1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án đầu tư khai thác mỏ sắt Nà Rụa giai đoạn 1 trên địa bàn thành phố Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)

91 209 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án đầu tư khai thác mỏ sắt Nà Rụa giai đoạn 1 trên địa bàn thành phố Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án đầu tư khai thác mỏ sắt Nà Rụa giai đoạn 1 trên địa bàn thành phố Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án đầu tư khai thác mỏ sắt Nà Rụa giai đoạn 1 trên địa bàn thành phố Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án đầu tư khai thác mỏ sắt Nà Rụa giai đoạn 1 trên địa bàn thành phố Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án đầu tư khai thác mỏ sắt Nà Rụa giai đoạn 1 trên địa bàn thành phố Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án đầu tư khai thác mỏ sắt Nà Rụa giai đoạn 1 trên địa bàn thành phố Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án đầu tư khai thác mỏ sắt Nà Rụa giai đoạn 1 trên địa bàn thành phố Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

ĐINH HẢI ĐIỆP

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ KHAI THÁC MỎ SẮT NÀ RỤA - GIAI ĐOẠN 1 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CAO BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Thái Nguyên - 2017

Trang 2

ĐINH HẢI ĐIỆP

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ KHAI THÁC MỎ SẮT NÀ RỤA - GIAI ĐOẠN 1 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CAO BẰNG

Ngành: Quản lý đất đai

Mã số ngành: 60.85.01.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Lợi

Thái Nguyên - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Đinh Hải Điệp

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được bản luận văn này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thị Lợi đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo khoa Quản lý tài nguyên, phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng TN&MT, Trung tâm PTQĐ & GPMB, Phòng Tài chính - kế hoạch, Phòng Thống kê, các cán bộ, hộ gia đình tham gia phỏng vấn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn tại địa phương

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Đinh Hải Điệp

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1 Cơ sở lý luận 3

1.1.2 Cơ sở pháp lý 3

1.2 Khái quát chung về chính sách GPMB 6

1.2.1 Một số khái niệm liên quan 6

1.2.2 Quy trình của công tác GPMB 7

1.3 Thực trạng công tác bồi thường GPMB một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 8

1.3.1 Chính sách bồi thường ở một số nước trên thế giới 8

1.3.2 Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng ở Việt Nam 10

1.4 Chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam qua các thời kỳ 15

1.4.1 Thời kỳ trước 1987 15

1.4.2 Thời kỳ từ 1987-1993 17

Trang 6

1.4.3 Thời kỳ từ 1993-2003 17

1.4.4 Thời kỳ từ 2003 20

1.4.5 Luật đất đai năm 2013 22

1.5 Kinh nghiệm và bài học rút ra cho tác giả từ phần tổng quan tài liệu 22

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

2.3 Nội dung nghiên cứu 24

2.3.1 Đánh giá sơ lược về tình hình cơ bản của thành phố Cao Bằng 24

2.3.2 Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng của dự án khai thác mỏ sắt Nà Rụa trên địa bàn thành phố Cao Bằng 24

2.3.3 Đánh giá công tác bồi thường, GPMB và sự ảnh hưởng của Dự án khai thác mỏ sắt Nà Rụa thông qua ý kiến người dân và cán bộ thực thi 24

2.3.4 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và giải pháp đối với công tác GPMB khi nhà nước thu hồi đất tại thành phố Cao Bằng 24

2.4 Phương pháp nghiên cứu 25

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 25

2.4.2 Phương pháp tổng hợp, xử lí, đánh giá và phân tích số liệu 26

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27

3.1 Đánh giá sơ lược về tình hình cơ bản của thành phố Cao Bằng 27

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 27

3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 29

3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 31

3.1.4 Đánh giá thực trạng công tác quản lý và sử dụng đất đai của thành phố Cao Bằng 34

3.1.5 Thực trạng công tác bồi thường, GPMB ở thành phố Cao Bằng 44

Trang 7

3.2 Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng của dự án khai

thác mỏ sắt Nà Rụa trên địa bàn thành phố Cao Bằng 46

3.2.1 Khái quát chung về dự án nghiên cứu 46

3.2.2 Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng của dự án khai thác mỏ sắt Nà Rụa trên địa bàn thành phố Cao Bằng 46

3.2.3 Đánh giá kết quả bồi thường và giải phóng mặt bằng của dự án khai thác mỏ sắt Nà Rụa trên địa bàn thành phố Cao Bằng 48

3.3 Đánh giá công tác bồi thường, GPMB và sự ảnh hưởng của Dự án khai thác mỏ sắt Nà Rụa thông qua ý kiến người dân và cán bộ thực thi 56

3.3.1 Đánh giá công tác bồi thường GPMB và sự ảnh hưởng của Dự án thông qua ý kiến người dân có đất bị thu hồi 56

3.3.2 Đánh giá công tác tổ chức thực hiện GPMB qua ý kiến của cán bộ thực thi 63

3.4 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và giải pháp đối với công tác GPMB tại thành phố Cao Bằng qua Dự án nghiên cứu 65

3.4.1 Thuận lợi 65

3.4.2 Khó khăn, vướng mắc 65

3.4.3 Một số giải pháp 67

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71

1 Kết luận 71

2 Kiến nghị 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế thành phố Cao Bằng giai đoạn 2014 -2016 31

Bảng 3.2 Cơ cấu dân số của thành phố Cao Bằng, giai đoạn 2012 - 2016 33

Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất thành phố Cao Bằng năm 2016 35

Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả công tác GPMB trên địa bàn thành phố Cao Bằng giai đoạn 2014-2016 45

Bảng 3.5 Quy mô dự án đầu tư khai thác mỏ sắt Nà Rụa - giai đoạn 1 47

Bảng 3.6 Tổng hợp kết quả bồi thường từng loại đất của dự án 51

Bảng 3.7 Bảng tổng hợp bồi thường cây cối, hoa màu 52

Bảng 3.8 Bảng tổng hợp bồi thường tài sản, vật kiến trúc 53

Bảng 3.9 Tổng hợp kinh phí hỗ trợ theo chính sách quy định của Dự án 54

Bảng 3.10 Đánh giá của người dân về công tác bồi thường GPMB của dự án 56

Bảng 3.11 Đánh giá của người dân về công tác hỗ trợ GPMB dự án nghiên cứu 57

Bảng 3.12 Ảnh hưởng của thu hồi đất đến thu nhập của người dân 58

Bảng 3.13 Tình hình hỗ trợ đào tạo nghề và xin việc làm sau khi thu hồi đất 60

Bảng 3.14 Ảnh hưởng của thu hồi đất đến môi trường sinh thái 61

Bảng 3.15 Tình trạng tệ nạn xã hội trên địa bàn thành phố Cao Bằng 62

Bảng 3.16 Sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ 63

Bảng 3.17 Đánh giá công tác thu hồi đất và các lí do phức tạp của công tác thu hồi đất của người thực thi công tác giải phóng mặt bằng 64

Bảng 3.18 Ý kiến của cán bộ thực thi về phương thức đền bù cho người dân bị thu hồi đất 64

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Bản đồ địa giới hành chính thành phố Cao Bằng 27 Hình 3.2 Biểu đồ tỉ lệ một số loại đất chính của thành phố Cao Bằng 36 Hình 3.3 Biểu đồ kết quả GPMB các dự án trong những năm gần đây 45

Trang 10

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Diễn giải

CP CNH - HĐH GPMB

NĐ QĐ-UBND TĐC

TW UBND XHCN

Chính phủ Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa Giải phóng mặt bằng

Nghị định Quyết định UBND Tái định cư

Trung ương Ủy ban nhân dân

Xã hội chủ nghĩa

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia và không thể thay thế được trong đời sống, trong quá trình sản xuất của con người Trong những năm gần đây nền kinh tế phát triển mạnh mẽ cùng với áp lực về sự gia tăng dân số làm cho diện tích đất đai ngày càng bị thu hẹp Đồng thời quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh làm cho đất đai ngày càng có giá trị kinh tế cao và nhu cầu về mặt bằng lớn

để phục cho sản xuất, kinh doanh Để có mặt bằng thực hiện các dự án chúng ta phải thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất đai Chính vì vậy công tác giải phóng mặt bằng là một trong những điều kiện tiên quyết của sự phát triển, nó tác động mạnh mẽ đến công tác quản lý nhà nước về đất đai

Trước thực trạng như vậy, công tác bồi thường GPMB là một trong những công việc hết sức khó khăn, phức tạp và được xã hội đặc biệt quan tâm, bồi thường GPMB không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có đất bị thu hồi mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tình hình kinh tế, chính trị,

xã hội của địa phương sau khi tái định cư cho người dân Bồi thường GPMB là lĩnh vực nhạy cảm và gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện như thương lượng giá đền bù hợp lý với người dân, tái định cư và giải quyết hậu quả sau giải phóng mặt bằng Do vậy cần áp dụng linh hoạt các quy định của pháp luật vào điều kiện thực tế của địa phương Trước những khó khăn như vậy, việc đánh giá công tác GPMB để đưa ra những phương án khả thi giải quyết những khó khăn khi bồi thường GPMB đang là một nhu cầu hết sức cấp thiết của xã hội

Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc, hai mặt Bắc và Đông giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đường biên giới dài 333.403 km Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang Phía Nam giáp tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn Thành Phố Cao Bằng là một thành phố trẻ, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá trọng điểm của tỉnh Cao Bằng Để nâng cấp cơ sở hạ tầng và phát triển thành một thành phố vững mạnh, thành phố Cao Bằng đã và đang thực hiện rất nhiều các dự án trọng điểm

Trang 12

Do vậy, công tác bồi thường và GPMB rất được coi trọng Mặt khác công tác GPMB có những tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế, đời sống xã hội trong đó có cả những vấn đề tích cực và những vấn đề tiêu cực

Trong thời gian qua công tác bồi thường, GPMB của thành phố Cao Bằng đạt được nhiều kết quả tốt đáng khích lệ song còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, có nơi xảy ra vụ việc phức tạp, kéo dài, làm chậm tiến độ thực hiện dự án, gây tổn hại về kinh tế

và ảnh hưởng trật tự trị an xã hội, mất nhiều thời gian, công sức giải quyết

Để góp phần hoàn thiện chính sách bồi thường, GPMB đạt kết quả tốt và trở thành yếu tố thực sự thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và phù hợp với cơ chế thị trường vừa giải quyết được các vấn đề xã hội Cụ thể hơn, để có những kinh nghiệm và giải pháp đẩy mạnh công tác GPMB cho các giai đoạn tiếp theo của dự án Đó là lý do để tôi thực hiện

nghiên cứu đề tài: "Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án đầu tư

khai thác mỏ sắt Nà Rụa - giai đoạn 1 trên địa bàn thành phố Cao Bằng”

2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá kết quả bồi thường, giải phóng mặt bằng của dự án khai thác mỏ sắt Nà Rụa giai đoạn 1;

- Đánh giá sự ảnh hưởng của dự án đến đời sống của người dân;

- Đề xuất kiến nghị, giải pháp để thúc đẩy công tác GPMB khi nhà nước thu hồi đất tại thành phố Cao Bằng

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong việc học tập và nghiên cứu khoa học

Nó giúp củng cố những kiến thức đã học bằng việc áp dụng trực tiếp và gián tiếp vào điều kiện thực tiễn của địa phương

- Đối với thực tiễn đề tài góp phần đề xuất các giải pháp để thực hiện công tác bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất ngày càng có hiệu quả

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Giải phóng mặt bằng là quá trình đa dạng và phức tạp Nó thể hiện khác nhau đối với mỗi một dự án, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội Công tác GPMB kéo dài sẽ làm chậm tiến độ của các dự án, làm ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân trong khu vực dự án cũng như đánh mất niềm tin cho các nhà đầu tư

Bồi thường GPMB là khâu quan trọng mang tính chất đột phá trong quy hoạch sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút nguồn lực đầu tư phát triển và triển khai thực hiện công tác xây dựng cơ sở hạ tầng Quá trình thực hiện công tác bồi thường GPMB phải đảm bảo hài hòa lợi ích của người dân bị thu hồi, lợi ích của chủ đầu tư dự án và lợi ích của Nhà nước, được thực hiện theo tiêu chí giữ vững

1.1.2 Cơ sở pháp lý

1.1.2.1 Các văn bản pháp lý của Nhà nước:

Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất [4]

Trang 14

Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền

sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

và giải quyết khiếu nại về đất đaI [8]

Luật Đất đai năm 2003; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai; Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai [23]

Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình

tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất [3]

Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15 tháng 6 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai [2]

Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất [9]

Nghị định số 181/2004/NĐ-CP Ngày 29 tháng 10 năm 2004 của chính phủ

về thi hành luật đất đai, Nghị định này quy định việc thi hành Luật Đất đai đã được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 về việc quy định phương pháp xác định giá đất, khung giá các loại đất; thu tiền SD đất, thu tiền thuê đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để SD vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế; thanh tra đất đai; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai được thực hiện theo quy định tại các NĐ khác của CP [5]

Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 08 năm 2009 của Chính phủ, Nghị định này quy định bổ sung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất,

Trang 15

bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; giá đất; giao đất, cho thuê đất; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và gia hạn sử dụng đất [10]

1.1.2.2 Các văn bản của tỉnh Cao Bằng:

Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được các cấp ủy Đảng, chính quyền hết sức quan tâm chỉ đạo tổ chức thực hiện; UBND tỉnh Cao Bằng đã ban hành các văn bản:

Quyết định 3336/2009/QĐ-UBND ngày 31 tháng 12 năm 2009, quyết định này quy định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng [24]

Quyết định số 136/2010/QĐ-UBND ngày 22 tháng 01 năm 2010 quy định về trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng [23]

Quyết định số 638/2011/QĐ-UBND tỉnh Cao Bằng, ngày 09 tháng 04 năm

2011 Quyết định này quy bổ sung một số điều của Quyết định 3336/2009/QĐ- UBND tỉnh Cao Bằng về việc bồi thường, hỗ trợ, tái đinh cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

Quyết định 593/2011/QĐ- UBND ngày 31 tháng 3 năm 2011 của UBND tỉnh Cao Bằng ban hành bảng giá nhà ở và các công trình xây dựng gắn liền với đất để tỉnh bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng [24]

Quyết định số 891/2011/QĐ-UBND tỉnh Cao Bằng ngày 20 tháng 5 năm

2011, quyết định này quy định bảng giá bồi thường cây cối, hoa màu, thủy sản trên địa bàn tỉnh Cao Bằng [25]

Quyết định số 2768/2011/QĐ-UBND ngày 21 tháng 12 năm 2011 của UBND tỉnh Cao Bằng ban hành Bảng giá các loại đất năm 2012 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng [26]

Quyết định số 229/2012/QĐ-UBND ngày 29 tháng 2 năm 2012 của UBND tỉnh Cao Bằng về Ban hành bảng giá nhà ở và các công trình xây dựng gắn liền với đất để tỉnh bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng [27]

Trang 16

Quyết định số 2088/2012/QĐ-UBND ngày 21 tháng 12 năm 2012 của UBND tỉnh Cao Bằng ban hành Bảng giá các loại đất năm 2013 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng [28]

Quyết định số 05/2013/QĐ-UBND ngày 21 tháng 5 năm 2013 của UBND tỉnh Cao Bằng về Ban hành bảng giá nhà ở và các công trình xây dựng gắn liền với đất để tỉnh bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng [29]

Quyết định số 26/QĐ-UBND ngày 27 tháng 12 năm 2013 của UBND tỉnh Cao Bằng ban hành Bảng giá các loại đất năm 2014 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng [33]

Quyết định số 16/2014/QĐ-UBND ngày 24 tháng 6 năm 2014 của UBND tỉnh Cao Bằng về Ban hành bảng giá nhà ở và các công trình xây dựng gắn liền với đất để tỉnh bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng [34]

1.2 Khái quát chung về chính sách GPMB

1.2.1 Một số khái niệm liên quan

Thu hồi đất

Theo khoản 11, điều 3, Luật đất đai 2013: Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai [20]

Bồi thường

Bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm Dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải bồi thường tổn thất mà mình gây ra

Theo khoản 12, điều 3, Luật đất đai 2013: Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất [20]

Giải phóng mặt bằng: Là quá trình tổ chức thực hiện các công việc liên quan đến di dời nhà cửa, cây cối và các công trình xây dựng trên phấn đất nhất định được quy định cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới trên đó Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng từ khi thành lập Hội đồng giải phóng mặt bằng cho tới khi bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư

Trang 17

Hỗ trợ

Theo Khoản 14, điều 3, Luật đất đai 2013: hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển [20]

Tái định cư

Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống và làm ăn TĐC bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi hoặc trưng dụng đất đai để thực hiện các dự án phát triển

TĐC được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu thập,

cơ sở vật chất, tinh thần tại đó Như vậy, TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung

Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau: bồi thường bằng nhà ở, bồi thường bằng giao đất ở mới, bồi thường bằng tiền để người dân tự

lo chỗ ở

TĐC là một bộ phân không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách GPMB Các dự án TĐC cũng được coi là các dự án phát triển và phải được thực hiện như các dự án phát triển khác [4]

1.2.2 Quy trình của công tác GPMB

Các bước để tiến hành GPMB được thực hiện theo Quyết định số UBND ngày 19 tháng 9 năm 2016 của UBND thành phố Cao Bằng về việc: Ban hành hướng dẫn trình tự, thủ tục thu hồi đất và quy trình bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Cao Bằng

1793/QĐ-Bước 1: Tổ chức hội nghị công bố triển khai thực hiện dự án

Bước 2: Ban hành kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm Bước 3: Thông báo thu hồi đất và thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Bước 4: Tổ chức Hội nghị triển khai công tác GPMB

Trang 18

Bước 5: Tổ chức kiểm đếm đất đai, tài sản, hoa màu trên đất

Bước 6: Lập dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Bước 7: Thẩm định hồ sơ trước khi niêm yết

Bước 8: Niêm yết công khai phương án lấy ý kiến của nhân dân và trả lời các

ý kiến thắc mắc của người dân

Bước 9: Thẩm định phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư

Bước 10: Tổ chức chi trả bồi thường [32]

1.3 Thực trạng công tác bồi thường GPMB một số nước trên thế giới và ở Việt Nam

1.3.1 Chính sách bồi thường ở một số nước trên thế giới

1.3.1.1 Trung Quốc

Pháp luật đất đai của Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với pháp luật đất đai của Việt Nam Tuy nhiên nhìn về tổng thể việc chấp hành pháp luật của người Trung Quốc rất cao Việc sử dụng đất đai tại Trung Quốc thực sự tiết kiệm, Nhà nước Trung Quốc hoàn toàn cấm việc mua bán chuyển nhượng đất đai Do vậy thị trường đất đai gần như không tồn tại mà chỉ có thị trường nhà cửa

Về bồi thường thiệt hại về đất đai, do đất đai thuộc sở hữu nhà nước nên không có chính sách bồi thường thiệt hại Khi nhà nước thu hồi đất, kể cả đất nông nghiệp, tuỳ trường hợp cụ thể, nhà nước sẽ cấp đất mới cho các chủ sử dụng bị thu hồi đất

Về tái định cư, các khu tái định cư và các khu nhà ở được xây dựng đồng bộ

và kịp thời, thường xuyên đáp ứng yêu cầu nhiều loại căn hộ với các nhu cầu sử dụng khác nhau Các chủ sử dụng phải di chuyển đều được chính quyền quan tâm đến điều kiện về việc làm, đối với các đối tượng chính sách xã hội được nhà nước chú ý và có chính sách xã hội riêng [34]

1.3.1.2 Thái Lan

Ở Thái Lan, cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù

Trang 19

Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án Nếu một dự án mang tính chiến lược quốc gia thì nhà nước đền bù với giá rất cao so với giá thị trường Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân đầu tư đều đền bù

với mức cao hơn giá thị trường [34]

1.3.1.3 Hàn Quốc

Ở Hàn Quốc, mặc dù đất đai là sở hữu tư nhân nhưng trong nhiều trường

hợp, Nhà nước có quyền thu hồi đất của người dân Các trường hợp đó là: thu hồi đất để phục vụ mục đích quốc phòng - an ninh; dự án đường sắt, đường bộ, sân bay, đập nước thủy điện, thủy lợi; dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, nhà máy điện, viện nghiên cứu; dự án xây dựng trường học, thư viện, bảo tàng; dự án xây dựng nhà, xây dựng cơ sở hạ tầng trong khu đô thị mới, khu nhà ở để cho thuê hoặc chuyển nhượng

Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện theo phương thức tham vấn và cưỡng chế Phương thức tham vấn được thực hiện thông qua việc các

cơ quan công quyền thỏa thuận với người bị thu hồi đất về phương án, cách thức bồi thường Trong trường hợp tham vấn bị thất bại, Nhà nước phải sử dụng phương thức cưỡng chế Theo thống kê của Cục Chính sách đất đai Hàn Quốc, ở Hàn Quốc

có 85% tổng số các trường hợp Nhà nước thu hồi đất thực hiện theo phương thức tham vấn; chỉ có 15% các trường hợp thu hồi đất phải sử dụng phương thức cưỡng chế

Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất trên cơ sở các nguyên tắc sau: Thứ nhất, việc bồi thường do chủ dự án thực hiện Thứ hai, chủ đầu tư phải thực hiện bồi thường đầy đủ cho chủ đất và cá nhân liên quan trước khi tiến hành xây dựng các công trình công cộng Thứ ba, thực hiện bồi thường cho chủ đất phải bằng tiền mặt, sau đó mới bằng đất hoặc nhà ở xã hội Thứ tư, thực hiện bồi thường áp dụng cho từng cá nhân

Về thời điểm xác định giá bồi thường, đối với trường hợp thu hồi đất thông qua hình thức tham vấn thì thời điểm xác định giá bồi thường là thời điểm các bên đạt được thỏa thuận đồng thuận về phương án bồi thường Đối với trường hợp thu

Trang 20

hồi đất thông qua hình thức cưỡng chế thì thời điểm xác định giá bồi thường là thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế

Việc xác định giá bồi thường không phải do chủ dự án thực hiện mà giao cho ít nhất hai cơ quan định giá độc lập (hoạt động theo hình thức doanh nghiệp hoặc công ty cổ phần) thực hiện Trường hợp chủ đất yêu cầu xác định lại giá bồi thường thì chủ dự án lựa chọn thêm một tổ chức tư vấn định giá đất thứ ba Nếu giá trị định giá cao nhất và thấp nhất chênh lệch 10% hoặc nhiều hơn, sẽ phải có chuyên gia định giá khác thực hiện tiếp việc định giá, và từ đó, mức bồi thường

sẽ được tính toán lại Giá đất được lựa chọn làm căn cứ xác định bồi thường là giá trung bình cộng của kết quả định giá của hai hoặc ba cơ quan dịch vụ tư vấn

về giá đất độc lập được chủ thực hiện dự án thuê định giá

Đối với đất nông nghiệp, nếu bị thu hồi trước khi thu hoạch hoa màu, giá trị hoa màu đó sẽ được bồi thường Khoản bồi thường được tính dựa trên số hoa màu thực tế được trồng tại thời điểm dự án được công bố và đủ để hỗ trợ người nông dân phục hồi lại việc sản xuất của mình Khoản bồi thường được tính bằng 2 lần tổng thu nhập hàng năm từ sản xuất nông nghiệp [34]

1.3.2 Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng ở Việt Nam

1.3.2.1 Thành Phố Đà Nẵng

Thành phố Đà Nẵng là nơi thực hiện công tác bồi thường GPMB nhanh gọn

và có hiệu quả nhất trong toàn quốc UBND thành phố Đà Nẵng đã thành lập ban giải toả mặt bằng để thực hiện nhiệm vụ chuyên trách về công tác bồi thường GPMB Tuỳ theo quy mô từng dự án mà thành lập hội đồng GPMB cấp thành phố

do Phó chủ tịch UBND thành phố làm Chủ tịch hội đồng Các hoạt động của cơ quan chuyên môn dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch hội đồng GPMB, hàng tuần giao ban một lần và nghe báo cáo về những vấn đề vướng mắc phát sinh

Chuẩn bị đất tái định cư cho các hộ đi trước một bước Đây là vấn đề quan trọng đặt lên hàng đầu trong toàn bộ các bước công việc để đảm bảo cho việc giải toả được nhanh chóng Nếu không có tái định cư thì không thể triển khai GPMB được Căn cứ vào nhu cầu giải toả thành phố chủ động lập các khu tái định cư để

Trang 21

phục vụ cho việc GPMB đồng thời có chính sách miễn giảm tiền sử dụng đất cho các hộ giải toả Bên cạnh đó thành phố còn xây dựng nhiều dãy nhà chung cư cao tầng sử dụng cho người có thu nhập thấp thuê hoặc cho các hộ giải toả mượn sử dụng không phải trả tiền, nhằm đẩy nhanh tiến độ GPMB Một số dự án còn xây nhà tạm phục vụ cho các hộ trong thời gian các hộ chưa được giao đất Các hộ không vào nhà chung cư, không vào nhà tạm thì được hưởng số tiền thuê nhà, thời gian thuê từ 3 đến 6 tháng để sớm dỡ nhà bàn giao mặt bằng cho đơn vị thi công

Không chỉ dừng lại ở việc khảo sát phương án GPMB và phân công nhiệm

vụ cho các thành viên mà phải có sự phối kết hợp của địa phương và các ban ngành, đoàn thể trong việc tham gia vận động giải thích cho quần chúng về chủ trương bồi thường thiệt hại, nghiên cứu tình hình thống kê, lập danh sách các hộ chưa thống nhất chủ trương GPMB để có kế hoạch triển khai kịp thời Các tổ chức, các đoàn thể đến từng hộ gia đình để nghe ý kiến và giải thích những vướng mắc cho họ Nếu chưa giải thích được, báo cáo cho hội đồng thống nhất để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc theo thẩm quyền

Quy trình bồi thường GPMB của thành phố Đà Nẵng thực hiện qua 6 bước: Bước 1: Phổ biến chủ trương chính sách, đơn giá, phương án và kế hoạch bồi thường Tuyên truyền vận động nhân dân để tạo sự thống nhất của nhân dân với chủ trương của nhà nước

Bước 2: Kiểm định thu thập tài liệu liên quan đến tài sản và đất thu hồi Bước 3: Xét tính hợp pháp về nhà, đất để xác định mức bồi thường và vị trí đất để xác định đơn giá bồi thường

Bước 4: Lên bảng giá trị bồi thường cho từng hộ để trình thẩm định

Bước 5: Thẩm định và phê duyệt giá trị bồi thường đến từng hộ

Bước 6: Chi trả bồi thường cho các hộ dân

Những dự án không cần gấp mặt bằng thì tiến hành tuần tự theo 6 bước trên Trong trường hợp gấp, một thời gian quá ngắn thì sẽ thực hiện qua 4 phương châm tại chỗ là: Thành lập tổ công tác có đại diện Sở, ban, ngành có liên quan tập chung,

Trang 22

làm việc ngay tại hiện trường nơi giải toả, kiểm định tại chỗ, áp giá tại chỗ, thẩm định tại chỗ, chi trả tiền tại chỗ còn các bước khác sẽ hoàn tất sau theo 6 bước trên

Giải quyết những vướng mắc khiếu nại của hộ giải toả thực hiện theo Luật Khiếu nại, tố cáo có phân công cụ thể như sau: Khiếu nại về thẩm định áp dụng giá bồi thường thì ban quản lí dự án, chủ đầu tư, Ban giải toả bồi thường có nhiệm vụ kiểm tra, giải quyết và trả lời các hộ bằng văn bản đồng thời chịu trách nhiệm trước UBND thành phố về kết quả giải toả

Nếu thắc mắc về chủ trương giải toả, bồi thường thì UBND các cấp có nhiệm

vụ giải thích, vận động đến từng hộ giải toả hoặc ra văn bản trả lời, nếu các hộ chưa đồng ý với trả lời và quyết định giải quyết thì khiếu nại lên UBND tỉnh hoặc toà án nhân dân cùng cấp

Đối với các hộ đã được vận động và có quyết định giải quyết cuối cùng mà vẫn cố tình không chấp hành thì xử lí bằng biện pháp cưỡng chế Nếu thắc mắc liên quan đến tính pháp lý về đất, mức bồi thường và vị trí đất thì Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm giải thích

Những dự án trọng điểm, Chủ tịch sẽ tiếp dân tại khu vực giải toả Cơ quan bồi thường GPMB có nhiệm vụ chuẩn bị các tài liệu liên quan đến tất cả các hộ giải toả thuộc dự án trình khi lãnh đạo yêu cầu Với cách làm như trên năm 2000 thành phố Đà Nẵng đã giải toả được 19,5 km đường Quốc lộ 1A trong vòng 3,5 tháng và giải toả 262 hộ có nhà đường Hải Phòng (thành phố Đà Nẵng) trong vòng 1,5 tháng [33]

1.3.2.2 Kinh nghiệm giải phóng mặt bằng ở Tam Dương - Vĩnh Phúc

Tam Dương có lợi thế nằm ở khu vực trung tâm của tỉnh, diện tích đất tự nhiên rộng hơn 10 ngàn ha; nằm trên trục phát triển quan trọng, kết nối Sơn Dương

- Tam Đảo - Việt Trì - Vĩnh Yên - Phúc Yên và Thủ đô Hà Nội, giáp ranh thành phố Vĩnh Yên - trung tâm chính trị KT- XH của tỉnh Công tác GPMB các dự án trên địa bàn huyện cơ bản được thực hiện đảm bảo tiến độ và bàn giao mặt bằng thi công các công trình, dự án và đưa vào khai thác sử dụng Điển hình như Dự án đường điện 500Kv Hiệp Hòa - Sơn La đã hoàn thành công tác GPMB, bàn giao cho

Trang 23

đơn vị thi công đường điện xong trước thời hạn 3 năm so với kế hoạch của Chính phủ, làm lợi cho Nhà nước hàng tỉ đồng Đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai là dự án lớn, tổng chiều dài tuyến đi qua địa bàn huyện là 11,027km, gồm 7 xã, thị trấn (Kim Long, Hướng Đạo, Đạo Tú, Hợp Hòa, An Hòa, Duy Phiên và Hoàng Đan); số hộ gia đình bị thu hồi đất là 1.136 hộ; diện tích đất thu hồi 88,9 ha (trong đó: Đất nông nghiệp 67,68 ha, đất phi nông nghiệp 21,07 ha và đất chưa sử dụng là 0,15 ha)

Để làm tốt công tác bồi thường GPMB và tái định cư, góp phần tích cực đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - XH trên địa bàn, kinh nghiệm cụ thể của huyện Tam Dương cho thấy: Các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể phải luôn đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của các dự án triển khai trên địa bàn đối với sự nghiệp phát triển của quê hương, đất nước Từ đó, xác định việc hoàn thành công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng bàn giao cho chủ đầu tư và đơn vị thi công đúng kế hoạch là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hàng đầu Các địa phương có dự án triển khai cần chủ động phân công cán bộ thường xuyên bám sát các địa bàn để triển khai thực hiện nhiệm vụ một cách chủ động, quyết liệt, với trách nhiệm cao nhất Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh các vướng mắc, lãnh đạo các cấp chính quyền phải trực tiếp đến từng hộ dân, từng

vị trí còn vướng mắc để kiểm tra cụ thể, xác định nguyên nhân và có giải pháp xử lý kịp thời, phù hợp, kiên quyết, dứt điểm, không để xảy ra các vấn đề phức tạp Tổ chức đo đạc địa chính, kiểm đếm tài sản, công trình kiến trúc, cây cối và áp giá bồi thường chính xác, công bằng, phân minh; thực hiện chi trả kịp thời cho nhân dân Quan tâm bố trí nơi tái định cư cho các hộ dân phải di dời tuân thủ đúng các điều kiện theo quy định Nghiên cứu xây dựng giá đất ở, đất chuyên dùng, đất nông nghiệp sát với giá thị trường hoặc kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với thời điểm thực hiện Việc lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng quỹ nhà, quỹ đất tái định cư đảm bảo đủ nhu cầu giải phóng mặt bằng, đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật và xã hội, đảm bảo tiêu chuẩn, tạo việc làm cho người có đất bị thu hồi Thậm chí, ứng trước từ ngân sách để giải phóng mặt bằng, đầu tư xây dựng các khu tái định cư có vị trí địa lý

Trang 24

thuận lợi, gần trung tâm, có khả năng sinh lợi cao để giành bố trí tái định cư cho các

hộ có đất ở mặt các trục đường Xét, bố trí tái định cư đúng đối tượng, đúng thành phần, tạo niềm tin cho người dân có đất bị thu hồi; thực hiện cải cách các thủ tục hành chính trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, đảm bảo công khai minh bạch, đúng quy trình, thủ tục, thời gian giải quyết, kết quả kiểm kê, phương án, chính sách, đơn giá áp dụng Tiếp và giải quyết các kiến nghị, khiếu nại của công dân ngay khi phát sinh từ cơ sở, không đùn đẩy, né tránh Xác định rừ trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu chính quyền địa phương, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức làm công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

1.3.2.3 Kinh nghiệm giải phóng mặt bằng ở tỉnh Thái Nguyên

Báo cáo của Ban Chỉ đạo công tác GPMB tỉnh cho thấy: Trong hơn 8 tháng đầu năm năm 2014, tỉnh Thái Nguyên thực hiện công tác GPMB đối với 203 công trình, dự án với tổng diện tích đất thu hồi trên 269 nghìn ha, đạt khoảng 68,37% so với kế hoạch Có 3.310 hộ gia đình bị ảnh hưởng, trong đó đã bàn giao tái định cư cho 186 hộ Trong quá trình giải phóng mặt bằng, đã có 10 dự án phải tổ chức cưỡng chế, chiếm 5% tổng số dự án thực hiện Các địa phương đã tổ chức bảo vệ thi công 25 lượt, trong đó có 1 lượt không thành công, 2 trường hợp bị các đối tượng chống đối, gây thương tích

Ban Chỉ đạo công tác GPMB tỉnh cũng đã thống nhất rút ra 6 bài học kinh nghiệm trong bồi thường GPMB là: Cả hệ thống chính trị phải quan tâm vào cuộc quyết liệt thì công tác GPMB mới thuận lợi; chính quyền địa phương tích cực tuyên truyền, vận động người bị thu hồi đất sớm bàn giao mặt bằng; kịp thời hỗ trợ và tạo điều kiện cho người bị thu hồi đất sớm ổn định cuộc sống; thường xuyên kiểm tra công tác GPMB để xác định nguyên nhân, có giải pháp tháo gỡ kịp thời đối với những dự án gặp vướng mắc; thực hiện tốt công tác quản lý sử dụng đất đai; xây dựng kế hoạch tỉ mỉ, chỉ đạo sâu sát việc cưỡng chế thu hồi đất và bảo vệ thi

công.[33]

Trang 25

1.4 Chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam qua các thời kỳ

1.4.1 Thời kỳ trước 1987

Trong thời kỳ các triều đại phong kiến trị vì đất nước, chính sách bồi thường cho người bị thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất đã được xác lập và chủ yếu tập trung vào bồi thường ruộng đất canh tác Hình thức bồi thường chủ yếu bằng tiền, mức bồi thường này được quy định chặt chẽ, tương xứng với thiệt hại của người bị thu hồi đất

Giai đoạn thực dân Pháp xâm lược nước ta, ngoài một số Hiệp ước bất bình đẳng để chiếm hữu đất, Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 17 tháng 01 năm 1913 là văn bản chính thức định ra những nguyên tắc nhượng địa, núp dưới hình thức mua bán để chiếm đoạt đất đai

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, năm 1946 nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã ban hành Hiến pháp đầu tiên, trong đó chỉ rõ: “Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là phải bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ” Ngày 14/12/1953, Luật Cải cách ruộng đất ra đời đã thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và tay sai ở Việt Nam, xóa bỏ chế độ phong kiến, chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân

Ngày 14/4/1959, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 151/TTg quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất Đây có thể coi là văn bản pháp quy đầu tiên liên quan đến việc bồi thường và tái định cư bắt buộc ở Việt Nam Ngày 06/7/1959, Liên bộ Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 1424/TTLB hướng dẫn thi hành Nghị định 151/TTg với các nguyên tắc cơ bản như những người có ruộng đất bị trưng dụng được bồi thường và trong trường hợp cần thiết được giúp giải quyết công ăn việc làm; chỉ được trưng dụng số ruộng đất thật cần thiết, hết sức tiết kiệm ruộng đất cày cấy, trồng trọt; hết sức tránh những nơi dân cư đông đúc, nghĩa trang liệt sỹ, nhà thờ, chùa, đền Cách bồi thường tốt nhất là vận động nông dân điều chỉnh hoặc nhượng ruộng đất cho người bị trưng dụng để họ

Trang 26

tiếp tục sản xuất Trường hợp không thực hiện được như vậy, về đất sẽ được bồi thường bằng tiền từ 1 đến 4 năm sản lượng thường liên của ruộng đất bị trưng dụng Mức bồi thường căn cứ thực tế ở từng nơi, đời sống nhân dân cao hay thấp, ruộng ít hay nhiều, tốt hay xấu mà định Đối với ruộng đất bị đào để tu bổ đường sá, làm đập thì tuỳ theo đất bị đào sâu hay nông, sản lượng bị giảm nhiều hay ít mà định mức bồi thường không quá 2 năm sản lượng thường niên

Ngày 11/01/1970 Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư số 1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường thiệt hại nhà cửa, đất đai, cây cối hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố trên nguyên tắc

“Phải đảm bảo thoả đáng quyền lợi kinh tế của hợp tác xã và của nhân dân” Về mức bồi thường, Thông tư 1792/TTg quy định:

+ Đối với nhà cửa thì căn cứ vào giá trị sử dụng, diện tích mà định giá bồi thường + Đối với đất đai, vùng đồng bằng chia làm 4 loại, vùng trung du đồi núi chia làm 5 loại, mỗi loại có giá tối thiểu và giá tối đa

+ Đối với các loại cây lưu niên, việc bồi thường các cây ăn quả dài ngày và ngắn ngày phải căn cứ vào sản lượng thu hoạch hàng niên và thời hạn trồng, hoa lợi của mỗi loại cây để quy định giá bồi thường

Về thể thức bồi thường: trước hết là các ngành cơ quan xây dựng phải liên hệ với chính quyền các cấp để tiến hành công khai chính sách bồi thường với nhân dân, rồi căn cứ vào tài sản hiện có (nhà cửa, sản lượng thu hoạch thường niên và thời hạn hưởng lợi hoa màu) công sức bỏ ra khai phá và phân loại đất đai của địa phương mà định giá bồi thường cho phù hợp

Sau khi thống nhất đất nước 1975, Hiến pháp 1980 ra đời, tại Điều 19 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Pháp luật không quy định đất đai có giá, tại Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ quy định “không được phát canh thu tô, cho thuê, cầm cố hoặc bán nhượng đất dưới bất kỳ hình thức nào, không được dùng đất để thu những khoản lợi không do lao động mà có ” Nhà nước cấp đất không thu tiền sử dụng đất, quan hệ đất đai là quan hệ đơn thuần.

Trang 27

1.4.2 Thời kỳ từ 1987-1993

Luật đất đai năm 1987 ra đời dựa trên quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Tại Khoản 4 Điều 48 quy định: “Đền bù thiệt hại thực tế cho người đang sử dụng đất bị thu hồi để giao cho mình, bồi hoàn thành quả lao động

và kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của pháp luật.”

Ngày 31/5/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 186/HĐBT về bồi thường thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác Căn cứ để tính mức bồi thường thiệt hại về đất nông nghiệp và đất có rừng là diện tích, chất lượng và vị trí đất Toàn bộ tiền bồi thường phải nộp vào ngân sách Nhà nước và được điều tiết theo phân cấp ngân sách (Trung ương 30%, địa phương 70%) để sử dụng vào mục đích khai hoang, phục hoá và định canh, định cư cho nhân dân vùng bị thu hồi đất

Hiến pháp 1992 ra đời là bước ngoặt quan trọng trong việc xây dựng chính sách pháp luật đất đai nói chung và chính sách bồi thường, GPMB nói riêng, trong

đó quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật”; “Các tổ chức và cá nhân được Nhà nước giao đất sử dụng lâu dài và được chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật”;

“Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá” Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích của quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định”

1.4.3 Thời kỳ từ 1993-2003

Luật Đất đai 1993 ra đời và có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/1993 Với các quy định tại Luật này thì “đất có giá” và người sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ cụ thể, trong đó: Tại Điều 12 quy định “Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất Tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất Chính phủ quy định khung giá các loại đất đối với từng vùng theo thời gian”; Điều 27 quy định “Trong từng trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất

Trang 28

để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh và vì lợi ích của quốc gia, lợi ích

công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại”

Trên cơ sở Luật Đất đai 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/CP ngày 17/8/1994 quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng

Để đáp ứng yêu cầu của xã hội và sự chuyển biến mạnh mẽ của nền kinh tế, Quốc hội đã liên tục sửa đổi Luật đất đai vào các năm 1998 và 2001 Theo đó, Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành các văn bản quy định về chính sách bồi thường GPMB (Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia và lợi ích công cộng; Thông tư 145/1998/TT-BTC ngày 04/11/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ)

Chính sách bồi thường GPMB theo quy định tại Nghị định 22/1998/NĐ-CP và thông tư 145/1998/TT-BTC đã xác định: Đối tượng được đền bù thiệt hại; Đối tượng phải đền bù thiệt hại; Phạm vi áp dụng; Phạm vi đền bù thiệt hại (Đền bù thiệt hại về đất cho toàn bộ diện tích đất thu hồi; Đền bù về tài sản hiện có; Trợ cấp đời sống và sản xuất cho những người phải di chuyển chỗ ở, di chuyển địa điểm sản xuất kinh doanh; Trả chi phí chuyển đổi nghề nghiệp cho người có đất bị thu hồi mà phải chuyển nghề nghiệp; Trả các chi phí phục vụ trực tiếp cho việc tổ chức thực hiện đền

bù, di chuyển, GPMB); Điều kiện được đền bù thiệt hại về đất; Giá đất để tính đền bù thiệt hại (trên cơ sở giá đất của địa phương ban hành kèm theo quy định của Chính phủ nhân với hệ số K để đảm bảo giá đất tính đền bù phù hợp với khả năng sinh lợi

và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất của địa phương); Tổ chức thực hiện; Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo, đối với các dự án khi bồi thường GPMB.v.v

Quá trình triển khai Nghị định 22/1998/NĐ-CP cho thấy, sau khi Nhà nước thu hồi đất và thực hiện bồi thường GPMB, người có đất thu hồi gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là những người bị thu hồi hết đất sản xuất, phải chuyển sang ngành nghề khác Với giá trị được bồi thường, người có đất bị thu hồi không có khả năng

Trang 29

tạo lập nơi ở mới cũng như không có khả năng đầu tư để chuyển sang ngành nghề khác Như vậy, dưới tác động của cơ chế thị trường cùng với số lượng dự án gia tăng, công tác bồi thường GPMB khi Nhà nước thu hồi đất ngày càng trở nên khó khăn, phức tạp, thực tiễn đòi hỏi phải có sự thay đổi về mặt chính sách, cơ chế, năng lực thể chế trong công tác này Đồng thời, Nhà nước cần có chính sách phù hợp về nhà ở, việc làm, lao động …để giải quyết những vấn đề có liên quan đến đời sống, dân sinh, kinh tế cộng đồng và ổn định xã hội Sau nhiều năm triển khai thực hiện, quá trình của một số tổ chức quốc tế cho các dự án đầu tư phát triển (chủ yếu

là các dự án phát triển cơ sở hạ tầng) Nghị định 22/CP đã thể hiện tính bất cập trong việc áp dụng thi hành và có nhiều quy định không phù hợp với chính sách bồi thường và TĐC của các tổ chức đó, phần nào hạn chế hiệu quả đầu tư, tiến độ thực hiện và chính sách bồi thường GPMB khi Nhà nước thu hồi đất, đòi hỏi phải có một văn bản pháp luật mới thay thế Nghị định 22/1998/NĐ-CP

Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai năm 1998 được Quốc hội thông qua ngày 02/12/1998 Về cơ bản, Luật Đất đai sửa đổi năm 1998 vẫn dựa trên nền tảng cơ bản của Luật cũ, chỉ bổ sung thêm một số điều liên quan đến quyền của người sử dụng đất giao, đất thuê và các căn cứ, thời hạn giao đất, cho thuê đất cho phù hợp với tình hình thực tế

Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai ngày 29/6/2001 quy định cụ thể hơn về việc bồi thường thiệt hại và giải phóng mặt bằng, cụ thể:

- Trong trường hợp cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người

sử dụng đất vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được bồi thường hoặc hỗ trợ Việc bồi thường hoặc hỗ trợ theo quy định của Chính phủ

- Nhà nước có chính sách để ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi Trong trường hợp người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở thì được mua nhà ở của Nhà nước hoặc được giao đất có thu tiền sử dụng đất để làm nhà ở Trong trường hợp phương án bồi thường được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, được công bố công khai và có hiệu lực thi hành theo quy định của pháp luật mà người bị

Trang 30

thu hồi đất không thực hiện quyết định thu hồi thì cơ quan quyết định thu hồi đất có quyền ra quyết định cưỡng chế Trong trường hợp Chính phủ ra quyết định thu hồi đất thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra quyết định cưỡng chế

- Trong trường hợp cộng đồng dân cư xây dựng công trình phục vụ lợi ích công cộng của cộng đồng theo quy hoạch bằng vốn do nhân dân đóng góp hoặc Nhà nước có hỗ trợ thì việc bồi thường hoặc hỗ trợ cho người có đất được sử dụng để xây dựng công trình do cộng đồng dân cư và người có đất đó thoả thuận [18]

1.4.4 Thời kỳ từ 2003

Trên cơ sở tổng kết 10 năm thi hành Luật Đất đai và xuất phát từ yêu cầu của giai đoạn mới, Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã ra Nghị quyết về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước Nghị quyết này là định hướng rất quan trọng để Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 4 thông qua Luật Đất đai mới vào ngày 26/11/2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004 Luật Đất đai năm 2003 có phạm vi điều chỉnh bao quát nhất, thể hiện đầy đủ hơi thở của cuộc sống so với các Luật Đất đai đã ban hành trước đó Luật có rất nhiều nội dung mới, trong đó: đã khắc phục cơ bản những bất cập trong chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế thông qua cơ chế giá đất bồi thường, chính sách tái định cư và hạn chế phạm vi dự án phải thu hồi đất Vấn đề bồi thường, GPMB và tái định cư cho người

bị thu hồi đất được xác định là người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi Đồng thời cũng quy định rõ ràng chính sách hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất đai phải tái định cư được đảm bảo cuộc sống, ổn định phát triển kinh tế, theo nguyên tắc

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập và thực hiện các dự án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất

ở mà phải di chuyển chỗ ở Khu tái định cư được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.[19]

Trang 31

Sau khi Luật Đất đai 2003 được ban hành, Chính phủ, Bộ, ngành đã ban hành hàng loạt các văn hướng dẫn thực hiện, đó là:

- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai

- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất

- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

- Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số Điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai

- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền

sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai

- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất

- Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định

cư khi Nhà nước thu hồi đất

- Thông tư liên tịch số 14/2008/BTC-BTNMT ngày 31/01/2008 của Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số Điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ

- Thông tư số 06/2007/TT-BTC ngày 15/6/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn thực hiện một số điều Nghị định số 84/2007/NĐ-CP

- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất

Trang 32

1.4.5 Luật đất đai năm 2013

Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua và có hiệu lục thi hành từ ngày 01/7/2014 Để hướng dẫn việc bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, Chính phủ và các Bộ, ngành đã ban hành các văn bản sau:

- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai;

- Thông tư 36/2014/BTNMT quy định chi tiết phương pháp định giá đất, xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất

- Nghị định 01/2017/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 47/2014/NĐ-CP hướng dẫn

thi hành Luật Đất đai (hiệu lực 03/3/2017)

- Thông tư 74/2015/TT-BTC hướng dẫn lập dự toán, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

- Thông tư 80/2017/TT-BTC hướng dẫn việc xác định giá trị quyền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản gắn liền với đất được hoàn trả khi Nhà nước thu hồi đất và việc quản lý, sử dụng số tiền bồi thường tài sản do Nhà nước giao quản lý sử dụng,

số tiền hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nhưng không được bồi thường về đất (hiệu

lực 15/9/2017)

1.5 Kinh nghiệm và bài học rút ra cho tác giả từ phần tổng quan tài liệu

Qua nghiên cứu chính sách bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái định

cư của một số nước và ở Việt Nam chúng ta cần học hỏi các kinh nghiệm để tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB ở một số điểm sau:

- Hoàn thiện các quy định về công tác định giá đất nói chung và định giá đất

để bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư nói riêng bằng cách thành lập các đơn vị

Trang 33

tư vấn trong việc điều tra, nghiên cứu và xây dựng giá đất ở các tỉnh, thành phố trong cả nước để giúp Nhà nước xây dựng được một khung giá phù hợp sao cho hài hòa giữa lợi ích của cá nhân và lợi ích quốc gia

- Công khai hóa đầy đủ các thông tin liên quan về dự án cũng như chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho các hộ dân bị thu hồi được biết, được bàn và kiểm tra

- Thường xuyên tuyên truyền đến cán bộ, người dân nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của công tác giải phóng mặt bằng cho phát triển các dự án Thường xuyên tổ chức các hội nghị đối thoại giữa cơ quan nhà nước, chủ đầu tư dự án và người dân để công bố quyết định thu hồi, thời gian triển khai, những lợi ích của dự án, các cơ chế chính sách, giá cả bồi thường và vận động người dân

- Quan tâm hơn nữa đối với việc lập quy hoạch và xây dựng các khu tái định cư; các chế độ chính sách của những người bị thu hồi; giá cả đền bù phải sát với giá thị trường; xử lý hài hòa lợi ích và quyền lợi của người bị thu hồi đất, chủ đầu tư với Nhà nước

- Ngoài khoản tiền bồi thường, hỗ trợ theo quy định cần nghiên cứu chính sách hỗ trợ trong việc chuyển đổi nghề và tạo công ăn việc làm sau khi bị thu hồi đất

- Thường xuyên theo dõi, giám sát, kiểm tra quá trình thực hiện công tác giải phóng mặt bằng để giải quyết kịp thời các vướng mắc theo đúng chế độ chính sách

đã đề ra cho người dân

Trang 34

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các văn bản, chính sách liên quan đến GPMB tại thành phố Cao Bằng

- Công tác bồi thường và GPMB dự án khai thác mỏ sắt Nà Rụa - giai đoạn 1

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: từ năm 2012-2016

- Địa điểm: Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Đánh giá sơ lược về tình hình cơ bản của thành phố Cao Bằng

- Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thuỷ văn

- Điều kiện kinh tế - xã hội

- Đánh giá thực trạng công tác quản lý và sử dụng đất đai của thành phố Cao Bằng;

- Đánh giá thực trạng công tác bồi thường, GPMB trên địa bàn thành phố Cao Bằng

2.3.2 Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng của dự án khai thác

mỏ sắt Nà Rụa trên địa bàn thành phố Cao Bằng

- Đánh giá được hiện trạng của dự án khai thác mỏ sắt Nà Rụa;

- Đánh giá được công tác triển khai thống kê đất đai, tài sản trên đất và các phương án bồi thường của dự án;

- Đánh giá được kết quả bồi thường và giải phóng mặt bằng của dự án khai thác mỏ sắt Nà Rụa;

2.3.3 Đánh giá công tác bồi thường, GPMB và sự ảnh hưởng của Dự án khai thác mỏ sắt Nà Rụa thông qua ý kiến người dân và cán bộ thực thi

2.3.4 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và giải pháp đối với công tác GPMB khi nhà nước thu hồi đất tại thành phố Cao Bằng

Trang 35

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

2.4.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Điều tra thu thập số liệu ở các cơ quan quản lý nhà nước: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cao Bằng; Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố , Phòng Tài chính - Thống kê, Ban Quản lý dự án, Trung tâm PTQĐ và GPMB thành phố

- Điều tra tại Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Cao Bằng các thông tin về bản đồ địa chính, bản đồ địa giới hành chính tỉnh Cao Bằng, công tác quản lý đất đai tại địa phương…

- Điều tra tại Phòng Tài nguyên & môi trường thành phố Cao Bằng về các thông tin về vị trí, diện tích đất đai chu chuyển để sử dụng cho dự án; phương án bồi thường; công tác triển khai thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng,…

- Điều tra tại phòng Tài chính - Thống kê về các thông tin về kinh tế, xã hội, các nguồn tài nguyên; các chính sách về đất đai đang được áp dụng trên địa bàn thành phố Cao Bằng;

- Điều tra tại Ban quản lý dự án nhằm thu thập các thông tin liên quan đến tiến độ, phương thức quản lý điều hành của dự án

2.4.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích thu thập thông tin thông qua bộ phiếu điều tra ý kiến đánh giá của người dân về dự án Cụ thể:

- Phạm vi điều tra thu thập là các hộ dân có đất bị thu hồi nằm trong dự án giai đoạn 1 với 60 hộ được điều tra

- Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp bằng bộ phiếu câu hỏi có sẵn;

- Đối tượng phỏng vấn là các chủ hộ hoặc lao động chính của hộ;

- Nội dung chính của điều tra phỏng vấn là các vấn đề liên quan đến giá, hình thức bồi thường, hỗ trợ, thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước trong công tác bồi thường của dự án; ảnh hưởng của dự án đến công ăn việc làm, đời sống của người dân bị mất đất và về vấn đề ảnh hưởng đến môi trường của dự án

Trang 36

2.4.1.3 Phương pháp chuyên gia

Đề tài có tham khảo ý kiến của 40 cán bộ trực tiếp thực hiện chính sách bồi thường

Đề tài có tham khảo ý kiến của các 8 lãnh đạo, các cán bộ quản lý giỏi có kinh nghiệm thông qua trao đổi, phỏng vấn trực tiếp để có những thông tin xác thực như: Lãnh đạo Trung tâm phát triển quỹ đất và GPMB thành phố; phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố; cán bộ địa chính phường Tân Giang và phường Hòa Chung

Tham khảo ý kiến tư vấn của 5 chuyên gia về hướng đi và các phương pháp thực hiện nội dung của đề tài Trao đổi để tìm ra khó khăn, thuận lợi, nguyên nhân, những giải pháp khắc phục và kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn Từ đó, đưa ra giải pháp có tính khả thi phục vụ cho mục tiêu đề tài

2.4.2 Phương pháp tổng hợp, xử lí, đánh giá và phân tích số liệu

Phương pháp xử lí số liệu: Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập được, dùng phần mềm Excel để tiến hành phân nhóm, thống kê diện tích, công trình, dự

án đó thực hiện theo quy hoạch, hoặc chưa thực hiện theo quy hoạch; tổng hợp phân tích các yếu tố tác động đến kết quả triển khai thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất

- Phương pháp phân tích đánh giá kết quả nghiên cứu: Việc phân tích đánh các nguồn số liệu sơ cấp và thứ cấp trên cơ sở so sánh đối chiếu, số liệu được phân tích sát sao, đúng đắn khoa học đảm bảo minh bạch chính xác

Trang 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đánh giá sơ lược về tình hình cơ bản của thành phố Cao Bằng

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Phía Bắc giáp các xã Ngũ Lão và Bế Triều huyện Hoà An

- Phía Nam giáp xã Hồng Nam huyện Hoà An, xã Kim Đồng và xã Canh Tân huyện Thạch An

- Phía Đông giáp các xã Quang Trung và Hà Trì huyện Hoà An

- Phía Tây giáp các xã Lê Chung, xã Bạch Đằng và xã Hoàng Tung huyện Hoà An

Hình 3.1 Bản đồ địa giới hành chính thành phố Cao Bằng

(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cao Bằng)

Trang 38

Thành phố có 11 phường, xã, bao gồm: Phường Hợp Giang, Sông Bằng, Sông Hiến, Đề Thám, Ngọc Xuân, Hòa Chung, Tân Giang, Duyệt Trung và xã Vĩnh Quang, Hưng Đạo, xã Chu Trinh

có địa hình tương đối phức tạp, chia cắt mạnh với 3 dạng địa hình chính:

- Vùng đồng bằng: Nằm dọc theo sông Bằng, sông Hiến và các thung lũng ven các khe núi đổ về 2 sông

- Vùng đồi núi thấp: bao quanh thành phố bởi 3 phía Tây, Nam, Đông

- Vùng đồi núi cao: Tập trung ở phía Đông có địa hình đồi núi chia cắt mạnh,

độ dốc lớn

3.1.1.3 Khí hậu và thủy văn

Thành phố Cao Bằng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có

4 mùa, nhưng hai mùa thể hiện rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô

từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

Nhiệt độ trung bình hàng năm thấp 210C Sự chênh lệch nhiệt độ trung bình các tháng trong năm tương đối cao Tháng nóng nhất trong năm là tháng 7 nhiệt độ trung bình là 260C, thấp nhất là tháng 1 nhiệt độ trung bình là 120C, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 20C gây giá buốt ảnh hưởng rất lớn đến cây trồng và chăn nuôi gia súc

Chảy qua địa bàn thành phố là 2 con sông chính, sông Bằng và Sông Hiến Sông Bằng chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, chiều dài chảy qua thành phố là 24,7km, lưu lượng dòng chảy trung bình là 72,50 m³/s Sông Hiến chảy theo hướng Nam - Bắc, đoạn qua thành phố dài khoảng 8,2 km Ngoài ra còn có hệ thống sông, suối nhỏ chảy vào hai sông lớn kể trên

Do ảnh hưởng của địa hình lòng máng và đặc thù của sông, suối thường ngắn, hẹp lòng, độ dốc lớn, hàng năm vùng ven sông Bằng và sông Hiến thường bị ngập úng vào mùa lũ và hạn hán vào mùa cạn gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh hoạt của người dân

Trang 39

3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên

3.1.2.1 Tài nguyên đất

Nhìn chung tài nguyên đất của thành phố Cao Bằng khá phong phú Tổng hợp từ bản đồ thổ nhưỡng, toàn bộ đất đai thành phố Cao Bằng được chia làm các loại như sau:

- Đất phù sa (P): có diện tích là 1.190 ha, chiếm 11,52% diện tích tự nhiên của thành phố

- Đất xám bạc màu (B): có diện tích là 325 ha, chiếm 3,02% diện tích tự nhiên của thành phố

- Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq): có diện tích là 1.240 ha, chiếm 11,52% diện tích tự nhiên của thành phố

- Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp): có diện tích là 2.442 ha, chiếm 22,68% diện tích tự nhiên của thành phố

- Đất nâu đỏ trên đá mácma bazơ và trung tính (Fk): có diện tích là 1.623 ha, chiếm 15,08% diện tích tự nhiên của thành phố

- Đất đỏ vàng trên đá phiến sét (Fs): có diện tích là 2.141 ha, chiếm 19,89% diện tích tự nhiên của thành phố

- Đất đỏ vàng trên đá mắcma axít (Fa): có diện tích là 1.338 ha, chiếm 12,43% diện tích tự nhiên của thành phố

- Đất núi đá: có diện tích là 141 ha, chiếm 1,31% diện tích tự nhiên của thành phố

Ngoài diện tích các loại đất trên, diện tích sông, suối trên địa bàn thành phố Cao Bằng là 323 ha trong diện tích tự nhiên của thành phố

3.1.2.2 Tài nguyên rừng

Diện tích đất lâm nghiệp năm 2016 là 5.271,44 ha, chiếm 49,22% diện tích tự nhiên, trong đó:

- Đất rừng phòng hộ: Có diện tích 3.910,98 ha, chiếm 36,51% tổng diện tích

tự nhiên, phân bố ở phường Sông Hiến, Tân Giang, Ngọc Xuân, Đề Thám và phường Duyệt Trung và 03 xã Vĩnh Quang, Hưng Đạo và xã Chu Trinh

Trang 40

- Đất rừng sản xuất: Có diện tích 1.361,28 ha, chiếm 12,71% diện tích đất tự nhiên, phân bố ở phường Sông Hiến, Tân Giang, Sông Bằng, Đề Thám và phường Hòa Chung và 02 xã Vĩnh Quang, xã Chu Trinh

Diện tích rừng giảm dần trong những năm qua, kéo theo đó là tỷ lệ che phủ của rừng ngày càng thấp, môi trường sống của các loài động thực vật bị thu hẹp dưới áp lực phát triển kinh tế - xã hội

3.1.2.3 Tài nguyên khoáng sản

Theo khảo sát của Đoàn địa chất 105 trên địa bàn thành phố Cao Bằng có các loại khoáng sản sau:

- Mỏ sắt Nà Rụa (cách trung tâm thành phố khoảng 3 km về phía tỉnh Lạng Sơn) dự báo có trữ lượng khoảng 22 triệu tấn, hiện mỏ này đang được đầu tư khai thác Ngoài ra còn có các mỏ sắt có trữ lượng nhỏ như Nà Lủng, Kéo Mỏ đã và đang khai thác

- Mỏ đồng, niken ở phường Sông Bằng

- Mỏ sét sản xuất gạch ngói ở phường Ngọc Xuân, mỏ sét xi măng Đoỏng Luông ở phường Đề Thám

- Mỏ than nâu Nà Cáp phường Sông Hiến trữ lượng tương đối lớn đang có kế hoạch chuẩn bị khai thác để phục vụ cho nhiệt điện

Nhìn chung, nguồn tài nguyên khoáng sản của thành phố Cao Bằng tương đối phong phú về chủng loại nhưng phần lớn là có trữ lượng nhỏ, ngoại trừ mỏ sắt

Nà Rụa ở các phường Hòa Chung và Tân Giang

3.1.2.4 Tài nguyên nước

Bao gồm 2 nguồn nước chính là nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm

- Nguồn nước mặt: được cung cấp chủ yếu bởi 2 con sông lớn chảy qua là sông Bằng và sông Hiến:

- Nguồn nước ngầm: theo kết quả thăm dò khảo sát của Liên đoàn Địa chất 2 cho thấy nguồn nước ngầm của thành phố dồi dào, chất lượng khá tốt chỉ cần lọc để khử NO2, Fe2+ là có thể sử dụng được trong sinh hoạt Hiện nay mức sử dụng nguồn nước ngầm tại thành phố là khoảng 850m³/người/năm

3.1.2.5 Tài nguyên nhân văn

Thành phố Cao Bằng có một nền văn hoá lâu đời Mỗi dân tộc trên địa bàn có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên nền văn hoá truyền thống phong phú, đa dạng Sự

Ngày đăng: 14/03/2018, 09:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm