Trong đời sống, có những nguyên tắc,chuẩn mực đạo đức chung cho mọi thời đại, ở đâu có con người thì ở đó có quan hệ đạo đức, đó là sống thiện, yêu quý lao động, trung thực, sự thủy chun
Trang 1và xã hội Trong đời sống xã hội loài người có những mối quan hệ phức tạp, đadạng nó tồn tại đan xen nhau Mặt khác do trình độ nhận thức của mỗi ngườicũng khác nhau, họ sống trên những lãnh thổ khác nhau nên về tập tục, lợi ích,văn hóa, trình độ phát triển cũng khác nhau Để duy trì sự tồn tại và phát triển,mỗi xã hội phải xây dựng những nguyên tắc chuẩn mực sống, trên cơ sở đó conngười tự ý thức tự hành động Đạo đức là nhu cầu tất yếu khách quan, nhưng lại
là vấn đề có tính lịch sử Trong xã hội nào cũng cần hình thành những nguyên tắcsống để con người tự nguyện tuân theo, nhằm bình ổn trật tự xã hội, duy trì sựtồn tại của xã hội và của mỗi cá nhân Trong đời sống, có những nguyên tắc,chuẩn mực đạo đức chung cho mọi thời đại, ở đâu có con người thì ở đó có quan
hệ đạo đức, đó là (sống thiện, yêu quý lao động, trung thực, sự thủy chung, lòngnhân hậu, lòng biết ơn và sự tôn kính đối với tổ tiên, …)
Đạo đức giúp cho cá nhân hoàn thiện nhân cách của mình Những conngười có đức hạnh bao giờ cũng có những phẩm chất đạo đức cao quý Nhữnggiá trị đạo đức khi đã được hình thành ở cá nhân thì có tác động trở lại đối với xãhội theo hướng tích cực
Trong xã hội, con người tồn tại với tư cách là những cá nhân Sự đa dạng,phong phú, nhiều vẻ của cái riêng đang đặt ra yêu cầu phải có những chuẩn mựcđạo đức trong việc khẳng định những giá trị và hướng dẫn hành vi đạo đức cho
cá nhân trong những điều kiện cụ thể Phẩm chất đạo đức của cá nhân người lao
Trang 2động được biểu hiện ở sự tổng hợp những tính cách đáp ứng yêu cầu chung của
xã hội Phẩm chất đạo đức người lao động chứa đựng trong đó những nội hàmcủa những nguyên tắc, quy tắc đạo đức xã hội, những phẩm chất đạo đức củangười lao động là cơ sở quan trọng, góp phần to lớn vào việc phát triển nhâncách của người lao động, giúp cho người lao động tích cực trong hoạt động laođộng tạo tạo điều kiện đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình Mặt khác nócòn là những tính cách mang ý nghĩa tâm lý, đạo đức của riêng mỗi người laođộng, nghiên cứu nắm vững các phẩm chất đạo đức này giúp cho các nhà quản lýlao động, lãnh đạo các doanh nghiệp có cơ sở để tổ chức, quản lý và điều hànhngười lao động một cách tốt nhất, đem lại hiệu quả năng suất lao động cao
1.2 Về thực tiễn
Đạo đức nói chung và những phẩm chất đạo đức nói riêng có vai trò hếtsức quan trọng trong hoạt động lao động sản xuất của, khi cá nhân có nhữngphẩm chất đạo đức trong lao động thì hoạt động lao động sẽ đạt hiệu quả cao, đờisống của người lao động ngày càng được đảm bảo Bên cạnh đó người lao động
là lực lượng chính, chiếm số lượng đông và trực tiếp tạo ra các sản phẩm Với vịtrí đó người lao động có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động động laođộng và đối với các doanh nghiệp Để tổ chức và phát huy hiệu quả khả năng củangười lao động, ngoài việc đảm bảo số lượng, chất lượng, cơ cấu lao động cácnhà lãnh đạo doanh nghiệp cần thiết phải nắm vững và giáo dục có hiệu quả nhấtcác phẩm chất đạo đức đối với người lao động
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, cùng với quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước và công cuộc hội nhập, phát triển Việt Nam hiện làthành viên của tổ chức thương mại thế giới do đó trên thị trường có sự sự cạnhtranh gay gắt, vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp không chỉ đổi mới về cơ cấu tổchức, thiết bị công nghệ mới vào trong quá trình quản lý sản xuất mà các doanhhnghiệp quan tâm đến số lượng và chất lượng của đội ngũ lao động để có đủ điều
Trang 3kiện cạnh tranh đứng vững trên thương trường Ngày nay, thông qua các phongtrào thi đua sản xuất của các tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp phátđộng thực hiện, những tiêu chí về phẩm chất đạo đức của người lao động đãđược cụ thể hóa và được đông đảo người lao động trong các công đoàn học tập.Người lao động Việt Nam dù là lao động chân tay hay lao động trí óc, ở bất kỳcác lĩnh vực hoạt động nào trong quốc doanh, ngoài quốc doanh…đề năng động,sáng tạo , mạnh dạn đổi mới, tiếp thu những tiến bộ khoa học công nghệ, thíchứng dần với cơ chế thị trường và hội nhập với cơ chế thị trường và kinh tế quốc
tế, đóng góp vào sự nghiệp đổi mới đất nước thì vai trò của người lao động ngàycàng trở nên to lớn, nắm bắt được vấn đề này công ty cổ phần mía đường LamSơn đã không ngừng đổi mới cơ cấu tổ chức, trang thiết bi, dây truyền máy móchiện đại vào trong sản xuất Tuy nhiên để hoạt động lao động đạt hiệu quả caohơn nữa phải xem xét đến chất lượng nguồn lao động tại doanh nghiệp, nó đượcbiểu hiện cụ thể ở phẩm chất đạo đức của người lao động, thông qua việc nghiêncứu nắm bắt kịp thời những phẩm chất đạo đức của người lao động tại doanhnghiệp để có những phương pháp tổ chức lao động khoa học, đúng người, đúngviệc đem lại hiệu quả cao trong sản xuất
Mặt khác, Đảng ta luôn xác định: “Nguồn lao động dồi dào, con ngườiViệt Nam có truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáodục, có khả năng nắm bắt khoa học và công nghệ” Đội ngũ lao động có vai tròquan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việc pháthuy được các phẩm chất đạo đức người lao động trong doanh nghiêp, cùng vớiviệc cải tiến khoa học công nghệ sẽ giúp cho các doanh nghiệp ngày đứng vững
và phát triển trên thi trường nhưng các phẩm chất đạo đức của người lao động,chưa được các doanh nghiệp đánh giá và phát huy một cách đầy đủ
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, Một số các phẩm chất đạođức của người lao động vẫn còn những điểm chưa tốt cần được khắc phục, hiện
Trang 4nay công tác tuyên truyền, giáo dục các phẩm chất đạo đức của người lao độngvẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập Đồng thời do tác động từ mặt trái củanền kinh tế thị trường, một số giá trị truyền thống, phẩm chất đạo đức của ngườilao động có phần bị mai một Một bộ phận người lao động có lối sống thực dụng,thiếu trách nhiệm trong công việc, thiếu tác phong công nghiệp cần thiết ảnhhưởng đến hiệu quả trong sản xuất.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trên, tôi lựa chon “thực trạng
các phẩm chất đạo đức của người lao động tại công ty cổ phần mía đường Lam Sơn – Thanh Hóa” làm đề tài nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng các phẩm chất đạo đức và các yếu tố tác động đếnphẩm chất đạo đức của người lao động tại công ty cổ phần mía đường Lam Sơn– Thanh Hóa, từ đó đề xuất một số biện pháp và kiến nghị nhằm góp phần giáodục đạo đức cho người lao động trong giai đoạn hiện nay
3.Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng các phẩm chất đạo đức của người lao động tại công
ty cổ phần mía đường Lam Sơn – Thanh Hóa
3.2 Khách thể nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu 181 lao động tại công ty cổ phần mía đường Lam Sơn – ThanhHóa trong đó có: 91 lao động nam, 90 lao động nữ
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Hệ thống hoá cơ sở lý luận về đạo đức và phẩm chất đạo đức.
4.2 Thực trạng cá phẩm chất đạo đức của người lao động tại công ty cổ phần mía đường Lam Sơn – Thanh Hóa
4.3 Đề xuất một số biện pháp và kiến nghị để góp phần nâng cao giáo dục đạo đức của người lao động và nâng cao hiệu quả lao động.
Trang 55 Phạm vi nghiên cứu
Nhân cách con người nói chung và người lao động nói riêng có nhữngphẩm chất đao đức khác nhau nhưng ở đề tài này tôi chỉ nghiên cứu sáu phẩmchất đạo đức cơ bản sau: Tính trung thực; tính nguyên tắc; tôn trọng danh dự;lòng nhân ái; thái độ lao động và học tập không ngừng, giữ gìn vệ sinh, bảo vệmôi trường
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu, điều tra 181 người lao động tại công ty cổphần mía đường Lam Sơn – Thanh Hóa
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 3 năm 2012 đến tháng 6 năm2012
6.Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
6.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
Tiến hành nghiên cứu tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu sau đóphân tích thành bộ phận theo lịch sử thời gian để có thể hiểu vấn đề một cáchtoàn diện
6.1.2 Phương pháp phân loại hệ thống hóa lý thuyết
Sử dụng phương pháp này để sắp xếp các tài liệu khoa học, theo hệ thống lôgícchặt chẽ
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp điều tra
Chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra là phương pháp chủ đạo của vấn
đề nghiên cứu Để sử dụng phương pháp này tôi xây dựng phiếu điều tra với một
hệ thống câu hỏi đóng và mở có hướng dẫn trả lời Sau đó thu thập và xử lý sốliệu
6.2.1 Phương pháp quan sát
Trang 6Chúng tiến hành quan sát người lao động khi họ đang làm việc Quan sátmọi hành vi, thái độ, cử chỉ, lời nói … của họ Tiến hành quan sát ở nhiều thờiđiểm khác nhau và ghi chép mọi diễn biến tâm lý và
phẩm chất đạo đức của người lao động quan sát được để bổ sung cho những vấn
đề cần nghiên cứu sâu
6.2.3 Phương pháp đàm thoại
Tôi dùng phương pháp đàm thoại để trò chuyện với người lao động tại công ty
cổ phần mía đường Lam Sơn – Thanh Hóa nhằm thu thập thêm thông tin cụ thể vềnhững vấn đề cần nghiên cứu, để góp phần nhằm tăng độ tin cậy và sức thuyết phụccủa kết quả nghiên cứu của phiếu điều tra
6.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Sử dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia để thu thập ý kiến nhằm làm rõvấn đề nghiên cứu
6.2.5 Phương pháp nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm
Thông qua việc nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của cáctác giả trong các giai đoạn, từ đó tổng kết vấn đề ở những điểm chính, trọng tâm làm
cơ sở cho vấn đề nghiên cứu
5.3 Phương pháp toán thống kê
Tôi sử dụng các phương pháp toán thống kê để xử lý phiếu điều tra nhằmthu thập số liệu về mặt định lượng cho những biểu hiện định tính qua phiếu điềutra Để từ đó có cơ sở phân tích, khẳng định lý giải các vấn đề nghiên cứu Cụthể tôi sử dụng phương pháp tính số phần trăm để tính số liệu phần trăm ngườilựa chon các câu hỏi, xem lựa chon nào cao nhất và lựa chon thấp nhất Để từ đó
có cơ sở phân tích, khẳng định, lý giải các vấn đề nghiên cứu
Trang 8PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ PHẨM CHẤT
ĐẠO ĐỨC 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Từ xa xưa, vấn đề giáo dục đạo đức đã được các nhà giáo dục lỗi lạc như:Khổng Tử, J.A Cômenxki, Petxtalôđi, K Đ.Usinxki quan tâm nghiên cứu vàđánh giá cao
Ngày nay xã hội có nhiều biến đổi thì vấn đề giáo dục giáo dục đạo đức chongười lao đông, đặc biệt là giáo dục phẩm chất đạo đức đạo đức càng được quantâm nghiên cứu
- Bungari vào năm 1977- 1978, trung tâm nghiên cứu khoa học về thanhniên đã tiến hành nghiên cứu một số đề tài khoa học về đạo đức và giáo dục đạođức cho thanh niên Các nhà khoa học đã đề cập đến vấn đề định hướng giá trịcho thanh niên nói chung, trong đó có các giá trị đạo đức: lí tưởng cộng sản, chủnghĩa, đạo đức cộng sản , tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa…
- Tại Nga nhà xuất bản giáo dục Matxcơva đã xuất bản cuốn: “ Giáo dụcđạo cho học sinh _ những vấn đề lí luận” của tác giả N.I.Bônđưrev Tác giả đã đềcập tới một số vần đề: Lí luận giáo dục đạo đức cộng sản chủ nghĩa cho thanhniên, chỉ ra nội hàm khái niệm của đạo đức cộng sản và đề xuất những conđường tiến hành giáo dục đạo đức cho người lao động nói riêng và thanh niênnói chung
1.1.2 Ở Việt Nam
Từ khi nước ta chuyển đổi cơ chế kinh tế, vai trò của người lao động ngàycàng được đề cao, đặc biệt là vai trò trong lao động sản xuất tạo ra của cải vậtchất nuôi sống bản thân và gia đình, góp phần phát triển kinh tế cải thiện đờisống vật chất và tinh thần Hàng năm cứ đến ngày 1 tháng năm hàng năm nước
Trang 9ta hưởng ứng tích cực ngày quốc tế lao động, nhiều hoạt động được tổ chức (vănhóa, thể dục thể thao…) Các công trình nghiên cứu cấp nhà nước cũng rất chútrọng đến việc nghiên cứu sự phát triển nhân cách của con người - mục tiêu,động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Đề tài giáo dục đạo đức cũng như đề tài giáo dục đạo đức cho người laođộng đến nay đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu Ta có thể điểm qua một sốcông trình nghiên cứu sau đây:
Năm 1995, công trình nghiên cứu cấp Nhà nước của Viện Khoa học Giáodục do Mặc Văn Trang (chủ biên) “Đặc điểm lối sống của sinh viên hiện nay,phương hướng và biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên” đề tài đã phản ánhthực trạng lối sống hiện nay của sinh viên (SV) và đã nêu lên những căn cứ khoahọc, đã xây dựng hệ thống biên pháp hữu hiệu để giáo dục lối sống cho SV trongcác trường cao đẳng, đại học Tác giả Nguyễn Văn Phúc với “ Quan hệ giữathẩm mỹ và đạo đức trong cuộc sống và nghệ thuật” (Nxb KHXH, Hà Nội năm1996)
Ngày 18 tháng 10 năm 1996, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã tổ chức hội thảo
khoa học tại Hà Nội về chủ đề “Định hướng giáo dục đạo đức trong các trường
đại học” và đã thu hút đông đảo các nhà khoa học, các nhà giáo lão thành, các
nhà các bộ quản lý giáo dục tham gia
Năm 1999 tác giả Võ Đăng Khoa, trường Cao đẳng Sư Phạm Nha Trang Khánh Hoà đã nghiên cứu đề tài: Tổ chức giáo dục đạo đức cho sinh viên thôngqua các hoạt động ở trường Cao Đẳng Sư Phạm Nha Trang – Khánh Hoà
Năm 1995, công trình nghiên cứu cấp Nhà nước của Viện Khoa học Giáo
dục do Mặc Văn Trang (chủ biên) “Đặc điểm lối sống của sinh viên hiện nay,
phương hướng và biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên” đề tài đã phản ánh
thực trạng lối sống hiện nay của sinh viên (SV) và đã nêu lên những căn cứ khoahọc, đã xây dựng hệ thống biên pháp hữu hiệu để giáo dục lối sống cho SV trong
Trang 10các trường cao đẳng, đại học Tác giả Nguyễn Văn Phúc với “ Quan hệ giữa
thẩm mỹ và đạo đức trong cuộc sống và nghệ thuật” (Nxb KHXH, Hà Nội năm
1996)
- Ngày 18 tháng 10 năm 1996, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã tổ chức hội thảo
khoa học tại Hà Nội về chủ đề “Định hướng giáo dục đạo đức trong các trường
đại học” và đã thu hút đông đảo các nhà khoa học, các nhà giáo lão thành, các
nhà các bộ quản lý giáo dục tham gia
Năm 1999 tác giả Võ Đăng Khoa, trường Cao đẳng Sư Phạm Nha Trang
-Khánh Hoà đã nghiên cứu đề tài: Tổ chức giáo dục đạo đức cho sinh viên thông
qua các hoạt động ở trường Cao Đẳng Sư Phạm Nha Trang - Khánh Hoà.
- Năm 2007, Tiến sĩ Trịnh Duy Huy, Trường Đại Học Hồng Đức đã nghiên
cứu đề tài cấp cơ sở: “Một số nội dung, yêu cầu về giáo dục đạo đức để hình
thành và phát triển nhân cách ở học sinh sinh viên Trường Đại Học Hồng Đức”,
tác giả đã đề cập đến những nội dung cơ bản và những yêu cầu cần thiết trongcông tác giáo dục đạo đức cho SV trong giai đoạn CNH, HĐH đất nước và củanền kinh tế thị trường hiện nay
- Năm 2009, TS Trịnh Duy Huy đã công bố tài liệu “ Xây dựng đạo đức
mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Tác giả đã tập
trung xem xét tác động của kinh tế thị trường đối với xã hội, chuẩn mực đạo đứchiện nay và thực trạng đạo đức ở nước ta, từ đó đề xuất một số giả pháp gópphần hạn chế tiêu cực của kinh tế thị trường đối với giáo dục đạo đức
Trong các Tạp chí cũng xuất hiện nhiều bài viết về giáo dục đạo đức nói
riêng và giáo dục nhân cách cho học người lao động nói chung, như: “Sự tác
động hai mặt của cơ chế thị trường đối với đạo đạo đức người cán bộ quản lý”
của Nguyễn Tĩnh Gia 1997 (Tạp chí nghiên cứu lí luận); “Định hướng xã hội
chủ nghĩa về các quan hệ đạo đức trong cơ chế thị trường ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” (tạp chí Triết học số 2 1997) “Hình thành và phát triển nhân
Trang 11cách trong nền kinh tế thị trường” của GS Lê Đức Phúc (Tạp chí Đại học và
giáo dục chuyên nghiệp số 7 1996); “Khía cạnh đao đức của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay” (tạp chí Triết học, số 3 1995)
1.2 Cơ sở lý luận của đề tài
1.2.1 Các khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1.1 Khái niệm đạo đức
Để tồn tại và phát triển, con người ngay từ thời nguyên thủy đã có quan hệgắn bó chặt chẽ với nhau trong tổ chức bày đàn thị tộc, bộ lạc…Các quan hệ đơngiản của xã hội ban đầu chưa có giai cấp, theo tiến trình phát triển của loài ngườingày càng trở nên phong phú và phức tạp, đòi hỏi mỗi cá nhân trong cộng đồngphải thường xuyên tự giác điều chỉnh thái độ, hành vi của mình trong cách ứng
xử, giao tiếp sao cho phù hợp với qui tắc chuẩn mực, qui tắc của xã hội, không viphạm đến nhu cầu lợi ích của người khác Trong trường hợp đó cá nhân được tậpthể, cộng đồng coi là người có đạo đức Ngược lại những cá nhân biểu hiện thái
độ, hành động chỉ vì lợi ích của riêng mình, gây tổn hại nghiêm trọng đến lợi íchcuả người khác, của cộng đồng …bị xã hội chê trách, phê phán thì cá nhân đó bịcoi là người thiếu đạo đức
Trong đời sống xã hội, đòi hỏi tất yếu mỗi người phải ý thức được ý nghĩa,mục đích hoạt động của mình trong quá khứ, hiện tại và tương lai Những hoạtđộng đó bao giờ cũng có sự chi phối của những quan hệ giữa các cá nhân, cánhân và xã hội Những mối quan hệ đó quy định giới hạn nhất định nhằm đảmbảo lợi ích của cộng đồng và xã hội Những qui định này tự giác tạo thành độnglực cho sự phát triển xã hội, đó là các qui tắc chuẩn mực hoàn toàn tự giác tronghành động của mỗi cá nhân trong tất cả cá quan hệ xã hội
Vậy có nhiều cách hiểu theo các khía cạnh khác nhau về đạo đức
Theo tác giả Trần Hậu Kiêm (Đạo đức học, NXB chính trị Quốc Gia): Đạođức học là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống
Trang 12những quan điểm, những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội Nó ra đời tồntại và biến đổi theo nhu cầu của xã hội Nhờ đó con người tự giác điều chỉnhhành vi của mình cho phù hợp với lợi ích xã hội, với hạnh phúc của con người và
sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người
Theo tác giả Phạm Khắc Chương: Đạo đức là hệ thống những nguyên tắc,những quy tắc, chuẩn mực, biểu hiện sự tự giác trong mối quan hệ giữa conngười với con người, giữa con người với xã hội, với tự nhiên và với bản thânmình
Hay: Đạo đức là toàn bộ các quy tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánhgiá cách ứng xử của con người với nhau trong quan hệ với xã hội và quan hệ với
tự nhiên
Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệcon người với con người, con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên và với cảbản thân mình
1.2.1.2 Khái niệm phẩm chất đạo đức
Trong xã hội con người tồn tại với tư cách là cá nhân, sự đa dạng, phongphú nhiều vẻ của cái riêng đang đặt ra yêu cầu phải có những chuẩn mực đạođức trong việc khẳng định những giá trị và định hướng hành vi đạo đức trongđiều kiện cụ thể
Như vây: Phẩm chất đạo đức của cá nhân là tổng hợp những tính cách đáp ứng
yêu cầu chung của nền đạo đức xã hội.
Phẩm chất đạo đức của cá nhân chứa đựng trong đó những nội hàm củanhững nguyên tắc, quy tắc đạo đức xã hội Mặt khác, nó còn là những tính mang
ý nghĩa tâm lý, đạo đức riêng của con người Chúng là một bộ phận cấu thànhnên nhân cách của con người
1.2.1.3 Khái niệm lao động
Trang 13Theo từ điển tiếng Việt lao động là “Hoạt động có mục đích của con ngườinhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội Ví dụ như laođộng chân tay, lao động nghệ thuật…”.
Hay: Theo Bộ luật Lao động nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam:Lao động là họat động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất vàcác giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quảcao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước
Lao động là hoạt động mà còn người thực hiện Không có lao động conngười ta sẽ lâm vào cảnh “Nhàn cư vi bất thiên” Vì sao mỗi người sinh ra đềunhư nhau nhưng thông qua lao động, kết cục thì có người trở thành người thànhđạt, có người lại thất bại, không ai thuê mướn Lao động bao gồm: Lao độngchân tay (lao động thủ công) là lao động trong đó con người sử dụng chân tay, cơbắp là chủ yếu để thực hiện công việc và lao động trí óc là loại lao động phứctạp, sử dụng trí óc là chủ yếu
Đối tượng lao động: Là bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của conngười tác động vào nhằm biến đổi nó theo mục đích của mình Đối tượng của laođộng có hai loại., Loại thứ nhất có sẵn trong tự nhiên như các khoáng sản, đất,
đá, thủy sản Thứ hai đã qua chế biến nghĩa là có sự tác động của đối tượng laođộng trước đó
1.2.1.4 Khái niệm Người lao động
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm người lao động, trong đó:Theo nghĩa rộng người lao động là người làm công ăn lương Công việc củangười lao động là theo thỏa thuận, xác lập giữa người lao động và chủ thuê laođộng Thông qua kết quả lao động như sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thầncung cấp mà người lao động được hưởng lương từ người chủ thuê lao động
Theo nghĩa hẹp người lao động là người làm các việc mang tính thể chất,thường trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Trang 14Bộ luật Lao động nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cho rằng:Người lao động là người đến tuổi lao động (15 tuổi), có khả năng lao động, đang
có giao kết và thực hiện hợp đồng lao động
Luật lao động cũng qui định rõ ràng, cụ thể về các quyền và nghĩa vụ củangười lao động khi tham gia lao động, qui định về hợp đồng lao động, các chế độchính sách đãi ngộ…
Từ góc độ kinh tế học, người lao động là những người trực tiếp cung cấpsức lao động – một yếu tố sản xuất mang tính người và cũng là một dạng dịch
vụ, hàng hóa cơ bản của nền kinh tế Những người đang lao động là những người
có cam kết lao động, sản phẩm lao động đối với tổ chức
1.2.2 Một số lý luận cơ bản về đạo đức và các phẩm chất đạo đức
1.2.2.1 Một số lý luận cơ bản về đạo đức
* Cấu trúc của đạo đức
Khi phân tích cấu trúc đạo đức người ta xem xét nó dưới nnhiều góc độ.Mỗi góc độ cho phép chúng ta nhìn ra một lớp cấu trúc xác định Chẳng hạn: Xétđạo đức theo mối quan hệ giữa ý thức đạo đức và hoạt động thì hệ thống đạo đứcđược hợp thành từ hai yếu tố là ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức Nếu xét nótrong quan hệ giữa người với người thì ta nhìn ra quan hệ đạo đức Nếu xét theoquan điểm về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái phổ biến với cái đặcthù và cái dơn nhất thì đạo đức được tạo nên từ đạo đức xã hội và đạo đức cánhân
- Ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức
Đạo đức là sự thống nhất biện chứng giữa ý thức đạo đức và thực tiễn đạođức
Ý thức đạo đức là ý thức về hệ thống những quy tắc, chuẩn mực, hành vi
phù hợp với những quan hệ đạo đức đã và đang tồn tại Mặt khác, nó còn baohàm cả những cảm xúc, những tình cảm đạo đức của con người Trong quan hệ
Trang 15giữa người với người đều có những ranh rới của hành vi và giá trị đạo đức Đó làranh giới của cái thiện và cái ác, giữa chủ nghĩa cá nhân ích kỉ và tinh thần tậpthể Về mặt giá trị của hành vi đạo đức cũng có ranh giới: lao động là hành vithiện, ăn bám, bóc lột là vô nhân đạo Ngay cả trong hành vi thiện, mức độ giá trịcủa nó không phải lúc nào cũng ngang nhau, mà nó cũng có những thang bậcnhất định ( cao cả, tốt, được) Ý thức đạo đức là sự thể hiện thái độ nhận thứccủa con người trước hành vi của mình trong sự đối chiếu với hệ thống chuẩnmực hành vi và những nguyên tắc đạo đức xã hội đặt ra; nó giúp con người tựgiác điều chỉnh hành vi và hoàn thành một cách tự giác, tự nguyện những nghĩa
vụ đạo đức Trong ý thức đạo đức còn bao hàm cảm xúc, tình cảm đạo đức của
con người Tóm lại, ý thức đạo đức (về mặt cấu trúc) gồm tri thức đạo đức, tình
cảm đạo đức và ý chí đạo đức.
Mọi ý thức đạo đức được thể hiện thông qua thực tiễn đạo đức.
Thực tiễn đạo đức là hoạt động của con người do ảnh hưởng của niềm tin, ý thứcđạo đức , là quá trình thực hiện hoá ý thức đạo đức trong cuộc sống Ở đây, cáchành vi đạo đức vừa là biểu hiện của nhận thức và tình cảm đạo đức cá nhân, vừa
bị chi phối bởi các chuẩn mực và quy tắc của xã hội quan niệm của cá nhân vềnghĩa vụ đối với xã hội và đối với người khác là tiền đề của hành vi đạo đức cánhân Sự lự chọn tự do trong ứng xử giữa người này với người khác là do nhữngtính cách quyết định
Ý thức và thực tiễn đạo đức luôn luôn có quan hệ biện chứng với nhau, bổsung cho nhau tạo nên bản chất đạo đức của con người, của một giai cấp, củamột chế độ xã hội và của một thời đại lich sử
Ý thức đạo đức phải được thể hiện bằng những hành động thì mới đem lạinhững lợi ích xã hội và ngăn ngừ cái ác Nếu không có thực tiễn đại đức thì ýthức đạo đức không đạt tới giá trị Thực tiễn đạo đức được biểu hiện như sựtương trợ, giúp đõ, cử trỉ nghĩa hiệp, hành động nghĩa vụ…Thực tiễn đạo đức là
Trang 16hệ thống các hành vi đạo đức của con người được nảy sinh trên cơ sở của ý thứcđạo đức.
- Quan hệ đạo đức
Hệ thống những quan hệ xác định giữ con người và con người giũa cánhân và xã hội về mặt đạo đức là quan hệ đạo đức Quan hệ đạo đức là một dạngquan hệ xã hội, là yếu tố tạo nên tính hiện thực của bản chất xã hội con người.Các quan hệ đạo đức không chỉ hình thành nên giữa các cá nhân mà còn giữa cánhân với xã hội, với những mặt riêng biệt của xã hội (chẳng hạn: với lao động,với văn hoá tinh thần) trong chừng mực những mặt này liên quan đến các lợi ích,chứa đựng trong các mối quan hệ này
Quan hệ đao đức được hình thành và phát triển như những quy luật tất yếu của
xã hội, nó “tiềm ẩn” trong những quan hệ xã hội Quan hệ đạo đức tồn tại mộtcách khách quan và luôn luôn biến đổi qua các thời kỳ lịch sử và chính nó là mộttrong những cơ sở để hình thành nên ý thức đạo đức
Tóm lại, ý thức đạo đức, thực tiễn đạo đức và quan hệ đạo đức là nhữngyếu tố tạo nên cấu trúc của đạo đức mỗi yếu tố không tồn tại độc lập mà liên hệtác động lẫn nhau, tạo nên sự vận động, phát triển và chuyển hoá bên trong của
hệ thống đạo đức
-Đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân
Đạo đức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội của cộng đồng người xác định
và là phương thức điều chỉnh hành vi của các cá nhân thuộc cộng đồng nhằmhình thành, phát triển, hoàn thiện tồn tại xã hội ấy
Đạo đức xã hội được hình thành trên cơ sở cộng đồng về lợi ích và hoạtđộng của cá nhân thuộc cộng đồng Nó tồn tại như là hệ thống kinh nghiệm xãhội mang tính phổ biến của đời sống đạo đức của cộng đồng
Trang 17Đạo đức cá nhân là đạo đức của từng cá nhân riêng lẻ của cộng đồng, phảnánh và khẳng định tồn tại xã hội của các cá nhân ấy như là thể hiện riêng lẻ củatồn tại xã hội về lợi ích và hoạt động của các cá nhân.
Trong quá trình hoạt động thực tiễn và nhận thức của mình, các cá nhânthu nhận đạo đức xã hội như là hệ thống kinh nghiệm xã hội, những lý tưởng,chuẩn mực, tư tưởng, đánh giá đạo đức đã được hình thành nên trong lịch sửcộng đồng, biến kinh nghiệm xã hội thành kinh nghiệm bản thân
Trước mắt cá nhân, đạo đức xã hội tồn tại một cách khách quan mà trongcuộc sống của mình cá nhânn tất yếu phải nhận thức, tiếp thu và thực hiện Đạođức xã hội và đạo đức cá nhân là sự thống nhất biện chứng giữ cái chung và cáiriêng, giữa cái phổ biến, cái đặc thù và cái đơn nhất Đạo đức cá nhân là biểuhiện độc đáo của đạo đức xã hội, nhưng không bao hàm hết thảy mọi nội dung,đặc điểm của đạo đức xã hội Mỗi cá nhân lĩnh hội, tiếp thu đạo đức xã hội khácnhau và ảnh hưởng đến đạo đức xã hội cũng khác nhau Đạo đức xã hội khôngthể là tổng số giản đơn của đạo đức các cá nhân, mà nó là tổng hợp những nhucầu phổ biến được đúc kết từ đạo đức cá nhân Đạo đức xã hội trở thành cáichung của một giai cấp, một cộng đồng xã hội, một thời đại nhất định, nó duy trì
và củng cố bàng những phong tục, tập quán, truyền thống, những di sản văn hoávật chất và tinh thần, được biến đổi và phát triển thông qua hoạt động sản xuấttinh thần và giao tiếp xã hội
Quan hệ đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân là quan hệ giữa những chuẩnmực chung mang tính phát triển đặc thù trong xã hội với những phẩm chất hành
vi, những yêu cầu cụ thể hằng ngày, quan hệ giữa lý tưởng xã hội và hiện thựccủa cá nhân, giữa trí tuệ, tri thức xã hội với tình cảm, ý chí và năng lực hoạtđộng đạo đức cụ thể của cá nhân
* Bản chất của đạo đức.
Trang 18Theo quan điểm của C.Mác – Ăngghen, cơ sở của đạo đức xét đến cùng làlợi ích xã hội và qui luật phát triển của lịch sử Đạo đức là một hình thái ý thức
xã hội phản ánh quy luật phát triển xã hội dưới hình thái giá trị - giá trị đạo đức.Trong xã hội có giai cấp, bên cạnh những chuẩn mực giá trị đạo đức chung củacon người còn có chuẩn mực phản ánh lợi ích, vị trí, vai trò của mỗi giai cấp
Quan điểm Mác xít khẳng định: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản
ánh tồn tại xã hội về mặt đạo đức Trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang bản chất giai cấp đồng thời mang tính nhân loại.
Là một hình thái ý thức xã hội đạo đức phản ánh tồn tại xã hội – tức phản ánhnhững điều kiện vật chất hiện thực mà trong đó con người sống và hoạt động Nó
là tính thứ hai so với tồn tại xã hội, do tồn tại xã hội quyết định Vì vậy, khi tồntại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi theo, tồn tại xã hội khác nhau thì cócác kiểu đạo đức khác nhau như đạo đức cộng xã nguyên thủy, đạo đức chiếmhữu nô lệ, đạo đức phong kiến, đạo đức tư bản chủ nghĩa và đạo đức cộng sảnchủ nghĩa
Đạo đức phản ánh tồn tại xã hội, trong đó trực tiếp và tập trung nhất làphản ánh quan hệ lợi ích giữa người với người – mặt biểu hiện của quan hệ sảnxuất Bởi lẽ quan hệ sản xuấ đó là quan hệ là quan hệ vật chất nền tảng, cơ sởcủa quan hệ đạo đức và các quan hệ xã hội Lợi ích, mặt bểu hiện của quan hệsản xuất là lợi ích vật chất – động lực xét đến cùng của mọi hoạt động ở conngười C.Mác chỉ rõ rằng “lợi ích được hiểu một cách đúng đắn là nguyên tắccủa toàn bộ đạo đức”; nghĩa là cơ sở và nguyên tắc của đạo đức chính là sự côngbằng về lợi ích giữa người với người Trong quan hệ sản xuất, thì đạo đức bịphản ánh và bị quy định bởi yếu tố quan trọng nhất là quan hệ sở hữu về tư liệusản xuất vì nó là yếu tố quyết định quan hệ ttổ chức quản lý và quan hệ phânphối; đồng thời quan hệ sở hữu là yếu tố quyết định bản chất của một chế độ xãhội nhất định Do đó, để có một nền đạo đức thực sự thì phải thiết lập sự công
Trang 19bằng về quyền của mọi người đối với tư liệu sản xuất tức xác lập chế độ cônghữu bằng cách mạng vô sản, cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công
xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản
Đạo đức không thể tách rời khỏi cuộc sống của con người, bằng hànhđộng thực tế và quan hệ xã hội, đồng thời qua kinh nghiệm lịch sử của mình đểxây dựng nên những tiêu chuẩn giá trị của đạo đức Bản chất của đạo đức phải là
sự phản ánh giá trị cao đẹp của của đời sống con người trong mối tương quangiữa người với con người, giữa cá nhân và xã hội
Bản chất của đạo đức không phải là cái gì có sẵn, hoặc thiên định Nếu không cócon người và xã hội loài người thì không có đạo đức nào cả Vì vậy đạo đức làmột hình thái ý thức xã hội của con người Đạo đức bị chi phối bởi trách nhiệmcủa con người tới hoàn cảnh sống, trước đồng loại Do đó đạo đức là sản phẩmtổng hợp của những yếu tố khách quan và những nhân tố chủ quan Mặt kháchquan là những hiện thực được phản ánh vào ý thức đạo đức Mặt chủ quan lànhững nỗ lực vươn tới của con người, nhằm đạt đến những giá trị đạo đức đíchthực
Đạo đức không phải là một cái gì bất biến, khi định ra những quy tắc,nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, người ta thường dựa vào điều kiện xã hội, nênđạo đức cũng luôn luôn biến đổi cùng với sự biến đổi của tồn tại xã hội Ở đâyvấn đề cần bàn đến là xu hướng và tính chất biến đổi của đạo đức trong đời sốngcon người Quy luật của sự biến đổi bao giờ cũng theo xu hướng tiến bộ và sángtạo ra những giá trị mới Đó cũng vì do lực lượng sản xuất xã hội ngày càng pháttriển và hoàn thiện nên đạo đức tất yếu cũng phải được phát triển ngày cànghoàn thiện trên cái nền tảng ấy Trong xã hội có giai cấp thì đạo đức cũng mangbản chất giai cấp Bởi mỗi giai cấp có lợi ích, địa vị khác nhau do tồn tại xã hội,quan trọng nhất là quan hệ kinh tế của mỗi giai cấp quy định Cho nên mỗi giaicấp có quan niệm chuẩn mực riêng về đạo đức
Trang 20Bản chất giai cấp của đạo đức được thể hiện trước hết ở đạo đức xã hộichia thành hai nền đạo đức đối lập nhau Đạo đức của giai cấp thống trị chi phốiđời sống đạo đức xã hội Để bảo vệ cho lợi ích thống trị, giai cấp thống tri doNhà nước của nó tiến hành định ra những quy tắc, chuẩn mực đạo đức nhằm điềuchỉnh hành vi đối với các thành viên trong giai cấp mình; đồng thời áp đặt buộccác thành viên khác phải thừa nhận nền đạo đức của giai cấp thống trị chèn ép.
Nó tồn tại như cái không chính thống, không phổ biến bằng đạo đức của giai cấpthống trị Đúng như Ph Ăngghen đã viết: “và cũng như xã hội cho tới nay đãphát triển trong sự đối lập của giai cấp, đạo đức luôn luôn là đạo đức của giaicấp Cho nên, hoặc giả nó bênh vực sự thống trị, hoặc giả khi giai cấp bị trị đãtrở nên khá nạnh, thì nó tiêu biểu cho sự nổi dậy chống kẻ thống trị và tiêu biểucho lợi ích tương lai của những người bị áp bức” Mặc dù đạo đức của giai cấpthống trị và đạo đức của giai cấp bị trị là đối lập nhau, song chúng không cô lập
mà có sự ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau
Bản chất của đạo đức còn thể hiện ở cấu trúc đạo đức từ ý thức đạo đức,quan hệ đạo đức, đến hành vi đạo đức
Trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang bản chất giai cấp đồng thời mang tínhnhân loại Tính nhân loại của đạo đức được biểu hiện ở hình thức thấp là các quitắc thông thường, giản đơn trong cuộc sống của con người như lòng trắc ẩn, tìnhnhân ái giữa người với người, lòng vị tha, độ lượng…Hình thức cao của tínhnhân loại là những giá trị đạo đức tiến bộ nhất ở từng thời đại lịch sử đó
Bản chất giai cấp và tính nhân loại là hai mặt của đạo đức xã hội trong xãhội có giai cấp chúng luôn tác động quy định, ảnh hưởng lẫn nhau Trong đótính giai cấp chi phối tính nhân loại, tính nhân loại được biểu hiện thông qualăng kính giai cấp Tính giai cấp là phạm trù lịch sử, tính nhân loại là vĩnh hằngchừng nào còn tồn tại con người nói chung
* Chức năng của đạo đức
Trang 21Lịch sử phát triển của loài người từ xưa đến nay đã khẳng định vai trò tolớn của đạo đức trong viêc duy trì trật tự, bình ổn và phát triển xã hội Xã hộiphát triển nhanh hay chậm, lùi hay trì trệ, suy cho cùng là do năng lực và tính tựnguyện, tự giác của con người, đồng thời do con người nhận thức được quy luâthành động phù hợp theo quy luật Chính đạo đức đã đóng vai trò quan trọng đểtạo dựng nên cuộc sống tốt đẹp cho xã hội và giúp đỡ con người hoàn thiệnnhân cách.
Từ khi con người và xã hội loài người xuất hiện, đạo đức cũng đã hìnhthành và tham gia vào quá trình điều khiển ý thức và hành vi của con người vàcho phù hợp với hoàn cảnh và cuộc sống thực tại
Hoạt động lao động sáng tạo của con người là hoạt động biểu hiện nghĩa vụ đạođức cao nhất Trải qua các quá trình lao động sáng tạo và cải tiến xã hội, conngười cần thấy rõ hơn giá trị to lớn của đạo đức Đạo đức không chỉ đóng vai tròđiều chỉnh ý thức và hành vi của con người , mà nó còn có tác dụng cảm hóa conngười, giúp con người nhận thức và hành động và cảm hóa con người, giúp conngười Đồng thời đạo đức còn giúp con người sáng tạo ra hạnh phúc, giữ gìnphẩm giá làm thức dậy trong con người những tình cảm tốt đẹp, đó là lòng nhân
ái, tính trung thực, thẳng thắn Xã hội loài mgười cùng tiến lên, cùng với sự tiếnlên của xã hội, đạo đức sẽ có mặt ở tất cả các lĩnh vưc hoạt đôngcủa đời sống xãhội, nó nắm vai trò điều khiển xã hội, thay thế chức năng quản lý con người bằngpháp luật Đến khi xã hội phát triển đến trình độ cao nhân loại (chủ nghĩa cộngsản văn minh) thì một số hình thái ý thức xã hội sẽ biến mất, nhưng đạo đức vẫncòn tồn tại và phát triển cùng với con người
- Chức năng nhận thức
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, cho nên đạo đức làphương thức đặc biệt giúp con người chiếm lĩnh thế giới Tính chất đặc biệt củađạo đức là nó đưa con người vào thế giới của giá trị để con người nhận thức,
Trang 22đánh giá, lựa chọn, lĩnh hội những giá trị phù hợp với lợi ích của mình và của xãhội.
Nhận thức đạo đức của con người là quá trình thống nhấtcủa hai mặt nhận thứchướng ngoại và nhận thức hướng nội
Nhận thức hướng ngoại là lấy hệ thống quan điểm, nguyên tắc, chuẩn mực, hệgiá trị đạo đức xã hội làm đối tượng nhận thức Nhờ đó con người với tư cáchchủ thể đạo đức chuyển hóa những yêu cầu của đạo đức xã hội thành ý thức,phẩm chất đạo đức cá nhân, thông qua rèn luyện tu dưỡng theo chuẩn mực đạođức đã lựa chọn
Nhận thức hướng nội là chủ thể đạo đức lấy chính bản thân mình làm đốitượng nhận thức, thể hiện sự tự nhận xét, tự đánh giá về nhận thức, thái độ hành
vi của bản thân so với những nguyên tắc, chuẩn mực, giá trị đạo đức chung của
xã hội Từ đó, các chủ thể đạo đức hình thành và phát triển các quan điểm,nguyên tắc sống của mình như: tích cực sáng tạo hay thụ động ỷ lại, hy sinh hayhưởng thụ, vị tha hay vị kỉ…
Nhận thức đạo đức có hai trình độ là nhận thức thông thường và nhận thức lý luận:
Nhận thức đạo đức thông thường chính là ý thức về những quy tắc, những
giá trị đạo đức đơn lẻ được hình thành trực tiếp trong đời sống hằng ngày Mặc
dù ở trình độ thấp, song nhận thức đạo đức thông thường có tác dụng to lớntrong việc điều chỉnh nhận thức, thái độ, hành vi của con người, góp phần ổnđịnh trật tự xã hội chẳng hạn: các nguyên tắc trong đối nhân xử thế như “Trênkính, dưới nhường”, “ Đói cho sạch, rách cho thơm”…
Nhận thức đạo đức ở trình độ lí luận là nhận thức có tính hệ thống về
những nguyên tắc, những chuẩn mực, những giá trị đạo đức mang tính phổ biến.Nhận thức đạo đức có trình độ lí luận là đòi hỏi khách quan của sự phát triển đạo
Trang 23đức và của sự tiến bộ xã hội Nó là một bộ phận cấu thành hệ tư tưởng của cácgiai cấp, nhất là giai cấp thống trị xã hội.
Đạo đức là công cụ giúp con người nhận thức về xã hội về mặt đạo đức.Chúng ta đều biết rằng, các quan điểm tư tưởng, những nguyên tắc, chuẩn mựcđạo đức vừa là kết quả phản ánh tồn tại xã hội của con người, nhưng khi đã đượchình thành, nó lại có tác động trở lại đời sống con người
Các quan điểm đạo đức chuẩn mực chính là những tiêu chuẩn giá trị đạo đức phùhợp yêu cầu phát triển của xã hội, tạo nên tính cách tốt đẹp của con người vànhân loại Vì vậy, nó đã được con người đánh giá, thừa nhận và khái quát thànhnhững khuôn mẫu về mặt đạo đức để co người căn cứ vào đó mà tự xem xét, tựđánh giá, tự điều chỉnh bản thân Chức năng nhận thức có vai trò định hướng chomọi hành vi của chủ thể đạo đức Chính chức năng nhận thức đã trang bị cho conngười những tri thức lý luận và thực tiễn đạo đức để con người nhận thức đượccái xấu
- Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức
Chức năng điều chỉnh hành vi là chức năng cơ bản nhất của đạo đức, là mộttrong những phương thức không thể thiếu để điều chỉnh hoạt động của con ngườinhằm đáp ứng yêu cầu và lợi ích chung của xã hội Không có chức năng này thìđạo đức sẽ trở nên trừu tượng, vô nghĩa và không đạt đến giá trị
Điều chỉnh hành vi của đạo đức được thể hiện từ hai phía: xã hội và chủthể đạo đức
Điều chỉnh từ phía xã hội: Đó là bằng các chuẩn mực đạo đức, quy tắc đạo
đức có tính khuyến khích hoặc ngăn cấm đối với hành vi của cá nhân Xã hộikhuyến khích hành vi của cá nhân làm điều thiện, điều tốt vì lợi ích chung củacon người, đồng thời ngăn cấm các hành vi làm điều ác, điều xấu làm tổn hại đếnlợi ích của người khác Sự điều chỉnh hành vi đạo đức từ phía xã hội đã được thể
Trang 24hiện qua cơ chế dư luận xã hội Cho nên điều chỉnh hành vi của đạo đức khác vớiđiều chỉnh hành vi của pháp luật bằng cơ chế quyền lực.
Điều chỉnh hành vi đạo đức từ phía chủ thể được thực hiện thông qua sự
nhận thức vè những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực, giá trị đạo đức xã hội, chủthể tự giác điều chỉnh hành vi đạo đức của bản thân mình cho phù hợp với yêucầu đạo đức của xã hội Sự điều chỉnh hành vi của đạo đức từ phía chủ thể đượcthực hiện bằng cơ chế tự nguyện, tự giác của mỗi người Nó khác với pháp luậtmang tính cưỡng chế bắt buộc năng điều chỉnh hành vi của đạo đức có tác dụnglàm cho hoạt động của con người phù hợp với lợi ích của xã hội, của cộng đồng.Thực tế đời sống xã hội rất phức tạp và đa dạng, trong xã hội thường tồn tại vàphát triển đan xen giữa những người tốt và xấu, người có đức hạnh và kẻ vôlương tâm Người có ích và kẻ ăn bám, người có hành vi cao cao cả và kẻ thấphèn…Do những hiện tượng đạo đức thấp hèn trong xã hội
Xã hội muốn ổn định và phát triển, đòi hỏi mỗi người phải có tính tự giác,
tự nguyện Xã hội càng văn minh thì tính tự giác của con người càng phải caohơn Những chuẩn mực đạo đức ra đời để giúp cho con người điều chỉnh ý chí vàhành vi của mình, nhằm đáp ứng những yêu cầu chung của nền đạo đức xã hội
- Chức năng giáo dục
Chức năng giáo dục của đạo đức nhằm góp phần hình thành, phát triểnnhân cách con người đáp ứng yêu cầu ổn định và phát triển của xã hội Đặc biệt,giáo dục đạo đức cách mạng có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành, phát triểnnhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Bởi lẽ, giáo dục đạo đức là conđường cơ bản nhằm hình thành cho con người hệ thống những quan điểm,nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội Hệ thống những nguyên tắc, quytắc, chuẩn mực này được hình thành để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội,phù hợp với lợi ích chung và lợi ích riêng của mọi người Đồng thời, con ngườidựa vào đó để tự điều chỉnh mình; mặt khác, bằng dư luận của xã hội để điều
Trang 25chỉnh ý thức và hành vi của các chủ thể đạo đức Chẳng hạn nguyên tắc sống củacon người phải trung thực, thật thà Nhìn vào nguyênn tắc này, mỗi con người tựnguyện, tự giác tuân theo hoặc ai vi pham (ăn cắp, nói dối…) sẽ bị dư luận xãhội lên án Qua đó tạo cơ sở cho con người biết đánh giá các hiện tượng đạo đức
xã hội cũng như đánh giá thái độ hành vi đạo đức của bản thân mình theo chuẩnmực xã hội Thông qua giáo dục đạo đức giúp cho con người có khả năng đánhgiá, lựa chon, tiếp thu các giá trị đạo đức xã hội để hình thành phẩm chất đạo đức
cá nhân Giáo dục đạo đức còn làm tăng tính tích cực xã hội của con người, giúpcon người có ý thức trách nhiệm trước cuộc sống (tạo niềm tin, hạnh phúc, thanhthản lương tâm…) Vì vậy chức năng giáo dục của đạo đức đóng vai trò quantrọng nhất trong việc hình thành nhân cách của con người Bác Hồ đã dạy:
“Hiền dữ đâu phải là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên”
Giáo dục đạo đức là một quá trình thống nhất của hai mặt là giáo dục và tựgiáo dục Giáo dục được thực hiện từ gia đình, nhà trường đến đoàn thể, xã hội
Tự giáo dục là của bản thân mỗi người bằng rèn luyện, tu dưỡng đạo đức theoyêu cầu của xã hội
Hiệu quả của giáo dục đạo đức phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Điều kiệnkinh tế, chính trị, xã hội gắn với tiến bộ của đạo đức và nhân đạo hóa các quan
hệ xã hội; cách tổ chức giáo dục, phương pháp, hình thức giáo dụcvà đặc biệt làmức độ tự giác của đối tượng giáo dục đạo đức Để thực hiện tốt chức năng giáodục, yêu cầu của đạo đức phải hướng con người đến những giá trị đích thực củađời sống, nghĩa là phải xuất phát từ tình hình thực tiễn, đặt con người trong mốitương quan giữa lợi ích cá nhân và lợi ích của xã hội
* Vai trò của đạo đức trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa
Trang 26Đặc trưng bản chất của kinh tế thị trường là kinh doanh với sự điều tiếtcủa nguyên tắc nhỏ nhất, lớn nhất, nghĩa là làm sao với một chi phí nhỏ nhất, chủthể kinh doanh thu được lợi nhuận lớn nhất Nếu thực chất của hoạt động kinhdoanh là như vậy thì đạo đức với tư cách là nhân tố điều tiết hoạt động của conngười có vai trò có vai trò to lớn trong kinh doanh Nói cách khác, nếu đạo đứctham gia vào quá trình điều tiết hoạt động kinh doanh thì nó thúc đẩy hay là kìmhãm kinh doanh? Trả lời câu hỏi này, hiện vần tồn tại tại hai đáp án loại trừ nhaumột là phủ nhận và hai là khẳng định.
Những người phủ nhận tác động tích cực của kinh tế thị trường đối với đạo đứccũng chính là những người phủ nhận vai trò của đạo đức đối với kinh doanh
Đặt đối lập một cách tách rời hành vi kinh doanh với hành vi đạo đức,những người phủ nhận vai trò của đạo đức đối với kinh doanh cho rằng, hành vikinh doanh hoàn toàn không có mối quan hệ nội tại với hành vi đạo đức, do đó,
nó không có tính cách của hành vi đạo đức Trong hoạy động thị trường, hành vikinh doanh với tư cách là hành vi kinh doanh chỉ chịu sự điều tiết của cácnguyên tắc, các chuẩn mực thi trường Về cơ bản, những nguyên tắc, quy tắc thitrường được pháp chế hóa thành luật kinh doanh và những quy định có tính phápquy đối với kinh doanh Ở đây chỉ có sự điều tiết của các chuẩn mực thị trường
mà không có sự điều tiết của các các chuẩn mực, các nguyên tắc đạo đức
Tuy nhiên, theo quan điểm của những người khẳng định mối quan hệ hữu
cơ giữa kinh tế thi trường với đạo đức từ đó khẳng định vai trò tích cực của đạođức đối với kinh tế thi trường, thì vấn đề không chỉ dơn giản như vậy Việc đốilập một cách tách rời giữa hành vi đạo đức và hành vi kinh tế là không khoa học.Đặc trưng quan trọng nhất của hành vi đạo đức là sự tự nguyện giúp đỡ ngườikhác, phục vụ xã hội, là sự tự nguyện hy sinh lợi ích cá nhân Nhưng nếu chỉ nhưvậy thì hành vi đạo đức đã tựa hồ như là kết quả của một năng lực bẩm sinh; nóchẳng có mối liên hệ gì với những điều kiện sinh sống của cong người
Trang 27Thực tế cho thấy, nếu tách rời đạo đức khỏi kinh doanh, tìm động lực kinhdoanh chỉ ở lợi nhuận và do đó, quản lý xã hội chỉ chủ yếu dựa vào cơ chế,chính sách, pháp luật để điều tiết kinh doanh thì hiệu quả điều tiết sẽ bị hạn chế.Các chủ thể kinh doanh, trong chừng mựcông không có sự phát triển tương ứng
về đạo đức kinh doanh, nghĩa là không bị ràng buộc bởi các chuẩn mực đạo đức,bởi tình cảm và lương tâm ở tầng sâu tâm lý, thì lòng ham lợi sẽ kích thích họlách qua những khiếm khuyết của pháp luật và chính sách, phá hoại sự cạnhtranh trung thực, làm cho hoạt động của thị trường không diễn ra một cách bìnhthường, lành mạnh Pháp luật và chính sách dẫu hoàn thiện đến đâu cũng khôngtránh khỏi những khiếm khuyết nhất định Hơn thế, hiện nay, chúng ta đangtrong quá trình hoàn thiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Địnhhướng xã hội chủ nghĩa là một điều mới mẻ, chưa cóa tiền lệ Những khiếmkhuyết của cơ chế và quản lý trong thời gian qua đã tạo đều kiện cho hàng loạtcác trường hợp kinh doanh vừa vi phạm pháp luật, vừa vi phạm đạo đức Hậuquả của điều đó, là những tổn hại to lớn không chỉ đối với công quỹ mà đối vớingay bản thân các doanh nghiệp, doanh nhân đã vi phạm đạo đức kinh doanh
Vì vây, bên cạnh việc hoàn thiện cơ chế và tăng cường pháp chế trongkinh doanh, nhà nước cần chủ động và tích cực đạo đức hóa lĩnh vực kinh doanhtạo ra sự thống nhất giữa đạo đức và pháp luật trong quản lý Sự thống nhất nàyđòi hỏi rằng, trong quá trình chế định chính sách, luật, các quy định có tính phápquy đối với kinh doanh, Nhà nước cần dựa vào không chỉ các yêu cầu về kinh tế,
kỹ thuật mà cả những yêu cầu, những chuẩn mực đạo đức xã hội nói chung, đạođức kinh doanh nói riêng Việc mở rộng hành lang pháp luật, luật hóa những yêucầu đạo đức trong kinh doanh chính là một hình thức “đưa” đạo đức vào trongkinh doanh Thông qua, những ưu đãi, những hạn chế, những quy định về chấtlượng sản phẩm hàng hóa, về bảo vệ môi trường trong kinh doanh, về quyền lợi,nghĩa vụ của doanh nghiệp, doanh nhân…, Nhà nước điều chỉnh lợi ích trên
Trang 28phạm vi toàn xã hội, giữa các ngành nghề Sự thống nhất này đòi hỏi rằng, trongquá trình chế định chính sách, luật, các quy định có tính pháp quy đối với kinhdoanh, nhà nước cần dựa vào không chỉ các yêu cầu về kinh tế, kỹ thuật mà cảnhững yêu cầu về kinh tế, kỹ thuật mà cả những yêu cầu, những chuẩn mực đạođức xã hội nói chung, đạo đức kinh doanh nói riêng Việc mở rộng hành langpháp luật, luật hoá những yêu cầu đạo đức trong kinh doanh chính là một hìnhthức “đưa” đạo đức vào trong kinh doanh Thông qua, chẳng hạn như những ưuđãi, những hạn chế, những quy định về chất lượng sản phẩm hàng hoá, về bảo vệmôi trường trong kinh doanh, về quyền lợi, nghĩa vụ của doanh nghiệp, doanhnhân…, Nhà nước điều chỉnh lợi ích trên phạm vi toàn xã hội, giữa các ngànhnghề, các lĩnh vực kinhh tế dựa trên nguyên tắc công bằng xã hội trong điều kiệnkinh tế thị trường Sự điều chỉnh như thế chính là sự điều chỉnh được chi phốibởi các nguyên tắc, các chuẩn mực đạo đức xã hội Nói khác đi, thông qua cácchính sách, các quy định có tính pháp quy đối với kinh doanh, các chuẩn mực,các nguyên tắc đạo đức xã hội thể hiện vai trò điều tiết, vai trò động lực trongkinh doanh.
Trên bình diện đạo đức cá nhân, cũng không thể và không nên tách đạođức khỏi kinh doanh Việc coi đao đức là đạo đức, kinh doanh là kinh doanh vôhình chung sẽ bật đèn xanh cho các doanh nhân vi phạm đạo đức trong hoạtđộng kinh doanh Việc vi phạm đạo đức trong kinh doanh trước sau cũng sẽ dẫnđến vi phạm pháp luật vì vậy, vấn đề đặt ra không phải là: con người khi là conngười kinh doanh thì không cần biết đến đạo đức, chỉ cần biết đến đạo đức khi rakhỏi lĩnh vực kinh kinh doanh Vấn đề là: làm sao cho các doanh nhân, nhữngngười lao động không chỉ tự giác mà còn tự nguyện tuân thủ các nguyên tắc thịtrường, biến việc thực hiện nguyên tắc thị trường thành nhu cầu tinh thần - đạođức Điều đó đương nhiên không cản trở hoạt động kinh doanh, mà ngược lại
Trang 29còn thúc đẩy việc hợp lý hoá sự vận hành của thị trường, góp phần phát triểnkinh tế.
Yêu cầu của thực tiễn phát triển đạo đức kinh doanh trong điều kiện hiệnđại đã làm xuất hiện một lý thuyết đạo đức chuyên biệt gọi là đạo đức kinhdoanh Lí thuyết này có nhiệm vụ biện minh về đạo đức cho kinh doanh, nghiêncứu hành vi tác động của đạo đức kinh doanh, tính đặc thù của đạo đức kinhdoanh, làm cơ sở đạo đức cho quản lý nhà nước về kinh tế, kinh doanh và địnhhướng cho các doanh nghiệp xây dựng, giáo dục đạo đức doanh nghiệp
Tất cả những điều đó khẳng định tính tất yếu và vai trò động lực của đạođức trong kinh doanh Đẩy mạnh nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu tính đặc thùcủa đạo đức kinh doanh trong điều kiện kinh tế thi trường định hướng xã hội chủnghĩa, trên cơ sở đó, xây dựng và áp dụng đạo đức kinh doanh là một trongnhững nhiệm vụ trong những phương diện gắn liền với chính quá trình xây dựngnền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
* Ảnh hưởng của nền kinh tề thị trường đối với đạo đức
Hiện nay đất nước ta đang tiến hành đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội, trong đó đổi mới kinh tế là trọng tâm Thực chất của đổimới kinh tế là chuyển từ mô hình kinh tế tập trung quan liêu hành chính bao cấpsang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Việc chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
đã và đang tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nó vừa cótính tích cực, vừa có tính tiêu cực đối với đạo đức
Ảnh hưởng của cơ chế thị trường đối với đạo đức là một hiện tượng hết sứcphức tạp; có thể khái quát mặt tích cực và tiêu cực của nó như sau:
- Những ảnh hưởng tích cực
Cơ chế thị trường kích thích sự phát triển kinh tế, nâng cao tổng công lợi xãhội, tạo điều kiện cho sự phát triển con người về mọi mặt, trong đó có đạo đức
Trang 30Con người tham gia vào hoạt động kinh tế thị trường về nhân cách được độc lập,
tự do có quyền bình đẳng trong cạnh tranh, giữ chữ tín trong trao đổi và tăngcường quan tâm phát triển lợi ích chung của toàn xã hội
Tham gia vào kinh tế thị trường, con người có điều kiện phát triển nhâncách cá nhân: Tính quyết đoán, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tính năng động sángtạo trong lập thân, lập nghiệp được khẳng định
Như vậy, kinh tế thị trường vừa có ảnh hưởng tích cực, vừa có ảnh hưởngtiêu cực đối với đạo đức
Là một lĩnh vực đặc trưng cho nhân tính, đạo đức rất nhạy cảm trước tácđộng của kinh tế thị trường, nó trở thành vấn đề cấp bách gây ra mối quan tâmkhông chỉ trên bình diện lý luận mà cả trên bình diện thực tiễn Vì thế, việc lựachọn nội dung và hình thức giáo dục thích hợp có ý nghĩa quan trọng trong việcđịnh hướng phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa
*Sức biến đổi của thang giá trị đạo đức
-Giá trị và thang giá trị đạo đức
Trang 31+ Giá trị đạo đức là những cái được con người lựa chọn và đánh giá, lànhững cái có ý nghĩa tích cực với đời sống xã hội và phù hợp với dư luận xã hội.+ Một tổ hợp giá trị đạo đức hay một hệ thống giá trị đạo đức được xếp theomột thứ tự ưu tiên nhất định được gọi là thang giá trị đạo đức.Thang giá trị đạođức được hình thành và phát triển phụ thuộc vào điều kiện lịch sử xã hội nhấtđịnh và từ thang giá trị đạo đức chủ thể đạo đức có thể vận dụng nó để tạo lậpmột hoạt động, hành vi hay đánh giá một hiện tượng xã hội, một cử chỉ hành vi
… được gọi là thước đo giá trị
- Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa
+ Nước ta chuyển từ cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chếthị trường định hướng XHCN ở nước ta đang từng bước làm thay đổi các điềukiện kinh tế theo các hướng:
Chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp hiện vật sang kinh tế hàng hóa, trao đổilao động cho nhau qua thước đo giá trị là tiền
Chuyển từ kinh tế khép kín sang nền kinh tế mở, gắn với phân công laođộng trong nước và quốc tế, chuyển từ nền kinh tế trên phạm vi hộ gia đình làngxóm, ít tính cạnh tranh quyết liệt trên phạm vi trong nước và thế giới
-+ Nước ta đang mở cửa giao lưu với thế giới, tham gia vào quá trịnh hợptác, phân công lao động quốc tế và trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiềudiễn biến phức tạp, tuy có nhiều thời cơ thuận lợi nhưng cũng rất nhiều khókhăn, thử thách tác động đến nền tảng đạo đức dân tộc
Giá trị là cái gì làm cho một vật trở nên có ích lợi, có ý nghĩa, là đáng quý
về mặt nào đó Có giá trị cá nhân và giá trị xã hội Từ quan niệm trên, có thể hiểugiá trị đạo đức là những cái được con người lựa chọn và đánh giá, là những cái
có ý nghĩa tích cực với đời sống xã hội và phù hợp với dư luận xã hội.Một tổ hợpgiá trị đạo đức hay một hệ thống giá trị đạo đức được xếp theo một thứ tự ưu tiên
Trang 32nhất định được gọi là thang giá trị đạo đức Ví dụ, khi nói về giá trị đạo đứctruyền thống của dân tộc ta, giáo sư Trần thứ tự nhất định.Thang giá trị đạo đứcđược hình thành và phát triển phụ thuộc vào điều kiện lịch sử xã hội nhất định,
và từ thang giá trị đạo đức, chủ thể đạo đức (dân tộc, nhóm, cá thể) có thể vậndụng nó để tạo lập một hoạt động, hành vi hay đánh giá một hiện tượng xã hội,một cử chỉ hành vi…được gọi là thước đo giá trị Đạo đức không sinh ra từ đạođức mà là sản phẩm của những điều kiện lịch sử cụ thể Các giá trị đạo đức là kếtquả của các mối quan hệ giữa người với người trong những hoàn cảnh lịch sửnhất định Nghiên cứu thang giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam có thể nêulên một số nhận xét sau:
Trong thang giá trị đạo đức truyền thống, lòng yêu nước được xem là cốtlõi, cơ bản, phổ biến và cao nhất Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, lao độngcần cù thông minh sáng tạo, thương người vì nghĩa, lối sống tình nghĩa thủychung là những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam Nghị quyết
09 của Bộ chính trị về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện naychỉ rõ: “Những giá trị văn hóa truyền thống vững bền của dân tộc Việt Nam làlòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý thương người như thểthương thân”, đức tính cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao động Đó là thang giátrị đạo đức truyền thống của dân tộc Cũng cần phải thấy rằng, bên cạnh nhữngmặt ưu điểm, trong thang giá trị đạo đức Việt Nam cổ truyền cũng bộc lộ nhiềuhạn chế của một nền văn hóa đạo đức được xây dựng trên cơ sở xã hội nôngnghiệp và luôn luôn phải tiến hành chiến tranh chống ngoại xâm Nó chủ yếu đềcao phẩm chất chiến đấu “chống giặc cứu nước” mà ít nhiều xem nhẹ nhữngphẩm chất lao động, xây dựng làm giàu cho đất nước Các giá trị đạo đức được
đề cao là các giá trị cộng đồng, còn các giá trị cá nhân còn mờ nhạt.Hiện naynước ta đang thực hiện quá trình đổi mới toàn diện đất nước Từ đổi mới kinh tế,đến đổi mới chính trị, đổi mới văn hóa xã hội, đổi mới quan hệ quốc tế Do đó,
Trang 33mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đang có sự chuyển đổi sâu sắc và tác động đếnđời sống tinh thần, trong đó các nhân tố tác động chủ yếu đến đạo đức là:
+Nước ta chuyển từ cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình chuyển sang nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang từng bước làm thay đổi cácđiều kiện kinh tế theo các hướng:
+ Chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp hiện vật sang kinh tế hàng hóa, traođổi lao động cho nhau qua thước đo giá trị là tiền.+ Chuyển từ kinh tế khép kínsang nền kinh tế mở, gắn với phân công lao động trong nước và quốc tế, chuyển
từ nền kinh tế trên phạm vi hộ gia đình, làng xóm, ít tính cạnh tranh sang kinh tếhàng hóa cạnh tranh quyết liệt trên phạm vi trong nước và thế giới Tác động củamôi trường kinh tế vào giá trị đạo đức truyền thống, đặc biệt lối sống là rất đáng
kể Chuyển sang cơ chế kinh tế mới, sự phân hóa xã hội là không tránh khỏi.Cạnh tranh tạo ra sáng kiến và nâng cao năng suất lao động, đồng thời cũng làmcho sự rủi ro ngày càng cao, sự phân hóa thu nhập có chiều hướng gia tăng
Do tác động của lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, “có cầu sẽcung”, trong xã hội xuất hiện những tệ nạn xã hội mới, ảnh hưởng nghiêm trọngđến những chuẩn mực giá trị đạo đức truyền thống Đó là những điều kiện kháchquan không thể tránh khỏi đang tác động trực tiếp vào những giá trị đạo đứctruyền thống, nhất là vào tính cộng đồng, tình làng, nghĩa xóm
+ Nước ta đang mở cửa giao lưu với thế giới, tham gia vào quá trình hợptác phân công lao động quốc tế trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiềudiễn biến phức tạp, tuy có nhiều thời cơ thuận lợi, nhưng cũng rất nhiều khókhăn thử thách tác động đến nền tảng đạo đức dân tộc Những tư tưởng tư sảnnhư chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa đa nguyên chính trị vàcác thứ văn hóa phẩm đồi trụy cũng xâm nhập vào nước ta Mặt khác, lợi dụng ta
mở cửa nền kinh tế, các thế lực phản động quốc tế đang thực hiện chiến lược
“diễn biến hòa bình”, tập trung vào lĩnh vực tư tưởng văn hóa, đạo đức, nhằmxóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trang 34Sự biến động mạnh mẽ của các điều kiện kinh tế - xã hội, tất yếu không thểkhông có sự chuyển đổi thang giá trị đạo đức Vấn đề là chuyển đổi theo hướngnào, tiến bộ hay thoái hóa, thăng hoa hay sa đọa Phải chăng kinh tế phát triển thìtrình độ đạo đức xã hội tự nhiên sẽ được nâng cao ? Phải chăng quan niệm hiệuquả kinh tế đồng nghĩa với chủ nghĩa sùng bái đồng tiền ? Thực tế ở Việt Namgần hai mươi năm đổi mới cho thấy, thang giá trị đạo đức xã hội đang thay đổicực kỳ nhanh chóng, phức tạp, có cả tích cực và tiêu cực, thậm chí có cả đảo lộn,
sự biến động diễn ra nhiều chiều chưa ổn định
Trong điều kiện mới, các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc đang cónhững chuyển biến phức tạp, có đấu tranh giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữathiện và ác, giữa lối sống lành mạnh, trung thực, thủy chung với lối sống thựcdụng, dối trá, ích kỷ, ăn bám, chạy theo đồng tiền Đạo đức mới vừa phải đấutranh với các hệ thống đạo đức khác, vừa phải đấu ttranh để tự đổi mới, tự khẳngđịnh mình trong điều kiện mới, trên cơ sở kế thừa đổi mới cho thích ứng với tìnhhình mới Trong quá trình kế thừa và đổi mới, những giá trị đạo đức nổi lên mấy
xu hướng sau:
+ Các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc được khẳng định và pháttriển trong điều kiện mới, chẳng hạn như: lòng yêu nước, lòng nhân ái, ý thứcđoàn kết cộng đồng, lòng vị tha, tính trung thực…đều có sự biến đổi
+ Tư tưởng yêu nước là giá trị đạo đức hàng đầu xuyên suốt quá trình lịch
sử dân tộc Việt Nam từ khi dựng nước tới nay Ngày nay, yêu nước là yêu nhândân, yêu chủ nghĩa xã hội, không chỉ yêu nhân dân nước mình mà còn quý trọngyêu mến nhân dân nước khác.Yêu nước phải gắn với ý chí tự lực tự cường, sángtạo trong lao động, học tập và nghiên cứu, khai thác mọi tiềm năng đất nước, bảo
vệ độc lập dân tộc, quyền bình đẳng dân tộc, chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu,từng bước nâng cao đời sống ấm no hạnh phúc của nhân dân, vươn lên ngangtầm thời dại mới
Lòng nhân ái là một truyền thống quý báu của dân tộc, cội nguồn của đạođức cần phải phát huy mạnh mẽ hơn Ngày nay, những vấn đề ngăn chặn cái ác,khuyến khích cái thiện, đoàn kết thương yêu con người, quý trọng của công,quan tâm đến nỗi bất hạnh của con người, chống chiến tranh, chống ma túy, nạnmại dâm, bệnh AIDS, chống nạn đói và mù chữ…là những vấn đề nhân đạo cấpbách
Các giá trị đạo đức vốn hình thành trong cách mạng dân tộc dân chủ đượcgiữ gìn, trân trọng và bổ sung nội dung mới:
Trang 35+ Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến tranh nay chuyển sang hòabình, chủ nghĩa anh hùng cách mạng lại được phát huy trong công cuộc đổi mớixây dựng đất nước Từ ý chí không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ chuyểnsang ý chí không chịu nghèo đói, lạc hậu và lệ thuộc Giá trị tự do trước đâyđược hiểu là quyền tự do của toàn dân tộc, nay mang thêm nhiều ý nghĩa vềquyền tự do cá nhân, tự do hành nghề, tự do mưu cầu hạnh phúc Những giá trịđạo đức mới được bổ sung góp phần làm nên sự phát triển đời sống tinh thần của
xã hội ta hôm nay và những giá trị đó đang tạo một động lực thúc đẩy sự nghiệpđổi mới đất nước Trong quá trình đổi mới và định hướng thang giá trị đạo đứccần chống hai khuynh hướng cực đoan:
Một là, chống thái độ bảo thủ, đề cao quá mức truyền thống mà coi nhẹhoặc phủ nhận đổi mới
Hai là, chống thái độ hư vô, đi vào kinh tế thị trường hiện đại hóa đất nước
mà xa rời những giá trị đạo đức truyền thống, làm mất đi bản sắc dân tộc, đánhmất bản thân mình Những hiện tượng yêu nước, lòng nhân ái, tính cộng đồng, ýchí kiên cường, bất khuất, siêng năng, tận tụy, liêm khiết, thủy chung, cần cù đãtrở thành lối sống bền vững trong lịch sử dân tộc giờ đây phải được tăng cườngđổi mới và hoàn thiện cả về nội dung, phương hướng
1.2.2.2 Cơ sở lý luận về các phẩm chất đạo đức cá nhân
* Tính trung thực
- Khái niệm
Tính trung thực là một phẩm chất đạo đức cơ bản của các cá nhân là sự tôntrọng lẽ phải, sự thật và chân lý trong các quan hệ xã hội, thái độ thiện chí, dũngcảm đấu tranh vì cái thiện, cái tốt đẹp của chủ thể đạo đức
Nội dung chủ yếu của tính trung thực là thái độ khách quan, tình yêu chân lý,dám nói thẳng, dàm nhìn thẳng vào sự thật, dám đấu tranh cho sự thật Nó đốilập hoàn toàn với sự dối trá, thói đạo đức giả và khác với tính tò mò hiếu kỳ.Tính trung thực đòi hỏi con người phải sống thẳng thắn, thực hiện tốt nghĩa vụcủa bản thân và của xã hội Tính trung thực là một phẩm chất đầu tiên đối với cánhân Con người muốn hoàn thiện về nhân cách không thể không có tính trungthực
Trang 36-Ý nghĩa của tính trung thực
Tính trung thực là một trong những đặc trưng cơ bản tạo nên phẩm chấtđạo đức của cá nhân Mặt khác tính trung thực là cơ sở để xây dựng niềm tin,lòng chung thủy và những nội dung đạo đức tốt đẹp khác như tính cao thượng, vịtha, dũng cảm…Như vậy tiêu chuẩn để đánh giá con người có đạo đức là tínhtrung thực Vì tính trung thực là bản chất tốt đẹp của đạo đức, nó là thước đo đểđánh giá con người xấu hay tốt Nhờ có tính trung thực mà trong quan hệ xã hộicon người tạo được niềm tin, dám dũng cảm đương đầu với mọi thử thách vàđem lại lợi ích cho xã hội
Tính trung thực là một đức tính quý giá, phù hợp với đạo lý làm người, nó trởthành nhu cầu của toàn xã hội, là tinh hoa văn hóa và là truyền thống cao quí củađạo đức xã hội Nhân dân ta cũng như nhân dân các dân tộc trên thế giới đềuquan niệm làm người sống phải trung thực mới là người tốt Trong các tiêuchuẩn để đánh giá phẩm hạnh của mỗi người, người ta vẫn đề cao tính trungthực được coi là tiêu chuẩn rất cần thiết, là một yêu cầu rất cơ bản và phổ biếncủa xã hội Vì thế khi tuyển chọn nhân viên, cất nhắc đề bạt cán bộ, thì tiêuchuẩn để chọn đầu tiên là người có đức tính trung thực
Thiếu đi tính trung thực, con người sẽ bị thoái hóa về phẩn chất đạo đức,
sẽ trở thành kẻ dối trá, đạo đức giả, ba hoa, khoác lác…Những đức tính đó sẽđem lại thiệt hại cho xã hội, cho mọi người và cho chính bản thân người đó.Trung thực là một đức tính rất quý báu và cần thiết đối với mỗi người, đồng thời
nó có ý nghĩa rất quan trọng tronng xã hội, nên phải thật sự quan tâm giáo dựctính trung thực sâu rộng cho thế hệ trẻ
*Tính nguyên tắc.
- Khái niệm
Trang 37Tính nguyên tắc là một phẩm cất đạo đức của con người, nét cốt yếu củatính nguyên tắc là hành động chủ thể đạo đức phải phù hợp và tuân thủ lẽ phảitheo đạo lý và chân lý, phải đảm bảo tính khách quan, chính xác và không vụ lợi.
- Ý nghĩa của tính nguyên tắc
Tính nguyên tắc của đạo đức không chỉ có ý nghĩa đơn thuần về mặt tưtưởng mà luôn luôn gắn liền với hành động Nên người ta thường nói: sống vàlàm việc phải có nguyên tắc Tính nguyên tắc có ý nghĩa là hành động, hành viphải phù hợp với tư tưởng cơ bản, tư tưởng chỉ đạo hoặc quy tắc chủ yếu củahành động Tính nguyên tắc mà đạo đức đề cập đến hành vi của con người phảiphù hợp và tuân theo lẽ phải, theo đạo lý và chân lý; nghĩa là phải bảo đảm đượctính khách quan, chính xác, thực sự trong sáng, không vụ lợi Vì thế, về ttínhnguyên tắc của đạo đức có thể nói gọn lại, đó là sự biểu hiện của tính trung thựctrong mọi hành động của con người
Tính nguyên tắc của đạo đức đối lập hoàn toàn với hành vi vô nguyên tắc,ngoan cố, bảo thủ, gàn bướng và cơ hội Tính vô nguyên tắc thường nảy sinh vìnon kém về bản lĩnh, về phẩm chất chính trị, kém hiểu biết, hoặc có
sự thoả hiệp Tính cơ hội cũng có nguồn gốc từ chủ nghĩa cá nhân, từ động cơ vụlợi, hiếu danh, ích kỉ và những động cơ hèn kém khác như: Xu nịnh, bợ đỡ hoặcthể hiện sự thiếu năng lực làm việc của con người Tính gàn bướng, bảo thủthường có nguồn gốc từ sự chủ quan, kiêu căng, sợ sự thật, sợ người khác giỏihơn mình Nói chung, những tính cách trên là đối lập với tính nguyên tắc, cầnphải loại bỏ khỏi đời sống xã hội
Tính nguyên tắc cũng không có nghĩa là bất di bất dịch, không thay đổi,nhất thành bất biến Tính nguyên tắc tuyệt nhiên không loại trừ khả năng thayđổi, nó khác với chủ nghĩa giáo điều Trong thực tế con người con người có thểthay đổi được nguyên tắc sống của mình khi thấy được những sự sai trái, khônghợp lý của những nguyên tắc cũ mà nó đã xác lập Vì thế có thể loại bỏ những
Trang 38nguyên tắc sai trái và đưa ra những nguyên tắc mới phù hợp Ví dụ, nguyên tắcbình đẳng nam - nữ trong quan hệ gia đình, bạn bè, xã hội trước đây cần phảithay đổi phù hợp với thời đại ngày nay Tính nguyên tắc còn bao hàm cả tính tíchcực tự giác, tinh thần trách nhiệm của cá nhân trước tập thể và trước xã hội Vớinhững nội dung như trên thì tính nguyên tắc có ý nghĩa rất rộng lớn đối với cuộcsống con người và xã hội.
Tính nguyên tắc giúp con người khẳng định được tính tích cực của xã hội,
nó là cơ sở và động lực để giúp con người vươn tới những giá trị đạo đức ngàycàng cao Điều này có nghĩa là tính nguyên tắc của con người không phải ngẫunhiên hình thành, mà phải trải qua quá trình học tập, rèn luyện và có sự đấu tranhcủa con người để bảo vệ những mặt tích cực, tiến bộ trong các mối quan hệ xãhội Quá trình đó cũng là sự thử thách, rèn luyện cho con người ngày một trưởngthành lớn lên và chiến thắng những hành động xấu xa, thấp hèn, tiêu cực trongcuộc sống để kích thích con người vươn tới cái tốt đẹp và làm những điều có lợiích cho xã hội
Tính nguyên tắc của đạo đức còn là điều kiện, là cơ sở để đạo đức cá nhânphát triển Điều đó được thể hiện ở chỗ, con người sống có tính nguyên tắc baogiờ cũng giữ được bản lĩnh, cốt cách của mình, dám đương đầu với những khókhăn, thử thách, không có cơ hội, sống nhiệt tình, chân thực và công hiến nhiềucho xã hội, đồng thời có tinh thần giúp đỡ người khác một cách tự giác và cótrách nhiệm cao trước tập thể xã hội
Nhờ có tính nguyên tắc mà những chân lý và giá trị cao quý của đạo đứcđược bảo vệ và phát triển trong xã hội Trong cuộc sống, con người có nhiều mặttốt, tích cực và tiến bộ là nhờ có tính nguyên tắc của đạo đức Những giá trị đạođức như lương tâm, tính trung thực, tình yêu lao động…Là những giá trị caoquý, trở thành nguyên tắc sống của những con người có đạo đức Tính nguyên
Trang 39tắc của đạo đức có ý nghĩa rộng lớn như vậy, nên chúng ta cần quán triệt đầy đủtrong quá trình giáo dục thế hệ trẻ.
* Thái độ đối với lao động
- Vai trò của lao động trong đời sống đạo đức
Ở bất cứ thời đại nào, người có sức lao động mà không chịu lao động sẽ bị
xã hội cho là những kẻ ăn bám, lười biến là vô lương tâm, vô đạo đức Lao động
là một hiện tượng phổ biến trong xã hội, đồng thời nó là tiêu chuẩn có giá trị đầutiên và cao cả nhất của đời sống đạo đức Như một số nhà nghiên cứu đã nói: laođộng là điều thiện bậc nhất, là ngọn nguồn của hạnh phúc con người
Giá trị của lao động đối với sự tồn tại của con người và xã hội loài ngườinói chung, đối với đời sống đạo đức nói riêng, được thể hiện trên những phươngdiện sau đây:
Một là, lao động là một hiện tượng phổ biến trong xã hội, là một hành vi
lịch sử đầu tiên của con người, vì nhờ có lao động con người muốn tồn tại được.Đồng thời, lao động bao quát toàn bộ cuộc sống hạnh phúc của con người, vì nó
là phương tiện, là điều kiện để đảm bảo cuộc sống hạnh phúc của con người.Cuộc sống của con người là lao động cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai Laođộng luôn luôn là nhu cầu, là khát vọng và nguồn cảm hứng của con người.Chính nhờ có lao động sản xuất mà làm cho con người trở thành người
Hai là, lao động đã đem lại cho con người biết bao cái cần thiết hằng
ngày: Lương thực, thực phẩm, đồ dùng, phương tiện sinh hoạt, nhà ở…Tóm lạilao động đã và đang tạo ra của cải vật chất và tinh thần để thõa mãn mọi nhu cầucủa con người, có cuộc sống ấm no, đầy đơng sung sướng và hạnh phúc Ở nơinào con người không lao động, lười biếng, hoặc bị thiên nhiên gây hạn hán, bãolụt…,thì sống cảnh đói rét, mức sinh hoạt thấp Nếu kẻ nào có những hành vi bóclột, trấn át hoặc chiếm đoạt thành quả lao động của người khác, bị coi là gian ác
vô nhân đạo