1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình trồng rừng sản xuất keo lai (Acacia Hybrids) tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)

92 338 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình trồng rừng sản xuất keo lai (Acacia Hybrids) tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình trồng rừng sản xuất keo lai (Acacia Hybrids) tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình trồng rừng sản xuất keo lai (Acacia Hybrids) tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình trồng rừng sản xuất keo lai (Acacia Hybrids) tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình trồng rừng sản xuất keo lai (Acacia Hybrids) tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình trồng rừng sản xuất keo lai (Acacia Hybrids) tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình trồng rừng sản xuất keo lai (Acacia Hybrids) tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

ĐINH THẾ THÀNH

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA

MỘT SỐ MÔ HÌNH TRỒNG RỪNG SẢN XUẤT KEO LAI (ACACIA HYBRIDS) TẠI HUYỆN

CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 60 62 02 01

Người hướng dẫn khoa học: TS DƯƠNG VĂN THẢO

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học

Thái Nguyên, ngày tháng 10 năm 2017

Tác giả

Đinh Thế Thành

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Được sự nhất trí của Đại học Thái Nguyên, Khoa sau Đại học trường

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và TS.Dương Văn Thảo đã hướng dẫn cho

Tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình trồng rừng sản xuất Keo lai (Acacia hybrids) tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn”

Để hoàn thành luận văn, Tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi của Trường Đại học Thái Nguyên, tập thể thầy cô giáo khoa Lâm nghiệp, phòng Đào tạo Sau Đại học; Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Kiểm lâm Bắc Kạn, Chi cục Lâm nghiệp Bắc Kạn; UBND huyện Chợ Mới, UBND các xã Nông Thịnh, Thanh Bình, Quảng Chu huyện Chợ Mới,

tỉnh Bắc Kạn Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Dương Văn Thảo đã

hướng dẫn, chỉ bảo Tôi nhiệt tình và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp này Cảm ơn các thầy, cô giáo, các cơ quan, đơn vị, cá nhân; gia đình, người thân, bạn bè đã quan tâm giúp đỡ Tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian hoàn thành luận văn

Với trình độ, năng lực và thời gian có hạn, mặc dù đã hết sức cố gắng song không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và các bạn để bản luận văn của tôi được hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng 10 năm 2017

Tác giả

Đinh Thế Thành

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU vii

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Mục tiêu nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tình hình nghiên cứu rừng trồng trên thế giới 4

1.1.1 Nghiên cứu chọn tạo giống trong rừng trồng sản xuất 4

1.1.2 Nghiên cứu về bón phân trong rừng trồng sản xuất 4

1.1.3 Nghiên cứu về mật độ trong rừng trồng sản xuất 5

1.1.4 Nghiên cứu về điều kiện lập địa trong trồng rừng sản xuất 5

1.1.5 Nghiên cứu về chính sách và thị trường 6

1.2 Tình hình nghiên cứu rừng trồng ở Việt Nam 7

1.2.1 Nghiên cứu về giống cây rừng 8

1.2.2 Nghiên cứu về phân bón trong trồng rừng sản xuất 9

1.2.3 Nghiên cứu về mật độ trong trồng rừng sản xuất 10

1.2.4 Nghiên cứu về lập địa 11

1.2.5 Nghiên cứu về chính sách và thị trường 12

1.3 Những nghiên cứu về cây Keo lai 13

1.3.1 Thông tin chung về cây Keo lai 13

1.3.2 Những nghiên cứu về sinh trưởng của Keo lai trên thế giới 14

1.3.3 Những nghiên cứu về sinh trưởng cây Keo lai ở nước ta 15

Trang 6

1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 17

1.4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 17

1.4.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 21

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26

2.2 Nội dung nghiên cứu 26

2.2.1 Đánh giá thực trạng rừng trồng Keo lai tại khu vực nghiên cứu 26

2.2.2 Đánh giá khả năng sinh trưởng và trữ lượng của rừng trồng Keo lai theo cấp tuổi 26

2.2.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế của rừng trồng Keo lai tại địa bàn nghiên cứu 27

2.2.4 Đề xuất các giải pháp phát triển 27

2.3 Phương pháp nghiên cứu 27

2.3.1 Phương pháp tiếp cận 27

2.3.2 Phương pháp điều tra, đánh giá 28

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Đánh giá thực trạng rừng trồng Keo lai tại khu vực nghiên cứu 31

3.1.1 Lịch sử phát triển rừng trồng Keo lai tại khu vực nghiên cứu 31

3.1.2 Diện tích rừng trồng Keo lai phân theo cấp tuổi (3,4,5) tại khu vực nghiên cứu 33

3.1.3 Đánh giá các yếu tố tại khu vực nghiên cứu rừng trồng Keo lai 36

3.1.4 Các cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển rừng trồng Keo lai 40

3.2 Đánh giá khả năng sinh trưởng và trữ lượng của rừng trồng Keo lai theo cấp tuổi 41

3.2.1 Khả năng sinh trưởng về đường kính, chiều cao theo cấp tuổi của cây Keo lai 41

Trang 7

3.2.2 Đánh giá trữ lượng theo cấp tuổi của cây Keo lai 44

3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế của rừng trồng Keo lai tại địa bàn nghiên cứu 45

3.3.1 Xác định chi phí đầu tư cho 01 ha rừng trồng Keo lai 45

3.3.2 Xác định thu nhập cho 01 ha rừng trồng Keo lai 46

3.3.3 Xác định hiệu quả kinh tế cho 01 ha rừng trồng Keo lai 48

3.4 Đề xuất các giải pháp phát triển 49

3.4.1 Giải pháp về kỹ thuật lâm sinh 49

3.4.2 Giải pháp lựa chọn lập địa 51

3.4.3 Giải pháp về kinh tế - xã hội 52

3.4.4 Giải pháp về thông tin, tuyên truyền phổ cập 53

KẾT LUẬN 55

Kết luận 55

Kiến nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BCR Tỷ suất thu nhập và chi phí

BPV Giá trị hiện tại của thu nhập

CPV Giá trị hiện tại của chi phí

D Đường kính trung bình

D1.3 Đường kính thân cây tại vị trí 1,3m

Dt Đường kính tán

FAO Tổ chức Nông lương quốc tế

H Chiều cao trung bình

Hvn Chiều cao vút ngọn

IRR Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn NPV Giá trị lợi nhuận ròng

OTC Ô tiêu chuẩn

RSX Rừng sản xuất

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 1.1 Phân loại đất đai theo đơn vị hành chính huyện Chợ Mới 21

Bảng 1.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Chợ Mới từ năm 2012 - 2016 22

Bảng 1.3 Tình hình thu nhập kinh tế của huyện Chợ Mới từ năm 2012 - 2016 23

Bảng 3.1 Tổng hợp diện tích rừng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 33

Bảng 3.2 Cơ cấu diện tích rừng và đất của huyện Chợ Mới 34

Bảng 3.3 Diện tích loài cây phân theo cấp tuổi của huyện Chợ Mới 35

Bảng 3.4 Biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng rừng trồng Keo lai 39

Bảng 3.5 Sinh trưởng về đường kính (D1.3) và chiều cao (Hvn) của Keo lai tại khu vực nghiên cứu 03 xã Nông Thịnh, Thanh Bình, Quảng Chu huyện Chợ Mới 42

Bảng 3.6 Trữ lượng của Keo lai qua các cấp tuổi 44

Bảng 3.7 Tổng chi phí 01 ha rừng trồng Keo lai qua các cấp tuổi 46

Bảng 3.8 Thu nhập cho 01 ha rừng trồng Keo lai qua các cấp tuổi 46

Bảng 3.9 Bảng cân đối thu nhập và chi phí cho 1 ha rừng trồng 47

Bảng 3.10 Biểu dự đoán hiệu quả kinh tế cho 01 ha rừng trồng Keo lai qua các cấp tuổi 48

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài 27 Hình 3.1 Biểu đồ sinh trưởng đường kính và chiều cao của Keo lai qua các

cấp tuổi 43

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Rừng trồng sản xuất có vị trí chiến lược rất quan trọng trong phát triển lâm nghiệp ở nước ta Ngoài việc góp phần đáng kể vào việc nâng độ che phủ của rừng thì rừng sản xuất (RSX) còn là nguồn cung cấp gỗ chủ yếu cho các ngành chế biến, đồng thời góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu hộ dân sống trong rừng và gần rừng

Trong những năm gần đây sự thiếu hụt về nhu cầu gỗ phục vụ cho các ngành công nghiệp giấy, ván dăm và đóng đồ gia dụng khác ngày càng trở nên khan hiếm, do vậy việc mở rộng diện tích trồng rừng với các loài cây mọc nhanh là một yêu cầu cấp thiết Đây được xem là một chiến lược để bù đắp sự thiếu hụt nhu cầu về gỗ và đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng trên thị trường bao gồm cả nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Và loài cây

được đề cập đến và quan tâm nhiều đến đó là Keo lai (Acacia hybrids) Keo lai

là 1 trong những loài cây trồng chính để trồng rừng sản xuất đã được Bộ NN&PTNT công nhận tại Thông tư số 44/2015/TT-BNNPTNT ngày 23 tháng

11 năm 2015 [3] Keo lai không chỉ là giống có ưu thế sinh trưởng nhanh, biên

độ sinh thái rộng, có khả năng thích ứng với nhiều loại đất mà còn có khả năng cải tạo đất, cải thiện môi trường sinh thái Tính đến ngày 31/12/2016, diện tích rừng toàn quốc hiện có 14,377 triệu ha, trong đó rừng tự nhiên là 10,242 triệu

ha và rừng trồng là 4,135 triệu ha (chủ yếu là rừng Keo) (Quyết định số

1819/QĐ-BNN-TCLN ngày 16/5/2017)[2]

Tỉnh Bắc Kạn, trong những năm trở lại đây diện tích trồng rừng ngày càng được mở rộng thông qua các dự án như dự án 661 (Dự án 5 triệu ha rừng), dự án 147/2007/QĐ-TTg và đặc biệt là Dự án bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2011-2020 Trong giai đoạn 1999-2015 toàn tỉnh trồng được 117.143,49

ha, trong đó nhóm các loài Keo trồng được 22.765,26 ha (Keo tai tượng 21.096,30

ha; Keo lai 1.669,23 ha), (Chi cục lâm nghiệp Bắc Kạn, 2016) [7]

Trang 12

Chợ Mới là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Kạn, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 60.675,12 ha Trong đó, diện tích đất sản xuất lâm nghiệp

là 51.080,03 ha, chiếm 84,19% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện (Báo

cáo kết quả thống kê đất đai năm 2016 tỉnh Bắc Kạn) [39]

Mỗi năm, huyện trồng mới được trên 1.300 ha và là một trong những địa phương dẫn đầu tỉnh về công tác trồng rừng, 80% người dân của huyện Chợ Mới sống bằng nghề sản xuất nông - lâm nghiệp, trong đó lâm nghiệp chiếm vị trí chủ lực Trên địa bàn Huyện có các mô hình trồng rừng sản xuất cũng đã hình thành và khá đa dạng, trong đó đặc biệt chú trọng đến các

chương trình trồng rừng nguyên liệu và trồng rừng sản xuất đã được triển khai một cách đồng bộ và bài bản từ hơn 10 năm nay Hiện nhu cầu nguyên liệu

phục vụ cho dây chuyền chế biến gỗ của Công ty Cổ phần Sahabak đóng trên địa bàn huyện khoảng 230.000m3 gỗ, tương đương với giá trị 200 tỷ đồng/năm cho người trồng rừng Bên cạnh đó còn có hàng chục cơ sở tư nhân tham gia vào thị trường thu mua gỗ để chế biến gỗ bóc, tập trung tại các xã, Thanh Mai, Nông Hạ, Như Cố (Bích Ngọc, 2014) [32]

Xác định lâm nghiệp là thế mạnh của tỉnh Bắc Kạn, thực hiện quyết định số 147/2007/QĐ - TTg của Thủ tướng chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 - 2015, Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 22/2011/NQ-HĐND ngày 07/10/2011 về việc phê duyệt chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất một số cây trồng trong phát triển nông nghiệp chính và trồng rừng sản xuất tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2012 - 2015 Đây

là những chính sách thiết thực nhằm khuyến khích nhân dân tham gia trồng rừng, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho cấp ủy, chính quyền các cấp trong tỉnh Bắc Kạn nói chung và huyện Chợ Mới nói riêng

Hiện nay việc tiêu thụ gỗ Keo trên địa bàn trong và ngoài tỉnh rất lớn,

để có cơ sở chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ các loại cây trồng khác sang trồng Keo lai là rất cần thiết và cấp bách

Trang 13

Với thực trạng đó, để đưa Keo lai trở thành loài cây trồng chính trong

cơ cấu cây lâm nghiệp của huyện nhằm đáp ứng chiến lược phát triển lâm nghiệp của tỉnh đang tập trung vào vấn đề tái cơ cấu ngành lâm nghiệp về nâng cao giá trị sản lượng trên một đơn vị diện tích Đây chính là lý do thực

hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình trồng rừng sản xuất Keo lai (Acacia hybrids) tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn”

2 Mục đích nghiên cứu

Có được cơ sở khoa học và thực tiễn để góp phần phát triển bền vững rừng trồng Keo lai tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá được thực trạng rừng trồng Keo lai ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

- Đánh giá được hiệu quả kinh tế của mô hình rừng trồng Keo lai

- Đề xuất được phương hướng và giải pháp phát triển rừng trồng Keo lai tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

4 Ý nghĩa của đề tài

4.1 Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học

- Tạo điều kiện được tiếp xúc, làm quen với thực tế công tác nghiên cứu khoa học

- Bổ sung phương pháp nghiên cứu, đánh giá hiệu quả rừng trồng Keo lai

- Kết quả nghiên cứu bổ sung cho cơ sở giúp các nhà sản xuất lâm nghiệp có các biện pháp, kế hoạch phát triển loài Keo lai tại địa phương có hiệu quả cao

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đánh giá được thực trạng phát triển của loài Keo lai để từ đó đưa ra các giải pháp phát triển cho rừng trồng Keo lai nói riêng và rừng trồng nói chung

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu rừng trồng trên thế giới

Trồng rừng là 1 môn khoa học quan trọng trong công tác xây dựng rừng, nên các nhà khoa học ở các nước trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu

từ rất sớm, có thể điểm qua 1 số công trình nghiên cứu điển hình thuộc các chuyên đề sau đây:

1.1.1 Nghiên cứu chọn tạo giống trong rừng trồng sản xuất

Giống là một vấn đề quan trọng bậc nhất để nâng cao năng suất rừng trồng, hiểu được vấn đề đó nên nhiều nước trên thế giới đã tập trung chú trọng

về vấn đề cải thiện giống cây rừng và đã đạt được những thành tựu đáng kể

Tại Swaziland cũng đã chọn đựơc giống Pinus patala sau 15 năm tuổi đạt 19m3/ha/năm (Pandey, D 1983) [46]

Ở Zimbabwe cũng đã chọn được giống E.grandis đạt từ

35-40m3/ha/năm, giống E.urophylla đạt trung bình tới 55m3/ha/năm, có nơi lên đến 70m3/ha/năm (Campinhos và Ikenmori, 1988) [42]

1.1.2 Nghiên cứu về bón phân trong rừng trồng sản xuất

Bón phân cho cây trồng lâm nghiệp là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, đặc biệt là ở những nơi đất xấu Trên thế giới, việc áp dụng bón phân cho rừng trồng bắt đầu từ những năm 1950 Trong vòng 1 thập kỷ, diện tích rừng được bón phân

đã tăng lên 100.000 ha/năm ở Nhật Bản, Thụy Điển và Phần Lan Đến năm

1980, diện tích rừng được bón phân trên thế giới đã đạt gần 10 triệu ha (Ngô Đình Quế, 2004) [33]

Qua những nghiên cứu ta thấy rõ rằng phân bón đã mang lại những hiệu quả rõ rệt như nâng cao tỷ lệ sống, nâng cao chất lượng, sản lượng, tăng khả năng chống chọi với điều kiện không thuận lợi của môi trường đẻ cây phát triển tốt hơn

Trang 15

1.1.3 Nghiên cứu về mật độ trong rừng trồng sản xuất

Mật độ trồng rừng ban đầu cũng là một trong những biện pháp kỹ thuật lâm sinh quan trọng có ảnh hưởng đến năng suất rừng trồng Đối với mỗi dạng lập địa, mỗi loài cây trồng, mỗi mục đích kinh doanh rừng đều có cách sắp xếp, bố trí mật độ khác nhau Về vấn đề này đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu với nhiều loài cây khác nhau trên các dạng lập địa khác nhau, điển hình là các công trình nghiên cứu của Julian Evans (1992) [45] khi nghiên

cứu mật độ trồng rừng cho Bạch đàn E deglupta ở Papua New Guinea đã bố

trí 4 công thức có mật độ trồng khác nhau (2.985 cây/ha; 1.680 cây/ha; 1.075 cây/ha; 750 cây/ha), số liệu thu được sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm của mật độ, nhưng tổng tiết diện ngang (G) lại tăng theo chiều tăng của mật độ, điều này

có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp tuy lượng tăng trưởng về đường kính cao hơn nhưng trữ lượng gỗ cây đứng vẫn nhỏ hơn những công thức trồng ở mật

độ cao Trong một nghiên cứu khác với thông P caribeae ở Quensland -

Australia, tác giả cũng đã thí nghiệm với 5 công thức mật độ khác nhau (2.200 cây/ha; 1.680 cây/ha; 1.330 cây/ha; 1.075 cây/ha và 750 cây/ha), sau hơn 9 năm trồng cũng thu được kết quả tương tự, nhưng ở các công thức trồng mật độ thấp (750 cây/ha - 1.075 cây/ha) có đường kính trung bình đạt từ 20,1 - 20,9cm, số cây đạt đường kính (D1.3) > 10cm chiếm từ 84% - 86%; Ở công thức mật độ cao đường kính chỉ đạt từ 16,6 - 17,8cm, số cây có đường kính (D1.3) > 10cm chỉ chiếm từ 71% - 76%

Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy mật độ trồng ảnh hưởng khá rõ đến chất lượng sản phẩm và chu kỳ kinh doanh, vì vậy cần phải căn cứ vào mục tiêu kinh doanh cụ thể để xác định mật độ trồng cho thích hợp

1.1.4 Nghiên cứu về điều kiện lập địa trong trồng rừng sản xuất

Kết quả nghiên cứu của tổ chức Nông - Lương Quốc tế (FAO, 1994)

Trang 16

[43] ở các nước vùng nhiệt đới đã chỉ ra rằng: Khả năng sinh trưởng của rừng trồng, đặc biệt là rừng trồng cây nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc rất rõ vào

4 nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là: Khí hậu, địa hình, loại đất và hiện trạng thực bì

1.1.5 Nghiên cứu về chính sách và thị trường

Hiệu quả của công tác trồng rừng sản xuất trong đó hiệu quả về kinh tế

là chủ yếu, sản phẩm rừng trồng phải có được thị trường, phục vụ được cả mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài, đồng thời phương thức canh tác phải phù hợp với kiến thức bản địa và dễ áp dụng với người dân Theo nghiên cứu của Thomas Enters và Goncalves J.L.M (2004) [44], để phát triển trồng rừng sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao, ngoài sự tập trung đầu tư về kinh tế và kỹ thuật còn phải nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chính sách và thị trường Nhận biết được hai vấn đề then chốt, đóng vai trò quyết định đối với quá trình sản xuất nên tại các nước phát triển như Mỹ, Canada, Nhật nghiên cứu kinh tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tập trung vào thị trường

và khả năng cạnh tranh của sản phẩm Trên quan điểm “Thị trường là chìa khoá của quá trình sản xuất”, các nhà kinh tế lâm nghiệp phân tích rằng, chính thị trường sẽ trả lời câu hỏi sẽ phải sản xuất cái gì và sản xuất cho ai? Khi thị trường có nhu cầu và lợi ích của người sản xuất được đảm bảo thì sẽ thúc đẩy được sản xuất phát triển tạo ra sản phẩm hàng hoá Dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực tế trong những năm qua Liu Jinlong (2004) đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyết khích tư nhân phát triển trồng rừng như:

- Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá

- Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của nhà nước

- Giảm thuế đánh vào các lâm sản

- Đầu tư tài chính cho tư nhân trồng rừng

Trang 17

- Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân để phát triển trồng rừng

Những công cụ mà tác giả đề xuất tương đối toàn diện từ khâu quản lý chung về vấn đề đất đai, thuế và cả mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người dân Có thể nói đây không chỉ là những đòn bẩy thúc đẩy tư nhân tham gia trồng rừng mà còn gợi ý những định hướng quan trọng cho phát triển rừng trồng sản xuất tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam

Các tác giả trên thế giới cũng quan tâm nhiều đến các hình thức khuyến khích trồng rừng Điển hình có những nghiên cứu của Narong Mahanop (2004) ở Thailand, Ashadi và Nina Mindawati (2004) ở Indonesia Qua những nghiên cứu của mình, các tác giả cho biết hiện nay 3 vấn đề được xem

là quan trọng khuyến khích người dân tham gia trồng rừng tại các quốc gia Đông Nam Á chính là:

- Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất

- Quy định rõ đối tượng hưởng lợi từ trồng rừng

- Nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân

Đây cũng là những vấn đề mà các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam đã và đang quan tâm giải quyết để thu hút nhiều thành phần tham gia trồng rừng sản xuất, đặc biệt là khơi thông nguồn vốn tư nhân, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cho trồng rừng Vì vậy, quan điểm chung để phát triển trồng rừng sản xuất có hiệu quả kinh tế cao là trồng rừng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và đa dạng hoá các hình thức sở hữu trong mỗi loại hình tổ chức kinh doanh sản xuất rừng trồng

1.2 Tình hình nghiên cứu rừng trồng ở Việt Nam

Trong những năm qua, ngành lâm nghiệp nước ta đã có những bước tiến đáng kể Các chương trình, dự án trồng rừng với quy mô lớn được thực hiện trên khắp cả nước với nhiều mô hình rừng trồng sản xuất được thiết lập,

Trang 18

nhiều biện pháp kỹ thuật đã được đúc rút xây dựng thành quy trình, quy phạm, phục vụ đắc lực cho công tác trồng rừng trong đó có trồng rừng sản xuất Bên cạnh đó, công tác quản lý, hoạt động nghiên cứu khoa học về xây dựng và phát triển rừng luôn được quan tâm

1.2.1 Nghiên cứu về giống cây rừng

Công tác giống cây rừng trong những năm gần đây phục vụ cho sản xuất trên phạm vi cả nước đã đạt được những kết quả rõ rệt, điển hình là những công trình trong nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, đặc biệt là những công trình nghiên cứu của các tác giả Lê Đình Khả (1999) [26] đã nghiên cứu tuyển chọn các dòng Keo lai tự nhiên, Bạch đàn có năng suất cao và khả năng kháng bệnh Hơn nữa, đã lai giống nhân tạo thành công cho các loài Keo và Bạch đàn, kết quả đã chọn tạo ra các dòng lai có khả năng sinh trưởng gấp từ 1,5 - 2,5 lần các giống bố mẹ, năng xuất rừng trồng thử nghiệm ở một số vùng đạt từ 20 - 30 m3/ha/năm, có nơi đạt tới 40 m3/ha/năm

Năm 1993, Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ NN &PTNT) đã có Quyết định ban hành "Qui phạm xây dựng rừng giống và vườn giống", "Qui phạm xây dựng rừng giống chuyển hóa", trong đó qui định rõ các tiêu chuẩn về chọn lọc xuất xứ giống và cây giống cũng như các phương thức khảo nghiệm giống và xây dựng rừng giống, vườn giống (Lê Đình Khả, 2003) [27]

Hiện nay, hầu hết các vùng kinh tế trọng điểm đều có vườn ươm công nghiệp với quy mô sản xuất hàng triệu cây một năm Những thành công trong công tác nghiên cứu giống cây rừng đã tạo những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển rừng trồng sản xuất ở nước ta trong những năm qua Tuy nhiên, những giống cây mới có năng suất cao chủ yếu được thử nghiệm và phát triển chủ yếu ở một số tỉnh của các vùng như Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Đối với vùng núi phía Bắc mới chỉ được phát triển trong phạm vi hẹp Vì vậy, đưa nhanh những giống mới và kỹ thuật nhân

Trang 19

giống vô tính vào sản xuất là rất cần thiết nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả công tác trồng rừng, thu hút nhiều thành phần kinh tế vào xây dựng rừng Đây cũng là mong muốn và là chủ trương của chính quyền địa phương các cấp của tỉnh Bắc Kạn nói chung và huyện Chợ Mới nói riêng

1.2.2 Nghiên cứu về phân bón trong trồng rừng sản xuất

Phân bón là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh quan trọng nhằm làm ổn định, tăng năng xuất và chất lượng rừng trồng, phân bón bổ sung dinh dưỡng cho đất và hỗ trợ cho cây trồng sinh trưởng nhanh trong giai đoạn đầu, làm tăng sức đề kháng của cây đối với các điều kiện bất lợi của môi trường

Trên thực tế cho thấy, bón phân nhằm bổ sung dinh dưỡng cho đất và

hỗ trợ cho cây trồng sinh trưởng nhanh chóng trong giai đoạn đầu, làm tăng sức đề kháng của cây đối với các điều kiện bất lợi của môi trường Ở các nước có nền Lâm nghiệp phát triển cao đều áp dụng bón phân cho rừng trồng

và đạt được chỉ số sử dụng phân bón cao, từ 40 - 50% đối với phân đạm và khoảng 30% đối với phân lân (Ngô Đình Quế, 2004) [33]

Tại Việt Nam, về vấn đề này đã có rất nhiều công trình đi sâu nghiên cứu, điển hình có công trình nghiên cứu bón phân cho Keo lai ở Cẩm Quỳ (Ba

Vì - Hà Tây cũ) của Lê Đình Khả, Hồ Quang Vinh (1998) [19] Các thí nghiệm được thực hiện trên đất feralit phát triển trên đá mẹ Sa thạch có tầng đất mỏng (30 - 50cm), tầng đá ong nông có nơi chỉ cách mặt đất 30cm, pH Kcl = 3,5 - 4,7, nghèo đạm (0,12 - 0,18%), thiếu lân và can xi Thí nghiệm được tiến hành với biện pháp thâm canh cày đất toàn diện và bón phân với 8 công thức bón phân khác nhau Kết quả là công thức bón phân phối hợp 2kg phân chuồng với 100gam phân Themophotphat cho 1 gốc cây thì cho sinh trưởng tốt nhất, tiếp theo là công thức bón 1 kg phân chuồng với 100 gam Themophotphat cho 1 gốc cây Sinh trưởng của Keo lai ở 2 công thức này sau

3 năm trồng có thể tích vượt trội so với công thức đối chứng là 78,7 - 45,3%

Trong một nghiên cứu khác với 14 ô tiêu chuẩn của rừng trồng Keo lai

từ 1,5 - 5,5 năm tuổi ở 5 tỉnh khác nhau, Nguyễn Đức Minh và Cs (2004) [30]

Trang 20

đã chỉ ra rằng rừng trồng được bón phân tốt hơn rừng trồng không được bón phân mặc dù Keo lai là cây cố định đạm Tuy nhiên, ở giai đoạn rừng non cũng cần bón một lượng phân nhất định để thúc đẩy quá trình sinh trưởng Ngoài ra, tác giả còn cho thấy rừng trồng Keo lai được bón lót 100g NPK/cây

và bón thúc 100g NPK/cây vào năm thứ 2 cho lượng tăng trưởng cao hơn rừng chỉ bón lót khi trồng

Như vậy việc bón phân là rất cần thiết đối với trồng rừng và điều quan trọng nữa là phải xác định đúng loại phân, đúng thời vụ, đúng liều lượng Bón phân cho rừng trồng là một trong những biện pháp kỹ thuật thâm canh đã được nghiên cứu nhiều nhất Các tác giả đều kết luận rằng phân bón có ảnh hưởng khá rõ đến sinh trưởng của các loài cây trồng, đặc biệt là đối với các loài cây trồng rừng nguyên liệu

1.2.3 Nghiên cứu về mật độ trong trồng rừng sản xuất

Mật độ trồng rừng của mỗi loài cây trên mỗi loại lập địa khác nhau với mục đích kinh doanh khác nhau là không giống nhau Để làm rõ vấn đề này, Phạm Thế Dũng và CS (2004) [14] khi đánh giá năng suất rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ, đã khảo sát trên 4 mô hình có mật độ trồng ban đầu khác nhau (952 cây/ha, 1.111 cây/ha, 1.142 cây/ha và 1.666 cây/ha) Kết quả phân tích cho thấy, sau 3 năm trồng cho năng suất cao nhất ở rừng có mật độ 1.666 cây/ha (21m3/ha/năm); năng suất thấp nhất ở rừng có mật độ 952 cây/ha (9,7m3/ha/năm) Tác giả đã khuyến cáo rằng đối với Keo lai ở khu vực Đông Nam Bộ nên bố trí mật độ ban đầu trong khoảng 1.111cây/ha - 1.666cây/ha là thích hợp nhất Đối với rừng trồng làm nguyên liệu giấy nên thiết kế mật độ trồng ban đầu là 1.428 cây/ha; rừng trồng phục vụ cho mục đích lấy gỗ nhỡ và nhỏ nên trồng với mật độ 1.111 cây/ha Tại một nghiên cứu khác của Nguyễn Huy Sơn (2006) [37] về xác định mật độ trồng Keo lai thích hợp trên đất feralit phát triển trên phiến thạch sét ở Quảng Trị Các thí nghiệm được bố trí với 3

Trang 21

công thức mật độ khác nhau (1.330 cây/ha, 1.660 cây/ha, 2.500 cây/ha) Kết quả phân tích cho thấy sau 1 năm trồng tỷ lệ sống khá cao, đạt từ 98,15 - 100%, sau 2 năm tỷ lệ sống ở các công thức thí nghiệm có giảm nhưng vẫn đạt từ 91,67 - 93,52% Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng sinh trưởng tốt nhất ở công thức mật độ 1.660cây/ha và kém nhất ở công thức mật độ 2.500 cây/ha

Quy trình kỹ thuật trồng rừng thâm canh cung cấp nguyên liệu giấy ở các tỉnh miền núi phía Bắc đã qui định mật độ trồng cho một số loài, trong đó mật độ trồng các loại Keo từ 1.110 - 1.660 cây/ha (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2005) [1]

Mặc dù các quy trình, quy phạm trên đã quy định các loại mật độ cụ thể cho một số loại rừng trồng song đó cũng chỉ mang tính chất tạm thời, chưa ổn định và chi tiết cho từng vùng Do vậy căn cứ vào điều kiện lập địa và mục đích kinh doanh nên có sự lựa chọn hợp lý trong việc bố trí mật độ rừng trồng

1.2.4 Nghiên cứu về lập địa

Nghiên cứu điều kiện lập địa tức là nghiên cứu mối quan hệ giữa khả năng sinh trưởng của thực vật rừng với các yếu tố của môi trường thông qua khí hậu, địa hình, đất đai Xác định lập địa nghĩa là tìm hiểu các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng và quyết định tới sự hình thành các kiểu quần thể thực vật khác nhau và năng suất sinh trưởng của chúng (Ngô Quang Đê và Cs, 2001) [15] Đề cập đến vấn đề này, tại Việt Nam đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu, điển hình là các công trình nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm và Cs (1994) [36], khi đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp vùng Đông Nam

Bộ, các tác giả đã căn cứ vào 3 nội dung cơ bản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau đó là đơn vị sử dụng đất, tiềm năng sản xuất của đất và độ thích hợp của cây trồng Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng vùng Đông Nam Bộ có tiềm năng sản xuất kinh doanh lâm nghiệp khá lớn, diện tích đất thích hợp để phát triển các loài cây lâm nghiệp chiếm từ 70-80%, đặc biệt là các loài cây cung cấp gỗ nguyên liệu công nghiệp như một số loài Keo và Bạch đàn

Trang 22

Như vậy, xác định điều kiện lập địa thích hợp cho mỗi loài cây trồng là một trong những điều kiện quan trọng để nâng cao năng suất rừng trồng

1.2.5 Nghiên cứu về chính sách và thị trường

Những nghiên cứu về kinh tế và chính sách phát triển trồng rừng sản xuất ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã được quan tâm nhiều hơn, song cũng mới chỉ tập trung vào một số vấn đề như: phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế của cây trồng, sử dụng đất lâm nghiệp và một số nghiên cứu nhỏ về thị trường Có thể kể đến các nghiên cứu của tác giả: Võ Nguyên Huân (1997) [20], đánh giá hiệu quả giao đất giao rừng ở Thanh Hoá; từ việc nghiên cứu các loại hình chủ rừng sản xuất đưa ra khuyến nghị các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nội lực của chủ rừng trong quản lý và sử dụng bền vững Kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra những khó khăn và hạn chế của chính sách giao đất khoán rừng đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giao đất lâm nghiệp và khoán bảo vệ rừng

Bên cạnh đó, chính phủ đã ban hành hàng loạt các chính sách về quản

lý rừng và đất lâm nghiệp như: Luật đất đai 2013, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và các văn bản hướng dẫnluật, các chính sách về đầu tư, tín dụng như Luật tổ chức tín dụng 2010, Nghị định 75/2011/NĐ-CP, Nghị định 54/2013/NĐ-CP, tín dụng ưu đãi, tín dụng thương mại, chính sách thuế, chính sách hưởng lợi Các chính sách trên đã có tác động mạnh tới phát triển sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt là trồng rừng sản xuất

Ngô Văn Hải (2004) [17], trong nghiên cứu về yếu tố đầu vào và đầu ra trong sản xuất nông lâm sản hàng hoá ở miền núi phía Bắc, tác giả đã phân tích những lợi thế cũng như bất lợi và hiệu quả của sản xuất nông sản hàng hoá ở miền núi

Nghiên cứu thị trường lâm sản cũng được nhiều tác giả quan tâm vì đây

là vấn đề có quan hệ mật thiết tới trồng rừng, có thể điểm qua một số công

Trang 23

trình nghiên cứu của Võ Đại Hải (2003) [18], trong nghiên cứu về yếu tố đầu vào và đầu ra trong sản xuất nông lâm sản hàng hoá ở miền núi phía Bắc, tác giả đã phân tích những lợi thế cũng như bất lợi và hiệu quả của sản xuất nông sản hàng hoá ở miền núi Tác giả cũng chỉ ra rằng để phát triển thị trường lâm sản rừng trồng cần phát triển công nghệ chế biến lâm sản cũng như hình thành được phương thức liên doanh liên kết giữa người dân và xí nghiệp lâm nghiệp

1.3 Những nghiên cứu về cây Keo lai

1.3.1 Thông tin chung về cây Keo lai

* Phân loại khoa học

Giới (regnum): Thực vật (Plantate)

Bộ (ordo): Đậu (Fabales)

Họ (familia): Đậu (Fabaceae)

Phân họ (subfamilia): Trinh nữ (Mimosoideae)

Chi (genus): Keo (Acacia)

Loài (species): Keo lai (Acacia hybrids)

* Đặc điểm hình thái: Keo lai là sự kết hợp giữa Keo tai tượng (Acacia

mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) Keo lai là cây gỗ nhỡ

thường xanh cao tới 20-30m, đường kính có thể đạt tới 60 - 80cm Thân tròn thẳng, tám rộng phân cành thấp, vỏ màu xám nâu nứt dọc Cây con dưới một tuổi lá kép lông chim hai lần, cây trưởng thành lá đơn hình trái xoan dài hoặc hình ngọn giáo, đầu tù men thao cuống, phiến lá dày nhẵn bông, có 3 - 5 gân dọc gắn song song chụm lại ở đuôi lá, các gân nhỏ song song xen giữa các gân chính Hoa tự bông dài mọc lẻ hay mọc tập trung ở nách lá hay ở đầu cành Hoa đều lưỡng tính mẫu 4, tràng hoa màu vàng, nhị hoa thường vươn dài ra ngoài hoa Quả đậu xoắn, hạt hình trái xoan, hơi dẹt, màu đen Rễ cây mọc rộng có nhiều nốt sần cố định đạm (Lê Mộc Châu và Vũ Văn Dũng, 1999) [5]

Trang 24

*Đặc điểm sinh thái:

Keo lai là cây mọc nhanh ở vùng Đông Nam Bộ sau 5 năm tuổi Keo lai

có khả năng sinh trưởng nhanh cả về đường kính và chiều cao, đường kính trung bình có thể đạt tới 12,8cm và chiều cao trung bình có thể đạt tới 16,9m Keo lai loài cây ưa sáng, sống được ở nơi nhiệt độ bình quân là 220C tối thích

là 24 - 280C và giới hạn là 400C, lượng mưa 1500 - 2500mm/năm Đất đai chủ yếu trồng trên các loại đất Feralit tầng dày tối thiểu 75cm, đất phù sa cổ, đất xám bạc màu…Mùa ra hoa quả gần như quanh năm (Lê Mộc Châu và Vũ Văn Dũng, 1999) [5]

* Phân bố địa lý: Keo Lai đã xuất hiện trong các rừng Keo tai tượng vào đầu những năm 1990 ở một số vùng nước ta, sau đó được gây trồng để lấy giống ở Ba Vì, Hà Tây Ở nước ta cây Keo lai được gây trồng rộng rãi trên toàn quốc những năm gần đây Cây mọc hầu hết các dạng đất thích hợp nhất

là từ Quảng Bình trở ra

* Giá trị kinh tế: Keo lai thuộc họ đậu nên có tác dụng cải tạo đất tốt,

chống xói mòn Gỗ thẳng màu trắng có vân, có lõi giác phân biệt, gỗ có tác dụng nhiều mặt: Kích thước nhỏ làm nguyên liệu giấy, kích thước lớn sử dụng trong xây dựng, đóng đồ mỹ nghệ, hàng xuất khẩu Gỗ cho nhiệt lượng cao có thể sử dụng làm củi hoặc than chạy máy Cây có hình dáng đẹp có thể trồng làm rừng phong cảnh [5]

1.3.2 Những nghiên cứu về sinh trưởng của Keo lai trên thế giới

Nghiên cứu về hình thái cây Keo lai có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Rufelds (1988) GanE và SimboomLiang (1991) các tác giả đã chỉ ra rằng Keo lai xuất hiện lá giả sớm hơn Keo lá tràm ở cây con lá giả đầu tiên của Keo lá tràm thường xuất hiện ở lá thứ 4 - 5 Keo tai tượng thường xuất hiện ở lá thứ 8 - 9 còn ở Keo lai thì thường xuất hiện ở lá thứ 5 - 6 Bên

Trang 25

cạnh đó là sự phát hiện về tính chất trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm ở các bộ phận sinh sản (Bowen, 1981) [41]

Theo nghiên cứu Rufelds (1987) [48] thì không tìm thấy một sự sai khác nào đáng kể của Keo lai so với các loài bố mẹ Các tính trạng của chúng đều thể hiện tính trung gian giữa hai loài bố mẹ mà không có ưu thế lai thực

sự Tác giả đã chỉ rằng Keo lai hơn Keo tai tượng về độ tròn đều của thân, có đường kính cành nhỏ hơn và khả năng tỉa cành tự nhiên khá hơn Keo tai tượng, song độ thẳng thân, hình dạng tán lá và chiều cao dưới cành lại kém hơn Keo tai tượng Tuy nhiên theo kết quả nghiên cứu Pinso Cyril và Robert Nasi (1991) [47] thì trong nhiều trường hợp cây Keo lai có xuất sứ ở Sapah vẫn giữ được hình dáng đẹp của Keo tai tượng Về ưu thế lai thì có thể có nhưng không bắt buộc vì có thể bị ảnh hưởng của cả 02 yếu tố di truyền lẫn điều kiện lập địa Nghiên cúu cũng cho thấy rằng sinh trưởng của Keo lai tự nhiên đời F1 là tốt hơn, còn từ đời F2 trở đi cây sinh trưởng không đều và trị

số trung bình còn kém hơn cả Keo tai tượng Khi đánh giá về các chỉ tiêu chất lượng của cây Keo lai Pinso và Nasi (1991) [47] thấy rằng độ thẳng của thân, đoạn thân dưới cành, độ tròn đều của thân đều tốt hơn bố mẹ và cho rằng Keo lai rất phù hợp với các chương trình trồng rừng thương mại

1.3.3 Những nghiên cứu về sinh trưởng cây Keo lai ở nước ta

Ở Việt Nam cây Keo lai tự nhiên được Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn

và các cộng sự thuộc Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (RCFTI) phát hiện đầu tiên tại Ba Vì (Hà Tây cũ) và vùng Đông Nam Bộ vào năm 1992 Tiếp theo đó, từ năm 1993 cho đến nay Lê Đình Khả và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu về cải thiện giống cây Keo lai, đồng thời đưa vào khảo nghiệm một số giống Keo lai có năng xuất cao tại Ba Vì (Hà Tây cũ) được ký hiệu là BV Trung tâm cây nguyên liệu giấy Phù Ninh cũng chọn lọc một số dòng được ký hiệu là KL [28, 22, 21, 23]

Trang 26

Lê Đình Khả và cộng sự (1993, 1995, 1997, 2006) [28, 22, 21, 23] khi nghiên cứu về các đặc trưng hình thái và ưu thế lai của Keo lai đã kết luận Keo lai có tỷ trọng gỗ và nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa hai loài bố

mẹ Keo lai có ưu thế lai về sinh trưởng so với Keo tai tượng và Keo lá tràm, điều tra sinh trưởng tại rừng trồng khảo nghiệm 4-5 năm tuổi ở Ba Vì (Hà Tây cũ) cho thấy Keo lai sinh trưởng nhanh hơn Keo tai tượng từ 1,2 đến 1,6 lần

và cao từ 1,3 - 1,8 lần về đường kính, gấp 2 lần về thể tích Tại Sông Mây (Đồng Nai) ở rừng trồng sau 3 năm tuổi Keo lai sinh trưởng nhanh hơn Keo lá tràm 1,3 lần về chiều cao, 1,5 lần về đường kính Một số dòng vừa có sinh trưởng nhanh vừa có các chỉ tiêu chất lượng tốt đã được công nhận là giống Quốc gia và giống tiến bộ kỹ thuật là các dòng BV15, BV10, BV16, BV32, BV33 Khi nghiên cứu sự thoái hoá và phân ly của cây Keo lai, Lê Đình Khả (1997) [24] đã khẳng định: Không nên dùng hạt của cây Keo lai để gây trồng rừng mới Keo lai đời F1 có hình thái trung gian giữa hai loài bố mẹ và tương đối đồng nhất, đến đời F2 Keo lai có biểu hiện thoái hoá và phân ly khá rõ rệt, cây lai F2 sinh trưởng kém hơn cây lai F1 và có biến động lớn về sinh trưởng

Do đó để phát triển giống Keo lai vào sản xuất thì phải dùng phương pháp nhân giống bằng hom hoặc nuôi cấy mô từ những dòng Keo lai tốt nhất đã được công nhận là giống Quốc gia và giống tiến bộ kỹ thuật

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế của rừng trồng thâm canh Keo lai của Đoàn Hoài Nam (2006) [31] ở một số vùng sản xuất kinh tế lâm nghiệp như Bình Dương, Quảng Trị, Gia Lai, Thái Nguyên, kết quả cho thấy tỷ xuất thu hồi vốn nội bộ IRR nằm trong khoảng từ 2,56 - 3,23%, như vậy IRR tính toán được ở các tỉnh lớn hơn 3 lần lãi suất vay đầu tư ưu đãi (5,4%), như vậy, việc kinh doanh rừng trồng Keo lai ở địa bàn nghiên cứu là có lãi

Gần đây, có một số đề tài nghiên cứu về hiện trạng rừng trồng như Phạm Thị Hoài (2008), với đề tài “Nghiên cứu thực trạng rừng trồng sản xuất của

Trang 27

huyện Định Hóa Thái Nguyên và đề xuất các giải pháp phát triển” [19], Phạm Mạnh Hà (2004) với đề tài “Đánh giá hiệu quả của một số mô hình rừng trồng phổ biến ở xã Huơng Phú - Huyện Nam Đông - Tỉnh Thừa Thiên Huế” [16]

Trần Duy Rương (2013) [34] khi đánh giá hiệu quả kinh tế của rừng trồng Keo lai có ở Bình Định đã kết luận hiệu quả kinh tế của Keo lai được trồng ở vùng Nam Trung bộ phụ thuộc vào sự sinh trưởng, nơi nào sinh trưởng tốt thì lợi nhuận cao Rừng trồng Keo lai ở Bình Định sinh trưởng tốt, lợi nhuận ròng (NPV) từ 29,4 đến 37,1 triệu đồng/ha/7 năm, trung bình là 32,3 triệu đồng/ha/7 năm

Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, cũng đã có những nghiên cứu đánh giá hiệu quả rừng trồng Keo lai Có thể kể đến kết quả đánh giá hiệu quả rừng trồng Keo lai ở một số vùng sinh thái tại Việt Nam của Trần Duy Rương (2013) [35] thì doanh thu của mô hình trồng rừng BV10 với luân kỳ kinh doanh 5 năm là 65,8 triệu đồng, luân kỳ 7 năm là 118,936 triệu đồng, luân kỳ 10 năm

là 182,47 triệu đồng/ha

1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu

Chợ Mới là huyện miền núi nằm ở phía Nam tỉnh Bắc Kạn có diện tích

tự nhiên là 60.675,12 ha Trong đó diện tích đất lâm nghiệp có: 56.796,92 ha

chiếm 93,61 % tổng diện tích tự nhiên của huyện (Niên giám thống kê, 2016) [13] Nền sản xuất chính vẫn là nông - lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ đang đầu tư xây dựng Là huyện có tài nguyên rừng và đất rừng phong phú, đây là thế mạnh trong việc phát triển sản xuất lâm nghiệp

1.4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

1.4.1.1 Đặc điểm vị trí địa lý

Huyện Chợ Mới nằm ở phía Nam của tỉnh Bắc Kạn gồm 15 xã và 01 trị trấn Thị trấn Chợ Mới là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá của huyện cách thành phố Bắc Kạn 40 km

Trang 28

Phía Bắc giáp thành phố xã Bắc Kạn và huyện Bạch Thông

Phía Nam giáp huyện Phú Lương và huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên Phía Đông giáp huyện Na Rì

Phía Tây huyện Chợ Đồn

1.4.1.2 Đặc điểm địa hình

Địa hình huyện Chợ Mới có tính chất như vùng chuyển tiếp từ trung du lên miền núi, độ cao bình quân 300m, độ cao thấp dần thành vùng đồi núi thấp, tuy không cao nhưng địa hình chia cắt khá mạnh, độ dốc bình quân 260;

có thể chia ra nhiều kiểu địa hình như sau:

Địa hình vùng trung bình: Chiếm 6,8% diện tích tự nhiên của huyện Đặc trưng là chia cắt mạnh, có độ dốc trung bình 30 - 350 nằm xen kẽ là một nhỏ diện tích ruộng bậc thang trong các thung lũng hẹp

Địa hình vùng núi thấp và đồi bát úp: Phân bố hầu hết ở các xã trong vùng, có độ dốc trung bình 15 - 250, có tầng đất dầy, lượng mùn còn khá cao, kiểu địa hình này phù hợp với một số loài cây trồng nông, lâm nghiệp, cây ăn quả và cây đặc sản

Địa hình kiểu thung lũng và máng lũng: Loại địa hình này thường tập trung ở ven các chân đồi, ven các con sông, suối ở hầu hết các xã trong khu vực Kiểu địa hình này tương đối bằng phẳng, có tầng đất dày, hàm lượng mùn còn khá cao, đất tơi xốp nên phù hợp trồng một số loài cây nông nghiệp

và cây công nghiệp

1.4.1.3 Khí hậu thuỷ văn

- Khí hậu

Khí hậu huyện Chợ Mới mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, chia thành

2 mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9 mùa này nóng ẩm, mưa nhiều hay xuất hiện gió lốc và lũ quét Mùa đông từ tháng 10 kéo dài đến

Trang 29

tháng 3 năm sau, mùa này lạnh, khô hanh, có gió mùa đông bắc, đôi khi xuất hiện sương muối ảnh hưởng đến cây trồng

Nhiệt độ trung bình năm từ 230C, nhiệt độ cao nhất là 39,40C; nhiệt độ thấp nhất là 40C

Nhìn chung điều kiện khí hậu của huyện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng nông, lâm nghiệp

- Thuỷ văn

Trên địa phận Chợ Mới chủ yếu nằm trong lưu vực của Sông Cầu và nhiều con suối ở 2 phía đông và phía tây của huyện như suối Thanh Mai, Khe Thỉ, suối Hom, Khuổi Đeng, Khe Thuổng, suối Nhì Ca, suối Nà Lằng, Ngoài các sông suối nói trên còn có suối Nà Hoạt (Yên Cư) là nơi khởi nguồn của sông Na Rì

Nhìn chung địa bàn huyện Chợ Mới khá giàu nguồn nước, sự phân phối nước trong năm giữa 2 mùa được phân biệt rõ rệt Mùa lũ thường xảy ra vào tháng 7 tháng 8, mùa cạn vào tháng 12 và tháng 1 năm sau Tuy hệ thống sông suối khá dày nhưng nhỏ và ngắn, phần lớn nằm ở thượng nguồn nên nhiều thác ghềnh, việc vận chuyển và đi lại bằng đường thuỷ gặp nhiều khó khăn và nguy hiểm Một số con suối thường bị cạn về mùa khô nhưng mùa mưa nước dồn nhanh nên có thể xảy ra lũ quét

Trang 30

- Đất địa thành bao gồm các loại chính sau:

+ Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá biến chất (FQj), tầng đất dày và kết cấu đất tơi xốp nên rất dễ bị sụt lở, rửa trôi Đạm và mùn có hàm lượng khá giàu nhưng lân dễ tiêu lại nghèo, đất chua

+ Đất Feralit phát triển trên đá phiến thạch sét (FQs), đất có thành phần

cơ giới nặng, tầng đất dày tuy nhiên cũng hay bị sụt lở Hàm lượng dinh dưỡng phụ thuộc vào tình hình rừng ở phía trên

+ Đất Feralit mùn trên núi cao 700 m (FH), tầng đất mỏng nhưng hàm lượng mùn khá cao do chất hữu cơ phân giải, thích nghi với một số loại cây trồng ôn đới

+ Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá granit (FQa), thành phần cơ giới trung bình và tầng đất từ trung bình đến dày, hàm lượng mùn cao, đất có phản ứng trung tính

+ Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá vôi (FQv), tầng đất mỏng nhưng cấu tượng của đất tốt, hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong loại đất này như Ca và Mg rất lớn

+ Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá macma axit (FQk), Đất Ferelit nâu vàng phát triển trên phù sa cổ, đất có tầng đất dày trên 1m và nằm trên sườn đồi

có độ dốc nhỏ dưới 120, đất chua, nghèo lân và lượng nhôm di động cao

- Đất Thuỷ thành và bán thuỷ thành (dốc tụ và phù sa):

Đất này được hình thành do bồi đắp phù sa của sông suối và sản phẩm xói mòn của đồi núi tích tụ lại ở kiểu địa hình thung lũng, máng trũng Loại này có thành phần cơ giới từ trung bình đến nhẹ, đất tốt, tầng dày, màu nâu xám và tơi xốp bao gồm đất phù sa sông, đất dốc tụ trồng lúa nước, đất phù sa ngòi suối, đất này thuận lợi cho phát triển nông nghiệp

Trang 31

Bảng 1.1 Phân loại đất đai theo đơn vị hành chính huyện Chợ Mới

Đơn vị: Ha

(ha)

Tỷ lệ (%)

2.4 Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, … 37,13 0,06

(Nguồn: Báo cáo kết quả thống kê đất đai năm 2016 tỉnh Bắc Kạn)[39]

1.4.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

1.4.2.1 Đặc điểm dân số - lao động

Huyện Chợ Mới có 16 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 15 xã và 01 thị trấn) cộng đồng dân tộc sinh sống trên địa bàn gồm với 7 dân tộc anh em, gồm: Dân tộc Tày; Kinh; Dao; Nùng và một số ít các dân tộc khác Dân số huyện Chợ Mới năm 2016 là 39.908 người, mật độ dân số bình quân 65,77

Trang 32

người/km2, dân số nông thôn chiếm 93,95 % dân số thành thị chiếm 6,05 % (Niên giám thống kê, 2016) [13] Dân số phân bố không đều tạo ra những khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện Các xã vùng sâu vùng xa có mật độ dân số thấp, không đủ lao động để khai thác tiềm năng tự nhiên, do đó điều hòa dân số và lao động giữa các vùng cho hợp lý để khai thác tiềm năng cũng là vấn đề cần được quan tâm

Bảng 1.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Chợ Mới

(Nguồn: Niên giám thống kê, 2016)[13]

Số lao động tham gia hoạt động kinh tế thời điểm năm 2016 chiếm 51,66% tổng dân số Trong đó lao động hoạt động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp chiếm 90% chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo chuyên môn

kỹ thuật nghề nghiệp; các ngành khác như hành chính, thương mại, công nghiệp chiếm 10% Trình độ dân trí ở các vùng khác nhau, vùng sâu, vùng xa thường trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng được đầu tư ít, kém phát triển, đời sống vẫn còn nghèo so với vùng trung tâm, vì vậy cần có giải pháp nâng cao trình độ cho người lao động, nâng cao dân trí cho các vùng Đây cũng chính là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển sản xuất, kinh tế xã hội của huyện

1.4.2.2 Đặc điểm phát triển kinh tế xã hội qua 5 năm 2012 - 2016

Huyện Chợ Mới có tài nguyên rừng và đất rừng phong phú, nhiều tiềm năng phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp, người dân đã phát huy được thế mạnh đó, do vậy giá trị nông lâm nghiệp mang lại tương đối cao Cụ thể được thể hiện ở bảng 3.3

Trang 33

Bảng 1.3 Tình hình thu nhập kinh tế của huyện Chợ Mới

(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2016)[13]

Đánh giá tình hình tăng trưởng kinh tế của huyện Chợ Mới giai đoạn từ

2012 - 2016, nhìn chung tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện trong 5 năm qua đạt mức khá cao, duy trì tương đối ổn định qua các thời kỳ năm sau luôn cao hơn năm trước Mặc dù thời tiết khí hậu khắc nghiệt, thiên tai liên tiếp xảy ra nhưng kinh tế nông - lâm nghiệp vẫn duy trì được tăng trưởng khá ổn định Chỉ số phát triển trong lĩnh vực lâm nghiệp năm 2016 (115,5%) cao hơn

năm 2015 (103,63%), năm 2014 (102,16 %) (Niên giám thống kê, 2016)[13]

1.4.2.3 Đặc điểm cơ sở hạ tầng

- Về hạ tầng giao thông:

+ Mạng lưới đường bộ trong huyện tương đối hoàn chỉnh, có 16/16 xã

có đường nhựa đến trung tâm xã hình thành mạng lưới liên hoàn trong toàn huyện và nối với các địa phương khác Quốc lộ 3 đi qua địa bàn huyện là trục giao thông chính của tỉnh, từ Thái Nguyên chạy dọc qua trung tâm một số huyện thị (Chợ Mới, thành phố Bắc Kạn, Bạch Thông, Ngân Sơn) lên Cao Bằng đến biên giới Việt Trung

Trang 34

Ngoài ra còn các tuyến đường liên huyện và hệ thống đường giao thông nông thôn liên xã, đến nay 100% số xã có đường giao thông đến trung tâm xã; trên 70% số thôn bản có đường ô tô đi lại được, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa và giao thương với các khu vực lân cận

+ Mạng lưới đường vận xuất, vận chuyển lâm nghiệp phục vụ trồng rừng và khai thác còn rất hạn chế gây khó khăn cho vận chuyển lâm sản đến nơi tập kết để tiêu thụ

- Về hệ thống điện - năng lượng

Đến nay toàn huyện có 100% số xã có điện lưới quốc gia, số hộ sử dụng điện lưới 90%, góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hoá, điện khí hoá nông thôn

1.4.2.4 Đặc điểm văn hóa xã hội

- Về giáo dục:

Công tác giáo dục được quan tâm chú trọng, cơ sở vật chất phục vụ ngành giáo dục được đầu tư ngày càng lớn cả về số lượng và chất lượng Theo Niên giám thống kê, 2016 [13], năm học 2016 - 2017 toàn huyện có 43 trường học: Khối mầm non có 16 trường mẫu giáo với 130 lớp; Khối tiểu học có 15 trường và 158 lớp; trung học cơ sở có 07 trường 71 lớp học; Khối phổ thông trung học có 3 trường với 30 lớp học Các phòng học đã được nâng cấp, các cơ

sở phân trường cũng đã được bố trí xây dựng tới tận thôn bản Tuy nhiên,

Trang 35

trang thiết bị, giáo cụ phục vụ giảng dạy và học tập vẫn chưa thật đầy đủ, do

đó đã ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy và học tập của giáo viên

và học sinh

- Về thông tin:

Theo số liệu thống kê năm 2016, hiện nay mạng lưới thông tin liên lạc

đã phủ kín 16 xã thị trấn, tại các cụm xã có trạm tiếp sóng đài truyền hình Trên 90% dân số trong huyện được xem truyền hình và 100% dân số được nghe đài phát thanh Mạng lưới bưu chính viễn thông phát triển mạnh 100%

số xã và 60% số thôn được phủ sóng di động; có 3 bưu cục và 13 điểm bưu điện văn hóa xã phục vụ nhu cầu của người dân địa phương

Nhìn chung, hiện trạng đô thị của huyện Chợ Mới là quy mô nhỏ, tốc

độ đô thị hoá diễn ra chậm, kinh tế chưa phát triển Các ngành công nghiệp còn nhỏ lẻ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp và các hoạt động dịch vụ thương mại tuy được hình thành nhưng quy mô nhỏ bé Kết cấu hạ tầng kinh tế tuy đã được đầu tư xây dựng, song chưa đáp ứng với yêu cầu của xu thế hội nhập và giao lưu kinh tế hiện nay Các chỉ số bình quân tiêu dùng của dân cư đô thị như: điện, đường, nước sinh hoạt, hệ thống thông tin liên lạc (điện thoại) và mức hưởng thụ văn hoá chưa cao Để cho các đô thị của huyện trở thành vệ tinh thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong vùng, cần có sự quan tâm đầu tư của nhà nước để phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch

vụ và xây dựng các công trình công cộng phúc lợi khác

Trang 36

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Rừng trồng Keo lai ở các cấp tuổi 3, 4, 5

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Đánh giá thực trạng rừng trồng Keo lai tại khu vực nghiên cứu

- Lịch sử phát triển rừng trồng Keo lai tại khu vực nghiên cứu

- Diện tích rừng trồng Keo lai phân theo cấp tuổi (3,4,5) tại khu vực nghiên cứu

- Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển rừng trồng rừng Keo lai

- Các cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển rừng trồng Keo lai

2.2.2 Đánh giá khả năng sinh trưởng và trữ lượng của rừng trồng Keo lai theo cấp tuổi

- Khả năng sinh trưởng về đường kính, chiều cao theo cấp tuổi của cây Keo lai

- Đánh giá sản lượng theo cấp tuổi của cây Keo lai

Trang 37

2.2.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế của rừng trồng Keo lai tại địa bàn nghiên cứu

- Xác định chi phí đầu tư cho 01 ha rừng trồng Keo lai

- Xác định thu nhập cho 01 ha rừng trồng Keo lai

- Xác định hiệu quả kinh tế cho 01 ha rừng trồng Keo lai

2.2.4 Đề xuất các giải pháp phát triển

- Giải pháp về kỹ thuật lâm sinh

- Giải pháp lựa chọn lập địa

- Các giải pháp về kinh tế - xã hội

- Các giải pháp về thông tin, tuyên truyền phổ cập

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp tiếp cận

Đề tài sử dụng phương pháp kế thừa (kế thừa mô hình thí nghiệm dự án giống cây trồng của Chi cục Lâm nghiệp Bắc Kạn giai đoạn 2007-2015) Kết hợp giữa đánh giá thực trạng rừng trồng Keo lai tại địa phương với kết quả khảo sát, đánh giá trên thực địa

Hình 2.1: Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài

Thu thập số liệu thông tin ở huyện Chợ Mới

Điều tra, khảo sát thực địa, đo đếm đánh giá sinh trưởng,

điều tra đánh giá hiệu quả kinh tế

Phân tích, xử lý thông tin, số liệu

Đề xuất các giải pháp phát triển

Trang 38

2.3.2 Phương pháp điều tra, đánh giá

2.3.2.1 Đánh giá thực trạng rừng trồng cây Keo lai tại khu vực nghiên cứu

- Kế thừa số liệu dựa vào bản đồ kiểm kê rừng và hồ sơ thiết kế trồng rừng từ năm 2008-2016 tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn từ đó xác định được tổng diện tích rừng trồng phân theo loài cây và năm trồng

- Báo cáo đánh giá kết quả rừng trồng và biên bản nghiệm thu rừng trồng của Ban quản lý dự án bảo vệ và phát triển rừng huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn và tài liệu phúc tra kết quả nghiệm thu rừng trồng các năm từ 2008 -

2016 ở Chi cục Lâm nghiệp Bắc Kạn

- Phân tích các chính sách hiện có liên quan đến phát triển rừng trồng ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

2.3.2.2 Xác định một số chỉ tiêu sinh trưởng và trữ lượng của rừng trồng Keo lai theo cấp tuổi

- Sử dụng phương pháp điều tra OTC điển hình tạm thời, OTC dùng để thu thập các số liệu như: Điều kiện lập địa, tuổi cây (tuổi rừng trồng), phương thức trồng, sinh trưởng, D1.3, Hvn…Tại mỗi xã tiến hành lập 03 OTC đại diện cho 03 cấp tuổi (diện tích 20 x 25m = 500m2) Tổng số OTC cần lập là 9 OTC Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê sinh học có sự trợ giúp của máy tính, ứng dụng phần mềm Excel 5.0 (Ngô Kim Khôi, 1998) [29] và SPSS 10.0 (Nguyễn Hải Tuất, 2003) [38]

- Điều tra phỏng vấn hộ gia đình tham gia trồng rừng Keo lai tại địa phương về những khó khăn, thuận lợi trong trồng và phát triển rừng Keo lai (điều tra 60 hộ trồng Keo lai trên địa bàn huyện)

- Xác định trữ lượng các ô tiêu chuẩn:

Từ cỡ đường kính và chiều cao bình quân tra biểu thể tích hai nhân tố lập cho loài Keo lai vùng Đông Bắc Việt Nam của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Tiêu chuẩn ngành 04-TCN-66-2003) được trị số thể tích bình quân cây (V)

Trang 39

- Tính trữ lượng trên ô tiêu chuẩn theo công thức sau:

- Tính trữ lượng trên 01 ha: M/ha = 20.Mô

2.3.2.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế của rừng trồng Keo lai tại địa bàn nghiên cứu

- Các số liệu thu thập sẽ được tính toán và xử lý trên các phần mềm máy vi tính thông dụng:

+ Trị số trung bình được tính theo số trung bình cộng

xi là giá trị của các cá thể theo i

n là dung lượng mẫu

+ Giá trị lợi nhuận ròng (NPV - net present value)

NPV là hiệu số giữa giá trị thu nhập và chi phí thực hiện hàng năm của các hoạt động sản xuất trong các mô hình, sau khi đã chiết khấu để quy về thời điểm hiện tại và được tính theo công thức (1):

Trong đó:

- NPV: Giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng (đồng)

- Bt: Giá trị thu nhập ở năm t (đồng)

Trang 40

- Cây trồng: Giá trị chi phí ở năm t (đồng)

- t: Thời gian thực hiện tại của lợi nhuận ròng từ năm 0 đến năm t

- r: Tỷ lệ chiết khấu (%/năm)

NPV: Dùng để đánh giá hiệu quả các mô hình có quy mô đầu tư, kết cấu giống nhau, mô hình nào có NPV lớn thì hiệu quả lớn hơn Chỉ tiêu này nói lên được quy mô lợi nhuận về mặt số lượng, nếu NPV > 0 thì mô hình có hiệu quả

Ngược lại, chỉ tiêu này nói lên mức độ (độ lớn) của các chi phí đạt được NPV, chưa cho biết được mức độ đầu tư

+ Tỷ suất thu nhập và chi phí (BCR-bennefits to cost ratio)

BCR là tỷ số sinh lãi thực tế, nó phản ánh mức độ đầu tư và cho biết mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất và được tính theo công thức (2):

BPV r

Ct r Bt

n t

t

n o t

- BCR: là tỷ suất giữa lợi nhuận và chi phí (đ/đ)

- BPV: Giá trị hiện tại của thu nhập (đ)

- CPV: Giá trị hiện tại của chi phí (đ)

Dùng BCR để đánh giá hiệu quả đầu tư cho các mô hình, mô hình nào

có BCR > 1 thì có hiệu quả kinh tế, BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại

+ Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ (IRR - internal rete of return)

IRR là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn IRR là tỷ lệ chiết khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV = 0 tức là:

0 1 = 0 thì R = IRRIRR được tính theo (%) được dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế, mô hình nào có IRR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao

Ngày đăng: 14/03/2018, 10:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
22. Lê Đình Khả, Nguyễn Đình Hải, Hồ Quang Vinh (1997), "Kết quả mới về khảo nghiệm giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm", Tạp chí lâm nghiệp (12) tr 13-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả mới về khảo nghiệm giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm
Tác giả: Lê Đình Khả, Nguyễn Đình Hải, Hồ Quang Vinh
Năm: 1997
23. Lê Đình Khả (1997), "Không dùng hạt của cây Keo lai để trồng rừng mới", Tạp chí Lâm nghiệp (6), Tr32-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không dùng hạt của cây Keo lai để trồng rừng mới
Tác giả: Lê Đình Khả
Năm: 1997
25. Lê Đình Khả (1999), "Nghiên cứu sử dụng giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm ở Việt Nam", Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm ở Việt Nam
Tác giả: Lê Đình Khả
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
26. Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng (2003), "Giống cây rừng", Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống cây rừng
Tác giả: Lê Đình Khả, Dương Mộng Hùng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
30. Đoàn Hoài Nam (2006), “Hiệu quả kinh tế của rừng trồng thâm canh Keo lai tại một số vùng sản xuất kinh tế lâm nghiệp”, Tạp chí Nông nghiệp và PTNT, (2), tr 91-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả kinh tế của rừng trồng thâm canh Keo lai tại một số vùng sản xuất kinh tế lâm nghiệp”, "Tạp chí Nông nghiệp và PTNT
Tác giả: Đoàn Hoài Nam
Năm: 2006
32. Ngô Đình Quế, Lê Quốc Huy, Nguyễn Thị Thu Hương, Đoàn Đình Tam (2004), "Xây dựng qui phạm kỹ thuật bón phân cho trồng rừng sản xuất 4 loài cây chủ yếu phục vụ chương trình 5 triệu ha rừng là:Keo lai, Bạch đàn Urophylla, Thông nhựa và Dầu nước", ViệnKHLN Việt Nam, Hà Nội-2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng qui phạm kỹ thuật bón phân cho trồng rừng sản xuất 4 loài cây chủ yếu phục vụ chương trình 5 triệu ha rừng là: Keo lai, Bạch đàn Urophylla, Thông nhựa và Dầu nước
Tác giả: Ngô Đình Quế, Lê Quốc Huy, Nguyễn Thị Thu Hương, Đoàn Đình Tam
Năm: 2004
33. Trần Duy Rương (2013), “Sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của rừng trồng Keo lai ở Bình Định”, Tạp chí khoa học Lâm nghiệp, 2/2013, Tr 2793-2798 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của rừng trồng Keo lai ở Bình Định”, "Tạp chí khoa học Lâm nghiệp
Tác giả: Trần Duy Rương
Năm: 2013
34. Trần Duy Rương (2013), “Đánh giá hiệu quả rừng trồng keo lai ở một số vùng sinh thái tại Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả rừng trồng keo lai ở một số vùng sinh thái tại Việt Nam
Tác giả: Trần Duy Rương
Năm: 2013
35. Đỗ Đình Sâm và Ngô Đình Quế (1994), "Đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp vùng Đông Nam Bộ", Báo cáo khoa học đề mục thuộc đề tài KN03-01, chương trình KN03, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp vùng Đông Nam Bộ
Tác giả: Đỗ Đình Sâm và Ngô Đình Quế
Năm: 1994
36. Nguyễn Huy Sơn, Nguyễn Xuân Quát, Đoàn Hoài Nam (2006), "Kỹ thuật trồng rừng thâm canh một số loài cây gỗ nguyên liệu", Nhà xuất bản thống kê, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng rừng thâm canh một số loài cây gỗ nguyên liệu
Tác giả: Nguyễn Huy Sơn, Nguyễn Xuân Quát, Đoàn Hoài Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2006
37. Nguyễn Hải Tuất (2003), "Tài liệu hướng dẫn sử dụng SPSS 10.0 for windows để xử lý số liệu nghiên cứu và thực nghiệm trong lâm nghiệp", Trường đại học lâm nghiệp, Hà Tây - 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn sử dụng SPSS 10.0 for windows để xử lý số liệu nghiên cứu và thực nghiệm trong lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hải Tuất
Năm: 2003
38. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn (2017), “Báo cáo kết quả thống kê đất đai năm 2016 tỉnh Bắc Kạn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo kết quả thống kê đất đai năm 2016 tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn
Năm: 2017
39. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2004), Pháp lệnh giống cây trồng số 15/2004/PL-UBTVQH11 ngày 24/3/2004.II. Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh giống cây trồng số 15/2004/PL-UBTVQH11 ngày 24/3/2004
Tác giả: Ủy ban thường vụ Quốc hội
Năm: 2004
43. Goncalves J.L.M et al (2004), Sustainability of Wood production in Eucalyptus Plantation of Brazil, Site Management and Productivity in Tropical Plantation Forests (Proceedings of Workshops in Congo July 2001 and China February 2003), CIFOR Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sustainability of Wood production in Eucalyptus Plantation of Brazil, Site Management and Productivity in Tropical Plantation Forests (Proceedings of Workshops in Congo July 2001 and China February 2003)
Tác giả: Goncalves J.L.M et al
Năm: 2004
44. Julian Evans (1992), plantation Forestry in the Tropics. Clarendon Press-xford Sách, tạp chí
Tiêu đề: plantation Forestry in the Tropics
Tác giả: Julian Evans
Năm: 1992
45. Pandey, D (1983), Growth and yield of plantation species in the tropics, Forest Research Division, FAO, Rome-1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Growth and yield of plantation species in the tropics, Forest Research Division
Tác giả: Pandey, D
Năm: 1983
46. Pinso Cyril and R Nasi (1991), "The Potential use of Acacia mangium and Acacia auriculiformis hybrid and Sabah" Breeding Technologies for Tropics, Acacia, AC IAR Proceeding pp 17 - 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Potential use of Acacia mangium and Acacia auriculiformis hybrid and Sabah
Tác giả: Pinso Cyril and R Nasi
Năm: 1991
47. Rufelds C, W (1987), "Quantitative comparison of Acacia mangium Willd versus hybrid A auriculiformis" Forest Research Centre Publication Malaysia , pp 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quantitative comparison of Acacia mangium Willd versus hybrid A auriculiformis
Tác giả: Rufelds C, W
Năm: 1987
31. Bích Ngọc (2014), Khai thác thế mạnh Lâm nghiệp ở Chợ Mới, http://www.baobackan.org.vn/channel/1121/201409/khai-thac-the-manh-lam-nghiep-o-cho-moi-2341534/ Link
40. Bowen, M, R (1981) Acacia mangium, Anote on seed collection, handling and storage technique some exprrrimental data information on Acacia auriculiformis and probable Acacia mangium x Acacia auriculiformis hybrid (Occasionnal technical and scientific notes seed seriesFao/Undp, pp 39 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm