bị giảm và máu bị đặc lại Hiện tượng này gọi là mất nước và triệu chứng lâm sàng là con vật yếu, bỏ

ăn, thân nhiệt thấp và có thể trụy tim mắt bị hõm sâu, nhìn lờ đờ, da khô, khi véo

da lên, nếp da chậm trở lại vị trí cũ (Archie H., 2000)[2] Lợn bị tiêu chảy gầy sút nhanh, da nhăn, tính đàn hồi da kém; nếu tiêu chảy lâu ngày, lợn gầy nhô xương sống, da thô, lông dựng ngược Mặt khác, khi cơ thể mất nước và chất điện giải sẽ kéo theo sự biến đổi của hàng loạt các bệnh lý khác nhau

1.1.4.3 Hậu quả trong hội chứng tiêu chảy

Hậu quả trực tiếp và nặng nề của hiện tượng tiêu chảy là sự mất nước và mất các chất điện giải của cơ thể, kéo theo hàng loạt các biến đổi bệnh lý (Lê Minh Chí, 1995)[5]

Lợn bị tiêu chảy giảm khả năng tiêu hoá, chuyển hoá và hấp thụ các chất dinh dưỡng, nên lợn gầy còm, chậm tăng trọng, dễ dàng mắc các bệnh khác (Phạm Sỹ Lăng và cs, 1997)[22]

Hiện tượng mất nước rất nghiêm trọng và có thể gây chết nếu không được điều chỉnh Gia súc non dự trữ dịch thể tương đối thấp nên đặc biệt mẫn cảm với

Trang 19

sự mất nước Chính vì vậy, biện pháp phòng chống và bù nước trong điều trị tiêu chảy luôn luôn phải đặt ra (Archie H., 2000)[2]

Như vậy, với mỗi một nguyên nhân gây tiêu chảy khác nhau thì cũng để lại những hậu quả khác nhau

1.1.5 Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy

Hội chứng tiêu chảy ở gia súc do nhiều nguyên nhân gây ra Chính vì vậy,

sự xuất hiện của bệnh phụ thuộc vào sự xuất hiện các nguyên nhân và sự tương tác giữa nguyên nhân với cơ thể gia súc Các yếu tố như tuổi gia súc, mùa vụ, thức ăn, chuồng trại, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng đều có ảnh hưởng đến bệnh tiêu chảy ở gia súc

Fairbrother J.M (1992) [68] cho rằng, khi bệnh tiêu chảy xảy ra, thường gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi Bệnh thường xuất hiện ở 3 giai đoạn phát triển của lợn con:

- Giai đoạn sơ sinh (1- 4 ngày tuổi)

- Giai đoạn lợn con theo mẹ (5 - 21 ngày tuổi)

- Giai đoạn lợn sau cai sữa (trên 21 ngày tuổi)

Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy trong một số cơ sở chăn nuôi lợn phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc, vệ sinh thú y ở đó, còn tỷ lệ chết, mức độ trầm trọng của bệnh ở một đàn phụ thuộc vào giai đoạn mắc bệnh (Hoàng Văn Tuấn, 1998 [57], Đoàn Thị Kim Dung, 2004 [8])

Về mùa vụ, bệnh tiêu chảy ở lợn con theo mẹ xảy ra quanh năm, nhưng cao nhất là tháng 5- 8 (Hoàng Văn Tuấn và cs, 1998)[57] Trong năm, lợn nuôi ở mùa xuân và mùa hè mắc tiêu chảy cao hơn (13,67 - 14,75%) so với hai mùa còn lại (9,18- 9,68%) (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2006b)[20]

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006b)[20] khi nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa của các hộ chăn nuôi gia đình tại Thái Nguyên cho biết, bệnh tiêu chảy chịu ảnh hưởng rõ rệt của lứa tuổi mắc bệnh, các loại thức ăn, nền chuổng và tình trạng vệ sinh thú y

Về độ tuổi mắc bệnh, tỷ lệ lợn tiêu chảy giảm theo tuổi, cao nhất ở giai đoạn sau cai sữa đến 2 tháng (13,9%), sau đó giảm dần và chỉ còn 5,55% ở lợn trên 6 tháng tuổi

Về thức ăn, lợn nuôi thức ăn tổng hợp dạng viên, không qua chế biến, mắc tiêu chảy với tỷ lệ 8,96% Tỷ lệ này tăng lên khi cho thức ăn truyền thống mang tính tận dụng và ăn rau sống (16,1%)

Trang 20

Ngoài các vấn đề nêu trên, hội chứng tiêu chảy còn bị ảnh hưởng bởi các tác nhân gây bệnh do virus, vi khuẩn, cầu trùng, giun sán ký sinh đường tiêu hóa…

1.1.6 Biện pháp phòng trị hội chứng tiêu chảy cho lợn

Vi khuẩn đường ruột, đặc biệt là E.coli, Salmonella được đánh giá là

nguyên nhân gây bệnh phổ biến và quan trọng nhất trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi, nhiều tác giả đã tập trung nghiên cứu chế tạo và sử dụng vắc xin phòng bệnh nhằm kích thích cơ thể chủ động sản sinh kháng thể chống lại mầm bệnh

Lê Văn Tạo (1996)[42] đã chọn chủng vi khuẩn E.coli mang kháng nguyên

K88 kết hợp với ít nhất 2 yếu tố gây bệnh khác nhau là Ent và Hly dùng để sản xuất vắc xin cho uống và tiêm nhằm phòng bệnh lợn con phân trắng

Nguyễn Thị Nội và cs (1989)[29] đã tiến hành nghiên cứu một loại vắc

xin đa giá SALCO gồm các chủng vi khuẩn Salmonella, E.coli và Streptococcus

để phòng tiêu chảy cho lợn con

Đặng Xuân Bình và cs (2008b)[3] nghiên cứu, chế tạo autovắc xine từ các

chủng E.coli độc có mang yếu tố gây bệnh phòng bệnh phân trắng lợn con trên

thực địa

Nguyễn Ngọc Hải (2010)[15] nghiên cứu, chế tạo autovắc xine từ 7 gốc

E.coli phân lập từ các mẫu phân heo con tiêu chảy có kết quả rõ nhất, để phòng

tiêu chảy cho heo con theo mẹ; đã kết luận vắc xin chuồng thực nghiệm tạo được

đáp ứng miễn dịch tốt, hiệu quả phòng ngừa tiêu chảy do E.coli tương đương với vắc xin phòng bệnh E.coli của Mỹ

Tạ Thị Vịnh và cs (2002)[62] đã sử dụng chế phẩm VITOM 1.1 (chứa

Bacillus subtilis chủng VKPMV - 7092) để phòng và trị bệnh tiêu chảy cho lợn

con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi

Trang 21

Trần Thị Hạnh và cs (2004)[Error! Reference source not found.] đã chế

tạo sinh phẩm E.coli - sữa và Cl.perfringens - toxoid dùng phòng bệnh tiêu chảy

cho lợn con

Phan Thanh Phượng và cs (2008a)[34], đã nghiên cứu thành công và đưa

kháng thể E.coli dạng bột từ lòng đỏ chứng gà đã được miễn dịch các chủng

Như vậy, vấn đề phòng bệnh tiêu chảy cho lợn đã có nhiều tác giả nghiên cứu Mỗi công trình nghiên cứu đều đi sâu vào một khía cạnh, một số nguyên nhân gây bệnh và đã đạt được một số kết quả khả quan Tuy nhiên, do có nhiều nguyên nhân và yếu tố gây bệnh, nên vẫn còn nhiều vấn đề thực tiễn đòi hỏi phải giải quyết trong phòng bệnh tiêu chảy cho lợn

1.1.6.2 Điều trị bệnh

Lê Minh Chí (1995)[5] cho rằng, trên thực tế lâm sàng, điều trị mất nước

là điều trị bắt buộc và là điều kiện để hạ thấp mức độ thiệt hại do bệnh tiêu chảy gây ra

Theo Phạm Ngọc Thạch (2005)[45] để điều trị hội chứng tiêu chảy gia súc, nên tập trung vào 3 khâu là:

- Loại trừ những sai sót trong nuôi dưỡng như: Loại bỏ thức ăn kém phẩm chất (ôi mốc…), giảm thức ăn xanh chứa nhiều nước, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, loại

bỏ thức ăn không tiêu hoá được, đang lên men trong đường ruột

- Khắc phục rối loạn tiêu hoá và chống nhiễm khuẩn

- Điều trị hiện tượng mất nước và chất điện giải

Phạm Thế Sơn và cs (2008a)[38] đã sử dụng chế phẩm EM-TK21 trong phòng trị bệnh tiêu chảy ở lợn con 1- 90 ngày tuổi, cho kết quả dùng trong

Trang 22

phòng bệnh tỷ lệ bảo hộ đạt 81,3%; dùng trong điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con

tỷ lệ khỏi bệnh đạt từ 72% - 96%

Huỳnh Kim Diệu (2009)[7] nghiên cứu, khảo sát thành phần dinh dưỡng của

lá cây xuân hoa và thử nghiệm trong phòng, trị bệnh tiêu chảy cho lợn; đã có kết luận cây xuân hoa là cây thuốc mới được phát hiện, chứa các hoạt chất có khả năng phòng trị bệnh tốt, có thể thay kháng sinh trong trị bệnh tiêu chảy cho lợn

Nguyễn Hữu Vũ và cs (2010)[64] đã nghiên cứu thành công và đưa kháng

thể HANVET K.T.EHI vào phòng và điều trị bệnh tiêu chảy do vi khuẩn E.coli

(sản phẩm đã được Cục Thú y cấp giấy phép lưu hành trên toàn quốc) Kết quả thử nghiệm tại Hoài Đức - Hà Tây cho thấy:

- Điều tri 10 đàn lợn con bị tiêu chảy do vi khuẩn E.coli bằng sản phẩm

HANVET K.T.EHI tỷ lệ khỏi 100% sau 2- 4 ngày

- Điều tri 10 đàn lợn con bị sưng phù đầu do vi khuẩn E.coli bằng sản phẩm HANVET K.T.EHI tỷ lệ khỏi 87,5 - 88% sau 2- 4 ngày

Phạm Sỹ Lăng (2009)[24] đã đưa ra biện pháp tổng hợp để phòng trị bệnh tiêu chảy ở lợn con do vi khuẩn gồm 2 phần chủ yếu là biện pháp kỹ thuật chăn nuôi và biện pháp kỹ thuật thú y

Hiện nay, để điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn, nhiều tác giả đã nghiên cứu và cho rằng, cần phải xác định được nguyên nhân gây bệnh, hiểu rõ cách sinh bệnh và triệu chứng bệnh Việc sử dụng kháng sinh trong điều trị tiêu chảy

do nhiễm khuẩn được nhiều người nghiên cứu và đưa ra nhiều phác đồ khác nhau, nhưng các tác giả đều thống nhất rằng: Sử dụng kháng sinh có hiệu quả cần phải xem xét khả năng mẫn cảm và tính kháng thuốc của vi khuẩn

1.2 Một số nghiên cứu về vi khuẩn E.coli gây bệnh đường tiêu hoá

Vi khuẩn Escherichia coli (E.coli) thuộc họ Enterobacteriaceae, nhóm

Escherichiae, giống Escherichiae, loài Escherichia coli Trước đây được gọi là Bacterium coli commune hay Bacillus coli communis, lần đầu tiên phân lập được

từ phân trẻ em bị tiêu chảy năm 1885 và được đặt theo tên của người bác sỹ nhi khoa Đức Theodor Escherich (1857 - 1911) (Nguyễn Vĩnh Phước, 1974 [32],

Nguyễn Lân Dũng và cs, 1976 [9], Nguyễn Như Thanh và cs, 1997 [Error!

Reference source not found.], Lê Văn Tạo, 1997) [43]

Vi khuẩn E.coli thuộc họ Enterobacteriaceae, là họ vi khuẩn thường trực

ở trong ruột, chiếm tới 80% các vi khuẩn hiếu khí, vừa là vi khuẩn cộng sinh

Trang 23

thường trực đường tiêu hoá, vừa là vi khuẩn gây nhiều bệnh ở đường ruột và ở các cơ quan khác (Lê Văn Tạo, 1997)[43]

Trong điều kiện bình thường, E.coli khu trú thường xuyên ở phần sau của

ruột, ít khi có ở dạ dày hay đoạn đầu ruột non của động vật Khi gặp điều kiện thuận lợi, chúng phát triển nhanh về số lượng, độc lực, gây loạn khuẩn, bội nhiễm đường tiêu hoá và trở thành nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978)[33]

1.2.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc của vi khuẩn E.coli

1.2.1.1 Đặc điểm hình thái

Vi khuẩn E.coli là trực khuẩn hình gậy ngắn hai đầu tròn, có kích thước 2

- 3m x 0,3- 0,6m; ở môi trường nuôi cấy, trong canh khuẩn già, xuất hiện những trực khuẩn dài 4 - 8m Trong cơ thể người và động vật, vi khuẩn thường

có hình trực khuẩn, đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn Phần lớn vi

khuẩn E.coli có khả năng di động do có lông ở xung quanh thân, không sinh nha

bào, có thể có giáp mô Vi khuẩn bắt màu gram âm, có thể bắt màu đều hoặc sẫm

ở hai đầu, khoảng giữa nhạt hơn Nếu lấy vi khuẩn từ khuẩn lạc nhầy để nhuộm,

có thể thấy giáp mô, nhưng khi soi tươi thì thường không nhìn thấy được (Nguyễn Quang Tuyên, 2008)[59]

1.2.1.2 Đặc điểm cấu trúc

Vi khuẩn E.coli được chia làm serrotype khác nhau dựa vào cấu trúc

kháng nguyên thân O, giáp mô K, lông H và kháng nguyên bám dính F Bằng phản ứng ngưng kết, các nhà khoa học đã tìm ra được 250 serotype O, 89 serotype K, 56 serotype H và một số serotype F (Fairbrother J M., 1992)[68]

Khi xác định serotype đầy đủ của một chủng vi khuẩn E.coli thì phải xác

định đủ cả 3 loại kháng nguyên nói trên

- Kháng nguyên O (Kháng nguyên thân - Ohne Hauch) được coi như là một yếu tố độc lực có thể tìm thấy ở thành tế bào và có liên hệ trực tiếp với hệ thống miễn dịch

- Kháng nguyên H (kháng nguyên lông - Hauch) là thành phần lông vi khuẩn, có bản chất protein, kém bền vững hơn so với kháng nguyên O

Kháng nguyên H không phải là yếu tố độc lực của vi khuẩn, nhưng có khả năng tạo miễn dịch mạnh Phản ứng miễn dịch xảy ra nhanh hơn so với kháng nguyên O

Trang 24

Kháng nguyên H của vi khuẩn E.coli không có vai trò bám dính, không có

tính độc và cũng không có ý nghĩa trong đáp ứng miễn dịch phòng vệ nên ít được quan tâm nghiên cứu, nhưng nó có ý nghĩa rất to lớn trong xác định giống loài của vi khuẩn (Orskov F., 1978)[80]

- Kháng nguyên K (Kháng nguyên vỏ bỏ - Capsular), còn được gọi là kháng nguyên bề mặt (OMP - Outer membrane protein) hoặc kháng nguyên vỏ bọc (Capsular) Vai trò của kháng nguyên K chưa được thống nhất Có rất nhiều

ý kiến cho rằng, nó không có ý nghĩa về độc lực của vi khuẩn, vì thấy rằng độc

lực của chủng E.coli có kháng nguyên K cũng giống độc lực của chủng không có

kháng nguyên K (Orskov F, 1978)[80] Kháng nguyên K có hai nhiệm vụ sau:

+ Hỗ trợ trong phản ứng ngưng kết của kháng nguyên O, nên thường ghi

liền công thức serotype của vi khuẩn là Ox:Ky như E.coli O139: K88, O149:

K88, O138:K81, O138:K82, O157:K17…

+ Tạo thành hàng rào bảo vệ vi khuẩn chống lại tác động của ngoại cảnh

và hiện tượng thực bào, yếu tố phòng vệ của vật chủ

Tóm lại, dựa vào kháng nguyên O, E.coli được chia làm nhiều nhóm; căn

cứ vào cấu tạo kháng nguyên O, K, H, E.coli lại chia làm nhiều type, mỗi type

đều được ghi thứ tự các yếu tố kháng nguyên O, K, H

- Kháng nguyên F (kháng nguyên Fimbriae - kháng nguyên bám dính)

Hầu hết các chủng E.coli gây bệnh đều sản sinh ra một hoặc nhiều kháng

nguyên bám dính Các chủng không gây bệnh thì không có kháng nguyên bám

dính Một số loại kháng nguyên bám dính của vi khuẩn E.coli thuộc nhóm ETEC (Enterotoxigenic Escherichia coli) gây bệnh chủ yếu cho lợn là F4 (K88), F5

(K99), F6 (987P), F18 và F41 (Cater G R và cs, 1995)[66]

1.2.2 Đặc tính nuôi cấy, sinh vật, hóa học

1.2.2.1.Đặc tính nuôi cấy

Theo Nguyễn Như Thanh và cs (1997)[Error! Reference source not

found.], Nguyễn Quang Tuyên (2008) [59] vi khuẩn E.coli là trực khuẩn hiếu

khí và yếm khí tuỳ tiện, có thể sinh trưởng ở phổ nhiệt độ khá rộng (từ 5- 400C), nhiệt độ thích hợp là 370C và phổ pH rộng (pH từ 5,5- 8,0), pH thích hợp nhất từ (7,2 - 7,4)

Vi khuẩn E.coli phát triển dễ dàng trên các môi trường nuôi cấy thông

thường Khi nuôi cấy trên các môi trường, để trong tủ ấm ở 370C và sau 24 giờ

vi khuẩn sẽ phát triển như sau:

Trang 25

+ Môi trường thạch thường: Hình thành những khuẩn lạc tròn, ướt, bóng láng không trong suốt, màu tro trắng nhạt, hơi lồi, đường kính từ 2- 3mm Nuôi lâu, khuẩn lạc có màu nâu nhạt và mọc rộng ra, có thể quan sát thấy cả những khuẩn lạc dạng R (Rough) và M (Mucons)

+ Môi trường nước thịt: Phát triển rất tốt, môi trường đục đều có lắng cặn màu tro nhạt ở dưới đáy, đôi khi có màu xám nhạt, canh trùng có mùi phân hôi thối

+ Môi trường MacConkey: Khuẩn lạc có màu hồng cánh sen, tròn nhỏ, hơi lồi, không trầy, rìa gọn, không làm chuyển màu môi trường

+ Môi trường thạch máu: Khuẩn lạc to, ướt, lồi, viền không gọn, màu xám nhạt, một số chủng có khả năng và gây ra hiện tượng tan máu

+ Môi trường Simmon citrat: Khuẩn lạc không màu trên nền xanh lục + Môi trường Endo: Khuẩn lạc màu đỏ

+ Trong môi trường EMB: Khuẩn lạc màu tím đen

+ Trong môi trường SS: Khuẩn lạc có màu đỏ

1.2.2.2 Đặc tính sinh hoá

+ Phản ứng lên men đường: Vi khuẩn E.coli lên men sinh hơi các loại

đường lactose, frutose, glucose, levulose, galactose, xylose, manitol, lên men không chắc chắn các loại đường duncitol, saccarose và salixin

Hầu hết các chủng vi khuẩn E.coil đều lên men đường lactose nhanh và sinh hơi, đây là đặc điểm quan trọng để dựa vào đó phân biệt vi khuẩn E.coli và

Salmonella

+ Một số phản ứng sinh hoá khác: Phản ứng Indol và MR dương tính, phản ứng H2S, VP âm tính (Nguyễn Quang Tuyên, 2008)[59]

1.2.3 Đặc tính gây bệnh của vi khuẩn E.coli

1.2.3.1 Cơ chế gây bệnh của vi khuẩn E.coli

Để có thể gây bệnh, trước hết vi khuẩn E.coli phải bám dính vào tế bào

nhung mao ruột bằng các yếu tố bám dính như kháng nguyên F Sau đó, nhờ các yếu tố xâm nhập (Invasion), vi khuẩn sẽ xâm nhập vào tế bào biểu mô của thành ruột Ở đó, vi khuẩn phát triển, nhân lên, phá huỷ lớp tế bào biểu mô, gây viêm ruột, đồng thời sinh sản độc tố đường ruột Enterotoxin Độc tố đường ruột tác động vào quá trình trao đổi muối, nước, làm rối loạn chu trình này Nước từ cơ thể tập trung vào lòng ruột làm căng ruột, cùng với khí do lên men ở ruột gây nên một tác dụng cơ học, làm nhu động ruột tăng, đẩy nước và chất chứa ra

Trang 26

ngoài, gây nên hiện tượng tiêu chảy Sau khi đã phát triển ở thành ruột, vi khuẩn vào hệ lâm ba, đến hệ tuần hoàn, gây nhiễm trùng máu Trong máu, vi khuẩn chống lại hiện tượng thực bào, gây dung huyết, làm cho cơ thể thiếu máu Từ hệ tuần hoàn, vi khuẩn đến các tổ chức cơ quan Ở đây, vi khuẩn lại phát triển nhân lên lần thứ hai, phá huỷ tế bào tổ chức, gây viêm và sản sinh độc tố gồm enterotoxin và verotoxin, phá huỷ tế bào tổ chức, gây tụ huyết và xuất huyết

1.2.3.2 Các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn E coli

Dựa vào các yếu tố gây bệnh nói trên, người ta đã phân loại vi khuẩn

E.coli thành các loại sau: Enterotoxigenic E.coli (ETEC), Enteropathgenic E.coli

(EPEC), Adherence Eteropathogenic E.coli (AEEC) và Verotoxingenic E.coli

(VTEC) (Lê Văn Tạo, 1997)[43] Trong đó, các chủng vi khuẩn thuộc nhóm ETEC và VTEC thường gây ra bệnh tiêu chảy cho lợn con sơ sinh và lợn sau cai sữa (Fairbrother.J.M, 1992)[68]

* Yếu tố kháng khuẩn

Nhiều chủng vi khuẩn E.coli có khả năng sản sinh ra chất kháng khuẩn có

tác dụng ức chế hoặc tiêu diệt các loại vi khuẩn khác, gọi là ColicinV Vì vậy,

yếu tố này cũng được coi là một trong các yếu tố độc lực của vi khuẩn E.coli gây

bệnh (Smith H W và cs, 1967)[83]

Đặng Xuân Bình và cs (2008a)[3] khi nghiên cứu khả năng sản sinh yếu

tố cạnh tranh colicin của các chủng vi khuẩn E.coli phân lập được từ phân của

lợn con phân trắng tại các tỉnh Thái Nguyên, Cao Bằng, Hà Tây đã có kết quả là

26,5% số chủng vi khuẩn E.coli sản sinh ra yếu tố cạnh tranh colicin

* Yếu tố bám dính

Để gây bệnh, các chủng ETEC phải bám dính lên trên tế bào biểu mô của ruột non Hầu hết các chủng ETEC đều có mang một hoặc nhiều các yếu tố bám dính như: F4 (K88), F5 (K99), F6 (987P), F17, F18, F41, F42 và F165 Ở lợn, các chủng vi khuẩn ETEC gây bệnh tiêu chảy thường mang các yếu tố bám dính sau đây:

- F4 (K88): F4 hay còn gọi là K88 và là một kháng nguyên không chịu

nhiệt Bằng việc sử dụng các kháng huyết thanh đặc hiệu, Orskov và cs (1964)[79] đã phân biệt được hai loại khác nhau của F4 là F4ab và F4ac Loại thứ 3 được phát hiện bởi Guinee và Jansen được đặt tên ở F4ad (Guinee và cs, 1979)[72] Sợi F4 giúp cho vi khuẩn bám được vào receptor tương ứng của nó trên tế bào biểu mô của lông nhung ruột non, từ đó vi khuẩn có thể xâm nhập cố

Trang 27

định và phát triển được ở thành ruột non Yếu tố bám dính F4 được mang trong

vi khuẩn E.coli thuộc nhóm ETEC, gây bệnh tiêu chảy ở lợn trước và sau cai sữa

(Nagy và cs, 1999)[77]

- F5 (K99): F5 trước kia được cho là kháng nguyên bám dính của E.coli

chỉ gây bệnh ở bê, nghé và cừu Tuy nhiên, hiện nay chúng cũng được tìm thấy với tỷ lệ thấp ở các chủng ETEC phân lập từ lợn tiêu chảy (Links và cs, 1985)[74] Sự sản sinh F5 phụ thuộc vào nhiều yếu tố của vi khuẩn như tốc độ sinh trưởng, pha sinh trưởng, nhiệt độ và alanine trong môi trường Các gen mã hoá cho sự tổng hợp F5 nằm trên AND của plasmid (Isaacson và cs, 1977) [70]

- F6 (987p): Các nhà khoa học cho rằng fimbriae này đóng vai trò quan

trọng trong việc gây bệnh của ETEC F6 của ETEC ở lợn có thể giúp vi khuẩn bám vào cả các receptor cấu tạo bởi glycoprotein và glycolipid trên riềm trải của các tế bào biểu mô ruột (Dean và cs, 1989, 1994)[67] F6 bám dính ở màng nhầy

để phân phối độc tố đường ruột tối đa đến vật chủ

- F18: F18 là tên đặt cho nhân tố bám dính 8813 Bởi vậy, một loại

fimbriae mới đã được đề nghị công nhận là F18ab, F18ac (Rippinger và cs, 1995)[82] Một nghiên cứu của Nagy và cs (1996)[76] thấy rằng F18ab và F18ac khác nhau về mặt sinh học F18ab ít thấy thể hiện ở cả trong điều kiện thực tế và trong phòng thí nghiệm Chúng thường thấy cùng với việc sản xuất SLT-2e ở các chủng VTEC, trong khi F18ac thể hiện rất rõ ở cả trong thực tế và trong phòng thí nghiệm, chúng mang các đặc tính của các chủng ETEC

Một đặc điểm đáng chú ý ở F18ac là chúng không bám vào riềm bàn chải của lợn sơ sinh trong điều kiện thực tế và trong phòng thí nghiệm (Nagy và cs, 1992)[75], cũng không tập trung ở lớp màng nhầy của ruột ở lợn con mới sinh

(Casey và cs, 1992)[Error! Reference source not found.] Điều này ngược với F5

và F6, chúng bám vào các tế bào biểu mô ruột Khả năng bám này ở lợn cai sữa nhiều hơn so với lợn sơ sinh Lý do xác đáng để giải thích về việc tăng sự mẫn cảm với bám dính của F18ab và F18ac theo tuổi của lợn vẫn chưa được làm rõ, nhưng

có thể là do sự tăng dần các receptor đặc hiệu ở lông nhung của ruột lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi Sự thiếu hụt các receptor của F18ab và F18ac ở lợn sơ sinh có thể giải thích cho lý do vì sao chỉ thấy các chủng VTEC và ETEC ở lợn cai sữa (Nagy

và cs, 1999)[77]

Trang 28

* Yếu tố xâm nhập của vi khuẩn E.coli: Là một khái niệm dùng để chỉ quá

trình chưa được xác định một cách rõ ràng mà nhờ đó vi khuẩn E.coli qua được

hàng rào bảo vệ của lớp màng nhầy (mucosa) trên bề mặt niêm mạc để xâm nhập vào tế bào biểu mô (Epithel), (Giannella và cs, 1976)[71]

* Độc tố của vi khuẩn E.coli:

Vi khuẩn E.coli sản sinh nhiều loại độc tố: Enterotoxin, Verotoxin,

Neurotoxin Mỗi loại độc tố gắn với một thể bệnh mà chúng gây ra

- Nhóm độc tố đường ruột (Enterotoxin): gồm 2 loại

+ Độc tố chịu nhiệt (Heat Stable Toxin - ST): Độc tố ST chia thành 2 nhóm STa và STb dựa trên đặc tính sinh học và khả năng hoà tan trong methanol Sta kích thích sản sinh cGMP mức cao trong tế bào, ngăn trở hệ thống chuyển Na+ và Cl-; làm giảm khả năng hấp thu chất điện giải và nước ruột STa thường thấy ở ETEC gây bệnh lợn dưới 2 tuần tuổi và ở lợn lớn

STb hoạt động ở ruột non lợn, nhưng không hoạt động ở ruột non chuột,

bê và bị vô hoạt bởi Trypsin STb tìm thấy được ở 75% các chủng vi khuẩn

E.coli phân lập từ lợn con, 33% phân lập từ lợn (Fairbrother và cs, 1992)[68]

Vai trò của STb trong tiêu chảy được biết đến mặc dù ETEC sản sinh STb có thể kích thích gây tiêu chảy ở lợn con trong điều kiện thực nghiệm và STb làm teo lông nhung ruột lợn (Carter và cs, 1995)[66]

Cả STa và STb đều có vai trò quan trọng trong việc gây tiêu chảy do các

chủng E.coli gây bệnh ở bê, nghé, dê, cừu, lợn con và trẻ sơ sinh

+ Độc tố không chịu nhiệt (Heat Labile Toxin - LT): Độc tố này bị vô hoạt ở nhiệt độ 600C trong vòng 15 phút LT cũng có hai nhóm phụ LT1 và LT2, nhưng chỉ có LT1 bị trung hoà bởi Anticholerae toxin LT là một trong những yếu tố quan trọng gây triệu chứng tiêu chảy (Fairbrother và cs, 1992)[68] Cả hai loại độc tố ST

và LT đều bền vững ở nhiệt độ âm, thậm chí cả ở nhiệt độ (-200C)

Xác định một số yếu tố gây bệnh của các chủng vi khuẩn E.coli phân lập

từ lợn con (1- 45 ngày tuổi) bị tiêu chảy ở tỉnh Hưng Yên bằng các phản ứng PCR Kết quả đã xác định được 3 loại độc tố là Sta, STb, LT và 2 yếu tố bám dính F4 và F18 (Đỗ Ngọc Thúy và cs, 2008)[55]

- Nhóm độc tố tế bào (Shiga/ Verotoxin):

Konowalchuck và cs (1977)[73] đã phát hiện một loại độc tố hoạt động trong môi trường nuôi cấy tế bào Vero (nên chúng được đặt tên là độc tố tế bào

Trang 29

Vero), được sản sinh bởi vi khuẩn E.coli gây bệnh tiêu chảy ở người, tiêu chảy

và bệnh phù đầu ở lợn con Ảnh hưởng gây bệnh ở tế bào của độc tố Vero rất khác so với ảnh hưởng của độc tố đường ruột không chịu nhiệt cổ điển ở nhóm

vi khuẩn E.coli gây bệnh đường ruột (ETEC) Độc tố Vero (VTs) hay Shiga

(SLTs) là thuật ngữ được sử dụng trước đây Gần đây, các nhà khoa học đã đề nghị sử dụng tên độc tố Shiga (Stx) cho tất cả những độc tố tế bào này Stx sản

sinh bởi E.coli bao gồm 2 nhóm: Stx1 và Stx2

1.2.4 Khả năng mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn E.coli

Sở dĩ khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn nói chung và E.coli nói

riêng tăng nhanh, lan rộng vì gen sản sinh yếu tố kháng kháng sinh nằm trong plasmid R (Resistance) Plasmid này có thể di truyền dọc và di truyền ngang cho tất cả quần thể vi khuẩn thích hợp (Falkow, 1975)[69]

Sử dụng phương pháp kháng sinh đồ, Lê Văn Tạo (1993)[41] đã xác định

được khả năng kháng kháng sinh của các chủng E.coli phân lập từ bệnh phân trắng lợn con và kết luận vi khuẩn E.coli có được khả năng này là do nhận được bằng di

truyền dọc và di truyền ngang qua plasmid Phạm Khắc Hiếu và cs (1999)[17] đã

tìm thấy chủng E.coli kháng lại 11 loại kháng sinh, đồng thời chứng minh khả năng

di truyền tính kháng thuốc giữa E.coli và Salmonella qua plasmid

Nghiên cứu tính kháng kháng sinh của 106 chủng E.coli phân lập từ lợn

con theo mẹ bị tiêu chảy ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam, Đỗ Ngọc Thuý và cs (2002)[54] đã thu được kết quả các chủng có xu hướng kháng mạnh với các loại kháng sinh thông thường vẫn dùng để điều trị bệnh: chloramphenicol (79,25%), trimethroprim/ sulfamethoxazol (80,19%), Streptomycin (88,68%), Tetracyclin (97,17%) Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn với trên 3 loại kháng sinh là phổ biến (chiếm 90,57%) và kiểu kháng thuốc kháng với các loại kháng sinh: tetracylin, trimethroprim/ sulfamethoxzol, streptomycin và chloramphenicol chiếm tỷ lệ cao nhất (76,24%) Có thể dùng amikacin, apramycin hay ceftiofur

để điều trị cho lợn con bị tiêu chảy, thay thế cho các loại kháng sinh trước đây vẫn dùng

Bùi Xuân Đồng (2002)[13] đã tiến hành thử kháng sinh đồ với các chủng

E.cloi phân lập được từ Hải Phòng cho kết quả mẫn cảm với các loại kháng sinh

chloramphenicol, norflxacin, ampicilin

Khi thử nghiệm phòng và trị bệnh E.coli dung huyết cho lợn con ở Thái

Nguyên và Bắc Giang, Nguyễn Thị Kim Lan (2006b)[Error! Reference source

Trang 30

not found.] đã thông báo vi khuẩn E.coli phân lập từ lợn bệnh rất mẫn cảm với

kháng sinh amikacin, kém hơn với doxycycline, không mẫn cảm với ampicilin

và cefuroxinme

Võ Thị Trà An và cs (2010)[1] kiểm tra khả năng mẫn cảm với kháng sinh

của 100 gốc vi khuẩn E.coli phân lập từ phân heo, bò trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận Mức độ mẫn cảm của E.coli giảm dần với các

kháng sinh: ceftazidime (93%), amoxicillin/clavulanic acid (73%), nofloxacin (66%), gentamycin (40%), chloramphenicol (34%), kanamycin (33%), trimethroprim/ sulfamethoxazol (29%), cephalexin (25%), ampicilin (21%), tetracyclin (20%), colistin (7%)

Như vậy, có thể thấy qua thời gian và ở các địa điểm khác nhau, tính

kháng kháng sinh của vi khuẩn E.coli gây bệnh cũng khác nhau

1.3 Một số nghiên cứu về vi khuẩn Salmonella gây bệnh đường tiêu hoá

1.3.1 Khả năng gây bệnh của vi khuẩn Salmonella spp

Với số lượng, chủng loại phong phú và sự phân bố rộng rãi trong tự nhiên,

Salmonellosis là mầm bệnh chung của nhiều loài động vật và người

Các chủng Salmonella chủ yếu gây bệnh cho động vật như S cholerae

suis (phó thương hàn lợn), S enteritidis (phó thương hàn bê, nghé), S abortus equi (sảy thai ngựa), S abortus ovis (sảy thai cừu), S gallinarum (thương hàn

gà) và S pullorum (bạch lỵ gà con) (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [33] Theo đánh giá kết quả về sự thiệt hại do vi khuẩn Salmonella gây ra tại một số quốc gia trên

thế giới, chi phí điều trị cho những người bị ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn

Salmonella gây ra hàng năm tới hàng tỷ USD ở Mỹ và hàng trăm triệu USD ở

Canada Nguyễn Văn Tâm và cs (2006) [44] cho thấy, tỷ lệ nhiễm Salmonella spp

từ 82,8-100% số lợn tiêu chảy phân lập được vi khuẩn Salmonella spp gây bệnh Nguyễn Tất Thành (2007) [48] phân lập được 16 chủng Salmonella spp từ 50 mẫu bệnh phẩm của lợn tiêu chảy, xác định type có 8 chủng thuộc S cholerae

suis, 2 chủng S ententidis và 1 chủng S typhimurium

Nghiên cứu vi khuẩn Salmonella gây bệnh phó thường hàn lợn ở một số

tỉnh miền núi phía Bắc (1997-1999) Đỗ Trung Cứ và cs (2004) [6] cho biết, ở lợn bệnh vi khuẩn được tìm thấy nhiều nhất ở hạch ruột (94,59%) và ít nhất ở thận (20,08%), lợn sau cai sữa hoặc giai đoạn đầu nuôi thịt thì tỷ lệ mắc tiêu

chảy do Salmonella cao hơn lợn trưởng thành

1.3.2 Cơ chế gây bệnh của vi khuẩn Salmonella

Trang 31

Vi khuẩn Salmonella xâm nhập vào cơ thể động vật chủ yếu qua đường

tiêu hóa, chúng thường cư trú ở ruột non và bám dính vào nhung mao ruột non tại điểm tiếp nhận đặc trưng cho từng loài thông qua yếu tố bám dính Khi gặp điều kiện thuận lợi, vi khuẩn xâm nhập vào lớp niêm mạc và lớp biểu mô của ruột non, vào các hạch lâm ba Đối với những vi khuẩn gây bệnh đường ruột, độc tố do chúng tiết ra hoặc các sản phẩm độc sinh ra trong quá trình huỷ hoại tế bào sẽ tác động lên

cơ chế hấp thu ở ruột, làm nước trong tổ chức tế bào dồn vào nhiều trong ruột và gây ra tiêu chảy Khi tiêu chảy kéo dài làm thể trạng sút kém, kháng thể giảm thấp, hiện tượng trúng độc toan là cơ hội thuận tiện cho vi khuẩn gây bệnh tiếp tục đi sâu và xâm nhập vào các cơ quan hệ thống, đặc biệt là hệ tuần hoàn, gây nhiễm trùng huyết, nếu ở mức cao thường gây chết ở giai đoạn này Đối với những gia súc sống sót, di chứng bệnh tích lưu lại ở các hạch, màng treo ruột và một số cơ quan khác trong cơ thể và trở thành nguồn bệnh tiềm tàng, thải trùng ra ngoài qua sự bài tiết hoặc nhiễm vào các sản phẩm thịt, trứng, sữa Khi vật mang trùng bị yếu đi do các yếu tố tác động, hoặc bị mắc bởi các bệnh khác, bệnh có thể tái phát tới mức nhiễm trùng huyết ở thể cấp và gây tỷ lệ chết cao (Berends và cs, 1998) [65]

1.3.3 Các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella spp

* Yếu tố bám dính

Yếu tố bám dính của vi khuẩn Salmonella spp là fimbriae thuộc serotype

I (Cholerae factor Adrehae - CFA/1), bản chất là một dạng protein phân cực có

cấu trúc bậc I Sự bám dính của vi khuẩn Salmonella spp trên tế bào biểu mô là

bước đầu tiên tạo ra sự liên kết vững chắc giữa bề mặt của vi khuẩn với tế bào của ký chủ, được thực hiện qua các bước sau:

Bước 1: Đầu tiên là sự tiếp xúc của vi khuẩn với niêm mạc ruột, tuỳ thuộc

tính chất của niêm mạc ruột, sự phù hợp về đặc tính lý, hoá, sinh học giữa vi khuẩn với vị trí tiếp xúc Nếu có sự phù hợp thì hiện tượng xâm nhập xảy ra, và

vi khuẩn sẽ phát triển trong các lớp nhầy ở nhung mao ruột

Bước 2: Xảy ra sự hấp phụ vi khuẩn trên niêm mạc ruột, quá trình này có

sự tác động thuận nghịch giữa vi khuẩn với niêm mạc ruột bằng các lực tương hỗ khác nhau Sự hấp phụ này xảy ra mạnh hoặc yếu tuỳ thuộc vào đặc điểm lý hoá học và sinh vật học của niêm mạc ruột vật chủ đối với vi khuẩn

Bước 3: Đây là khâu quyết định của sự bám dính, khi yếu tố bám dính tiếp

cận với điểm tiếp nhận trên bề mặt niêm mạc ruột Những vi khuẩn có khả năng gây bệnh sẽ bám dính tốt hơn so với những vi khuẩn không có khả năng này

Trang 32

Kauffmann-White, cấu trúc kháng nguyên của Salmonella spp gồm những thành

phần cơ bản như kháng nguyên O, kháng nguyên H và kháng nguyên K

Kháng nguyên O của Salmonella spp rất phức tạp, cho tới nay người ta đã tìm

ra 65 yếu tố khác nhau Kháng nguyên H ở các Salmonella spp có lông Kháng

nguyên K không phức tạp, có một kháng nguyên vỏ đã biết là kháng nguyên Vi

Như vậy, cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn Salmonella spp rất phức

tạp, cho thấy sự phong phú về chủng loại và khả năng gây bệnh của vi khuẩn này

Kháng nguyên H: Chỉ xuất hiện ở những chủng Salmonella spp có lông, bản

chất là một protein, kém bền vững với nhiệt độ cao so với kháng nguyên O, bị vô hoạt ở 600C, bị phá huỷ bởi cồn và một số loại axit yếu, là kháng nguyên chứa nhiều thành phần phức tạp Một số chứa 1 nhóm kháng nguyên H gọi là pha đơn,

và một số chứa 2 nhóm kháng nguyên H và được chia làm 2 pha: Pha 1 là pha đặc

hiệu và pha 2 là pha không đặc hiệu Kháng nguyên H của vi khuẩn Salmonella spp

không có vai trò trong việc gây bệnh nên ít được đề cập trong nghiên cứu

* Khả năng sản sinh độc tố

Độc tố là một trong những yếu tố quan trọng của vi khuẩn gây bệnh Vi

khuẩn Salmonella spp sản sinh ra ngoại và nội độc tố, ngoại độc tố tác động tới hệ thần kinh và tế bào (Cytotoxin) Nội độc tố Enterotoxin gồm hai thành phần cơ bản

là độc tố thẩm xuất nhanh và độc tố thẩm xuất chậm (Nagy và cs, 1999) [77]

Độc tố thẩm xuất nhanh (RPF: Rapid permeability factor - Độc tố chịu

nhiệt) có cấu trúc và đặc tính giống như độc tố chịu nhiệt (ST) của vi khuẩn E

coli, trọng lượng phân tử khoảng 90.000 Dalton, là độc tố bền vững, có thể chịu

được nhiệt độ 1000C trong 4 giờ và ở điều kiện nhiệt độ thấp -200C Cấu trúc

Trang 33

phân tử là polysaccarid và ở một số chủng là polypeptit Độc tố chịu nhiệt có khả năng thực hiện thẩm xuất nhanh sau 1 - 2 giờ, hoặc có thể kéo dài tới 36 - 48 giờ

* Plasmid của vi khuẩn Salmonella spp

Vai trò của plasmid trong khả năng gây bệnh của các vi khuẩn đường tiêu hoá đã được nhiều tác giả nghiên cứu và cho thấy khả năng bám dính, xâm nhập vào tế bào, sự sản sinh độc tố và kháng kháng sinh của vi khuẩn phụ thuộc vào

sự có mặt của plasmid Một số vi khuẩn đường tiêu hoá như E coli, Salmonella spp., Shigella có mang các gen sản sinh độc tố, khả năng bám dính và kháng

kháng sinh Do vậy, có thể coi plasmid là một trong các yếu tố độc lực của vi khuẩn gây bệnh (Lê Thị Tài, 1997) [40]

Nghiên cứu vai trò của plasmid tác động đến khả năng gây bệnh của vi

khuẩn Salmonella spp cho thấy: Khả năng bám dính và xâm nhập vào tế bào Hela và làm chết chuột sau khi cho uống canh trùng của vi khuẩn S typhimurium

phụ thuộc vào trọng lượng phân tử của các plasmid Berends và cs (1998) [65]

đã chứng minh được vai trò của plasmid trong tế bào vi khuẩn là yếu tố độc lực

của vi khuẩn S dublin và cũng là yếu tố độc lực của vi khuẩn S cholerae suis

khi gây bệnh ở các loài động vật

1.3.4 Khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn Salmonella spp

Nhiều chủng vi khuẩn gây bệnh có mang một hay nhiều gene sản sinh yếu

tố kháng kháng sinh nằm trong ADN của plasmid R, là những yếu tố có vai trò quan trọng chống lại tác động của kháng sinh cũng như hoá dược Plasmid R có thể nhân lên và di truyền cho các thế hệ cùng loài hoặc khác loài Các nghiên cứu

tại một số quốc gia cho thấy những năm gần đây có nhiều chủng Salmonella spp có

khả năng kháng lại hầu hết các loại kháng sinh thông thường như streptomycin, tetracyclin, sulfonamide và một tỷ lệ cao các chủng vi khuẩn này có khả năng kháng lại với nhiều loại kháng sinh mới như sunfamethoxazone, trimethoprim, kanamycin, neomycin và nhiều loại kháng sinh khác (Konowalchuk và cs, 1977) [73]

Trang 34

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NGUYÊN LIỆU, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

2.1.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới

2 tháng tuổi tại một số xã của huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang

2.1.1.1 Tỷ lệ lợn con tiêu chảy và chết do tiêu chảy tại một số xã

2.1.1.2 Tỷ lệ lợn con tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo phương thức chăn nuôi

2.1.1.3 Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo lứa tuổi

2.1.1.4 Tỷ lệ lợn con tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo mùa vụ trong năm 2.1.1.5 Triệu chứng, bệnh tích của lợn con mắc hội chứng tiêu chảy

2.1.2 Nghiên cứu xác định vai trò gây bệnh của vi khuẩn E.coli và vi khuẩn Salmonella trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con

2.1.2.1 Phân lập, xác định tỷ lệ nhiễm vi khuẩn từ các mẫu bệnh phẩm và phân lợn tiêu chảy

2.1.2.2 Xác định số lượng vi khuẩn E.coli và vi khuẩn Salmonella trong phân

lợn tiêu chảy và lợn bình thường

2.1.2.3 Giám định đặc tính sinh hoá của các chủng vi khuẩn E.coli và vi khuẩn

Salmonella phân lập được

2.1.2.6 Xác định độc lực của các chủng vi khuẩn E.coli và vi khuẩn Salmonella

phân lập được trên chuột nhắt trắng

2.1.2.7 Xác định tính mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn E.coli và

vi khuẩn Salmonella phân lập được

2.1.3 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con

Căn cứ vào kết quả xác định tính mẫn cảm với kháng sinh của các chủng

vi khuẩn E.coli và vi khuẩn Salmonella phân lập được, chúng tôi lựa chọn 3 loại

thuốc kháng sinh mẫn cảm cao, đang được phép lưu hành tại Việt Nam Kết hợp với các loại thuốc chống mất nước, trợ sức, xây dựng lấy 3 phác đồ và tiến hành thử nghiệm điều trị

Trang 35

2.2 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Lợn con dưới 2 tháng tuổi tại một số xã của huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang

- Vi khuẩn E.coli và vi khuẩn Salmonella phân lập được từ lợn con tiêu

chảy và bình thường

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

- Địa bàn nghiên cứu: các trang trại, hộ gia đình chăn nuôi lợn tại các xã

Việt Tiến, Bích Sơn, Tự Lạn, Tăng Tiến thuộc huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang

- Địa điểm xét nghiệm mẫu: Phòng Chẩn đoán – Xét nghiệm, Công ty

Cổ phần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet; Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Bắc Giang

2.2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2016 đến tháng 8/2017

2.3 Nguyên liệu dùng trong nghiên cứu

2.3.2 Các loại môi trường, hoá chất

- Các loại môi trường dùng cho phân lập, nuôi cấy vi khuẩn đường ruột bao gồm: Thạch máu, thạch MacConkey, thạch ISI, thạch DHL, thạch Brilliant Geen, nước thịt BHI, nước thịt thường, nước thịt pepton, thạch Simmons citrate

và các loại môi trường đường Glucoze, Lactoze, Mannitol… do hãng Oxoid của Anh sản xuất

- Các loại giấy tẩm kháng sinh của hãng Oxoid (Anh)

- Kháng huyết thanh chuẩn dùng định type vi khuẩn phân lập được của Nhật và Úc

- Các hoá chất và dụng cụ phòng thí nghiệm khác dùng trong nghiên cứu

vi khuẩn

2.3.3 Động vật thí nghiệm: Chuột nhắt trắng khoẻ mạnh, có trọng lượng trung

bình từ 18 - 20g/con

Trang 36

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ

Sử dụng phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả (Descriptive study) dịch tễ học phân tích (Analytic study) và dịch tễ học thực nghiệm của Nguyễn Như Thanh (2001)[47], Nguyễn Văn Thiện (1997)[49] (2002) [50]

Dùng phương pháp nghiên cứu cắt ngang tìm căn nguyên của bệnh So sánh tần suất của hội chứng tiêu chảy giữa các nhóm khác nhau Các cá thể trong cùng nhóm, cũng như các yếu tố nguy cơ, các thông tin khác đều được tiến hành trong cùng thời điểm nghiên cứu

2.4.1.1 Chọn mẫu điều tra

Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên, mẫu chùm nhiều bậc của Nguyễn Như Thanh (2001)[47] Chọn ngẫu nhiên mỗi xã 3 thôn, trong thôn điều tra các hộ chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con dưới 2 tháng tuổi

- Số xã được điều tra: 4 xã; số thôn 12

- Số lần điều tra: 4 lần theo các mùa (mùa thu, mùa đông trong năm 2016; mùa xuân, mùa hè trong năm 2017)

2.4.1.2 Phương pháp

- Trực tiếp quan sát để phát hiện lợn tiêu chảy Những lợn phân lỏng được coi là bị tiêu chảy (loại trừ những lợn bị bệnh truyền nhiễm có triệu chứng tiêu chảy)

- Phỏng vấn chủ hộ chăn nuôi về những thông tin cần thiết

- Thông tin điều tra được ghi vào các phiếu điều tra

2.4.1.3 Nội dung điều tra, theo dõi

- Số lợn con mắc tiêu chảy và chết do tiêu chảy tại các hộ, các trang trại chăn nuôi

- Các triệu chứng thường gặp ở lợn con mắc tiêu chảy

- Các triệu chứng, bệnh tích ở lợn mắc tiêu chảy khi tiến hành mổ khám, lấy mẫu bệnh phẩm

- Phương thức chăn nuôi và việc thực hiện vệ sinh chuồng trại

2.4.1.4 Các phương pháp đo lường trong dịch tễ

Số lợn tiêu chảy

- Tỷ lệ lợn mắc tiêu chảy (%) = x 100

Trang 37

Số lợn tiêu chảy theo độ tuổi

- Tỷ lệ tiêu chảy theo độ tuổi (%) = x 100

- Mẫu phân phân lập vi khuẩn: Dùng tăm bông vô trùng ngoáy sâu vào

trực tràng lợn mắc tiêu chảy chưa dùng thuốc (kháng sinh) điều trị Khi toàn bộ

tăm bông thấm ướt phân lợn, lấy ra, cho ngay vào tuýp, vặn chặt và ghi ký hiệu

mẫu Sau đó, cho vào bảo quản lạnh 2 - 40C trong thùng bảo ôn

- Mẫu chất chứa đếm số lượng vi khuẩn: Mỗi con lợn lấy 3 - 6 mẫu ở các

vị trí khác nhau của ruột, mỗi mẫu là 1 gram chất chứa ở trong ruột lợn ngay khi

vừa mổ khám

- Mẫu bệnh phẩm gồm: Máu tim, lách, gan, hạch ruột, chất chứa ruột non,

ruột già của lợn tiêu chảy

- Mẫu được bảo quản trong điều kiện lạnh 40C, theo quy trình bảo quản

mẫu của Công ty cổ phần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet và được vận chuyển

ngay đến phòng thí nghiệm để tiến hành các xét nghiệm tiếp theo

2.4.2.2 Phân lập và giám định vi khuẩn

Các phương pháp nuôi cấy và giám định vi khuẩn được thực hiện theo quy

trình nghiên cứu của Công ty cổ phần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet, nhà máy

vắc xin Marphavet

Mẫu là phủ tạng, phân hoặc chất chứa trong ruột của lợn có triệu chứng

tiêu chảy được ria cấy lên các môi trường thạch máu, thạch MacConkey và thạch

DHL bồi dưỡng ở tủ ấm 370C trong 24 giờ Trên các đĩa thạch sau 18 - 24 giờ

nuôi cấy ở 370C có thể quan sát thấy các dạng khuẩn lạc như sau:

TT Loại vi khuẩn

Màu sắc và hình thái khuẩn lạc trên các loại môi

trường sau khi nuôi cấy ở 37 0 C/ 24h Thạch máu Thạch

Trang 38

2.4.3 Xác định số lượng vi khuẩn E.coli, Salmonella trong 1 gam phân lợn tiêu chảy và lợn bình thường

Mẫu là 1 g phân lợn bị tiêu chảy hoặc lợn bình thường, được pha loãng trong dung dịch PBS thành các nồng độ 10-1, 10-2, , 10-8 Lấy 0,1 ml dung dịch

ở các nồng độ đã pha loãng 10-6, 10-7, 10-8 nhỏ và dàn đều trên bề mặt thạch MacConkey, thạch DHL, bồi dưỡng ở 370C trong 24 giờ Mỗi nồng độ pha loãng, dùng 3 đĩa thạch Đếm số khuẩn lạc mọc trên đĩa thạch, rồi tính trung bình cho mỗi nồng độ

Số lượng vi khuẩn được tính theo công thức: X = 10 x a x b

Trong đó: X là tổng số lượng vi khuẩn có trong 1 gam phân hoặc 1 gam chất chứa đường ruột

a là số lượng vi khuẩn trung bình của 1 nồng độ pha loãng

b là hệ số pha loãng mẫu

Hệ số 10: vì cấy 0,1ml

2.4.4 Phương pháp xác định độc lực của các chủng vi khuẩn E.coli, Salmonella

- Xác định độc lực của các chủng vi khuẩn E.coli, Salmonella gây bệnh

được thực hiện bằng phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm

* Phương pháp tiêm truyền qua động vật thí nghiệm

Các bước thực hiện như sau:

Bước 1: Các chủng vi khuẩn thuần từ môi trường giữ giống được cấy vào

môi trường BHI trong bình tam giác 100 ml sau đó canh trùng được bồi dưỡng ở

370C trong 24 giờ, trong quá trình nuôi có lắc để kích thích sự tăng sinh của vi khuẩn

Bước 2: Tiêm mỗi chủng vi khuẩn cần nghiên cứu cho 2 chuột nhắt trắng

khỏe mạnh, khối lượng từ 18 - 20 g/con, với liều 0,2 ml/chuột, tiêm xoang phúc mạc Trong thí nghiệm, mỗi lô chuột để 2 con tiêm dung dịch BHI làm đối chứng

Bước 3: Cho chuột ăn, uống bình thường và theo dõi những biểu hiện,

triệu chứng phản ứng sau tiêm Kiểm tra và đánh giá số chuột tới 7 ngày

Căn cứ vào số lượng chuột chết, giờ chuột chết bình quân của mỗi lô để đánh giá độc lực của vi khuẩn

Bước 4: Những chuột chết được đánh giá qua lâm sàng, mổ khám kiểm tra

sự biến đổi của các cơ quan nội tạng, sau đó tiến hành nuôi cấy và phân lập lại vi khuẩn từ các mẫu bệnh phẩm (máu tim) của chuột chết

Trang 39

2.4.5 Phương pháp xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn E.coli, Salmonella phân lập được

- Khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn E.coli phân

lập được kiểm tra bằng phương pháp khuyếch tán trên đĩa thạch và đánh giá kết quả theo Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về các tiêu chuẩn lâm sàng phòng thí nghiệm (NCCLS) (1999)[78]

- Phương pháp tiến hành như sau:

+ Bước 1: Chuẩn bị môi trường thạch đĩa Muller Hiton

+ Bước 2: Các chủng vi khuẩn E.coli được nuôi cấy trong môi trường

thạch máu ở 370C Lấy 1/2 khuẩn lạc, hòa vào 1,5 ml nước sinh lý để đạt được

độ đục 0,5 trong dãy so màu McFarland Dùng tăm bông vô trùng, tẩm dung dịch đã pha loãng và dàn đều lên thạch đĩa Muller Hinton

+ Bước 3: Dùng panh kẹp giấy tẩm kháng sinh đặt cố định lên trên mặt đĩa

thạch đã được láng đều canh khuẩn, sao cho các tấm giấy này tiếp xúc với mặt thạch và cách nhau không quá 15 mm

+ Bước 4: Bồi dưỡng đĩa thạch ở 370C/ 18 - 24 giờ Đọc kết quả bằng cách

đo đường kính vòng vô khuẩn và so sánh với bảng chuẩn để đánh giá mức độ mẫn

cảm hay kháng kháng sinh của chủng vi khuẩn E.coli kiểm tra (bảng 2.1)

Bảng 2.1 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ mẫn cảm và kháng kháng sinh

Trang 40

- Khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn Salmonella

phân lập được kiểm tra bằng phương pháp kháng sinh đồ của Kirby- Bauer, dùng

để đánh giá tính mẫn cảm với các loại kháng sinh của vi khuẩn được mô tả bởi Cater (1995)[66] sử dụng trong thí nghiệm này

Bước 1: + Chủng vi khuẩn Salmonella được nuôi cấy trong môi trường

BHI, bồi dưỡng ở nhiệt độ 370C sau 24 giờ

+ Dùng môi trường thạch thường đã chuẩn bị đổ vào hộp lồng sao cho đảm bảo mặt thạch dầy 4 mm (đã được kiểm tra vô trùng)

+ Giấy tẩm kháng sinh, panh vô trùng, micropipet

Bước 2: Tiến hành Dùng micropipet vô trùng lấy 0,2 ml canh trùng trên,

nhỏ lên trên mặt đĩa thạch, láng đều trên mặt thạch, hút hết canh trùng thừa, để yên ở nhiệt độ phòng từ 3-5 phút cho khô mặt thạch

Dùng panh kẹp giấy tẩm kháng sinh đặt cố định lên trên mặt đĩa thạch đã được láng đều canh khuẩn, sao cho các tấm giấy này tiếp xúc với mặt thạch và cách nhau không quá 15 mm Giữ yên 15 phút rồi lật úp đĩa thạch, để ở nhiệt độ

370C trong 18- 24 giờ đọc kết quả

2.4.6 Xây dựng phác đồ điều trị tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi

Sau khi xác định khả năng mẫn cảm với các kháng sinh, hóa dược của các chủng vi khuẩn gây bệnh phân lập được bằng phương pháp kháng sinh đồ, trên

cơ sở đó lựa chọn loại kháng sinh và xây dựng phác đồ điều trị hội chứng tiêu chảy thích hợp cho lợn con Để đánh giá hiệu quả khách quan, các phác đồ được thực hiện có sự đồng đều tương đối về các tiêu chí cơ bản sau:

- Số lợn con tiêu chảy ở cùng một địa điểm được phân ra một cách ngẫu nhiên làm 3 lô tương ứng với 3 phác đồ điều trị bệnh

- Số lần và ngày điều trị được dùng đồng đều trong các phác đồ

- Trong các phác đồ, sự khác nhau là sử dụng và kết hợp kháng sinh với các hóa dược khác

- Đánh giá hiệu quả của các phác đồ điều trị bệnh căn cứ vào sự ổn định dần về hiện tượng tiêu chảy, trạng thái phân, tình trạng ăn, uống… sau 5 đến 7 ngày kể từ khi dùng thuốc

Ngày đăng: 14/03/2018, 13:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ Thị Trà An, Đào Thị Phương Lan, Lê Hữu ngọc, Nguyễn Ngọc Tuân (2010), “Đề kháng kháng sinh của Escherichia coli phân lập từ vật nuôi và sự hiện diện của β-Lactamse phổ rộng (ESBL)”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XVII (2), tr.42-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề kháng kháng sinh của "Escherichia coli" phân lập từ vật nuôi và sự hiện diện của "β-Lactamse" phổ rộng (ESBL)”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Võ Thị Trà An, Đào Thị Phương Lan, Lê Hữu ngọc, Nguyễn Ngọc Tuân
Năm: 2010
2. Archie H. (2000), Sổ tay dịch bệnh động vật, (Phạm Gia Ninh và Nguyễn Đức Tâm dịch), NXB Bản đồ, Hà Nội, tr. 53, 207- 204 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay dịch bệnh động vật
Tác giả: Archie H
Nhà XB: NXB Bản đồ
Năm: 2000
3. Đặng Xuân Bình, Đỗ Văn Chung (2008), “Hiệu quả của vắc xin chuồng (auto vắc xin) trong thử nghiệm phòng bệnh phân trắng trên lợn con trong thực địa”, Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y, tập XV (6), tr. 50-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của vắc xin chuồng (auto vắc xin) trong thử nghiệm phòng bệnh phân trắng trên lợn con trong thực địa”, "Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y
Tác giả: Đặng Xuân Bình, Đỗ Văn Chung
Năm: 2008
5. Lê Minh Chí (1995), “Bệnh tiêu chảy ở gia súc”, Hội thảo khoa học, Bộ Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, Hà Nội, tr. 20 - 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tiêu chảy ở gia súc”, "Hội thảo khoa học, Bộ Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, Hà Nội
Tác giả: Lê Minh Chí
Năm: 1995
6. Đỗ Trung Cứ (2004), Phân lập xác định vai trò gây bệnh của vi khuẩn E. coli, Salmonella trong hội chứng tiêu chảy ở lợn nuôi tại một số tỉnh phía Bắc và biện pháp phòng trị. Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Viện Thú Y quốc gia, Hà Nội, tr. 73-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân lập xác định vai trò gây bệnh của vi khuẩn E. "coli, Salmonella trong hội chứng tiêu chảy ở lợn nuôi tại một số tỉnh phía Bắc và biện pháp phòng trị
Tác giả: Đỗ Trung Cứ
Năm: 2004
7. Huỳnh Kim Diệu (2009), “Thành phần dinh dưỡng lá xuân hoa, một cây thuốc điều trị bệnh tiêu chảy lợn con”, Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y, tập XVI (2), tr. 61- 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần dinh dưỡng lá xuân hoa, một cây thuốc điều trị bệnh tiêu chảy lợn con”, "Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y
Tác giả: Huỳnh Kim Diệu
Năm: 2009
8. Đoàn Thị Kim Dung (2004), Sự biến động một số vi khuẩn hiếu khí đường ruột, vai trò của E.coli trong hội chứng tiêu chảy của lợn con và các phác đồ điều trị. Luận án tiên sỹ Nông nghiệp, Viện Thú y Quốc Gia, Hà Nội, tr. 55-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến động một số vi khuẩn hiếu khí đường ruột, vai trò của E.coli trong hội chứng tiêu chảy của lợn con và các phác đồ điều trị
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung
Năm: 2004
9. Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Văn Đức, Đặng Hồng Mai, Nguyễn Vĩnh Phước (1976), Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh vật, tập I và II, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh vật
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Văn Đức, Đặng Hồng Mai, Nguyễn Vĩnh Phước
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 1976
10. Thân Thị Đang, Lê Ngọc Mỹ, Tô Long Thành, Nguyễn thị Kim Lan (2010), “Vai trò kí sinh trùng đường tiêu hóa trong hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và biện pháp phòng trị”, Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y, tập XVII (1), tr.43- 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò kí sinh trùng đường tiêu hóa trong hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và biện pháp phòng trị”," Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y
Tác giả: Thân Thị Đang, Lê Ngọc Mỹ, Tô Long Thành, Nguyễn thị Kim Lan
Năm: 2010
11. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng (1985), Bệnh đường tiêu hoá ở lợn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đường tiêu hoá ở lợn
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1985
12. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (1996), Bệnh ở lợn nái và lợn con, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 57 - 147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn nái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
13. Trần Đức Hạnh (2011), “Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Salmonella phân lập từ lợn con sau cai sữa bị tiêu chảy và thử nghiệm chế vắc xin phòng bệnh”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XVIII, tr. 38 - 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của vi khuẩn "Salmonella" phân lập từ lợn con sau cai sữa bị tiêu chảy và thử nghiệm chế vắc xin phòng bệnh”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Trần Đức Hạnh
Năm: 2011
14. Trần Đức Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên, Cù Hữu Phú (2011), “Kết quả phân lập, xác định đặc tính sinh học và serotyp các chủng Salmonella spp. ở lợn con tiêu chảy tại một số tỉnh phía Bắc”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XVIII (6), tr. 36 - 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả phân lập, xác định đặc tính sinh học và serotyp các chủng "Salmonella "spp. ở lợn con tiêu chảy tại một số tỉnh phía Bắc”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Trần Đức Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên, Cù Hữu Phú
Năm: 2011
16. Nguyễn Ngọc Hải (2010), “Vắc xin chuồng (autovaccine) phòng bệnh tiêu chảy do E.coli trên heo con theo mẹ”, Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y, tập XVII (2), tr. 47- 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vắc xin chuồng (autovaccine) phòng bệnh tiêu chảy do "E.coli" trên heo con theo mẹ”, "Tạp chí khoa học kĩ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hải
Năm: 2010
17. Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho (1999), “Một số kết quả nghiên cứu tính kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh trong thú y”, Kết quả nghiên cứu KHKT khoa CNTY (1996 - 1998), NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 134 - 138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu tính kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh trong thú y”, "Kết quả nghiên cứu KHKT khoa CNTY (1996 - 1998)
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
18. Bùi Quý Huy (2003), Sổ tay phòng chống bệnh từ động vật lây sang người - Bệnh do E.coli, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 30 - 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phòng chống bệnh từ động vật lây sang người - Bệnh do E.coli
Tác giả: Bùi Quý Huy
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
19. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Ngân, Lê Minh (2006a), “Vai trò của ký sinh trùng đường tiêu hoá trong hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa tại Thái Nguyên”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XIII (3), tr. 36 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của ký sinh trùng đường tiêu hoá trong hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa tại Thái Nguyên”," Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
20. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Ngân, Lê Minh (2006b), “Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Thái Nguyên”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XIII (4), tr. 92 - 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn tại Thái Nguyên”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
21. Nguyễn Thị Kim Lan, La Văn Công, Nguyễn Thị Ngân, Lê Minh (2009), “Tình hình bệnh tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và tỷ lệ nhiễm giun sán ở lợn tiêu chảy tại Thái Nguyên”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập XVI (1), tr 36- 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và tỷ lệ nhiễm giun sán ở lợn tiêu chảy tại Thái Nguyên”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, La Văn Công, Nguyễn Thị Ngân, Lê Minh
Năm: 2009
22. Phạm Sỹ Lăng, Phạm Địch Lân, Trương Văn Dung (1997), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 193 - 195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phạm Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w