Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––––––
CHỬ CÔNG QUYỀN
ĐÁNH GÍA CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––––––
CHỬ CÔNG QUYỀN
ĐÁNH GÍA CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC
Ngành: Khoa học môi trường
Mã số ngành: 60.44.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Lan
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3Tôi xin cam luận văn thạc sỹ khoa học dưới đây là của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là những số liệu trung thực, chưa từng được báo cáo, đăng hay công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng Tôi không sao chép
với bất kỳ hình thức nào
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Chử Công Quyền
Trang 4Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đỗ Thị Lan, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi tận tình, chu đáo trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám đốc, các phòng ban nghiệp vụ, các xưởng sản xuất của Công ty cổ phần môi trường đô thị và công nghiệp 10 – Urenco 10
Ban giám đốc, các phòng ban nghiệp vụ Công ty TNHH MTV môi trường đô thị Hà Nội – Chi nhánh Hoàn Kiếm đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát, thu thập, tổng hợp số liệu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Đồng thời, với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các thầy cô giáo của Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm đã tận tình dạy bảo, hướng dẫn, tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường để hoàn thành khóa học và giúp tôi có đủ kiến thức để tôi hoàn thành bài luận văn này
Cuối cùng tôi xin được cảm ơn toàn thể bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian vừa qua
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Chử Công Quyền
Trang 5MỞ ĐẦU 1
2 Mục tiêu, ý nghĩa của đề tài 3
2.1 Mục tiêu 3
2.2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về chất thải rắn y tế (CTRYT) 4
1.1.1 Cơ sở khoa học 4
1.1.2 Cơ sở pháp lý 6
1.1.3 Tổng quan nghiên cứu chất thải rắn y tế trên thế giới 6
1.1.4 Tổng quan nghiên cứu chất thải rắn ở Việt Nam 8
1.2 Tác hại và nguy cơ của chất thải rắn y tế 23
1.2.1 Tác hại và nguy cơ của chất thải y tế đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng trên thế giới 23
1.2.2 Tác hại và nguy cơ của chất thải rắn y tế đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam 25
1.2.3 Nhân lực và kinh phí quản lý chất thải y tế tại các Bệnh viện 27
1.3 Đánh giá chung 28
1.3.1 Tại Việt Nam hiện nay 28
1.3.2 Tại một số nước trên thế giới 28
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.2 Nội dung nghiên cứu 30
2.2.1 Tổng quát chung 30
2.2.2 Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 31
2.3.2 Phương pháp sơ cấp 31
2.3.3 Phương pháp xác định khối lượng và thành phần chất thải rắn y tế 32
Trang 62.3.5 Phương pháp xử lý số liệu, trình bày kết quả 34
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Khái quát về tình hình hoạt động của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 35
3.2 Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 36
3.3.2 Thực trạng vận chuyển, xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức 44
3.4 Các vấn đề liên quan đến quản lý CTR y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 48 3.4.1 Nhân lực phục vụ trực tiếp công tác quản lý CTR y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 48
3.4.2 Thực trạng vận chuyển, xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 53
3.5 Đánh giá thực trang quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 54
3.5.1 Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh 54
3.5.2 Công tác thu gom, phân loại, vận chuyển, xử lý chất thải rắn y tế 56
3.5.3 Các vấn đề liên quan đến công tác quản lý chất thải rắn y tế 57
3.5.4 Trang thiết bị phục vụ thu gom chất thải rắn y tế 59
3.6 Các giải pháp nhằm tăng hiệu quả công tác quản lý CTRYT tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 60
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Chất thải rắn y tế theo giường bệnh trên thế giới năm 2015 7
Bảng 1.2: Khối lượng CTR y tế phát sinh ở các loại đô thị trên cả nước 9
Bảng 1.3: Khối lượng CTR y tế phát sinh ở các tuyến Bệnh viện 11
Bảng 1.4: Tác nhân gây bệnh của các dạng nhiễm khuẩn trong bệnh viện 25
Bảng 3.1 Thực trạng quản lý CTR y tế nguy hại tại BV Hữu nghị Việt Đức 37
Bảng 3.2 Thực trạng quản lý CTR y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 38
Bảng 3.3: Thực trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Việt Đức 42
Bảng 3.4 Thực trạng vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn y tế tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức 43
Bảng 3.5 Thực trạng thu gom, xử lý chất thải rắn y tế 44
Bảng 3.6: Tỷ lệ số người tập huấn công tác QL CTR y tế tại BV Hữu nghị Việt Đức 48
Bảng 3.7: Tỷ lệ nhân viên y tế và vệ sinh viên được tập huấn quy chế quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 49
Bảng 3.8: Phân loại chất thải theo nhóm chất thải 49
Bảng 3.9 : Tình hình thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế 50
Bảng 3.11 : Hiểu biết của nhân viên y tế và vệ sinh viên về các đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi CTR y tế 52
Bảng 3.12 : Liên quan giữa kiến thức, thái độ của bệnh nhân với thực hành bỏ rác đúng quy định 52
Bảng 3.13: Thực trạng phương tiện thu gom, vận chuyển CTR y tế tại bệnh viện 53
Bảng 3.14 : Thực trạng nhà lưu giữ chất thải rắn y tế 54
Trang 9DANH MỤC CÁC HÍNH
Hình 1.1: Thành phần chất thải rắn y tế phát sinh 12 Hình 1.2: Thành phần CTR y tế dựa trên đặc tính lý hóa 13 Hình 1: Biến động của Chất thải lây nhiễm và chất thải hóa học tại BV Việt Đức 36 Hình 2 : Khối lượng phát sinh CTRYT NH tại BV Hữu nghị Việt Đức 37
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc sống con người càng được nâng cao thì công tác chăm sóc sức khỏe cho bản thân càng được chú trọng Các dịch vụ y tế ngày càng được cải thiện cả về số lượng lẫn chất lượng Cả dịch vụ y tế công và y tế tư nhân cạnh tranh nhau nhằm đem lại dịch vụ tốt nhất cho người dân Tuy nhiên trong quá trình hoạt động của hệ thống
y tế nhất là các Bệnh viện đã phát sinh ra môi trường nhiều loại chất thải và một phần không nhỏ trong đó là chất thải nguy hại cần phải được quản lý chặt chẽ
Chất thải y tế bao gồm chất thải y tế thông thường và chất thải y tế nguy hại, trong đó chiếm phần lớn (khoảng 80-90%) là chất thải y tế thông thường, chỉ khoảng 10-20% là chất thải y tế nguy hại bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải hóa học nguy hại yêu cầu phải quản lý đúng quy định để bảo đảm an toàn với con người và môi trường Theo Tổ chức y tế thế giới, trong thành phần chất thải bệnh viện có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn và khoảng 5% là chất thải không nhiễm khuẩn nhưng độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào, các hoá chất độc hại phát sinh trong quá trình chẩn đoán và điều trị Vì vậy chất thải rắn y tế (CTRYT) được xác định là chất thải nguy hại, nằm trong danh mục A các chất thải nguy hại có mã số A4020 - Y1
Khoa học kỹ thuật trong y học phát triển, các bệnh viện không chỉ phát triển về quy mô mà còn phát triển theo hướng chuyên khoa sâu nên chất thải y tế cũng tăng nhanh về số lượng và phức tạp về thành phần Đây là nguy cơ gây ra ô nhiễm môi trường, là môi trường lý tưởng cho các vi khuẩn, vi rút gây bệnh ký sinh, lây lan, lây chéo các bệnh truyền nhiễm cho cộng đồng dân cư
Tuy nhiên, với nhiều lý do khác nhau các cơ sở y tế, dịch vụ y tế ở Việt Nam vẫn đang quản lý chất thải rắn tế một cách chưa triệt để Nhiều cơ sở còn bỏ ngỏ về vấn đề này, môi trường các Bệnh viện, các cơ sở khám chữa bệnh ngày càng xấu đi, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và chất lượng điều trị cho bệnh nhân Theo báo cáo của Sở Y tế Hà Nội, trung bình mỗi năm, tổng lượng rác thải y tế thải ra từ 41 bệnh viện công lập, 52 phòng khám đa khoa, 4 nhà hộ sinh, gần 600 trạm y tế ước
Trang 11tính khoảng 600.000 kg chất thải y tế nguy hại; 3 triệu kg chất thải thông thường và khoảng 1,8 triệu m3 nước thải Trong đó, hơn 90% bệnh viện thực hiện phân loại chất thải rắn (CTR) y tế ngay tại nơi phát sinh, nhưng chỉ 50% trong số này thực hiện phân loại đúng từng loại chất thải theo quy định của Bộ Y tế Mới đây Sở Y tế Hà Nội đã thành lập 2 đoàn kiểm tra, giám sát về công tác quản lý chất thải y tế, quản lý vệ sinh lao động, sức khỏe người lao động và bệnh nghề nghiệp tiến hành kiểm tra tại 32 đơn
vị, bao gồm 30 Trung tâm y tế (TTYT) quận, huyện, thị xã và Bệnh viện đa khoa Đức Giang, Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec
Qua kiểm tra được biết với các bệnh viện việc chấp hành công tác quản lý chất thải bảo vệ môi trường thực hiện tương đối tốt Tuy nhiên với khối TTYT, mới chỉ
có 7/30 đơn vị thực hiện đánh giá tác động môi trường, 2/30 đơn vị quan trắc môi trường định kỳ, 2/30 đơn vị đăng ký chủ nguồn xả thải nguy hại
Với chất thải rắn y tế ngay tại nơi phát sinh, tất cả 32 đơn vị tổ chức phân loại, thu gom tại nguồn, tuy nhiên một số đơn vị thu gom chưa đúng mã màu quy định Việc xử lý chất thải rắn nguy hại có 6 đơn vị có lò đốt để xử lý tại chỗ, còn lại 26 đơn
vị ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý Về phương tiện vận chuyển chuyên dụng chất thải y tế nguy hại cũng chỉ có 2 đơn vị là TTYT Sóc Sơn, Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec có đầy đủ theo đúng quy định Về lưu giữ rác thải, mới chỉ có 14/32 đơn vị có nhà lưu giữ rác song 5 trong số đó nhà lưu giữ rác còn thiếu cửa và thiếu khóa
Đối với chất thải lỏng ở bệnh viện được kiểm tra có hệ thống xử lý còn lại 27 TTYT quận, huyện, thị xã chưa có hệ thống xử lý nước thải hiện đại mà chỉ xử lý tại chỗ bằng cloramin B hoặc vôi bột sau đó xả thải ra môi trường 43/51 phòng khám
đa khoa ở 30 TTYT quận, huyện đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải, 3/4 nhà hộ sinh được đầu tư hệ thống xử lý nước thải, nhà hộ sinh còn lại sử dụng phương pháp xử lý bằng hóa chất trước khi thải ra môi trường
Để góp phần giảm thiểu tác hại của Chất thải rắn y tế, tôi đã tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức”
Trang 122 Mục tiêu, ý nghĩa của đề tài
2.2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn cung cấp các số liệu thống kê và đánh giá chính xác, khách quan của luận văn về thưc trạng phát sinh, phân loại, thu gom vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức sẽ là nguồn tài liệu cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về chất thải rắn y tế tại các bệnh viện trên địa bàn Thành phố Hà Nội
- Luận văn còn cung cấp cơ sở khoa học, các giải pháp thực tiễn giúp cải thiện công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và quản lý chất thải rắn y tế bệnh viện từ đây đến các năm sau
- Đề xuất những biện pháp khả thi cho công tác thu gom, xử lý rác thải y tế một cách khoa học, hiệu quả, phù hợp hơn với điều kiện của Bệnh viện
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về chất thải rắn y tế (CTRYT)
1.1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1.1 Tổng quan về Chất thải rắn và quản lý chất thải rắn
+ Khái niệm chất thải:
Tại khoản 10 Điều 3 của Luật bảo vệ môi trường 2014 thì: “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác" Như vậy, rác thải là tất cả những thứ vật chất từ đồ ăn, đồ
dùng, chất phế thải sản xuất, dịch vụ, y tế, mà mọi người không dùng nữa và thải
bỏ đi
+ Nguồn gốc phát sinh và thành phần của chất thải
Chất thải rắn phát sinh chủ yếu từ các nguồn sau:
Từ khu dân cư: Bao gồm các khu dân cư tập trung, những hộ dân cư tách rời
Nguồn rác thải chủ yếu là: thực phẩm dư thừa, thuỷ tinh, gỗ, nhựa, cao su, còn có một số chất thải nguy hại
Từ các động thương mại: Quầy hàng, nhà hàng, chợ, văn phòng cơ quan, khách
sạn, Các nguồn thải có thành phần tương tự như đối với các khu dân cư (thực phẩm, giấy, catton, )
Các cơ quan, công sở: Trường học, bệnh viện, các cơ quan hành chính: lượng
rác thải tương tự như đối với rác thải dân cư và các hoạt động thương mại nhưng khối lượng ít hơn
Từ xây dựng: Xây dựng mới nhà cửa, cầu cống, sửa chữa đường xá, dỡ bỏ các
công trình cũ Chất thải mang đặc trưng riêng trong xây dựng: sắt thép vụn, gạch vỡ, các sỏi, bê tông, các vôi vữa, xi măng, các đồ dùng cũ không dùng nữa
Dịch vụ công cộng của các đô thị: Vệ sinh đường xá, phát quan, chỉnh tu các
công viên, bãi biển và các hoạt động khác, Rác thải bao gồm cỏ rác, rác thải từ việc trang trí đường phố
Trang 14Các quá trình xử lý nước thải: Từ quá trình xử lý nước thải, nước rác, các quá
trình xử lý trong công nghiệp Nguồn thải là bùn, làm phân compost,
Từ các hoạt động sản xuất công nghiệp: Bao gồm chất thải phát sinh từ các
hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công, quá trình đốt nhiên liệu, bao bì đóng gói sản phẩm, Nguồn chất thải bao gồm một phần từ sinh hoạt của nhân viên làm việc
Từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp: Nguồn chất thải chủ yếu từ các cánh
đồng sau mùa vụ, các trang trại, các vườn cây, Rác thải chủ yếu thực phẩm dư thừa, phân gia súc, rác nông nghiệp, các chất thải ra từ trồng trọt, từ quá trình thu hoạch sản phẩm, chế biến các sản phẩm nông nghiệp
1.1.1.2 Chất thải rắn y tế
+ Khái niệm:
Theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm
2015 thì Chất thải y tế được định nghĩa như sau:
Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế
+Phân loại:
- Theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế
Chất thải lây nhiễm
Chất thải hóa học nguy hại
Bình chứa áp suất
Chất thải thông thường
- Theo thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT – BYT - BTNMT ký ngày 31/12/2015
về việc quản lý chất thải y tế
Chất thải lây nhiễm sắc nhọn
Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao
Chất thải giải phẫu
Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng rắn
Trang 15 Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng
Chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế
Chất thải thông thường phục vụ mục đích tái chế
+ Quy trình quản lý chất thải y tế
1.1.2 Cơ sở pháp lý
Các văn bản, luật, nghị định, thông tư ban hành từ trước đến nay:
Luật bảo vệ MT số 55/2014/QH 13 thông qua ngày 23/6/2014
Nghị định số 18/2015/NĐ – CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ về thi hành luật BVMT
Thông tư 36/2015/TT-BTNMT ban hành ngày 30/6/2015 về quy định quản lý chất thải của Bộ TNMT
Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT/BKHCN-BYT ngày 9/6/2014 hướng dẫn thực hiện an toàn bức xạ trong y tế
Thông tư ban hành quy chuẩn VN 02:2012/BTNMT-LĐCTYT
Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT – BYT - BTNMT ký ngày 31/12/2015 về việc quản lý chất thải y tế
1.1.3 Tổng quan nghiên cứu chất thải rắn y tế trên thế giới
- Thực trạng quản lý chất thải y tế trên thế giới
Nghiên cứu về CTYT đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại CTYT; quản lý CTYT (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ); tác hại của CTYT đối với môi trường, sức khoẻ; biện pháp làm giảm tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền dịch bệnh; những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT; tổn thương nhiễm khuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng; người phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế ( Báo cáo môi trường của ngành y
tế năm 2015 )
Trang 16- Thực trạng phát sinh chất thải y tế
Khối lượng CTYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các khoa phòng
Bảng 1.1 Chất thải rắn y tế theo giường bệnh trên thế giới năm 2015
Tuyến bệnh viện Tổng lượng CTYT
( Nguồn: Báo cáo của Bộ y tế về tình hình hoạt động của bệnh viện tại Hà Nội – 2015)
+ Phân loại chất thải y tế
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (2012), ở các nước đang phát triển có thể phân loại CTYT thành các loại sau: Chất thải không độc hại (chất thải sinh hoạt gồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại); chất thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm); chất thải nhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn); chất thải hoá học và dược phẩm (không kể các loại thuốc độc đối với tế bào); chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao)
Ở Mỹ phân loại chất thải y tế thành 8 loại: Chất thải cách ly (chất thải có khả năng truyền nhiễm mạnh); Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và chế phẩm sinh học liên quan; Những vật sắc nhọn được dùng trong điều trị, nghiên cứu ; Máu và các sản phẩm của máu; Chất thải động vật (xác động vật, các phần của cơ thể ); Các vật sắc nhọn không sử dụng; Các chất thải gây độc tế bào; Chất thải phóng xạ
+ Quản lý chất thải y tế tại 1 số quốc gia trên thế giới: Anh, Srilanka
Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 20 - 68% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử lý chất thải đúng cách Tại các cơ sở Y tế, 13,8% công nhân xử lý chất thải bị tổn
Trang 17thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT Tổn thương này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất, chủ yếu là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu huỷ vật sắc nhọn Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển CTYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng
có nắp đậy (Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế, 2015)
Ở các nước phát triển đã có công nghệ xử lý CTYT đáng tin cậy như đốt rác bằng lò vi sóng, tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được áp dụng ở các nước đang phát triển, vì vậy, các nhà khoa học ở các nước Châu Á đã tìm ra một số phương pháp xử lý chất thải khác để thay thế như Philippin đã áp dụng phương pháp
xử lý rác bằng các thùng rác có nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn đề khí thải độc hại thoát ra từ các thùng đựng rác có nắp kín bằng việc gắn vào các thùng có những thiết bị cọ rửa; Indonexia chủ trương nâng cao nhận thức trước hết cho các bệnh viện
về mối nguy hại của CTYT gây ra để bệnh viện có biện pháp lựa chọn phù hợp (Theo
Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế, 2015)
1.1.4 Tổng quan nghiên cứu chất thải rắn ở Việt Nam
a Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại Việt Nam
- Tổng lượng chất thải y tế phát sinh
Hệ thống các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn toàn quốc được phân cấp quản lý theo tính chất chuyên khoa Cụ thể,
Bộ Y tế quản lý 13 bệnh viện đa khoa tuyến trung ương, 26bệnh viện chuyên khoa tuyến trung ương; địa phương quản lý 748 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh/thành phố,
241 bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh/thành phố, 598 bệnh viện đa khoa quận/huyện/thị
xã và 11.822 trung tâm y tế các cấp; các đơn vị khác quản lý 92 Trung tâm/Nhà điều
dưỡng/ bệnh viện tư nhân (Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế, 2015)
Theo Tổng cục thống kê năm 2015 thì mức độ đáp ứng nhu cầu chữa trị tính chung trong cả nước tăng lên rõ rệt trong những năm gần đây, năm 2010 là 18,8
giường bệnh/1 vạn dân, đến năm 2020 là 28 giường bệnh/1 vạn dân Việc tăng số
lượng giường bệnh thực tế do tăng nhu cầu về khám chữa bệnh đồng nghĩa với việc tăng khối lượng chất thải y tế cần phải xử lý
Trang 18Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện; các cơ sở y tế khác như: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu ; các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinh học; ngân hang máu Hầu hết các CTR y tế đều có tính chất độc hại và tính đặc thù khác với các loại CTR khác Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật
Bảng 1.2: Khối lượng CTR y tế phát sinh ở các loại đô thị trên cả nước
Tỉnh/Tp CTR y tế
(tấn/năm)
Loại
đô thị
Đô thị loại III
Quảng Trị 284,67 Khánh
Bình
thị đặc biệt
Trang 19tế phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và tăng số giường bệnh; tăng cường
sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân số gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế
Tính riêng cho 38 bệnh viện thuộc Bộ Y tế quản lý, theo khảo sát năm 2015, tổng lượng CTR y tế phát sinh trong 1 ngày là 32,72 tấn, trung bình là 1,6 kg/giường/ ngày Lượng chất thải phát sinh tính theo giường bệnh cao nhất là bệnh viện Chợ Rẫy 3,98 kg/giường/ngày, thấp nhất là bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Trung ương và bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 với 0,12 kg/giường/ngày Lượng CTR y
tế phát sinh trong ngày khác nhau giữa các bệnh viện tùy thuộc số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại bệnh
viện, số lượng vật tư tiêu hao được sử dụng (Theo Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế,
2015)
Nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và lây lan dịch bệnh từ chất thải y tế đang là mối quan tâm đặc biệt của toàn xã hội hiện nay Thời gian qua, để hạn chế những tác động xấu từ chất thải y tế, nhiều nguồn lực đã được đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường Tuy nhiên thực tế cho thấy công tác bảo vệ môi trường trong lĩnh vực y tế vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại
Hà Nội là thủ đô của cả nước, nơi tập trung đông dân cư vì thế công tác bảo vệ sức khỏe của người dân luôn là trách nhiệm hàng đầu Kéo theo đấy là lượng chất thải y tế phát sinh trên địa bàn thành phố Hà Nội hằng ngày luôn đứng đầu cả nước Nếu công tác quản lý chất thải rắn y tế nguy hại nếu không được thực hiện tốt ngay
từ các Bệnh viện thì hậu quả đối với môi trường sống và sức khỏe của người dân sẽ không được đảm bảo
Trang 20Bảng 1.3: Khối lượng CTR y tế phát sinh ở các tuyến Bệnh viện
Nguồn: Quy hoạch quản lý chất thải y tế, Bộ Y tế, 2015
Hiện nay trên địa bàn Thành phố Hà Nội có 55 bệnh viện tuyến tỉnh và Trung ương, 17 bệnh viện tuyến Trung ương và bộ ngành Bệnh viện trực thuộc Trung Ương với 12.730 giường bệnh, 40 bệnh viện thuộc Sở Y tế, với 7.980 giường bệnh Đây là 2 tuyến bệnh viện phát sinh nhiều chất thải rắn y tế nguy hại nhất của Thành
phố Hà Nội (Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế, 2015)
Số lượng bệnh viện đã đăng ký chất thải rắn nguy hại với Chi cục bảo vệ môi trường - Sở Tài nguyên Môi trường là: 23/55 bệnh viện tuyến tỉnh và Trung ương có khối lượng chất thải rắn nguy hại là 45.451 kg/tháng, 10/40 bệnh viện thuộc Sở y tế
có khối lượng CTR y tế nguy hại là 25.152kg/tháng, 8/25 bệnh viện và phòng khám
tư nhân có khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại là 7.258,6 kg/tháng Các cơ sở y tế còn lại không đăng ký chất thải rắn nguy hại với Chi cục bảo vệ môi trường, hợp đồng với đơn vị có chức năng thu gom, vận chuyển, xử lý
Trang 21- Thành phần và phân loại chất thải rắn y tế
+ Theo Thuyết minh Quy hoạch xử lý chất thải rắn Thủ đô Hà Nội đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2050 tỷ lệ, thành phần chất thải rắn y tế phát sinh tại các
bệnh viện trên địa bàn Hà Nội như sau:
Hầu hết các CTR y tế là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù so với các loại CTR khác Các loại chất thải này nếu không được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể Xét về các thành phần chất thải dựa trên đặc tính lý hóa thì tỷ lệ các thành phần có thể tái chế là khá cao, chiếm trên 25% tổng lượng CTR y tế, chưa kể 52% CTR y tế
là các chất hữu cơ Trong thành phần CTR y tế có lượng lớn chất hữu cơ và thường
có độ ẩm tương đối cao, ngoài ra còn có thành phần chất nhựa chiếm khoảng 10%, vì vậy khi lựa chọn công nghệ thiêu đốt cần lưu ý đốt triệt để và không phát sinh khí độc hại
Tổng lượng
CTR y tế
50% CTR y tế nguy
hại 8%
CTR y tế thông thường 42% CTR y tế thông thường
CTR y tế nguy hại Tổng lượng CTR y tế
Trang 22Hình 1.2: Thành phần CTR y tế dựa trên đặc tính lý hóa
(Nguồn: Báo cáo Bộ TNMT năm 2010)
Thành phần hoá học của chất thải rắn y tế
- Những chất vô cơ, kim loại, bột bó, chai thuỷ tinh, sỏi đá, hoá chất thuốc thử
- Những chất hữu cơ: đồ vải sợi, giấy, phần cơ thể, đồ nhựa
Nếu phân tích nguyên tố thì thấy gồm những thành phẩm: C, H, O, N, S, P, Cl
và một phần tro
Thành phần hoá học điển hình của các loại chất thải y tế ước tính khoảng 50% cacbon, 20% ôxy, 6% hydro và nhiều nguyên tố khác
Thành phần sinh học của chất thải rắn y tế
Máu, những loại dịch tiết, những động vật làm thí nghiệm, bệnh phẩm đặc biệt
là những vi trùng gây bệnh
Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hoá học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm:
* Chất thải lây nhiễm: Nhóm này gồm các loại chất thải:
- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền,
Giấy các loại 3%
Bông băng, bột bó gãy xương 9%
Kim loại, vỏ hộp 1%
Thủy tinh, ống tiêm, chai lọ thuốc, bơm kim tiêm 3%
Bệnh phẩm 1%
Rác hữu cơ
51%
Đất đá và các loại vật rắn khác
Giấy các loại Kim loại, vỏ hộp
Thủy tinh, ống tiêm, chai lọ thuốc, bơm kim tiêm
Bông băng, bột bó gãy xương
Chai, túi nhựa các loại Bệnh phẩm
Rác hữu cơ
Trang 23lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thuỷ tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác
* Chất thải hoá học nguy hại: Nhóm này gồm các loại chất thải sau:
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng
- Chất hoá học nguy hại sử dụng trong y tế
- Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hoá trị liệu
- Chất thải chứa kim loại nặng: thuỷ ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thuỷ ngân bị
vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh,
xạ trị)
* Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh
từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất
Thông tư số 40/2014/TT-BYT ngày 17/11/2014 của Bộ Y tế Ban hành và hướng dẫn thực hiện danh mục thuốc tân dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm
y tế
* Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung
Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt
* Chất thải thông thường: là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá
học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá học nguy hại
Trang 24- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
b Quản lý chất thải rắn y tế tại một số Bệnh viện
- Theo Kết quả khảo sát 856 bệnh viện của Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường năm 2015 và báo cáo của các Sở Y tế từ các địa phương từ 2013-2015,
có 97,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải trong đó 93,7% đã sử dụng dụng
cụ tách riêng vật sắc nhọn Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh và nhận xét của đoàn kiểm tra liên Bộ, còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường được đưa vào chất thải y tế nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý Có 67,8% sử dụng túi nhựa làm bằng nhựa PE, PP Chỉ có 31,5% sử dụng túi có thành dày theo đúng quy chế Chất thải y tế đã được chứa trong các thùng đựng chất thải Tuy nhiên, các bệnh viện có các mức độ đáp ứng yêu cầu khác nhau, chỉ có một số ít bệnh viện có thùng đựng chất thải theo đúng quy chế (bệnh viện trung ương và bệnh viện tỉnh) Hầu hết ở các bệnh viện (96,3%) CTR được thu gom hàng ngày, một số bệnh viện có diện tích chật hẹp nên gặp khó khăn trong việc thiết kế lối đi riêng để vận chuyển chất thải Chỉ có 61% số bệnh viện chất thải được vận chuyển trong xe
có nắp đậy Có 61,2% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải có mái che, trong đó có
47,8% đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế (Báo cáo của Bộ Y tế, 2015)
Theo kết quả khảo sát mới đây của Bộ Y tế đối với gần 421 bệnh viện trên toàn quốc, khoảng 2/3 chưa áp dụng phương pháp tiêu huỷ chất thải đảm bảo hợp vệ sinh Trong khi đó, theo Luật Bảo vệ môi trường: Chất thải rắn, nước thải sinh hoạt của bệnh nhân phải được xử lý sơ bộ loại bỏ các mầm bệnh có nguy cơ lây nhiễm trước khi chuyển về cơ sở xử lý tập trung
Tại các cơ sở y tế 19,7% số công nhân xử lý chất thải bị tổn thương do kim tiêm đâm xảy ra trong quá trình xử lý chất thải y tế Tổn thương này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp với máu phổ biến nhất, xảy ra chủ yếu do nguyên nhân là dùng
hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu huỷ vật sắc nhọn không an toàn (Cục Khám
chữa bệnh - Bộ Y tế, 2015)
- Phân loại chất thải rắn y tế
Trang 25Việc phân loại chất thải phải được thực hiện ngay tại các buồng bệnh hoặc nơi phát sinh ra chất thải rắn y tế Các chất thải khác nhau phải được đựng trong các túi
và thùng có mã mầu kèm biểu tượng khác nhau theo đúng quy định
- Mã màu sắc của túi đựng chất thải y tế:
+ Màu vàng đựng chất thải lây nhiễm
+ Màu đen đựng chất thải hoá học nguy hại và chất thải phóng xạ
+ Màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình áp suất nhỏ
+ Mầu trắng đựng chất thải tái chế
+ Bên ngoài túi phải có đường kẻ ngang ở mức 3/4 túi và có dòng chữ "Không
được đựng quá vạch này"
+ Các túi đựng chất thải phải tuân theo hệ thống màu quy định của Quy chế và
dễ dàng, miệng hộp đủ lớn để cho vật sắc nhọn vào mà không cần dùng lực đẩy, có
dòng chữ "Chỉ đựng chất thải sắc nhọn" và có vạch báo hiệu ở mức 3/4 hộp và có dòng chữ "Không được đựng quá vạch này", mầu vàng, có quai hoặc kèm hệ thống
cố định, khi di chuyển vật sắc nhọn bên trong không bị đổ ra ngoài
+ Đối với các cơ sở y tế sử dụng máy huỷ kim tiêm, máy cắt bơm kim tiêm, hộp đựng chất thải sắc nhọn phải được làm bằng kim loại hoặc nhựa cứng, có thể dùng lại và phải là một bộ phận trong thiết kế của máy huỷ, cắt bơm kim
Trang 26+ Đối với hộp nhựa đựng chất thải sắc nhọn có thể tái sử dụng, trước khi tái sử dụng, hộp nhựa phải được vệ sinh, khử khuẩn theo quy trình khử khuẩn dụng cụ y tế Hộp nhựa sau khi khử khuẩn để tái sử dụng phải còn đủ các tính năng ban đầu
- Thùng đựng chất thải:
+ Phải làm bằng nhựa có tỷ trọng cao, thành dầy và cứng hoặc làm bằng kim loại có nắp đậy mở bằng đạp chân Những thùng thu gom có dung tích từ 50 lít trở lên cần có bánh xe đẩy
+ Thùng màu vàng để thu gom các túi, hộp chất thải màu vàng
+ Thùng màu đen để thu gom các túi chất thải màu đen Đối với chất thải phóng
xạ, thùng đựng phải làm bằng kim loại
+ Thùng màu xanh để thu gom các túi chất thải màu xanh
+ Thùng màu trắng để thu gom các túi chất thải màu trắng
+ Dung tích thùng tuỳ vào khối lượng chất thải phát sinh, từ 10 lít đến 240 lít + Bên ngoài thùng phải có vạch báo hiệu ở mức 3/4 thùng và ghi dòng chữ
"Không được đựng quá vạch này"
- Biểu tượng chỉ loại chất thải:
Mặt ngoài túi, thùng đựng một số loại chất thải nguy hại và chất thải để tái chế phải có biểu tượng chỉ loại chất thải phù hợp
+ Túi, thùng màu vàng đựng chất thải lây nhiễm có biểu tượng nguy hại sinh học + Túi, thùng màu đen đựng chất thải gây độc tế bào có biểu tượng chất gây độc
tế bào kèm dòng chữ "Chất gây độc tế bào"
+ Túi, thùng màu đen đựng chất thải phóng xạ có biểu tượng chất phóng xạ và
có dòng chữ "Chất thải phóng xạ"
+ Túi, thùng màu trắng đựng chất thải để tái chế có biểu tượng chất thải có thể tái chế
Trang 27- Thu gom chất thải rắn y tế trong cơ sở
+ Nơi đặt thùng đựng chất thải
Mỗi khoa, phòng phải định rõ vị trí đặt thùng đựng chất thải y tế cho từng loại chất thải, nơi phát sinh chất thải phải có loại thùng thu gom tương ứng Nơi đặt thùng đựng chất thải phải có hướng dẫn cách phân loại và thu gom
Sử dụng thùng đựng chất thải theo đúng tiêu chuẩn quy định và phải được vệ sinh hàng ngày
Túi sạch thu gom chất thải phải luôn có sẵn tại nơi chất thải phát sinh để thay thế cho túi cùng loại đã được thu gom chuyển về nơi lưu giữ tạm thời chất thải của
cơ sở y tế
- Mỗi loại chất thải được thu gom vào các dụng cụ thu gom theo mã mầu quy
định và phải có nhãn hoặc ghi bên ngoài túi nơi phát sinh chất thải
- Các chất thải y tế nguy hại không được để lẫn trong chất thải thông thường Nếu vô tình để lẫn chất thải y tế nguy hại vào chất thải thông thường thì hỗn hợp chất
thải đó phải được xử lý và tiêu huỷ như chất thải y tế nguy hại
- Lượng chất thải chứa trong mỗi túi chỉ đầy tới 3/4 túi, sau đó buộc cổ túi lại
- Tần suất thu gom: Hộ lý hoặc nhân viên được phân công hàng ngày chịu trách nhiệm thu gom các chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường từ nơi chất thải phát sinh về nơi tập trung chất thải của khoa ít nhất 1 lần trong ngày và khi cần
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao trước khi thu gom về nơi tập trung chất thải của cơ sở y tế phải được xử lý ban đầu tại nơi phát sinh chất thải
- Vận chuyển chất thải rắn y tế trong cơ sở
+ Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phát sinh tại các khoa/phòng phải được vận chuyển riêng về nơi lưu giữ chất thải của cơ sở y tế ít nhất một lần một ngày và khi cần
+ Cơ sở y tế phải quy định đường vận chuyển và giờ vận chuyển chất thải Tránh vận chuyển chất thải qua các khu vực chăm sóc người bệnh và các khu vực sạch khác
Trang 28+ Túi chất thải phải buộc kín miệng và được vận chuyển bằng xe chuyên dụng; không được làm rơi, vãi chất thải, nước thải và phát tán mùi hôi trong quá trình vận chuyển
- Lưu giữ chất thải rắn y tế trong cơ sở
Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phải lưu giữ trong các buồng riêng biệt
Chất thải để tái sử dụng, tái chế phải được lưu giữ riêng
- Nơi lưu giữ chất thải tại các cơ sở y tế phải có đủ các điều kiện sau:
+ Cách xa nhà ăn, buồng bệnh, lối đi công cộng và khu vực tập trung đông người tối thiểu là 10 mét
+ Có đường để xe chuyên chở chất thải từ bên ngoài đến
+ Nhà lưu giữ chất thải phải có mái che, có hàng rào bảo vệ, có cửa và có khoá Không để súc vật, các loài gậm nhấm và người không có nhiệm vụ tự do xâm nhập + Diện tích phù hợp với lượng chất thải phát sinh của cơ sở y tế
+ Có phương tiện rửa tay, phương tiện bảo hộ cho nhân viên, có dụng cụ, hoá chất làm vệ sinh
+ Có hệ thống cống thoát nước, tường và nền chống thấm, thông khí tốt
+ Khuyến khích các cơ sở y tế lưu giữ chất thải trong nhà có bảo quản lạnh
- Thời gian lưu giữ chất thải y tế nguy hại tại cơ sở y tế
+ Thời gian lưu giữ chất thải trong các cơ sở y tế không quá 48 giờ
+ Lưu giữ chất thải trong nhà bảo quản lạnh hoặc thùng lạnh: thời gian lưu giữ
có thể đến 72 giờ
+ Chất thải giải phẫu phải chuyển đi chôn hoặc tiêu huỷ hàng ngày
+ Đối với các cơ sở y tế có lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh dưới 5 kg/ngày, thời gian thu gom tối thiểu hai lần trong một tuần
c Các biện pháp xử lý chất thải rắn y tế
- Công tác thu gom, lưu trữ CTR y tế nói chung đã được quan tâm bởi các cấp
từ trung ương đến địa phương, thể hiện ở mức độ thực hiện quy định ở các bệnh viện khá cao Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự quản lý
Trang 29của Bộ Y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển
và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đã được cấp phép tại địa bàn cơ sở khám chữa bệnh đó Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở Y tế quản
lý, công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc biệt là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn (chất thải y tế thông thường, chất thải y tế nguy hại ) Trong vận chuyển CTR y tế, có 80 % số bệnh viện sử dụng xe
có nắp đậy để vận chuyển chất thải y tế nguy hại; 85 % bệnh viện có mái che để lưu giữ CTR đây là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người bệnh và môi trường
(Theo Kết quả khảo sát gần 1000 bệnh viện của Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường năm 2015 và báo cáo của các Sở Y tế từ các địa phương từ 2013-2015)
Theo Báo cáo quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý CTR y tế nguy hại đến năm
2025 - Bộ Xây dựng, năm 2015 thì khối lượng CTR y tế nguy hại được xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 92,6% tổng lượng phát sinh CTR y tế nguy hại trên toàn quốc CTR y
tế xử lý không đạt chuẩn (7,4 %) là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng
Các thành phố lớn như Tp Hồ Chí Minh, Tp Hà Nội và Tp Đà Nẵng đã có công ty xử lý CTR y tế nguy hại vận hành tốt, tổ chức thu gom và xử lý, tiêu huỷ CTR y tế nguy hại cho toàn bộ cơ sở y tế trên địa bàn CTR y tế nguy hại của các tỉnh, thành phố khác hiện được xử lý và tiêu huỷ với các mức độ khác nhau: một số địa phương như Thái Nguyên, Hải Phòng, Cần Thơ, Bắc Ninh, Bình Dương, Hải Dương đã tận dụng tốt lò đốt trang bị cho cụm bệnh viện, chủ động chuyển giao lò đốt cho công ty môi trường đô thị tổ chức vận hành và thu gom xử lý CTR y tế nguy hại cho toàn tỉnh, thành phố; Nghệ An có lò đốt đặt tại bệnh viện tỉnh xử lý CTR y tế nguy hại cho các bệnh viện khác thuộc địa bàn thành phố, thị xã Một số thành phố lớn đã bố trí lò đốt CTR y tế nguy hại tập trung tại khu xử lý chung của thành phố
Tỷ lệ lò đốt CTR y tế phân tán được vận hành tốt chỉ chiếm khoảng xấp xỉ 57% số lò được trang bị, có vùng chỉ đạt 25% Nếu xét mức độ xử lý của các cơ sở y tế theo tuyến trung ương và địa phương, các sở sở trực thuộc Bộ Y tế có mức độ đầu tư xử
Trang 30lý CTR y tế nguy hại cao hơn hẳn các cơ sở tuyến địa phương Bên cạnh lí do về công nghệ và trình độ quản lý, thì thiếu kinh phí vận hành là yếu tố quan trọng dẫn đến các
lò đốt hoạt động phân tán không đạt hiệu quả (Theo Kết quả khảo sát gần 1000 bệnh
viện của Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường năm 2015 và báo cáo của các
Sở Y tế từ các địa phương từ 2013-2015)
Công tác xử lý CTR y tế nguy hại tại 7 vùng trong cả nước
Vùng Đồng bằng Sông Hồng có khoảng gần 300 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương trong đó 150 cơ sở có trang bị lò đốt CTR y tế (chiếm 50%), số lò đốt còn hoạt động tốt là 95 (chiếm 63,3 %) Đối với các cơ sở y tế chưa được trang bị lò đốt, hoặc lò đốt không hoạt động, CTR y tế nguy hại xử lý tập trung tại khu xử lý CTR chung Có 10/13 tỉnh của vùng đã bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung, số
cơ sở y tế cấp địa phương xử lý tại khu xử lý tập trung chiếm 77%
Tại 3 tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Vĩnh Phúc 100% CTR y tế xử lý phân tán tại các bệnh viện Vùng Đông Bắc và Tây Bắc Bắc Bộ có 258 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương trên 100 cơ sở có trang bị lò đốt CTR y tế (chiếm khoảng 47%), số
lò đốt còn hoạt động tốt gần 50 (chiếm trên 50%) Có 11/15 tỉnh của vùng đã bố trí
xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung của tỉnh và thành phố Chỉ có khoảng gần
40 cơ sở y tế xử lý tại các khu xử lý CTR chung, tương đương gần 18% Một số tỉnh
đã có khu vực xử lý CTR y tế chung nhưng rất ít cơ sở vận chuyển đến như Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu,Cao Bằng, Bắc Kạn… Phần lớn CTR y tế ở các tỉnh như Bắc Kạn, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La được xử lý tại chỗ, không đạt yêu cầu Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có trên 300 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương trong đó gần 200 cơ sở có trang bị lò đốt CTR y tế (chiếm 55%), số
lò đốt còn hoạt động tốt là 86 (chiếm 43%) Có 12/15 tỉnh đã bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung của tỉnh; 47% số cơ sở y tế xử lý tại khu xử lý tại khu xử
lý CTR tập trung Đối với bệnh viện tuyến Trung ương tập trung tại Đà Nẵng thì 100% CTR y tế nguy hại được đưa về lò đốt CTR tại khu xử lý Khánh Sơn Vùng Tây Nguyên có 36/78 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương trang bị lò đốt CTR y
tế (46 %), trong đó 26 lò còn hoạt động tốt (chiếm 73%)
Trang 31Với 4/5 tỉnh đã bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung của tỉnh và thành phố 42 cơ sở (53%) xử lý tại khu xử lý CTR tập trung Vùng Đông Nam Bộ
có 38/125 cơ sở khám chữa bệnh cấp địa phương có trang bị lò đốt CTR y tế (chiếm 30,4%), trong đó có 8 lò đốt hoạt động tốt (21,05 %) Tại Tp Hồ Chí Minh 100% CTR y tế nguy hại được đưa về lò đốt CTR của thành phố Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 116/175 cơ sở khám bệnh cấp địa phương (chiếm 67%), số lò đốt hoạt động tốt là 71 lò (61,2 %) Có 12/15 tỉnh đã bố trí xử lý CTR y tế tại khu xử lý CTR chung của tỉnh và thành phố Với 78 cơ sở (67,2 %) số cơ sở xử lý tại khu xử lý
CTR tập trung (Nguồn: Quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý CTR y tế nguy hại đến
năm 2030 - Bộ Xây dựng, 2015.)
d Những khó khăn tồn tại trong công tác quản lý chất thải rắn y tế
Công tác quản lý chất thải rắn y tế còn gặp nhiều khó khăn, thách thức như kinh phí đầu tư cho công tác quản lý chất thải rất lớn; chưa có tiêu chuẩn đối với lò đốt chất thải nói chung và lò đốt chất thải y tế nói riêng; nhận thức về bảo vệ môi trường của cộng đồng chưa cao; chưa có đầy đủ các văn bản pháp quy, các quy định cụ thể trong việc thu gom, vận chuyển, phân loại, lưu giữ và xử lý chất thải y tế nên tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải này gây ra đang là vấn đề bức xúc cần phải giải quyết
- Khó khăn kỹ thuật
Mặc dù Bộ Y tế đã ban hành Quy chế Quản lý chất thải y tế và Bộ Tài Nguyên Môi Trường ban hành Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT -BYT-BTNMT ký ngày 31/12/2015 về việc quản lý chất thải y tế, nhưng công tác quản lý chất thải y tế tại các địa phương vẫn còn nhiều bất cập đặc biệt là tại các tuyến cơ sở Nguyên nhân chính của những bất cập này là công tác quản lý chất thải y tế bao gồm nhiều công đoạn như : phân loại, thu gom,lưu giữ, vận chuyển và xử lý chưa được thực hiện nghiêm túc tại các cơ sở y tế và các cơ quan phụ trách thu gom, xử lý Cụ thể là :
+ Nhân viên bệnh viện, hộ lý, lao công chưa được hoặc được tập huấn chưa đầy
đủ về những kiến thức cơ bản của công tác quản lý chất thải bệnh viện
Trang 32+ Cơ quan phụ trách thu gom và xử lý chất thải chưa đủ các phương tiện chuyên dụng thu gom và vận chuyển chất thải y tế nguy hại
+ Các địa phương chưa đủ khả năng xử lý chất thải y tế nguy hại như chưa có
lò đốt đủ tiêu chuẩn hay lò đốt không đủ công suất
- Khó khăn về tài chính
+ Hầu hết các bệnh viện đều đã được xây lâu năm, cơ sở hạ tầng đã xuống cấp nghiêm trọng nhưng thiếu nguồn kinh phí để tu bổ và xây dựng các khu xử lý chất thải y tế nguy hại đúng tiêu chuẩn
+ Một số địa phương và bệnh viện chưa được nhà nước hay tổ chức Quốc tế trợ giúp lắp đặt hệ thống lò đốt chất thải y tế nguy hại Nhiều địa phương, bệnh viện đã
có hệ thống lò đốt chất thải y tế nhưng do kinh phí để vận hành các lò đốt chất thải y
tế tương đối lớn nên các địa phương và các bệnh viện không đủ nguồn kinh phí để hoạt động các lò xử lý đã được trang bị
- Khó khăn trong công tác quản lý
Thiếu đội ngũ cán bộ quản lý và các chuyên gia có trình độ kinh nghiệm để hướng dẫn triển khai các quy trình quản lý chất thải y tế Thiếu phòng chức năng quản
lý chất thải bệnh viện Chưa phân định rõ trách nhiệm về công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát môi trường bệnh viện theo từng quý
Thiếu các quy chế, quy định về các biện pháp an toàn vệ sinh và quản lý chất thải bệnh viện tại nguồn Chưa có nhiều lớp tập huấn về quản lý chất thải y tế, các ngành hữu quan chưa có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý chất thải y tế và chưa được sự quan tâm của chính quyền địa phương Thiếu quy định, văn bản liên
Bộ đối với công tác quản lý chất thải bệnh viện
1.2 Tác hại và nguy cơ của chất thải rắn y tế
1.2.1 Tác hại và nguy cơ của chất thải y tế đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng trên thế giới
Chất thải y tế là môi trường có khả năng chứa đựng nhiều loại vi sinh vật như:
vi khuẩn, vi rút, nấm, ký sinh trùng Đặc biệt những vi sinh vật có sức đề kháng cao với môi trường thì càng có nguy cơ gây ô nhiễm cao Các nghiên cứu dịch tễ học trên
Trang 33thế giới đã chứng minh, các chất thải bệnh viện có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cán
bộ, nhân viên y tế, cộng đồng dân cư nếu CTYT không được quản lý đúng cách Các tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua các đường: Qua các vết
da bị xây xước hoặc bị thương, qua đường hô hấp (do hít phải), qua đường tiêu hóa), tác động gián tiếp do ô nhiễm môi trường, hoặc tiếp xúc với các tác nhân trung gian như ruồi, muỗi, chuột Tất cả những người tiếp xúc với CTYT nguy hại đều là đối tượng có nguy cơ bị tác động bởi chất thải y tế, bao gồm: Cán bộ y tế và nhân viên
vệ sinh bệnh viện; Những người thu gom phế liệu; Người bệnh, người nhà bệnh nhân; Người dân sống gần bệnh viện
Ở Nhật Bản, theo quy định về quản lý chất thải và làm sạch công cộng quy định các bệnh viện, các phòng khám chuyên khoa và các cơ sở y tế khác phải có trách nhiệm về mặt pháp lý trong việc quản lý chất thải của bệnh viện theo những điều khoản trong quy định, chất thải lây nhiễm phải được xử lý đặc biệt Phần lớn các bệnh viện và phòng khám chuyên khoa kí hợp đồng xử lý với những công ty tư nhân có giấy phép Theo số liệu thống kê, tổng lượng chất thải rắn y tế tại Nhật Bản trong năm 2015 là 178.892 tấn, lượng chất thải rắn y tế trên một đầu người tại đây là 1,44 kg/người/năm và phương pháp xử lý chất thải rắn y tế phổ biến nhất là phương pháp đốt
Theo báo cáo của tổ chức Bảo vệ môi trường Mỹ có khoảng 231 - 438 trường hợp nhiễm virus viêm gan B có phơi nhiễm với CTYT so với tổng số trên 520.000 trường hợp nhiễm virus viêm gan B mỗi năm Trong số những nhân viên tiếp xúc với chất thải bệnh viện, nhân viên vệ sinh có tỷ lệ tổn thương nghề nghiệp cao nhất Tỷ lệ tổn thương chung là 213/1000 người trong một năm, cao hơn hai lần so với tỷ lệ này của toàn bộ lực lượng lao động ở Mỹ cộng lại Rác không được thu dọn kịp thời sẽ trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, chuột, gián, ô nhiễm môi trường không khí do phát sinh mùi hô thối khó chịu Các trung gian truyền bệnh này sẽ tạo ra một nguy cơ lan tràn bệnh dịch nhanh chóng từ các bệnh viện, từ CTYT không được xử lý đúng cách Cũng như vậy, nước thải bệnh viện không được xử lý đảm bảo yêu cầu vệ sinh cũng sẽ là nguồn phát tán các mầm bệnh vào các nguồn nước (nước mặt, nước ngầm)
Trang 34Bảng 1.4: Tác nhân gây bệnh của các dạng nhiễm khuẩn trong bệnh viện Các dạng nhiễm khuẩn Tác nhân gây bệnh Chất truyền
- Nhiễm khuẩn đường tiêu
hóa
Các vi khuẩn, ký sinh trùng đường tiêu hóa: Salmonella, Shigela, Vubrio cholera,
sinh dục
Viêm gan B và C Virus viêm gan B và C Máu và dịch cơ thể
(Theo Nguyễn Duy Long - 2013)
1.2.2 Tác hại và nguy cơ của chất thải rắn y tế đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam
a Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường
Khi chất thải bệnh viện không được phân loại mà thải chung với rác thải sinh hoạt và đem chôn lấp tại các bãi rác, không đúng quy định, nước rỉ từ chất thải sẽ ngấm vào đất, mạch nước ngầm, rác tồn đọng trong đất sẽ gây ra sự thay đổi các thành phần và gây ô nhiễm đất nơi chôn lấp Các quá trình hấp phụ các chất độc hại, trao đổi ion với đất, quá trình kết tủa và phân huỷ sinh học đều làm cho thành phần đất bị ảnh hưởng theo hướng xấu đi Rác thải bệnh viện chứa nhiều hoá chất độc hại,
vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm do vậy nếu không được quản lý theo đúng quy định chúng sẽ phát tán vào môi trường nước gây ô nhiễm nguồn nước
Trang 35Hiện nay, nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam xử lý chất thải bệnh viện chủ yếu bằng phương pháp chôn lấp và thiêu đốt Các phương pháp này có nguy
cơ tác động rất lớn đến môi trường không khí nếu quy trình kỹ thuật không được đảm bảo đúng yêu cầu Như trong khâu thu gom, vận chuyển rác thải tới nơi thiêu đốt, chôn lấp bụi trong rác thải sẽ phát tán trong không khí và được gió phát tán đi xa Tại những bãi chôn lấp do hoạt động của các xe chở rác, những người thu gom phế liệu,
mà một số lượng lớn bụi rác, đặc biệt là bào tử của nhiều loại vi sinh vật phát tán vào không khí cùng với sự bay hơi của các dung môi hoá chất độc hại
Các chất hữu cơ có trong rác thải bị phân huỷ dưới tác dụng của các vi sinh vật hiếu khí và yếm khí tuỳ theo từng điều kiện tại những nơi thu gom, vận chuyển, chôn lấp sẽ sinh ra các khí độc hại khác nhau Trong điều kiện phân huỷ yếm khí sẽ sinh
ra CH4, NH3, H2S Trong rác thải sinh hoạt xảy ra các quá trình lý, hoá khác nhau như quá trình thuỷ phân, quá trình hoà tan làm cho pH giảm, các vi sinh vật gây bệnh phát triển mạnh bám vào các hạt bụi và lan toả khắp nơi có thể gây bệnh dịch nguy hiểm
Hoạt động của các lò đốt chưa đúng tiêu chuẩn trong bệnh viện và ngoài khu vực của thành phố, thị trấn, phát sinh các khí độc hại như NOx, CO, CO2, SO2, dixoin
và bụi Nếu chất thải đốt ở nhiệt độ to < 900oC thì quá trình đốt sẽ phát sinh dixoin gây nguy hiểm cho người vận hành lò đốt Chỉ có một số lò đốt có hệ thống xử lý khí
thải, còn hầu hết là chưa có ( Theo báo cáo của Bộ Tài Nguyên Môi Trường – 2014
)
b Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khoẻ cộng đồng:
Các nghiên cứu ở Việt Nam đã có những đánh giá về tình hình thương tích của cán bộ nhân viên bệnh viện do các vật sắc nhọn gây ra qua phỏng vấn trực tiếp Một
số nghiên cứu đã đề cập đến những ảnh hưởng của chất thải y tế đối với cộng đồng xung quanh bệnh viện nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu đánh giá thực trạng tác động của chất thải y tế đối với sức khoẻ ở những người tiếp xúc với chất thải y tế Theo số liệu khảo sát thống kê năm 2015 về ô nhiễm môi trường và khả năng lây truyền bệnh do nước thải bệnh viện gây ra ở Hà Nội, cho thấy có hiện tượng tăng trội
Trang 36nhiều bệnh ở các khu dân cư tiếp xúc với nước thải bệnh viện nhất là các bệnh đường tiêu hoá Về ảnh hưởng của chất thải y tế đến sức khoẻ tại 10 bệnh viện huyện đã kết luận: Một số bệnh có liên quan đến ô nhiễm môi trường ở nhóm người dân bị ảnh hưởng của chất thải từ bệnh viện cao hơn nhóm không bị ảnh hưởng
1.2.3 Nhân lực và kinh phí quản lý chất thải y tế tại các Bệnh viện
a Nhân lực phục vụ công tác quản lý chất thải y tế
Tại các bệnh viện quy mô lớn, Bệnh viện tuyến trung ương như Bạch Mai, Việt Đức, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trung ương và một số bệnh viện tuyến tỉnh đều có khoa chống nhiễm khuẩn, có đội ngũ cán bộ được đào tạo chính quy về quản lý chất thải Còn hầu hết các bệnh viện, nhất là bệnh viện tuyến huyện việc thực hiện Quy chế quản lý chất thải đều chưa đầy đủ và không thường xuyên Kết quả nghiên cứu tại 8 bệnh viện đa khoa tỉnh năm 2015: chỉ có 6/8 bệnh viện có khoa chống nhiễm khuẩn, phân loại chất thải rắn chủ yếu do điều dưỡng, hộ lý thực hiện, chưa có văn bản quy định rõ ràng về trách nhiệm của mỗi thành viên trong công tác quản lý chất thải Hoạt động giám sát nhà nước về công tác quản lý CTYT còn chưa đầy đủ, năng lực giám sát và điều tiết còn hạn chế, đội ngũ thanh tra còn hạn chế, chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe
Từ năm 2012, về việc phế duyệt các hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 09 năm 2012 Hướng dẫn rất chi tiết nhiệm vụ chức năng của khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn Tuy nhiên, cho đến nay, những cán bộ chuyên trách Kiểm soát nhiễm khuẩn đa phần chưa được đào tạo chính quy về Kiểm soát nhiễm khuẩn
b Kinh phí phục vụ công tác quản lý chất thải y tế
Việc đầu tư kinh phí cho xử lý chất thải tại các cơ sở y tế còn gặp rất nhiều khó khăn Các cơ sơ y tế phần lớn là các đơn vị sự nghiệp, không có khả năng tự cân đối kinh phí đầu tư các công trình xử lý chất thải Kinh phí cho xử lý chất thải chưa được kết cấu vào chi phí đầu giường bệnh nên khó khăn trong việc duy trì hoạt động xử lý chất thải Việc khoán chi ở bệnh viện, đã làm cho các bệnh viện phần lớn chỉ quan tâm đến việc đầu tư máy móc thiết bị, vật tư chuyên môn, ít quan tâm đầu tư cho quản
Trang 37lý, xử lý chất thải Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến công tác quản lý, xử lý chất thải tại các bệnh viện còn nhiều hạn chế và bất cập
1.3 Đánh giá chung
1.3.1 Tại Việt Nam hiện nay
Công tác phân loại chất thải y tế tại nguồn phát sinh chất thải mới chỉ đạt khoảng 90% - 95% , việc thu gom vận chuyển và xử lý chất thải y tế của Hà Nội hiện nay gặp không ít khó khăn mới đạt khoảng 95% - 97% khối lượng phát sinh từ các giường
bệnh, khoa, phòng (Báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Urenco năm
2015)
Công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức hướng dẫn cho người nhà bệnh nhân nhận biết và hiểu phải để rác vào đúng nơi quy định, phải phân loại ngay khi bỏ chất thải làm sao cho mỗi người dân tự biết phân loại chất thải tại các bệnh viện, trung
tâm y tế còn hạn chế ( theo thực tế phỏng vấn điều tra)
Lượng rác thải có xu hường ngày càng tăng mạnh, đặt ra nhiều vấn đề đối với công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải Mặt khác điều kiện kinh tế nước ta còn khó khăn, công nghệ còn lạc hậu nên việc xử lý rác thải còn nhiều hạn chế
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ( trước đây) nay và Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành thẩm định trên 40 hồ sơ lò đốt chất thải y tế nhưng chỉ có 6 lò đạt các yêu cầu về kinh tế, kỹ thuật, môi trường Tuy nhiên, việc vận dụng công suất thiết
kế của lò đốt chưa triệt để Chỉ khoản 40% lượng chất thải rắn y tế nguy hại được đốt
trong lò đốt hiện đại, còn 60% được đốt trong lò đốt thủ công (Báo cáo tình hình
hoạt động của các lò xử lý chất thải rắn y tế năm 2015 của Bộ Khoa học, Công nghệ
và Môi trường )
1.3.2 Tại một số nước trên thế giới
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều cơ quan quốc tế như IRPTC ( tổ chức đang
ký toàn cầu về hóa chất độc tiềm tàng) IPCS (chương trình toàn cầu về an toàn hóa chất), WHO ( Tổ chức y tế thế giới) xây dựng và quản lý các dữ liệu thông tin an toàn về chất thải y tế
Trang 38Tùy từng điều kiện kinh tế xã hội và mức độ phát triển khoa học kỹ thuật cùng với nhận thức về quản lý chất thải mà mỗi nước có những cách xử lý chất thải của riêng mình Cũng cần nhấn mạnh rằng các nước phát triển trên thế giới thường áp dụng đồng thời nhiều phương pháp để xử lý chất thải y tế rất khác nhau Qua số liệu thống kê về tình hình xử lý chất thải của một số nước trên thế giới, Nhật Bản là nước
sử dụng phương pháp thu hồi chất rắn với hiệu quả cao nhất (40%), sau đó là đến Thụy Sỹ (35%), trong lúc đó Singgapore chỉ sử dụng phương pháp đốt, Pháp sử dụng phương pháp xử lý vi sinh nhiều nhất (30%)
Trang 39Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nhân viên y tế, vệ sinh viên và bệnh nhân tiếp xúc trực tiếp với chất thải y tế nguy hại:
+ Bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, y tá
+ Hộ lý và vệ sinh viên
+ Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
+ Chất thải lây nhiễm
+ Chất thải hóa học nguy hại
+ Chất thải rắn y tế không nguy hại
- Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
+ Thời gian: Từ 10/2015 đến 12/2016
+ Địa điểm: Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.2 Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức
Là bệnh viện chuyên nghành ngoại khoa, tuyến cao nhất cả nước nên lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh hằng ngày, lưu trú tại đây rất cao, thường xuyên xảy ra tình trạng quá tải Vì thế, khối lượng chất thải phát sinh ra hằng ngày tại Bệnh viện
Trang 40là rất lớn, trong đó có một phần không nhỏ là chất thải rắn y tế
Theo số liệu của Công ty cổ phần môi trường đô thị và công nghiệp 10- Urenco 10; Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hà Nội - Chi nhánh Hoàn Kiếm (Urenco 2) thì khối lượng chất thải rắn y tế cần xử lý ở Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức chỉ kém khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh ở Bệnh viện Bạch Mai mà thôi Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại trung bình hằng ngày xấp xỉ 1 tấn; chất thải rắn y tế không
nguy hại trung bình 4,5 tấn/ngày ( Nguồn: Báo cáo Công ty TNHH MTV môi trường
đô thị Hà Nội – 2015 )
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Báo cáo hoạt động của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2015, 2016
- Báo cáo công tác bảo vệ môi trường định kỳ của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
- Các công trình nghiên cứu khoa học bảo vệ môi trường trong Bệnh viện
Nhóm 1: Nhân viên y tế (Bác sỹ, hộ lý, y tá, vệ sinh viên )
Nhóm 2: Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân
n để tìm mẫu chung ( số lượng người
điều tra, phỏng vấn)
Trong đó: : độ lệch chuẩn
p: tỷ lệ ước tính của vấn đề khảo sát
d: sai số biên của ước lượng
Với: p = 0,5; Z1-/2 = 1,96; d = 0,05 thì n = 384 (người) lấy tròn 300 người
- Số lượng phỏng vấn: