Đánh giá khả năng sản xuất của một số tổ hợp lai giữa lợn nái : Landrace, Yorkshire và F1(LY) phối với đực giống PiDu nuôi tại trại Đồng Tâm Xanh, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá khả năng sản xuất của một số tổ hợp lai giữa lợn nái : Landrace, Yorkshire và F1(LY) phối với đực giống PiDu nuôi tại trại Đồng Tâm Xanh, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá khả năng sản xuất của một số tổ hợp lai giữa lợn nái : Landrace, Yorkshire và F1(LY) phối với đực giống PiDu nuôi tại trại Đồng Tâm Xanh, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá khả năng sản xuất của một số tổ hợp lai giữa lợn nái : Landrace, Yorkshire và F1(LY) phối với đực giống PiDu nuôi tại trại Đồng Tâm Xanh, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá khả năng sản xuất của một số tổ hợp lai giữa lợn nái : Landrace, Yorkshire và F1(LY) phối với đực giống PiDu nuôi tại trại Đồng Tâm Xanh, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá khả năng sản xuất của một số tổ hợp lai giữa lợn nái : Landrace, Yorkshire và F1(LY) phối với đực giống PiDu nuôi tại trại Đồng Tâm Xanh, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá khả năng sản xuất của một số tổ hợp lai giữa lợn nái : Landrace, Yorkshire và F1(LY) phối với đực giống PiDu nuôi tại trại Đồng Tâm Xanh, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1–––––––––––––––––––––
CHU THỊ HIÊN
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP LAI GIỮA LỢN NÁI: LANDRACE, YORKSHIRE VÀ F1(LY) PHỐI VỚI ĐỰC GIỐNG PIDU NUÔI TẠI TRẠI ĐỒNG TÂM XANH, HUYỆN MỸ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2–––––––––––––––––––––––
CHU THỊ HIÊN
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP LAI GIỮA LỢN NÁI: LANDRACE, YORKSHIRE VÀ F1(LY) PHỐI VỚI ĐỰC GIỐNG PIDU NUÔI TẠI TRẠI ĐỒNG TÂM XANH, HUYỆN MỸ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Từ Quang Hiển
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Chu Thị Hiên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành luận văn cho phép tôi bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong Khoa chăn nuôi thú ý, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Phòng Đào tạo và thông tin - Viện Chăn nuôi đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Cho phép tôi được bày tỏ lời biết ơn chân thành nhất đến GS.TS Từ Quang Hiển người hướng dẫn khoa học đã giúp đỡ tôi nhiệt tình và có trách nhiệm trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cho phép tôi được tỏ lời cảm ơn tới cán bộ, công nhân viên trại chăn nuôi đồng Tâm Xanh, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt khóa học
Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Chu Thị Hiên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
BẢNG GHI CHÚ CÁC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU QUY ƯỚC, KÝ HIỆU DẤU, ĐƠN VỊ VÀ THUẬT NGỮ vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình chăn nuôi lợn của nước ta và thành phố Hà Nội 3
1.1.1 Tình hình chăn nuôi lợn của cả nước 3
1.1.2 Tình hình chăn nuôi lợn ở Thành phố Hà Nội 4
1.2 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 5
1.2.1 Tính trạng số lượng 5
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng 5
1.2.3 Bản chất di truyền của ưu thế lai 7
1.2.4 Ưu thế lai trong chăn nuôi lợn 9
1.3 Cơ sở sinh lý của sự sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng tới năng xuất sinh sản 9
1.3.1 Cơ sở sinh lý của sự sinh sản 9
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản 10
1.4 Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng 15
Trang 61.4.1 Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng 15
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng 16
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất thân thịt và chất lượng thịt 17
1.5.1 Năng suất thân thịt và chất lượng thịt 17
1.5.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thịt 19
1.6 Vài nét về giống lợn nghiên cứu 21
1.6.1 Giống lợn cái Landrace 21
1.6.2 Giống lợn cái Yorkshire 21
1.6.3 Lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) 22
1.6.4 Lợn đực PiDu 22
1.7 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22
1.7.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 22
1.7.2 Tình hình hình nghiên cứu trên thế giới 26
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 28
2.2 Nội dung nghiên cứu 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 28
2.3.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 30
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 34
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Kết quả theo dõi khả năng sản xuất của 3 loại lợn nái Landrace, Yorkshire và F1(LY) được phối với đực PiDu 35
3.1.1 Khả năng sinh sản của 3 loại lợn nái 35
3.1.2 Sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn của lợn con từ sơ sinh đến 56 ngày tuổi 43
Trang 73.2 Khả năng sản xuất của lợn thương phẩm 55
3.2.1 Sinh trưởng tích lũy của lợn thịt thí nghiệm 55
3.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thịt thí nghiệm 56
3.2.3 Tiêu thụ và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn 59
3.2.4 Kết quả mổ khảo sát năng suất thịt của lợn thịt thí nghiệm 63
3.2.5 Thành phần hóa học của lợn thịt thí nghiệm 68
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 73
1 Kết luận 73
2 Đề nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 8BẢNG GHI CHÚ CÁC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU QUY ƯỚC,
KÝ HIỆU DẤU, ĐƠN VỊ VÀ THUẬT NGỮ
DuY : Duroc x Yorkshire
F1(LY) : Landrace x Yorkshire
FAO : Tổ chức nông lương Liện Hợp Quốc
pH24 : Giá trị pH sau 24 giờ giết thịt
pH45 : Giá trị pH sau 45 phút giết thịt
PiL : Pietrian x Landrace
PSE : Pale, Soft, Exudative (nhợt nhạt, mềm nhão và rỉ dịch)
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TLMNBQ : Tỷ lệ mất nước bảo quản
TTTĂ : Tiêu tốn thức ăn
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Khả năng sản xuất một số tổ hợp lai ở Mỹ 26
Bảng 2.1: Sơ đồ công thức lai thí nghiệm 28
Bảng 2.2: Sơ đồ thí nghiệm trên lợn nái 29
Bảng 2.3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên lợn thương phẩm 29
Bảng 3.1: Năng suất sinh sản của lợn nái Landrace, Yorkshire và F1(LY) được phối với đực PiDu ( n=30 nái/công thức lai) 35
Bảng 3.2: Sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm từ sơ sinh đến 56 ngày tuổi (n= 30 con/tổ hợp lai) 43
Bảng 3.3: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm từ sơ sinh đến 56 ngày tuổi 47
Bảng 3.4: Tiêu tốn thức ăn cho 1kg lợn con cai sữa 49
Bảng 3.5: Tiêu thụ thức ăn của lợn con từ sau cai sữa 21 ngày đến 56 ngày tuổi 51
Bảng 3.6: Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của lợn con từ 21-56 ngày 53
Bảng 3.7: Khối lượng trung bình của các lô lợn ở các kỳ cân (kg/con) 56
Bảng 3.8: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn từ 56 - 150 ngày tuổi (g/con/ngày) 57
Bảng 3.9: Tiêu thụ thức ăn của lợn từ 56 - 150 ngày tuổi (kg/con/ngày) 59
Bảng 3.10: Tiêu tốn thức ăn cho tăng khối lượng của lợn từ 56-150 ngày tuổi 61
Bảng 3.11: Kết quả mổ khảo sát năng suất thịt lợn thịt thí nghiệm 63
Bảng 3.12: Thành phần hóa học của thịt lợn thí nghiệm 68
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Biểu đồ Số con còn sống đến 24 giờ sau đẻ/ổ và số con cai
sữa/ổcủa ba tổ hợp lai 40 Hình 3.2: Biểu đồ khối lượng cai sữa/ổ của ba tổ hợp lai 42 Hình 3.3: Biểu đồ khối lượng sơ sinh/con và cai sữa/con của 3 tổ hợp lai 46 Hình 3.4: Biểu đồ tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa của 3 tổ hợp lai 50 Hình 3.5: Biểu đồ tiêu thụ thức ăn của lợn con từ 21-56 ngày tuổi 52 Hình 3.6: Biểu đồ tiêu tốn thức ăn cho tăng khối lượng của lợn từ 21-
56 ngày tuổi 55 Hình 3.7: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn từ 56 - 150 ngày tuổi 59 Hình 3.8: Biểu đồ tiêu thụ thức ăn của lợn thịt từ 56 - 150 ngày tuổi 61 Hình 3.9: Biểu đồ tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của lợn từ 56-
150 ngày tuổi 63 Hình 3.10: Biểu đồ tỷ lệ thịt xẻ và tỷ lệ nạc của ba tổ hợp lai 66 Hình 3.11: Biểu đồ dày mỡ lưng trung bình của ba tổ hợp lai 68
Trang 11MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi lợn ở nước ta gần đây có những bước phát triển nhất định cả
về năng suất, chất lượng, quy mô và phương thức chăn nuôi Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội thì nhu cầu về thịt ngày càng tăng Chính vì vậy
đã góp phần thúc đẩy chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng ngày càng phát triển, đồng thời tạo công ăn việc làm phục vụ ngành chăn nuôi và chế biến sản phẩm chăn nuôi
Nước ta nằm ở khu vực nhiệt đới rất thuận lợi cho phát triển chăn nuôi lợn, lực lượng lao động dồi dào, nhu cầu tiêu thụ thịt của toàn xã hội ngày càng cao, nhu cầu xuất khẩu sang các nước có xu hướng tăng Theo số liệu của tổng cục thống kê tại thời điểm 1/4/2016, cả nước có khoảng 28,3 triệu con lợn, đến thời điểm 01/10/2016 có khoản 29,1 triệu con lợn (tăng 0,8 triệu con) tăng 3,9 % so với năm 2015
Nông nghiệp của các huyện ngoại thành Hà Nội rất phát triển trong đó
có chăn nuôi Điển hình các huyện có chăn nuôi lớn như: Mỹ Đức, Ứng Hoà, Thanh Oai, Đan Phượng, Hoài Đức, Sơn Tây Những năm gần đây ngành chăn nuôi địa phương đã và đang đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về thực phẩm của con người Những sản phẩm chăn nuôi của địa phương không chỉ xuất bán dạng nguyên liệu thô, tươi sống mà còn được chế biến theo nhiều dạng khác nhau, rất phong phú phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng
Chính vì vậy, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng ngày càng được chú trọng thúc đẩy phát triển Chăn nuôi lợn trong những năm qua không chỉ tăng về số lượng, chất lượng mà còn chuyên môn hoá, nó đã góp phần quan trọng mang lại thu nhập cao cho người chăn nuôi Cùng với việc sử dụng các giống lợn thuần nổi tiếng thế giới nước ta đã và đang tìm kiếm sử dụng các công thức lai khác nhau nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm
Trang 12Từ những thực tế nêu trên, với mục đích thu thập thông tin đánh giá thực trạng góp phần định hướng phát triển chăn nuôi lợn, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sản xuất của một số tổ hợp lai giữa lợn nái : Landrace, Yorkshire và F 1 (LY) phối với đực giống PiDu nuôi tại trại Đồng Tâm Xanh, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội”
1.2 Mục đích của đề tài
1 Đánh giá được khả năng sản xuất của 3 loại lợn nái thuần Landrace Yorkshire và nái lai F1 (LY) phối với lợn đực PiDu nuôi tại Trại Đồng Tâm Xanh, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội
2 Đánh giá được khả năng sản xuất thịt và chất lượng thịt của 3 tổ hợp lai PiDu x Landrace, PiDu x Yorkshire và PiDu x F1 (LY)
3 Xác định tổ hợp lai phù hợp và có hiệu quả trong chăn nuôi lợn nông
hộ tại Huyện Mỹ Đức - TP Hà Nội
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học:
Những số liệu này cung cấp tư liệu về khả năng sản xuất giữa nái thuần Landrace, Yorshire và nái lai F1(LY) với đực PiDu Từ đó làm cơ sở chọn ra lợn thương phẩm có tốc độ sinh trưởng tốt và chất lượng thịt cao
- Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả theo dõi là cơ sở đánh giá đúng thực trạng của đàn lợn nuôi tại trại Đồng Tâm Xanh Từ đó xác định được tổ hợp lai đạt hiệu quả cao hơn cả, phù hợp với điều kiện chăn nuôi tại địa phương
Trang 13
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình chăn nuôi lợn của nước ta và thành phố Hà Nội
1.1.1 Tình hình chăn nuôi lợn của cả nước
1.1.1.1 Tổng số đầu lợn
- Theo số liệu thống kê tại thời điểm 1/4/2016, cả nước có khoảng 28,3 triệu con, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2015, đến thời điểm 1/10/2016 cả nước có khoảng 29,1 triệu con (tăng 0,8 triêu con) Các vùng có số đầu lợn nhiều
là vùng Đồng bằng Sông Hồng có khoảng 7,4 triệu con, chiếm 25,4% tổng đàn lợn trong cả nước; Miền núi và trung du có khoảng 7,2 triệu con, chiếm 24,7%; Bắc trung bộ và duyên hải miền trung có khoảng 5,4 triệu con, chiếm 18,5%; Đông Nam Bộ 3,4 triệu con, chiếm 11,6%; Đồng Bằng sông Cửu Long 3,8 triệu con, chiếm 13,1%; Tây Nguyên 1,9 triệu con chiếm 6,5%
An trên 185 ngàn con, chiếm 4,36%; Hà Nội có khoảng 177 ngàn con, chiếm 4,174% tổng số lợn nái trong cả nước; Bình Định khoảng 156 ngàn con, chiếm 3,68%; Nam Định 138 ngàn con, chiếm 3,25%; Phú Thọ 107 ngàn con, chiếm 2,52%; Thái Nguyên 104 ngàn con, chiếm 2,38 %; Đắk Lắk có khoảng
102 ngàn con, chiếm 2,41%
2.1.1.3 Sản lượng thịt lợn sống xuất chuồng
Theo ước tính của Cục Chăn nuôi, mỗi tháng cả nước sản xuất và tiêu thụ khoảng 300 - 310 ngàn tấn thịt lợn sống Tổng sản lượng thịt lợn sống xuất chuồng năm 2016 khoảng 3,7 triệu tấn tăng 5,1 5 so với cùng kỳ năm
2015 Trong đó, các vùng sản xuất thịt lợn có tỷ trọng lớn nhất lần lượt là: Đồng Bằng Sông Hồng khoảng 31,1%; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền trung chiếm 18,27%; Đồng bằng sông Cửu Long khoảng 15,8%; Miền Núi và
trung du khoảng 15,5%; Đông Nam Bộ khoảng 13,7%
Trang 141.1.2 Tình hình chăn nuôi lợn ở Thành phố Hà Nội
Hà Nội, là một trong những tỉnh, thành phố có nghề chăn nuôi phát triển tương đối lớn, trong đó chăn nuôi lợn chiếm tỉ trọng cao Theo thống kê tháng 10/2016, Hà Nội có khoảng 1,59 triệu con, trong đó lợn nái có khoảng 177 ngàn con, lợn thịt có khoảng 1,41 triệu con Hiện nay, chăn nuôi lợn ở thành phố Hà Nội tồn tại duới ba hình thức: chăn nuôi quy mô vừa tập trung kiểu trang trại nông hộ
1.1.2.1 Chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ, phân tán
Đây là phương thức chăn nuôi đang tồn tại ở hầu khắp các huyện ngoại thành trong toàn thành phố; chăn nuôi lợn nhỏ lẻ chiếm dưới 10% về đầu con, sản lượng chỉ chiếm không quá 10% tổng sản lượng ngành chăn nuôi sản xuất Quy mô chăn nuôi dao động từ 1 - 50 con; chuồng nuôi được xây dựng gần nhà với diện tích hẹp Thức ăn tận dụng các sản phẩm nông nghiệp sản xuất và khai thác tại chỗ (bã đậu, bã rượu, nước gạo …); con giống chủ yếu là
lợn lai có tỷ lệ máu nội cao (F 1 = Nội x Ngoại), năng suất chăn nuôi thấp 1.1.2.2 Chăn nuôi quy mô vừa kiểu trại nông hộ phân tán
Phương thức chăn nuôi này phát triển mạnh trong những năm gần đây, quy mô chăn nuôi phổ biến là từ 10 - 30 lợn nái hoặc 10 - 50 lợn thịt có mặt thường xuyên Chuồng trại đã được xây dựng kiên cố hơn, diện tích chuồng rộng hơn, được xây dựng gần nhà ở trong khu dân cư hoặc xây dựng riêng biệt (đối với các khu đa canh chuyển đổi) Ngoài các phụ phẩm nông nghiệp thì có khoảng 40% thức ăn công nghiệp được sử dụng cho lợn Chất lượng con giống khá hơn chủ yếu là con lai có từ 50 - 75% máu ngoại trở lên Công tác thú y và chuồng trại chăn nuôi đã được coi trọng hơn chăn nuôi truyền thống, năng suất chăn nuôi đã có tiến bộ
1.1.2.3 Chăn nuôi tập trung kiểu trang trại
Phương thức chăn nuôi này chiếm trên 80% về đầu con lợn và sản lượng thịt lợn Quy mô từ 50 - 600 lợn nái hoặc 100 - 1500 lợn thịt có mặt thường xuyên Hoàn toàn sử dụng thức ăn công nghiệp, con giống chủ yếu là lợn ngoại 2 máu hoặc 3 máu Các công nghệ chuồng trại như: chuồng lồng, chuồng sàn, chuồng có hệ thống làm mát và hệ thống sưởi ấm, hệ thống máng
ăn, máng uống tự động,… đã được áp dụng, năng suất chăn nuôi cao, sản lượng đồng đều, chất lượng tốt
Trang 151.2 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Mỗi giống vật nuôi có có bản chất sinh học được thể hiện qua kiểu hình đặc trưng riêng của nó Kiểu hình là biểu hiện cụ thể của kiểu gen dưới tác dụng của các nhân tố môi trường khác nhau Để công tác chọn giống vật nuôi đạt kết quả tốt, thì những kiến thức cơ bản về di truyền học cần phải nắm vững đặc biệt là bản chất của di truyền và ưu thế lai của từng tính trạng
Tính trạng số lượng (cân đong đo đếm được) trên cơ thể sinh vật được biểu hiện do tác động của các gen và tác động của môi trường, mà sự khác biệt giữa những cá thể được xem xét nhiều hơn trong nghiên cứu di truyền chọn giống Nền tảng của di truyền số lượng, tuỳ thuộc vào gen điều khiển và tuân theo các quy luật chung của sự di truyền các tính trạng và có cùng những đặc tính chung giống như các gen trong di truyền tính trạng chất lượng
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng
Các tính trạng về khả năng sinh trưởng của vật nuôi nói chung và của lợn nói riêng đều là những tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền và yếu tố ngoại cảnh, giá trị kiểu hình (P - Phenotyphic value) của bất kỳ tính trạng số lượng nào cũng có thể phân chia thành giá trị kiểu gen (G - Genotypic value) và sai lệch môi trường (E - Enviromental deviation)
Giá trị kiểu hình (P) của một tính trạng được biểu thị như sau: P = G + E
Trong đó: P là giá trị kiểu hình (Phenotyp value)
G là giá trị kiểu gen (Genotyp value)
E là sai lệch môi trường (Enviromental deviatino)
1.2.2.1 Giá trị kiểu gen (G)
Giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều cặp gen quy định Tuỳ theo tác động khác nhau của gen các giá trị kiểu gen bao gồm các thành phần khác nhau: giá trị cộng gộp (A - Additive value) hoặc giá trị giống (Breeding
Trang 16value), sai lệch trội (D - Dominance deviation) và sai lệch tương tác gen hoặc sai lệch lấn át gen (I - Interaction deviaton hoặc Epistatic deviation)
G = A + D + I Giá trị cộng gộp (A): để đo lường giá trị truyền đạt từ bố mẹ sang đời con phải có một giá trị đo lường có quan hệ với gen chứ không phải có liên quan với kiểu gen Mỗi một gen trong tập hợp các gen quy định một tính trạng số lượng nào đó đều có một hiệu ứng nhất định đối với tính trạng số lượng đó Tổng các hiệu ứng mà các gen nó mang được gọi là giá trị cộng gộp hay còn gọi là giá trị giống của cá thể
Giá trị giống là thành phần quan trọng của kiểu gen vì nó cố định và có thể truyền được cho thế hệ sau Do đó, nó là nguyên nhân chính gây ra sự giống nhau giữa các con vật thân thuộc, nghĩa là nó là nhân tố chủ yếu sinh ra đặc tính di truyền của quần thể và sự đáp ứng của quần thể với sự chọn lọc Tác động của các gen được gọi là cộng gộp khi giá trị kiểu hình của kiểu gen đồng hợp, bố mẹ luôn truyền một nửa giá trị cộng gộp của mỗi tính trạng của chúng cho đời sau Tiềm năng di truyền do tác động cộng gộp của gen bố
và mẹ tạo nên gọi là giá trị di truyền của con vật hay giá trị giống
Sai lệch trội (D): là sai lệch được sản sinh ra do sự tác động qua lại giữa các cặp alen ở cùng một locus, đặc biệt là các cặp alen dị hợp tử Sai lệch trội cũng là một phần thuộc tính của quần thể, quan hệ trội của bố mẹ không truyền được sang con cái
Sai lệch át gen (I): là sai lệch được sản sinh ra do sự tác động qua lại giữa các gen thuộc các locus khác nhau Sai lệch át gen không có khả năng di truyền cho thế hệ sau
2.2.2.2 Giá trị kiểu hình của tính trạng số lượng
Khi lai tạo giữa các cá thể thuộc hai quần thể với nhau thì giá trị kiểu hình của một tính trạng số lượng ở các tổ hợp lai bao gồm hai thành phần chính:
- Giá trị trung bình của trung bình giá trị kiểu hình của quần thể thứ nhất
XP1 và trung bình giá trị kiểu hình của quần thể thứ hai XP2 (XP1P2)
XP1P2 = XP1 + XP2
2
Do đó: XF1 = XP1P2 + H
Trang 17Tùy theo nguồn gốc đóng góp của các thành phần trên, người ta chia chúng thành:
- Di truyền cộng gộp: bao gồm di truyền cộng gộp trực tiếp (Ad), di truyền cộng gộp của bố (Ab) và di truyền cộng gộp của mẹ (Am)
- Ưu thế lai: bao gồm ưu thế lai trực tiếp (Dd), ưu thế lai của bố lai (Db)
và ưu thế lai của mẹ lai (Dm)
1.2.2.3 Sai lệch môi trường (E)
Sai lệch môi trường được thể hiện thông qua sai lệch môi trường chung (Eg) và sai lệch môi trường riêng (Es)
Sai lệch môi trường chung (Eg): là sai lệch do loại môi trường tác động lên toàn bộ con vật trong suốt đời của nó
Sai lệch môi trường riêng (Es): là sai lệch do loại môi trường chỉ tác động lên một số con vật trong một giai đoạn nào đó trong đời con vật
Như vậy, kiểu hình của một cá thể được cấu tạo từ hai locus trở lên có giá trị kiểu hình chi tiết như sau:
P = A + D + I + Eg + Es Qua việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng cho thấy, muốn nâng cao năng suất vật nuôi cần phải:
- Tác động về mặt di truyền (G) bao gồm:
+ Tác động vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc
+ Tác động vào các hiệu ứng trội (D) và át gen (I) bằng cách phối giống tạp giao
- Tác động về mặt môi trường (E) bằng cách cải tiến điều kiện chăn nuôi như chuồng trại, thức ăn, thú y, quản lý…
1.2.3 Bản chất di truyền của ưu thế lai
1.2.3.1 Lai giống
Lai giống là cho giao phối giữa những động vật thuộc hai hay nhiều giống khác nhau Lai khác dòng là cho giao phối giữa những động vật thuộc các dòng khác nhau trong cùng một giống Mặc dù lai khác giống xa nhau về huyết thống hơn lai khác dòng, song hiệu ứng của hai kiểu lai lại tương tự
nhau (Nguyễn Hải Quân và cs, 1995) [34]
Lai giống làm cho kiểu gen đồng hợp tử của thế hệ sau giảm đi, còn tần
số kiểu gen dị hợp tử của thế hệ sau tăng lên
Trang 18Lai giống là phương pháp làm biến đổi di truyền của quần thể gia súc Lai giống có những ưu việt, vì con lai thường có những ưu thế lai đối với một
Thuật ngữ ưu thế lai được nhà di truyền học người Mỹ Shull (1914), đưa
ra và được thảo luận trong nhân giống (Nguyễn Hải Quân và cs, 1995) [34]
như sau: ưu thế lai là sự hơn hẳn của đời con đối với trung bình của đời bố mẹ
Có thể ưu thế lai là sức sống, sức kháng đối với bệnh tật và các tính trạng sản xuất của con lai được nâng cao, khả năng chuyển hóa thức ăn tốt
- Các yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai
Công thức lai: Ưu thế lai đặc trưng cho mỗi công thức lai Theo Trần
Đình Miên và cs (1994) [28], mức độ ưu thế lai đạt được có tính cách riêng biệt
cho từng cặp lai cụ thể, ưu thế lai của đời mẹ có lợi cho đời con, ưu thế lai của lợn mẹ ảnh hưởng đến số con trên ổ và tốc độ sinh trưởng của lợn con Ưu thế lai cá thể, ảnh hưởng đến sinh trưởng và sức sống của lợn con, đặc biệt ở giai đoạn sau cai sữa Ưu thế lai của bố, ảnh hưởng đến tính hăng của lợn đực con, kết quả phối giống, tỷ lệ thụ thai Khi lai hai giống, số lợn con cai sữa/nái/năm tăng 5 - 10 % Khi lai ba giống hay lai ngược số lợn con cai sữa/nái/năm tăng
từ 10-15% Số con cai sữa/ổ nhiều hơn 1,0-1,5 con và khối lượng cai sữa/con tăng 1kg ở 28 ngày tuổi so với giống thuần (Colin, 1998) [57]
Tính trạng: Ưu thế lai phụ thuộc vào tính trạng, có những tính trạng có
khả năng di truyền cao nhưng cũng có những tính trạng có khả năng di truyền thấp Những tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản
có ưu thế lai cao nhất Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao Vì vậy, để cải tiến tính trạng này so với chọn lọc, lai giống là một biện pháp nhanh hơn và hiệu quả hơn
Trang 19Sự khác biệt giữa bố và mẹ: Ưu thế lai phụ thuộc vào sự khác biệt giữa
các cá thể tham gia vào sự lai tạo, các cá thể có khoảng cách di truyền càng xa nhau bao nhiêu thì ưu thế lai thu được khi lai giữa chúng càng lớn bấy nhiêu Các giống càng xa nhau về điều kiện địa lý, ưu thế lai càng cao Ưu thế lai của một tính trạng nhất định phụ thuộc đáng kể vào ngoại cảnh Có nhiều yếu
tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến gia súc, cũng như ảnh hưởng đến biểu hiện của
ưu thế lai
1.2.4 Ưu thế lai trong chăn nuôi lợn
Nhiều kết quả nghiên cứu và thực tế nuôi lợn cho thấy, việc lai giống đã mang lại hiệu quả kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn Hiện nay trên thế giới, những nước phát triển chăn nuôi lợn có tới 90% con giống thương phẩm là con lai Tuy nhiên, việc kết hợp lai hai giống nào cho ưu thế lai cao phụ thuộc vào sự lựa chọn, xác định ưu thế lai của tổ hợp lai dựa trên giá trị giống Trong thực tế, việc nhân giống hiện đang sử dụng một số công thức lai “ba máu” “bốn máu” như: D x F1 (L x Y); F1 (P x D) x F1 (L x Y)…
* Các loại ưu thế lai ở lợn
Ưu thế lai từ lợn mẹ: Có lợi cho các cá thể ở đời con là ưu thế lai quan
trọng nhất bởi năng suất sinh sản phụ thuộc vào số đầu con cai sữa/lứa, đây là chỉ tiêu kinh tế quan trọng nhất
Ưu thế lai của con: Có lợi cho chính bản thân chúng, thể hiện ở sự sinh
trưởng, sức sống, đặc biệt là sau cai sữa
Ưu thế lai từ bố: Được tạo thành từ bố thể hiện thông qua con đực từ kết
quả giao phối, ưu thế lai của đực giống được thể hiện rất hạn chế
Để lợn lai nuôi thịt, có khả năng sinh trưởng cao và tiêu tốn thức ăn/kg sinh trưởng thấp, tỷ lệ nạc cao, hiện nay hệ thống sản xuất con lai được tổ chức theo sơ
đồ hình tháp nhằm thực hiện các công thức lai giữa nhiều dòng, giống khác nhau
1.3 Cơ sở sinh lý của sự sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản
1.3.1 Cơ sở sinh lý của sự sinh sản
Sự sinh sản là một quá trình sinh lý hết sức phức tạp của cơ thể động vật, nhằm duy trì nòi giống và đảm bảo cho sự tiến hóa của sinh vật, đồng thời là chức năng tái sản xuất của gia súc, gia cầm nói chung và của lợn nói riêng
1.3.1.1 Tính thành thục
Trang 20Một cơ thể thành thục về tính, khi bộ máy sinh dục phát triển tương đối hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố, con vật xuất hiện những hiện tượng của hưng phấn sinh dục, khi đó các noãn bao chín và tế bào trứng rụng
Ngoài ra sự thành thục về tính còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố và điều kiện khác nhau Cơ quan sinh dục cái dưới tác dụng của các hocmon cũng dần dần phát triển và có khả năng thụ tinh Đồng thời xuất hiện các biểu hiện động dục, các phản xạ về tính của gia súc nói chung và của lợn nói riêng được thành lập Tất cả các giống lợn thành thục sớm hay muộn đều phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh, cũng như chăm sóc nuôi dưỡng
1.3.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục và phối giống cho lợn
Một cơ thể thành thục về tính, khi bộ máy sinh dục phát triển tương đối hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố, con vật xuất hiện những hiện tượng của hưng phấn sinh dục, khi đó các noãn bao chín và tế bào trứng rụng
Ngoài ra sự thành thục về tính còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố và điều kiện khác nhau Cơ quan sinh dục cái dưới tác dụng của các hocmon cũng dần dần phát triển và có khả năng thụ tinh Đồng thời xuất hiện các biểu hiện động dục, các phản xạ về tính của gia súc nói chung và của lợn nói riêng được thành lập Tất cả các giống lợn thành thục sớm hay muộn đều phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh, cũng như chăm sóc nuôi dưỡng
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản
Để góp phần, phát huy tiềm năng vốn có của mỗi giống gia súc, nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi thì cần xác định và cải thiện được nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái Trong quá trình nghiên cứu các nhà khoa học đã nhận thấy năng suất sinh sản của lợn nái phụ thuộc vào nhiều yếu tố trực tiếp và gián tiếp, song hai yếu tố quan trọng nhất vẫn là di truyền
Trang 21đích đa dạng các giống như Large White, Yorkshire, Landrace, một vài dòng nguyên chủng được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá Các giống chuyên dụng "dòng bố" như Pietrain, Landrace Bỉ, Hampshire và Poland - China có năng suất sinh sản trung bình nhưng năng suất thịt cao Các giống chuyên dụng "dòng mẹ" đặc biệt là một số giống nguyên sản của Trung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có năng suất sinh sản đặc biệt cao nhưng năng suất kém Cuối cùng là nhóm giống "nguyên sản" có năng suất sinh sản cũng như năng suất thịt thấp nhưng có khả năng thích nghi tốt với môi trường riêng của chúng Các giống "dòng bố" thường có năng suất sinh sản thấp hơn so với các giống đa dạng
Giống khác nhau thì sự thành thục về tính khác nhau Gia súc có tầm vóc nhỏ thì sự thành thục về tính thường sớm hơn gia súc có tầm vóc lớn Lợn nội thành thục về tính thường sớm hơn lợn ngoại Ở các giống lợn khác nhau thì năng suất sinh sản cũng khác nhau Giống lợn Meishan (Trung Quốc) được coi là một kiểu mẫu di truyền về sức sinh sản cao, đạt 14 - 18 lợn sơ sinh, trên 12 con lợn cai sữa/ổ ở lứa đẻ 3 đến lứa đẻ 10 (Vũ Kính Trực, 1998) [43]
+ Hệ số di truyền
Hệ số di truyền cũng là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái Đa số các tính trạng về năng suất sinh sản của lợn nái đều có hệ số di truyền thấp Hệ số di truyền của các chỉ tiêu sinh sản là thấp, vì vậy vấn đề đặt
ra đối với các nhà chọn giống, là để nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái, chỉ bằng cách tăng cường qúa trình chọn lọc, đáp ứng tối đa yêu cầu về môi trường để nâng cao hiệu quả sản xuất
* Ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng
Thức ăn là nguồn cung cấp dinh dưỡng, năng lượng cho tất cả các hoạt động sống của cơ thể, nó đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm
+ Ảnh hưởng của protein
Lợn nái ngoại khẩu phần ăn thường chiếm từ 15 - 17% protein, tùy thuộc vào thể trạng và các giai đoạn Nếu cung cấp thừa hay thiếu protein đều ảnh hưởng tới sinh sản của lợn nái Nếu thiếu ở giai đoạn mang thai sẽ làm khối lượng sơ sinh thấp, số con đẻ ra ít, thể trạng yếu ớt Ở giai đoạn nuôi con sẽ
Trang 22ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng sữa từ đó ảnh hưởng đến khả năng nuôi con của lợn mẹ Nếu cung cấp protein thừa ở giai đoạn mang thai sẽ làm tăng tỷ lệ thai chết, gây lãng phí protein, không đem lại hiệu quả kinh tế Hàm lượng protein có trong khẩu phần thức ăn tùy thuộc vào từng giai đoạn nuôi dưỡng của lợn nái
+ Ảnh hưởng của năng lượng
Việc cung cấp năng lượng theo nhu cầu của lợn nái cho từng giai đoạn
có ý nghĩa rất quan trọng, vừa đảm bảo cho sinh lý bình thường và nâng cao được năng suất sinh sản
Nếu cung cấp thừa hay thiếu năng lượng đều không tốt Nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất sinh sản của lợn nái Cung cấp thừa năng lượng trong thời gian mang thai sẽ làm cho lợn nái béo gây chết phôi, đẻ khó và sau khi đẻ
sẽ kém ăn làm giảm khả năng tiết sữa đặc biệt là sữa đầu, từ đó ảnh hưởng đến sức sống cũng như sự phát triển của đàn con Nếu cung cấp thiếu năng lượng cho lợn nái trong giai đoạn mang thai sẽ làm cho lợn nái quá gầy, không đảm bảo cho quá trình sinh trưởng, phát triển của thai Nếu thiếu trầm trọng có thể dẫn đến tiêu thai, sẩy thai Nhu cầu năng lượng phù hợp cho nái ngoại và lợn nái lai ngoại là 3000 - 3100 Kcal/kg thức ăn hỗn hợp Khẩu phần
ăn cho lợn nái chửa kỳ I là 1,8 - 2,5 kg/nái/ngày Lợn nái chửa kỳ II là 2,5 - 3 kg/con/ngày Nái nuôi con trung bình là từ 4,5 - 5 kg/con/ngày
+ Ảnh hưởng của khoáng chất
Lợn nái thiếu Ca, P, nguyên nhân là do trong khẩu phần ăn thiếu Ca, hoặc thiếu Vitamin D Ca và P có trong khẩu phần thức ăn quyết định bởi các thành phần các chất đó có trong nguyên liệu phối trộn Trong khẩu phần thức
ăn của lợn nái không những phải cung cấp đầy đủ Ca và P mà phải cung cấp đầy đủ Vitamin D và có sự cân bằng giữa Ca và P, điều này rất cần thiết cho quá trình hấp thu Ca và P
Thiếu Ca và P ảnh hưởng rất lớn tới lợn nái, đặc biệt trong giai đoạn mang thai, trong giai đoạn mang thai lợn mẹ cần rất nhiều Ca và P để cung cấp cho quá trình tạo mô xương của bào thai, khi bị thiếu cơ thể mẹ huy động
Ca và P trong các mô xương ra, do đó hệ xương của cơ thể mẹ bị loãng và yếu dẫn đến lúc đẻ và sau đẻ lợn nái dễ bị bại liệt Ngược lại nếu thừa Ca và P cũng ảnh hưởng đến lợn nái và gây ra một số bệnh như sỏi thận, gây lắng
Trang 23đọng Ca ở phủ tạng, thừa Ca và P làm tăng nhu cầu Zn và vitamin K và cản trở sự hấp thụ P Nhu cầu Ca, P phụ thuộc vào từng giai đoạn của quá trình mang thai, bào thai chủ yếu phát triển vào giai đoạn cuối của thời kỳ mang thai Trong giai đoạn này cần lượng Ca, P lớn nhất Trong giai đoạn nuôi con lượng Ca, P còn phụ thuộc vào lượng sữa tiết ra trong ngày Ngoài ra một số khoáng vi lượng như: Fe, Br, Cu, Zn cũng có vai trò quan trọng từ các chức năng cấu tạo ở một số tế bào cho tới hàng loạt các chức năng điều hòa ở các tế bào khác
+ Ảnh hưởng của vitamin
Thiếu vitamin A dẫn đến chết phôi, chết non, thai phát triển kém, sẩy thai, khô mắt Thiếu vitamin D cũng như thiếu Ca, P thì lợn con đẻ ra còi cọc, lợn nái sẽ bị bại liệt trước và sau đẻ, chất lượng sữa và số lượng sữa cũng kém Thiếu vitamin B1 dẫn tới hiện tượng thần kinh yếu, co giật, bại liệt tứ chi Thiếu vitamin C làm giảm sức đề kháng của cơ thể, vi khuẩn dễ xâm nhập và gây bệnh Thiếu vitamin E có hiện tượng chết phôi, chết thai, trứng rụng ít, ngoài ra còn gây bệnh trắng cơ
Nếu bổ sung vitamin thừa cũng là liều thuốc độc cho cơ thể Thừa vitamin
A sẽ gây ảnh hưởng hấp thu vitamin E gây cho lợn không động dục hay động dục kém, thai phát triển kém Thừa vitamin D thì sẽ bị vôi hóa, tim, phổi, thận
* Ảnh hưởng của số trứng rụng
Trứng được sản xuất ra từ buồng trứng sau khi rụng xuống trứng sẽ đến
tử cung chờ thụ tinh, số trứng rụng nhiều hay ít sẽ ảnh hưởng số con sinh ra Như vậy, số trứng rụng trong một chu kỳ động dục là giới hạn cao nhất của số con đẻ ra trong một lứa, trong thực tế mỗi lợn nái đẻ trên dưới 10 con điều đó chứng tỏ số trứng rụng sẽ nhiều hơn số con đẻ ra Trong suốt thời kỳ động dục, số tế bào trứng rụng trong 1 lần động dục bình quân là 14 trứng, giao động 7 - 16 trứng, ở lợn trưởng thành 15 - 25 trứng Số tế bào trứng rụng tăng lên theo chiều tăng của tuổi lợn, đặc biệt là sau lứa đẻ thứ nhất, tuy nhiên sau khi đạt đến tuổi trưởng thành thì số tế bào trứng rụng lại giảm dần
* Ảnh hưởng của tỷ lệ thụ tinh và thụ thai
Tỷ lệ thụ tinh của các trứng rụng trong chu kỳ động dục của lợn nái, chủ yếu phụ thuộc vào thời điểm phối giống Trong điều kiện bình thường tỷ lệ
Trang 24thụ tinh là 90 - 100% nếu số trứng rụng ở mức bình thường và tỷ lệ thụ tinh sẽ không ảnh hưởng gì tới sự phát triển của các trứng đã được thụ tinh Người ta
đã chứng minh rằng nếu số trứng rụng quá mức bình thường thì tỷ lệ trứng phát triển bình thường ngay sau khi thụ tinh sẽ giảm đi, tức là tỷ lệ con đẻ ra/số trứng rụng sẽ giảm khi số trứng rụng tăng lên (Cunningham, 1979) [58] Thời điểm phối giống là từ 24 - 30 giờ kể từ khi con cái chịu đực là thích hợp nhất Nguyễn Thiện (1998) [40], đã tổng kết công trình nghiên cứu xác định thời điểm rụng trứng và thụ tinh thích hợp nhất: phối giống tại các thời điểm: 18, 24, 30, 36 và 42 giờ kể từ khi con vật bắt đầu chịu đực tỷ lệ thụ thai lần lượt là 80%, 100%, 100%, 80%, 70% và số con đẻ ra tương ứng là: 8,20; 11,80; 10,50; 9,80; 7,80 con và tác giả đã đi đến kết luận thời điểm phối giống thích hợp nhất vào lúc 24 - 30 tính từ giờ chịu đực đầu tiên, giao động từ 15 -
45 giờ Để có kết quả cao, cần phối giống cho lợn nái bằng phương thức phối kép (2 lần), lần sau cách lần trước 10 - 12 giờ trong ngày hoặc cuối ngày hôm trước và đầu ngày hôm sau (Phạm Hữu Doanh và Đinh Hồng Luận, 1985) [5] Phương pháp phối giống cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai, có 2 phương pháp phối giống là phương pháp nhẩy trực tiếp và thụ tinh nhân tạo Theo Lee
và cs (1995) [71], tỷ lệ thụ thai của lợn thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp là
92,3 và 94,4%
* Ảnh hưởng của yếu tố tuổi và khối lượng phối giống lần đầu
Để tiến hành phối giống lần đầu thì lợn cái hậu bị phải thành thục cả về tính và thể vóc Nếu tuổi để lứa đầu và khối lượng phối giống lần đầu quá sớm hay quá muộn, quá thấp hay quá cao đều ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái
* Ảnh hưởng của thời gian tiết sữa
Thời gian tiết sữa là thời gian nuôi con của lợn mẹ, có ảnh hưởng tới khoảng cách giữa 2 lứa đẻ và qua đó ảnh hưởng tới số lợn con/nái/năm
Để rút ngắn thời gian nuôi con của lợn mẹ không còn con đường sinh học nào khác ngoài biện pháp cai sữa sớm lợn con
* Ảnh hưởng của số con trong ổ
Năng suất của đàn lợn nái được xác định bởi chỉ tiêu số lợn con được cai sữa/nái/năm Do đó, số con/ổ là tính trạng năng suất sinh sản rất quan trọng
Trang 25Người ta thường quan tâm đến các chỉ tiêu số con trong ổ là: Số con đẻ ra, số con đẻ ra còn sống và số con cai sữa
Tạp chí Veterinary Investigation Service (1982) [94] nhận định, các nguyên nhân chủ yếu gây chết lợn con trong giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa là do:
* Ảnh hưởng của thời gian động dục trở lại sau cai sữa
Theo Nguyễn Thiện và Hoàng Kim Giao (1996) [39], cai sữa sớm không
đi liền với động dục sớm và ngược lại, cai sữa càng sớm thì khoảng cách từ cai sữa tới ngày động dục càng dài, rụng trứng ít Cai sữa vào 10 ngày có thời gian động dục trở lại là 14,7 ngày; cai sữa 28 ngày động dục trở lại sau 12,20 ngày, cai sữa 50 ngày thì động dục trở lại 6 ngày và số trứng rụng 15 - 16 trứng Tác giả cho rằng, tốt nhất là cai sữa lợn con từ 21 - 28 ngày tuổi
* Ảnh hưởng của yếu tố khí hậu thời tiết
Đối với lợn ngoại, điều kiện khí hậu thời tiết mùa vụ (nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng ) ảnh hưởng rất lớn đến sức sinh sản của lợn nái Nhiệt độ thích hợp cho sinh sản là 18 - 200C Nếu nhiệt độ trên 300C thì sẽ làm giảm tỷ lệ thụ thai và tăng tỷ lệ chết phôi Do đó, vào mùa hè tỷ lệ thụ thai thấp và số con đẻ ra/lứa thường thấp hơn các mùa khác Nếu nhiệt độ thấp quá (dưới
180C) thì tỷ lệ lợn con chết do lạnh và tiêu chảy cao hơn Như vậy, tỷ lệ nuôi sống của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa sẽ thấp
1.4 Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng
1.4.1 Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng
Quá trình sinh trưởng của lợn, được thể hiện qua tiềm năng di truyền và được thể hiện thông qua hệ số di truyền Hệ số di truyền của sinh trưởng hàng ngày, tiêu tốn thức ăn cũng như tuổi kết thúc vỗ béo dao động ở phạm vi rộng, phụ thuộc vào giống, quần thể và phương pháp tính khác nhau
Trang 26Các chỉ tiêu vỗ béo như, sinh trưởng hàng ngày và tiêu tốn thức ăn có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả kinh tế trong ngành chăn nuôi vì chi phí thức ăn chiếm phần lớn tổng chi phí cho chăn nuôi lợn thịt (60 - 70%) Chính vì vậy, việc nâng cao khả năng sinh trưởng, giảm tiêu tốn thức ăn trong chăn nuôi là một vấn đề rất cần thiết và có ý nghĩa trong công tác giống
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng
Cũng như năng suất sinh sản thì khả năng sinh trưởng và cho thịt cũng chịu ảnh hưởng bởi 2 yếu tố chính là:
* Ảnh hưởng của nhân tố di truyền: Đây là nhân tố quan trọng ảnh
hưởng lớn đến các tính trạng sinh trưởng và khả năng cho thịt của lợn đó là giống và tính biệt
* Ảnh hưởng của giống:
Các giống khác nhau có quá trình sinh trưởng khác nhau, tiềm năng di truyền của quá trình sinh trưởng của các gia súc được thể hiện thông qua hệ
số di truyền Hệ số di truyền đối với tính trạng khối lượng sơ sinh và sinh trưởng trong thời gian bú sữa dao động từ 0,05- 0,21, hệ số di truyền này thấp hơn so với hệ số di truyền của tính trạng này trong thời kỳ vỗ béo
* Ảnh hưởng của tính biệt:
Tính biệt cũng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của con vật
đó là do sự cấu thành của cơ thể khác nhau điều này được chi phối bởi tác động của hormone Thường ở lợn đực có tỉ lệ nạc cao hơn lợn đực thiến và lợn cái và nhu cầu năng lượng cho duy trì của lợn đực cũng nhiều hơn lợn cái và đực thiến
Ở lợn đực có tỉ lệ protein trong thành phần cơ thể nhiều hơn lợn nái
* Ảnh hưởng của nhân tố ngoại cảnh:
Các nhân tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của lợn nói riêng và gia súc, gia cầm nói chung bao gồm các yếu tố như: điều kiện chuồng trại, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, điều kiện thiên nhiên, quản lý và sử dụng,…
Ảnh hưởng của cơ sở chăn nuôi và vệ sinh chuồng trại: Nhân tố này biểu thị tổng hợp sự chăm sóc, quản lý, nuôi dưỡng của đàn lợn Thông thường, khi điều kiện chuồng nuôi chật hẹp, số lượng đầu lợn trong một ô quá lớn thì
Trang 27khả năng sinh trưởng thấp hơn lợn nuôi trong điều kiện chuồng trại rộng rãi thoáng mát
* Ảnh hưởng của thức ăn và dinh dưỡng:
Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng và cho thịt của lợn Khẩu phần ăn phải cân đối dinh dưỡng và phù hợp cho từng giai đoạn phát triển, từng mục tiêu sản xuất thì con vật mới phát huy hết tiềm năng di truyền, tăng tỷ lệ hấp tiêu hoá thức ăn, giảm tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng Ngoài ra, phương thức cho ăn cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của lợn như khi cho ăn tự do thì khả năng sinh trưởng về khối lượng nhanh hơn, nhưng độ dày mỡ lưng lại cao hơn do ít vận động so với lợn cho
ăn hạn chế
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất thân thịt và chất lượng thịt
1.5.1 Năng suất thân thịt và chất lượng thịt
Năng suất thân thịt đóng vai trò quan trọng, quyết định đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Năng suất thân thịt của lợn được đánh giá qua các chỉ tiêu: khối lượng thịt móc hàm (kg), tỷ lệ thịt móc hàm (%), khối lượng thịt xẻ (kg), tỷ lệ thịt xẻ (%), dài thân thịt (cm), diện tích cơ thăn (cm2), dày mỡ lưng (mm), tỷ lệ nạc, mỡ (%)
Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất thân thịt gồm có:
* Yếu tố di truyền
Các giống lợn khác nhau có khả năng sinh trưởng và cho thịt khác nhau
(Evan, 2003) [60] Theo Colin (1998) [57], các giống Pi, L Bỉ và L Đức có
thịt đùi, tỷ lệ nạc và diện tích cơ thăn cao hơn so với các giống lợn khác Các giống lợn địa phương thường có tốc độ sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn
và tỷ lệ nạc thấp, nhưng tỷ lệ mỡ trong cơ lại cao (Labroue và cs, 2000) [69]
Các chỉ tiêu nuôi vỗ béo như tăng khối lượng/ngày đêm, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng, thu nhận thức ăn/ngày có hệ số di truyền ở mức độ trung bình (h2 = 0,31) Các chỉ tiêu thân thịt như tỷ lệ thịt móc hàm, chiều dài thân thịt, tỷ lệ nạc hoặc tỷ lệ nạc/xương, dày mỡ lưng, diện tích cơ thăn có hệ
số di truyền cao (h2=0,3-0,6) (Sellier, 1998) [88]
Trang 28* Yếu tố ngoại cảnh
Dinh dưỡng
Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong số các yếu tố ngoại cảnh chi phối
sinh trưởng và khả năng cho thịt của gia súc Theo Wood và cs (2004) [99], nuôi
lợn thịt bằng khẩu phần có mức protein thấp, lợn sẽ sinh trưởng chậm, khối lượng giết thịt thấp Mức năng lượng và protein thấp trong khẩu phần làm tăng khả năng
tích luỹ mỡ, tăng tỷ lệ mỡ trong cơ (Chang và cs, 2003) [55]
Mối quan hệ về sinh trưởng giữa cơ, mỡ và xương sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của gia súc Lợn sinh trưởng chậm khi giết mổ ở tuổi cao sẽ có tỷ lệ xương và tỷ lệ mỡ cao Lợn sinh trưởng nhanh sẽ có nhiều mỡ hơn so với lợn
sinh trưởng bình thường, đặc biệt ở con đực (Evan và cs, 2003) [60]
Tuổi và khối lượng giết mổ
Năng suất thịt phụ thuộc vào tuổi giết mổ của con vật, giết mổ ở độ tuổi lớn hơn có chất lượng thịt tốt hơn, nhờ làm tăng quá trình hoàn thiện các phần
cơ thể và các cơ (Virgili và cs, 2003) [95]
Lê Thanh Hải và cs (1995) [15] cho rằng, có sự sai khác rõ rệt về tỷ lệ
thịt xẻ giữa những lợn được giết mổ lúc 6 tháng tuổi và 8 tháng tuổi Tuổi kết thúc vỗ béo có ảnh hưởng rõ rệt đối với tỷ lệ nạc với P <0,001 và P <0,01 (Nguyễn Văn Đức, 2001) [13] Thời gian nuôi càng dài, tỷ lệ mỡ trong thân thịt càng tăng và tỷ lệ nạc càng giảm Tuổi kết thúc vỗ béo có ảnh hưởng rõ rệt đối với dày mỡ lưng (Nguyễn Văn Đức, 1999) [12]
Khối lượng giết mổ có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ nạc (Nguyễn Văn Đức và
cs, 2001) [13]
Chăm sóc và nuôi dưỡng
Nhiệt độ chuồng nuôi cao hoặc thấp hơn nhiệt độ giới hạn cho phép đều bất lợi cho sinh trưởng của lợn thịt Che tối chuồng nuôi trong giai đoạn vỗ béo nhằm hạn chế hoạt động sẽ có lợi cho quá trình tích luỹ các chất dinh dưỡng
Goft và cs (2003) [61] nhận thấy, giun sán là nguyên nhân quan trọng
làm giảm hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt Do đó việc vệ sinh, tẩy giun sán cho lợn nuôi thịt là hết sức cần thiết
Số lượng lợn nuôi thịt trong một ô chuồng có ảnh hưởng đến khả năng tăng khối lượng, thu nhận thức ăn, tiêu tốn thức ăn nhưng không ảnh hưởng
Trang 29đến tỷ lệ nạc (Turner và cs, 2003) [93] Lợn ở những ổ đẻ có số con để nuôi/ổ
cao sẽ có khối lượng giết thịt thấp, nhưng tỷ lệ nạc cao hơn so với lợn ở
những ổ đẻ có số con để nuôi/ổ thấp (Buczynski và cs, 2000) [52]
Tính biệt
Evan và cs (2003) [60] cho biết, lợn đực lớn nhanh hơn lợn cái Kortz và
cs (2000) [67] cho biết, lợn đực không thiến có tốc độ lớn nhanh nhưng không
được người tiêu dùng ưa thích vì mùi của nó, lợn đực có khả năng tăng trọng
và tỷ lệ nạc cao hơn lợn cái tới 3%, lợn đực không thiến và lợn cái có diện tích cơ thăn lớn hơn lợn đực thiến, thịt của lợn đực không thiến có hàm lượng vật chất khô và tỷ lệ mỡ trong thịt thấp hơn so với đực thiến, nhưng cao hơn
về trị số pH thịt so với lợn đực thiến và lợn cái, thịt của lợn cái không tốt hơn thịt của lợn đực thiến
1.5.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thịt
hơn so với lợn Landrace và Yorkshire (Ryu và cs, 2008) [85]
Bên cạnh yếu tố giống, chất lượng thịt còn bị ảnh hưởng bởi các gen như halothane, RN- (Rendement Napole), …
Gen RN- được nhận thấy trên giống lợn Hampshire với tác động làm
giảm sản lượng thịt 5-6% (Leroy và cs, 2000) [75]
Kiểu gen H-FABP ảnh hưởng đến khả năng giữ nước, vật chất khô và protein tổng số của cơ thăn trên lợn Yorkshire x Landrace (Đỗ Võ Anh Khoa
và cs, 2012) [25]
Trang 30* Yếu tố ngoại cảnh
Dinh dưỡng
Trong các yếu tố ngoại cảnh, yếu tố dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn
đến chất lượng thịt lợn Rosenvold và cs (2001) [83] cho rằng, khi sử dụng khẩu
phần ăn cho lợn có hàm lượng mỡ cao (17-18%) và protein (22-24%) phối trộn với lượng carbohydrate thấp (<5%) trong khoảng thời gian 3 tuần đến khi giết thịt làm giảm hàm lượng glycogen tích luỹ trong cơ thăn Khi hàm lượng glycogen trong cơ giảm, khả năng giữ nước của cơ thăn được cải thiện
Khối lượng giết mổ
Kết quả nghiên cứu của Beattie và cs (1999) [50] cho biết, lợn lai (¾L x
¼LW) khi giết mổ ở các mức khối lượng 92; 105; 118 và 131kg, giá trị pH cuối cùng và tỷ lệ mất nước chế biến tỷ lệ nghịch so với mức khối lượng giết thịt (P < 0,001), độ dai của thịt, độ sáng của thịt không bị ảnh hưởng bởi khối
lượng (P > 0,05) Candek-Potokar và cs (1998) [53] cho rằng, độ sáng của thịt
không ảnh hưởng bởi khối lượng giết thịt Khối lượng giết thịt không ảnh hưởng
đến màu sắc thịt (Sutton và cs, 1997) [91]
Piao và cs (2004) [80], nghiên cứu trên lợn lai Du x (LxY) được giết thịt
ở các mức khối lượng giết thịt 100, 110, 120 và 130 kg cho biết, giá trị pH của thịt biến động không theo một xu hướng nhất định Tỷ lệ mất nước bảo quản sau 24 giờ giết thịt có xu hướng giảm khi khối lượng giết mổ tăng dần,
tỷ lệ mất nước chế biến biến động không theo một xu hướng nhất định
Quản lý, vận chuyển trước khi giết mổ
Quản lý trước khi giết mổ bao gồm sự nhốt lẫn những con lợn không cùng đàn với nhau, quá trình đuổi lợn lên xe, vận chuyển đến nơi giết mổ, nhốt tạm thời có thể gây ra stress về mặt sinh lý và tâm lý Kết quả nghiên
cứu của Hambrecht và cs (2005) [64] cho thấy, lợn bị vận chuyển, nhốt tạm
thời gian dài (3h) và stress ở mức cao thì có giá trị pH, độ sáng (L*), độ đỏ (a*) của thịt tại thời điểm 30 phút, 3h sau giết thịt thấp hơn và tỷ lệ mất nước bảo quản sau 24 giờ cao hơn so với thịt của lợn bị vận chuyển, nhốt tạm thời gian ngắn (45-50 phút), stress ở mức thấp
Trang 31 Phương pháp gây choáng ngất
Phương pháp gây choáng ngất bằng điện và CO2 được sử dụng rộng rãi đối với lợn khi giết mổ Lợn được sử dụng phương pháp gây choáng ngất bằng điện có giá trị pH thịt giảm nhanh và khả năng giữ nước kém hơn so với sử dụng phương pháp gây choáng bằng CO2 Sử dụng phương pháp gây choáng bằng điện dẫn tới những stress nghiêm trọng về sinh lý và làm tăng cường trao đổi năng lượng
1.6 Vài nét về giống lợn nghiên cứu
1.6.1 Giống lợn cái Landrace
Xuất xứ từ Đan Mạch, có nguồn gốc lai tạo từ lợn Yuotland Đức và Yorkshire Lông da có màu trắng tuyền, đầu nhỏ, dài, tai to dài rủ xuống kín mặt,
cổ nhỏ và dài, mình dài thon, mông nở và phát triển Toàn thân có dáng hình thoi nhọn giống như quả thủy lôi, đây là giống lợn tiêu biểu cho hướng nạc
Lợn Landrace có khả năng sinh sản cao, đẻ nhiều và nuôi con khéo: Trung bình đạt 1,8 - 2 lứa/năm Mỗi lứa đẻ 10 - 12 con, khối lượng sơ sinh trung bình đạt 1,2 - 1,3 kg, khối lượng cai sữa từ 12 - 15 kg Sức tiết sữa từ 5 - 9 kg/ngày Lợn có khả năng sinh trưởng từ 750 - 800 g/ngày, 6 tháng tuổi lợn thịt có thể đạt
105 - 125 kg Lợn cái có 12 - 16 vú, nặng 220 - 250 kg Lợn đực 300 - 320 kg khi trưởng thành Đây là lợn nái chuyên hướng nạc và được dùng để thực hiện chương trình nạc hóa đàn lợn ở Việt Nam
1.6.2 Giống lợn cái Yorkshire
Lợn Yorkshire hay lợn trắng lớn là lợn nái nuôi có nguồn gốc từ vùng Yorkshire thuộc Đông Bắc nước Anh Lợn Yorkshire có lông trắng ánh vàng (cũng có một số con đốm đen), đầu cổ hơi nhỏ và dài, mặt rộng, tai to trung bình và hướng về phía trước, mình dài lưng hơi cong, bụng gọn chân dài chắc chắn, có 14 vú Lợn có khả năng sinh sản cao trung bình 10 - 12 con/lứa, khối lượng sơ sinh 1,2 kg/con, lợn có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh Khi trưởng thành, con đực nặng tới 300 kg, con cái 250 kg, khả năng sinh trưởng
700 g/con/ngày, tiêu tốn thức ăn 3,0 kg/kg tăng khối lượng, tỷ lệ nạc 56% Lợn nái Yorkshire, mỗi năm có thể đẻ từ 1,8 - 2,2 lứa, mỗi lứa trung bình 8 -
10 con, trọng lượng sơ sinh từ 1,0 - 1,8 kg, sản lượng sữa cao, nuôi con khéo Đây là giống lợn chuyên hướng nạc và được dùng để lai kinh tế, là một trong
Trang 32những lợn nái nuôi được sử dụng rộng rãi trong lai tạo giống lợn nuôi khắp thế giới
1.6.3 Lợn nái F 1 (Landrace x Yorkshire)
Lợn nái F1( Landrace x Yorkshire) có tỉ lệ máu lai 50% giống Landrace, 50% giống Yorkshire, được thừa hưởng các ưu điểm của hai giống lợn trên về khă năng thích ứng với điều kiện khí hậu của nước ta, khả năng chống chịu bệnh tật, chất lượng thịt và tiêu tốn thức ăn thấp, khả năng sinh sản cao: số con sơ sinh sống trong ổ dao động từ 10,63 đến 11,75 con; số con cai sữa trong ổ dao động từ 10,11 đến 11,15 con; khối lượng sơ sinh đạt từ 1,40 đến 1,42 kg/con; khối lượng cai sữa (21ngày) đạt từ 6,10 đến 7,03 con; trung bình
1 năm đạt 2,15 đến 2,25 lứa/nái (Nguồn: Báo cáo tổng kết dự án Đánh giá hiện trạng cơ cấu, chất lượng giống và hệ thống tổ chức sản xuất cung cấp giống chăn nuôi tại Vệt Nam)
1.6.4 Lợn đực PiDu
Đây là lợn lai 2 máu ngoại giữa 2 giống lợn Duroc và Pietrain Lợn Pidu
có tỷ lệ máu lai 50 % giống Duroc, 50 % Pietrain, được thừa hưởng các ưu điểm của hai giống lợn trên về khả năng tăng trọng, chất lượng thịt và tỷ lệ nạc cao do đó con lai có sức sinh trưởng cao, tiêu tốn thức ăn thấp, chất lượng thịt đảm bảo (Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thuý, 2009 [18]; Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn, 2010) [38]
- Màu lông nâu nhạt, đỏ thẫm, tai cúp về phía trước, mõm thẳng, thân hình dài, mông vai phát triển, tăng trọng nhanh
* Các chỉ tiêu năng suất
- Khối lượng trưởng thành con đực: 300 - 350 kg
- Tỷ lệ nạc: 60 – 62 %
- Đạt 100 kg khi được 150 - 160 ngày tuổi
1.7 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.7.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong cung cấp thực phẩm cho tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu Để nâng cao năng suất và chất lượng giống trong chăn nuôi lợn, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng và phù
Trang 33hợp với nền sản xuất hàng hoá hiện nay, chúng ta đã từng bước cải thiện những nhược điểm của các giống lợn địa phương, bằng cách nhập một số giống lợn ngoại như: Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain…, phục vụ lai tạo sản xuất giống lợn trong nước
Giai đoạn trước năm 1975, nhiều nhà khoa học đã tiến hành lai kinh tế các giống lợn Đại Bạch, Duroc, Landrace, với các giống lợn nội với mục đích xác định hiệu quả kinh tế của các công thức lai đơn giản Nghiên cứu lai giữa lợn Đại Bạch và Móng cái đã được các tác giả thông báo kết quả như sau: số con đẻ ra đạt 11,7 con/lứa, tỷ lệ nuôi sống 92,3 %, sinh trưởng của lợn F1 đạt 588 g/ngày
Nhiều tác giả cho thấy, kết quả nghiên cứu đời F2 khi cho F1 tự giao để chuyển sang hướng lai tạo giống mới Kết quả nghiên cứu ở đời F2 (1/2 máu Berkshire và 1/2 máu Ỉ) cho tự giao và đạt được như sau: khối lượng sơ sinh 0,7 - 0,8 kg, khối lượng cai sữa 8 - 10 kg, vỗ béo 10 tháng tuổi đạt 103,5 kg, tỷ lệ nạc 38,9 %, tiêu tốn 4,5 ĐVTA/ kg tăng khối lượng, số con đẻ ra/lứa 8 - 10 con
Các công thức lai đã được khảo nghiệm như đực Yorkshire với nái
F1(LxMC) và đực Landrace với nái F1(ĐBxMC) của (Nguyễn Khánh Quắc và
cs, 1995) [33] Các tác giả đã tập trung nghiên cứu về sử dụng nái lai
F1(ĐBxMC) hoặc nái lai F1(LxMC) cho phối với lợn đực Đại Bạch hoặc Landrace để tạo ra các tổ hợp lai có 75% máu ngoại cho khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt tốt Các cặp lai 2, 3 giống đã nâng khối lượng sơ sinh 17,40 - 23,80 % và khối lượng cai sữa lên 20,30 - 48,08 % so với lợn Móng Cái thuần Một số tổ hợp lai ngoại x ngoại để sản xuất lợn lai nuôi thịt có tỷ lệ nạc trên
52 % Tỷ lệ nạc ở lợn Yorkshire đạt 55,03 %, trong khi đó tổ hợp lai (LxY) và LxF1 (LxY) đạt 54,05-55,30% tỷ lệ nạc Tổ hợp lai LxF1(DuxY); (DuxL)x(LxY); DuxF1 (LxY) cho tỷ lệ nạc từ 56,00 % đến 57,31 % và hiệu quả kinh tế của tổ hợp lai giữa 3 và 4 giống cao hơn so với tổ hợp lai 2 giống và giống thuần (Lê
Thanh Hải và cs, 1996) [16]
Theo Nguyễn Hữu Tỉnh và cs (2006) [41], hệ số di truyền của tính trạng
tuổi đạt khối lượng 90kg ở mức trung bình (0,32-0,45), dày mỡ lưng đạt ở mức cao (0,47-0,66), số con sơ sinh sống/ổ, khối lượng lúc 21 ngày tuổi đạt ở mức thấp (0,11-0,17) trên tất cả các giống lợn thuần Yorkshire, Landrace và Duroc nuôi tại các tỉnh phía Nam
Trang 34Bùi Thị Hồng (2005) [23] cho biết, khả năng sinh sản của lợn nái VCN21 và VCN22 phối với đực VCN23, nuôi tại Trung tâm giống lợn Đông Mỹ - Đông Hưng - Thái Bình, có số con sơ sinh còn sống/ổ lần lượt là 10,21; 11,61 con Số con cai sữa/ổ lần lượt là 9,53; 10,39 con Khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 156,51 và 157,50 ngày
Đặng Vũ Bình và cs (2005) [2], khi sử dụng nái lai F1 giữa hai giống Landrace và Yorkshire cho thấy, ưu thế lai thể hiện rõ nhất ở các tính trạng số con sơ sinh, khối lượng sơ sinh/ổ, số con cai sữa và khối lượng cai sữa/ổ Nái lai F1(LxY) có ưu thế lai cao hơn rõ rệt so với nái F1(YxL)
Nguyễn Thị Viễn và cs (2005) [47] cho biết, nhóm nái F1(LxY) nâng cao được khối lượng cai sữa 0,65-3,29 kg/ổ, còn nhóm nái F1(YxL) nâng cao được số con sơ sinh sống/ổ 0,24-0,62 con và rút ngắn được tuổi đẻ lứa đầu 4-
11 ngày so với lợn thuần L và Y
Lê Xuân Trường (2006) [44] công bố, khả năng sinh trưởng và cho thịt của hai tổ hợp lai VCN23 x VCN21 và VCN23 x VCN22, tại cụm trang trại chăn nuôi công nghệ cao Bãi Đu - TP Thanh Hóa, về chỉ tiêu tăng khối lượng nuôi vỗ béo đạt lần lượt là 740,81 và 725,85 g Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng lần lượt là 2,66 và 2,80 kg Một số chỉ tiêu về năng suất, chất lượng thịt lần lượt là; tỷ lệ thịt móc hàm là 80,63 và 80,15%, tỷ lệ thịt xẻ đạt 72,87 và 72,28%, dài thân thịt là 93,03 và 92,03 cm, diện tích cơ thăn là 54,46 và 52,97
cm2
, tỷ lệ nạc đạt 56,17 và 54,53% tỷ lệ mỡ là 20,23 và 21,51%, giá trị pH45 là 6,22 và 6,19, giá trị pH24 là 5,85 và 5,81, tỷ lệ mất nước của cơ thăn bảo quản sau 24 giờ 3,51 và 3,84%
Theo Phan Xuân Hảo (2007) [17], khả năng tăng khối lượng, tỷ lệ nạc, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của lợn Landrace tương ứng là (710,56 g/ngày, 56,17% và 2,91 kg), Yorkshire (664,87 g/ngày, 53,86% và 3,07 kg),
F1(LxY) (685,31 g/ngày, 55,35% và 2,83kg), các chỉ tiêu về chất lượng thịt đều bình thường thể hiện thông qua tỷ lệ mất nước bảo quản sau 24 giờ (3,14-3,61%), giá trị pH 45 phút (6,12-6,19), 24 giờ (5,69-5,82%) sau giết thịt và màu sáng (46,01-48,09)
Lê Đình Phùng và Nguyễn Trường Thi (2009) [31] công bố, khả năng sinh sản của nái F1(YxL) phối với đực F1(DuxL) cho thấy khối lượng lợn con
Trang 35cai sữa/nái/năm đạt 144,5 kg Khi sử dụng đực PiDu phối với nái F1(YxL) khối lượng lợn con cai sữa/nái/năm chỉ đạt 134,65kg
Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thuý (2009) [18] khẳng định, các công thức lai có sự tham gia của đực PiDu thì có sức sinh trưởng tương đối cao và con lai
từ 4 giống PiDu x F1(LxY) thể hiện được ưu thế lai cao hơn so với con lai 3 giống
PiDu x L và PiDu x Y Kết quả công bố của Phan Xuân Hảo và cs (2009) [19] cho
thấy, tổ hợp lai giữa đực PiDu với nái F1(LxY) có tỷ lệ thịt xẻ (71,60%), cao hơn
so với con lai giữa đực PiDu phối với nái Landrace (71,55%), Yorkshire (71,37%)
và thịt của các tổ hợp lai này đều đạt chỉ tiêu chất lượng tốt
Theo Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011) [35], nái F1(LxY) và
F1(YxL) phối với đực VCN03 có số con sơ sinh, cao hơn khi phối với đực Duroc, nhưng khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa/ổ thấp hơn
Nguyễn Tiến Mạnh (2012) [27] cho biết, khả năng sinh sản của lợn nái
F1(LxY) và F1(YxL) phối với đực PiDu, có số con sơ sinh còn sống/ổ lần lượt
là 11,02; 11,40 con Số con cai sữa/ổ lần lượt là 10,47; 10,58 con Khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 143,60 và 142,85 ngày
Theo Phạm Thị Đào và cs (2013) [8], lợn lai tạo ra từ F1(LxY) và
F1(YxL) và đực PiDu với tỷ lệ máu Pietrain kháng stress tăng dần (25, 50 và 75%), khả năng tăng khối lượng trung bình/ngày, các chỉ tiêu về năng suất thân thịt của con lai giảm dần, nhưng tỷ lệ nạc có xu hướng ngược lại và chất lượng thịt của các tổ hợp lai này đều đạt tiêu chuẩn
Khi nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của các tổ hợp lai giữa nái F1(LxY),
F1(YxL) phối với đực Duroc và VCN03 Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình, (2011) [35] cho biết, các tổ hợp lai này có khả năng sinh trưởng tốt với mức TKL trung bình đạt 680-702 g/ngày và TTTA/1kg TKL ở mức thấp (2,7-2,8 kg)
Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) [38] cho biết, tỷ lệ thịt móc hàm, tỷ lệ thịt xẻ và tỷ lệ nạc của tổ hợp lai 4 giống PiDu x F1(LxY) cao hơn
so với tổ hợp lai 2 và 3 giống L x F1(LxY), Du x F1(LxY) và chất lượng thịt của các tổ hợp lai này đều đạt chất lượng bình thường
Phan Xuân Hảo (2010) [20] công bố, thành phần thân thịt và chất lượng thịt của các tổ hợp lai giữa nái lai F1(LxY) phối với đực Omega và PiDu Tổ hợp lai Omega x F1(LxY) có tỷ lệ thịt móc hàm (81,28%), xương (14,28%) và da (6,99%), ở tổ hợp lai PiDu x F1(LxY) là 80,64; 14,99 và
Trang 366,87% Tổ hợp lai Omega x F1(LxY) có tỷ lệ nạc 61,54% và tỷ lệ mỡ 14,66%, ở tổ hợp lai PiDu x F1(LxY) là 57,09 và 18,45% Tổ hợp lai Omega x F1(LxY) có diện tích cơ thăn là 56,25 cm2, dày mỡ lưng là 10,56
mm, ở tổ hợp lai PiDu x F1(LxY) là 49,71 cm2 và 17,60 mm
Phan Xuân Hảo và Nguyễn Văn Chi (2010) [21] cho biết, sử dụng đực PiDu, Omega phối với nái F1(LxY) có thể nâng cao được tỷ lệ nạc và đảm bảo được chất lượng thịt tốt
Trịnh Hồng Sơn và cs (2013) [36] nghiên cứu khả năng sinh trưởng của
dòng đực tổng hợp VCN03 cho thấy, khả năng tăng khối lượng trung bình/ngày (829,80 g), tỷ lệ thịt móc hàm (84,30%), tỷ lệ nạc (61,14%) của thế hệ 1 sau chọn lọc đạt cao hơn so với thế hệ xuất phát (769,51 g, 84,12% và 59,74%)
1.7.2 Tình hình hình nghiên cứu trên thế giới
Việc nghiên cứu chọn lọc dòng cao sản cùng huyết thống, lai tạo tìm ra các tổ hợp lai tăng khối lượng nhanh, đạt tỷ lệ nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp và
độ dày mỡ lưng mỏng đã được tiến hành thành công ở hầu hết các nước có nền chăn nuôi tiên tiến như Mỹ, Đức, Canada, Anh, Hà Lan, Đan Mạch và Úc
Trần Kim Anh (1998) [1] cho biết, khả năng sản xuất một số tổ hợp lai ở Mỹ:
Bảng 1.1: Khả năng sản xuất một số tổ hợp lai ở Mỹ
Chỉ tiêu
Tổ hợp lai
Ưu thế lai ở đời con (%)
Tỷ lệ thụ thai (%)
Số lợn con bán/lứa (con)
Số ngày nuôi thịt (ngày)
Dày mỡ lưng (cm)
TTTĂ (kg)
3,40 3,35 3,33 3,30 Lai giữa 2 giống
166
162
1,25 1,22
3,31 3,27 Lai giữa 3 giống
H x (Y x D)
D x (H x Y)
Y x (Dx H)
85,7 85,7 85,7
80
83
85
8,56 7,96 8,02
169
175
166
1,10 1,16 1,19
3,26 3,27 3,28 Lai giữa 4 giống
166
165
1,19 1,18
3,28 3,27
Trang 37Lai 2 giống làm tăng số con sơ sinh/ổ so với giống thuần (10,9 so với 10,1 con), tăng khối lượng sơ sinh và cai sữa Ưu thế lai về tăng khối lượng khi cai sữa đạt tới 18,30% (Chokhataridi, 2000) [56]
Lai giữa ba và bốn giống là hệ thống chủ yếu để sản xuất lợn thịt
thương phẩm tại cộng hòa Séc (Houska và cs, 2004) [66] Trong nhiều
công thức lai giống, lợn lai Hampshire x (LW x L) và (Black L x Du) x (LW x L) đạt TKL, TTTA và tỷ lệ nạc: 787g; 3,25; 55% và 816g; 3,11;
49,6% (Adamec và cs, 2000) [48]
Theo Simek (2004) [89], ở cộng hòa Czech, ngoài việc dùng nái lai (LW
x L) để sản xuất đàn thương phẩm có chất lượng thịt tốt hơn phải sử dụng đực cuối cùng là (Hampshire x Pietrain) hoặc (Duroc x Pietrain) Đối với tổ hợp lai có gen Duroc, thành phần mỡ giắt cao hơn và các tổ hợp này có ảnh hưởng tốt hơn đối với chất lượng thịt
Tại Czech, Okrouhla và cs (2008) [78], đã nghiên cứu ảnh hưởng của đực
(Pi x Du) và (Hampshire x Pi) đến các chỉ tiêu thành phần hoá học, một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng thịt Nhiều nghiên cứu tại Ba Lan, Đức…đã đề cập đến việc sử dụng đực (Pietrain x Duroc) trong sản xuất lợn thịt thương phẩm
(Lenartowiez và cs, 1998) [74]
Beattie và cs (1999) [50] cho biết, lợn lai (¾L x ¼LW) khi giết mổ ở các
mức khối lượng 92; 105; 118 và 131kg, giá trị pH cuối cùng và tỷ lệ mất nước chế biến tỷ lệ nghịch so với mức khối lượng giết thịt (P<0,001), độ dai của thịt, độ sáng của thịt không bị ảnh hưởng bởi khối lượng (P>0,05)
Latorre và cs (2004) [70] khi nghiên cứu trên tổ hợp lai (L x LW dam x Pi x
LW sire) giết thịt ở các mức khối lượng 116; 124 và 133 kg đạt giá trị lần lượt là: TKL 843; 788 và 769 g/con/ngày, tỷ lệ thịt móc hàm 77,3; 77,7 và 78,6%, dày mỡ lưng 22,1; 25,7 và 27,0 mm, dài thân thịt 83,4; 85,0 và 87,4 cm, giá thị pH45 5,98; 6,02 và 6,10, giá trị pH24 5,82; 5,87 và 5,79, độ sáng L* 51,5; 49,9 và 47,3, độ đỏ a* 3,51; 3,58 và 4,23, độ vàng b* 10,3; 10,3 và 9,9, tỷ lệ mất nước bảo quản 24h 0,88 0,85 và 0,82%, tỷ lệ mất nước chế biến 24h 18,6; 18,8 và 18,3%
Bahelka và cs (2007) [49] công bố, khi giết thịt 129 con lợn lai thuộc 3 tổ
hợp lai giữa lợn nái White Meaty phối với lợn đực Landrace (n=32), Han x Pi (n=80) và Y x Pi (n=17) Ở 3 mức khối lượng giết thịt (90-99); (100-110) và (>110 kg), các chỉ tiêu về năng suất thân thịt lần lượt như sau: khối lượng giết thịt trung bình 94,77; 103,81 và 116,94 kg, khối lượng thịt xẻ 77,05; 84,40 và 95,07 kg, dày mỡ lưng 24,93; 26,04 và 29,60 mm
Trang 38Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Lợn nái thuần Landrace, Yorkshine và nái lai F1(Landrace x Yorkshine) Các con lai thương phẩm được lai tạo ra gồm 3 tổ hợp lai: ♂ PiDu x ♀ Landrace; ♂ PiDu x ♀ Yorshire; ♂ PiDu x ♀ F1 (Landrace x Yorkshire)
Số lượng nghiên cứu: 10 nái Landrace, 10 nái Yorkshire, 10 nái F1 (Landrace
x Yorkshine) lặp lại 3 lần và 90 con lai thương phẩm từ 3 tổ hợp lai trên
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Tại trại chăn nuôi lợn giống Đồng Tâm Xanh - Huyện Mỹ Đức - Thành phố Hà Nội
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2016 đến tháng 8/2017
2.2 Nội dung nghiên cứu
Khảo sát năng suất sinh sản của 3 lợn nái nái thuần Landrace, Yorkshire
và nái lai F1 (LY) được phối với lợn đực PiDu
Khảo sát về khả năng sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn và cho thịt của 3 tổ hợp lợn lai thương phẩm nêu trên
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Bảng 2.1: Sơ đồ công thức lai thí nghiệm
TT Công thức lai thí nghiệm Sơ đồ lai tạo
Trang 392.3.1.1 Thí nghiệm trên lợn nái
Theo dõi mỗi tổ hợp 10 lợn nái, lặp lại 3 lần (10 x 3 = 30 con); lợn nái ở độ tuổi của lứa đẻ 2,3,4, thức ăn của hãng CP cho lợn nái chửa và nuôi con; yếu tố thí nghiệm là loại lợn nái khác nhau Landrace, Yorkshine và F1(LxY)
Sơ đồ thí nghiệm được trình bày tại bảng 2.2
Bảng 2.2: Sơ đồ thí nghiệm trên lợn nái
Số lượng lợn nái 30 (10x3) 30 (10x3) 30 (10x3)
Nhân tố thí nghiệm ♂PiDu x ♀L ♂PiDu x ♀Y ♂PiDu x ♀(LY)
2.3.1.2 Bố trí thí nghiệm trên đàn lợn thương phẩm
Đối với đàn lợn thương phẩm: Thí nghiệm trên đàn thương phẩm được nuôi thịt theo phương pháp phân lô so sánh, đảm bảo đồng đều về tuổi, tính biệt và khẩu phần ăn Mỗi công thức bố trí nuôi tại 3 lô chuồng, mỗi lô nuôi
10 con Nhân tố thí nghiệm là lợn thương phẩm của các tổ hợp lại khác nhau biểu hiện ở khối lượng trung bình (X) khác nhau giữa các lô
Sơ đồ thí nghiệm được trình bày tại bảng 2.3
Bảng 2.3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên lợn thương phẩm
2 Tổng số lợn theo dõi/lô (con) 30 (10x3) 30 (10x3) 30 (10x3)
Trang 40Giai đoạn 1: lợn có khối lượng từ sau cai sữa đến 18 ± 3,0 kg với khẩu phần có tỷ lệ protein 19 - 18,5 % và 3200 - 3150 kcal ME/kg thức ăn
Giai đoạn 2: Lợn có khối lượng từ 20 đến 60 kg Khẩu phần có tỷ lệ protein 18,5 – 18 %, năng lượng 3150 - 3100 kcal ME/kg thức ăn
Giai đoạn 3: Lợn có khối lượng từ 60 kg đến khi xuất chuồng (khi kết thúc thí nghiệm) Khẩu phần có tỷ lệ protein 17 % và 3000 kcal ME/kg thức ăn
+ Chuồng trại:
Giai đoạn 1: Từ cai sữa đến 90 ngày nuôi nhốt trên chuồng sàn nhựa Giai đoạn 2: Từ 90 ngày đến khi kết thúc thí nghiệm nuôi nhốt chuồng sàn bê tông Đảm bảo thông thoáng, mát về mùa Hè và ấm về mùa Đông + Nước uống tự do, sạch và đầy đủ
+ Chế độ cho ăn: ăn tự do bằng máng ăn tự động
2.3.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu
Tiến hành theo dõi trực tiếp trên lợn thí nghiệm
2.3.2.1 Các chỉ tiêu về năng suất sinh sản của các lợn nái
- Đối với các chỉ tiêu về số lượng: đếm số con sơ sinh, chết, để nuôi và
số con sống đến từng thời điểm theo dõi
- Tỷ lệ nuôi sống:
Số con đẻ ra còn sống (con) + Tỉ lệ sống (%) = ––––––––––––––––– x 100
M = M1+M2
Trong đó:
M1= (W21- W ss) x 3
W21= Khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi
Wss: Khối lượng toàn ổ lúc sơ sinh
M2= 4/5 M1