Đánh giá thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1BÀN THU TRANG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở CÁC XÃ ĐẶC BIỆT
KHÓ KHĂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NA RÌ,
TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Thái Nguyên - 2017
Trang 2BÀN THU TRANG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở CÁC XÃ ĐẶC BIỆT
KHÓ KHĂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NA RÌ,
TỈNH BẮC KẠN
Ngành: Phát triển Nông thôn
Mã số: 60.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Đình Hòa
Thái Nguyên - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng Tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, nghiêm túc, chưa được công
bố và sử dụng bảo vệ một học vị nào
Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Bàn Thu Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập tại trường và nghiên cứu viết luận văn bản thân tôi
đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của nhà trường, các thầy cô giáo, cơ quan, tổ chức và các cá nhân
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo khoa Kinh tế phát triển nông thôn - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; Đặc biệt là sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình của Thầy giáo Tiến sỹ Bùi Đình Hòa người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng thống kê, phòng tài nguyên môi trường, văn phòng UBND nhân dân huyện
Na Rì; UBND các xã Côn Minh, Quang Phong, Lam Sơn trên địa bàn huyện và các
hộ nông dân các xã đã cung cấp số liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Trong quá trình làm nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn, đã tham khảo nhiều tài liệu và đã trao đổi, tiếp thu ý kiến của thầy, cô và bạn bè Song, do điều kiện về thời gian và trình độ nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên nghiên cứu khó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của thầy, cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cám ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Bàn Thu Trang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
3 Ý nghĩa của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.2 Quan điểm về xây dựng nông thôn mới 8
1.2.1 Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới 8
1.2.2 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới 9
1.2.3 Các bước xây dựng nông thôn mới 10
1.2.4 Nội dung Chương trình xây dựng nông thôn mới 11
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới 14
1.3.1 Chủ trương, chính sách của nhà nước về xây dựng NTM 14
1.3.2 Năng lực tổ chức triển khai xây dựng NTM của đội ngũ cán bộ cơ sở 14
1.3.3 Nhận thức của người dân và cộng đồng dân cư 14
1.3.4 Khả năng huy động và quản lý nguồn vốn thực hiện Chương trình 15
1.3.5 Cơ chế giải ngân vốn nhà nước hỗ trợ cho các dự án do nhóm thợ và cộng đồng dân cư tự thực hiện 15
1.4 Cơ sở thực tiễn về xây dựng NTM 15
1.4.1 Kinh nghiệm về phát triển nông thôn ở các nước trên thế giới 15
Trang 61.4.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 19
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng, phạm vi 28
2.1.1 Đối tượng 28
2.1.2 Phạm vi 28
2.2 Nội dung nghiên cứu 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Phương pháp tiếp cận 29
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 29
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 31
2.4.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nguồn vốn thực hiện Chương trình 31
2.4.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh về tổ chức bộ máy, cách thức triển khai thực hiện Chương trình 31
2.4.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới 31
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đặc điểm cơ bản ảnh hưởng đến phát triển nông thôn mới trên địa bàn huyện Na Rì 32
3.1.1 Vị trí địa lý 32
3.1.2 Địa hình 32
3.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn 36
3.2.1 Kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Na Rì giai đoạn 2011-2016 36
3.2.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới tại các xã Đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện Na Rì 43
3.3 Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới ở các xã ĐBKK trên địa bàn huyện Na Rì 74
Trang 73.3.1 Chính sách của nhà nước 74
3.3.2 Trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ cấp huyện, xã 77
3.3.3 Nhận thức của người dân và cộng đồng dân cư 79
3.3.4 Nguồn vốn thực hiện Chương trình 83
3.3.5 Cơ chế quản lý, thanh quyết toán vốn 84
3.4 Định hướng, mục tiêu và giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới ở các xã ĐBKK trên địa bàn huyện Na Rì 86
3.4.1 Định hướng chỉ đạo trong việc thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới 86
3.4.2 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Na Rì 87
3.4.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng NTM trên địa bàn xã ĐBKK trên địa bàn huyện Na Rì 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
1 Kết luận 99
2 Kiến nghị 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 106
Trang 8PTNT : Phát triển nông thôn
HĐND : Hội đồng nhân dân
KT-XH : Kinh tế - xã hội
MT : Môi trường
MTTQ : Mặt trận Tổ quốc
NSĐP : Ngân sách địa phương
NTM : Nông thôn mới
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
THCS : Trung học cơ sở
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phân bổ mẫu điều tra 30
Bảng 3.1 Kết quả thành lập Ban Chỉ đạo, tổ công tác giúp việc BCĐ huyện 37
Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả huy động nguồn lực thực hiện chương trình giai đoạn 2011-2016 và nhu cầu vốn cả giai đoạn 2016-2020 41
Bảng 3.3 Thành lập Ban Quản lý xây dựng NTM xã và Ban phát triển NTM tại 03 xã nghiên cứu 49
Bảng 3.4 Trình tự lập quy hoạch xã NTM 52
Bảng 3.5 Tình hình tổ chức thực hiện lập đề án NTM cấp xã 54
Bảng 3.6 Tổng hợp kết các nguồn vốn đã được phân bổ để thực hiện chương trình NTM ở các xã ĐBKK trên địa bàn huyện Na Rì giai đoạn 2011-2016 58
Bảng 3.7 Kết quả xây dựng nông thôn mới trên địa bàn 03 xã nghiên cứu giai đoạn 2011 - 2016 59
Bảng 3.8 Tình hình huy động sức dân ở các xã trên địa bàn huyện Na Rì 60
Bảng 3.9 Nhận thức vai trò và kỹ năng tổ chức thực hiện xây dựng NTM của cán bộ thực hiện chương trình 64
Bảng 3.10 Đánh giá của nông dân về thực hiện Chương trình xây dựng NTM 70
Bảng 3.11 Mức độ tham gia, đóng góp của người dân 80
Bảng 3.12 Lý do không tham gia đóng góp xây dựng NTM 80
Bảng 3.13 Nhận thức của người dân về nội dung xây dựng NTM 82
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là vấn đề chiến lược trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc Phát triển sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ chính trị trọng tâm thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của cả hệ thống chính trị, là sự nghiệp của toàn thể nhân dân Sau hơn 20 năm thực hiện đường đối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã có rất nhiều Nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã được ban hành trong đó nổi bật phải
kể đến là Nghị quyết số 26/NQ-TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, đã được nhân dân đồng tình và hưởng ứng tích cực
Quán triệt Nghị quyết Trung ương, Chính phủ đã xây dựng chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (MTQGXDNTM), trong đó có đề ra 19 tiêu chí thể hiện trên tất cả các mặt kinh tế, xã hội và đời sống nông thôn; xây dựng kết cấu hạ tầng, văn hóa, giáo dục, y tế, việc làm, giảm nghèo, môi trường, đời sống, sản xuất, thu nhập của người nông dân; bảo đảm an ninh quốc phòng, trật tự
xã hội trên địa bàn nông thôn; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn nông thôn; xây dựng Đảng, hệ thống chính trị vững mạnh Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới chính là nội dung cụ thể trong tiến trình tái cơ cấu kinh tế trên địa bàn nông thôn; tái cơ cấu ngành nông nghiệp; là nội dung cụ thể tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, việc xây dựng nông thôn mới với các chỉ tiêu tổng hợp cũng chính là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, cải thiện và chăm lo cho đời sống nhân dân phát triển bền vững trên địa bàn nông thôn
Xây dựng nông thôn mới là chủ trương đúng đắn, kịp thời của Đảng, hợp lòng dân Hơn 06 năm qua, Chính phủ và các Bộ, ngành, các cấp ủy, chính quyền cùng cả hệ thống chính trị và đông đảo nhân dân đã chung vai, góp sức thực hiện chương trình và đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo nên nhiều chuyển biến mới
Trang 11trong nông nghiệp, nông thôn Chương trình đã đưa ra hệ thống cơ chế, chính sách khá đồng bộ Phong trào thi đua “cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới” do Thủ tướng Chính phủ phát động đã có tác động đến sự quan tâm, hỗ trợ nguồn lực cao và động viên tinh thần của toàn xã hội đối với nông dân, nông thôn Hệ thống thông tin tuyên truyền về nông thôn mới hoạt động phong phú, liên tục đã động viên rất tích cực, kịp thời đến phong trào xây dựng nông thôn mới; Nông thôn mới đã hình thành trên thực tế, đáp ứng nguyện vọng của người dân nông thôn, người dân nhận thức được đây là phong trào của chính mình, không chỉ mang lại lợi ích trước mắt mà còn lâu dài và trở thành phong trào sâu rộng với nhiều mô hình tốt, cách làm tốt, ngày càng thu hút sự tham gia của người dân, các doanh nghiệp nhờ đó huy động được nguồn lực rất lớn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nội dung của chương trình Kết quả không chỉ dừng ở các xã đạt chuẩn nông thôn mới mà còn có rất nhiều huyện đã đạt chuẩn nông thôn mới
Tuy nhiên, đó là xét về mặt bằng chung của cả nước, nếu xét riêng về tình hình thực hiện chương trình nông thôn mới ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn vẫn còn thấy nhiều bất cập Theo Quyết định 2405/QĐ-TTg ngày 10/22/2013, cả nước có 2.233 xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn (ĐBKK)- xã thuộc khu vực III, tính đến tháng 12/2015 cả nước có 1.800 xã đạt chuẩn nông thôn mới, tuy nhiên chỉ có 54 xã trong tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới là xã đặc biệt khó khăn (chiếm 3%), chỉ có khoảng 26% xã đặc biệt khó khăn đạt trên 10 tiêu chí mức đạt tiêu chí bình quân cho xã đặc biệt khó khăn khoảng 8,1 tiêu chí/xã (thấp hơn bình quân chung của cả nước - 12,9 tiêu chí)(Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, 2015] Đặc biệt, tính đến hết năm 2015, Bắc Kạn là một trong 4 địa phương chưa có xã nào đạt chuẩn nông thôn mới (Điện Biên, Cao Bằng, Bắc Kạn và Đắk Nông) Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2015) Những con
số trên đã thể hiện được mức độ rất khó khăn trong việc thực hiện chương trình xây dựng chương trình nông thôn mới ở các xã đặc biệt khó khăn như thế nào Trong khi đó trên điạ bàn tỉnh Bắc Kạn, huyện Na Rì là một huyện có số xã có điều kiện KT-XH ĐBKK nhất (13 xã), là huyện có số lượng đồng bào người DTTS chiếm 97%, tỷ lệ hộ nghèo trên 35%, tình hình xây dựng nông thôn mới gặp nhiều khó
Trang 12khăn do có nhiều tiêu chí gần như không thể thực hiện được Do đó tôi chọn nghiên
cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới ở các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”.
2 Mục tiêu của đề tài
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới
- Đánh giá kết quả xây dựng nông thôn mới ở các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện Na Rì - tỉnh Bắc Kạn
- Phân tích những mặt đatj được, hanj chế và nguyên nhân của hạn chế trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện
Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng sẽ là tiền đề cho các nhà quảnlý của địa phương xem xét trong việc điều chỉnh, bổ sung cơ chế chính sách trong việc huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM tại các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn trên địa bàn toàn tỉnh
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác.” (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005)
Từ đó có thể thấy rằng khái niệm nông thôn chỉ mang tính tương đối, có thể thay đổi theo thời gian và theo quá trình phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, nhìn từ góc độ quản lý có thể hiểu rằng: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị
xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã
1.1.1.2 Phát triển nông thôn
Năm 1975 Ngân hàng Thế giới đã đưa ra định nghĩa về phát triển nông thôn như sau: “Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống
về kinh tế - xã hội của một nhóm người cụ thể (người nghèo ở vùng nông thôn), nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển.” Có quan điểm lại cho rằng PTNT nhằm nâng cao vị thế về kinh tế - xã hội cho người dân ở nông thôn thông qua việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của địa phương (nhân lực, vật lực và trí tuệ)
Ta thấy rằng khái niệm PTNT mang tính toàn diện, đảm bảo tính bền vững
Trang 14về môi trường Thông qua các chiến lược về kinh tế - xã hội của Chính phủ trong điều kiện của nước ta, PTNT được hiểu: Là quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn, có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác.” (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005).
1.1.1.3 Xã Đặc biệt khó khăn
Tại Điều 3 của Quyết định 30/2012/QĐ-TTg có ghi rõ Xã thuộc vùng dân tộc và miền núi được xác định theo 3 khu vực: Xã khu vực III là xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhất; xã khu vực II là xã có điều kiện kinh tế - xã hội còn
khó khăn nhưng đã tạm thời ổn định; xã khu vực I là các xã còn lại
* Tiêu chí xã khu vực III giai đoạn 2012-2015 (áp dụng tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011):
Xã khu vực III là xã có ít nhất 4 trong 5 tiêu chí sau:
a) Số thôn đặc biệt khó khăn còn từ 35% trở lên (tiêu chí bắt buộc)
b) Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 45% trở lên; trong đó tỷ lệ hộ nghèo phải
từ 20% trở lên
c) Có ít nhất 3 trong 5 điều kiện sau:
- Đường trục xã, liên xã chưa được nhựa hóa, bê tông hóa
- Còn có ít nhất một thôn chưa có điện lưới quốc gia
- Chưa đủ phòng học cho lớp tiểu học hoặc các lớp học ở thôn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Trạm y tế xã chưa đạt chuẩn theo quy định của Bộ Y tế
- Nhà văn hóa xã chưa đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hoá, Thể thao và
Du lịch
d) Có ít nhất 2 trong 3 điều kiện sau:
- Còn từ 30% số hộ chưa có nước sinh hoạt hợp vệ sinh
- Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề trên 60%
- Trên 50% cán bộ chuyên trách, công chức xã chưa đạt chuẩn theo quy định đ) Có ít nhất 2 trong 3 điều kiện:
- Còn từ 20% số hộ trở lên thiếu đất sản xuất theo quy định
Trang 15- Chưa có cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư xã đạt chuẩn
- Dưới 10% số hộ làm nghề phi nông nghiệp (Chính phủ, 2012)
* Tiêu chí xã khu vực III giai đoạn 2016-2020 (áp dụng chuẩn nghèo đa chiều theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015):
Tại Điều 3 Quyết định 50/QĐ-TTg ngày 03/11/2016: Xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi được xác định theo ba khu vực: Xã khu vực III là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; xã khu vực II là xã có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn nhưng đã tạm thời ổn định; xã khu vực I là các xã còn lại
* Tiêu chí xã khu vực III:
Xã khu vực III là xã có ít nhất 2 trong 3 tiêu chí sau:
a) Số thôn đặc biệt khó khăn còn từ 35% trở lên (tiêu chí bắt buộc);
b) Tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 65% trở lên (trong đó tỷ lệ hộ nghèo
từ 35% trở lên) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020;
c) Tổng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 55% trở lên (các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ, khu vực đồng bằng sông Cửu Long từ 30% trở lên) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 và có ít nhất 3 trong 6 điều kiện sau (đối với xã
có số hộ dân tộc thiểu số từ 60% trở lên, cần có ít nhất 2 trong 6 điều kiện):
- Trục chính đường giao thông đến Ủy ban nhân dân xã hoặc đường liên xã chưa được nhựa hóa, bê tông hóa theo tiêu chí nông thôn mới;
- Trường mầm non, trường tiểu học hoặc trường trung học cơ sở chưa đạt chuẩn quốc gia theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- Chưa đạt Tiêu chí quốc gia về y tế xã theo quy định của Bộ Y tế;
- Chưa có Trung tâm Văn hóa, Thể thao xã theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
- Còn từ 20% số hộ trở lên chưa có nước sinh hoạt hợp vệ sinh;
- Còn từ 40% số hộ trở lên chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh theo quy định của
Bộ Y tế (Chính phủ, 2016)
Vậy ta có thể nói ngắn gọn xã đặc biệt khó khăn là những xã thuộc khu vực III
1.1.1.4 Nông thôn mới
Trước hết phải hiểu nông thôn mới không phải là thị trấn, thị tứ; thứ hai, không
Trang 16phải là nông thôn truyền thống Nghĩa là xây dựng nông thôn mới không phải là xây dựng nông thôn trở thành đô thị vì nó sẽ làm mất những giá trị truyền thống của nông thôn và không giữ vững được bản sắc văn hoá riêng của nông thôn Việt Nam
Khái niệm nông thôn mới mang đặc trưng của mỗi vùng nông thôn khác nhau, nhìn chung mô hình nông thôn mới được xây dựng ở cấp xã, thôn phát triển toàn diện theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, dân chủ, văn minh
Xây dựng nông thôn mới là quá trình làm đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của người dân, tạo động lực giúp họ chủ động phát triển kinh tế góp phần thực hiện chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đồng thời làm thay đổi về cơ sở vật chất và đời sống văn hoá tinh thần của người dân, qua đó thu hẹp khoảng cách về đời sống giữa nông thôn và thành thị
Đảng, Nhà nước ta xác định đây là một quá trình lâu dài và liên tục cần sự tập trung lãnh chỉ đạo về đường lối, chủ trương phát triển đất nước và của các địa phương trong giai đoạn hiện nay cũng như sau này Với mục tiêu xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức
tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ,
đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; nâng cao sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng ở nông thôn; xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ trí thức, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc, đảm bảo thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN
1.1.1.5 Khái niệm xây dựng nông thôn mới
Xây dựng NTM là một chính sách về một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể khắc phục tình trạng rời rạc hoặc duy ý chí
Xây dựng NTM được quy định bởi các tính chất: Đáp ứng yêu cầu phát triển (đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường), đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội), tiến bộ hơn so với mô hình cũ,
Trang 17chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước
Như vậy, có thể hiểu “Xây dựng NTM là cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng làng, xã của mình khang trang, sạch đẹp, sản xuất phát triển toàn diện và đời sống của người dân được nâng cao; nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo, thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao”
Từ Quyết định số 491/QĐ-TTg và Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì: Xây dựng NTM là xây dựng nông thôn đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM
1.1.1.6 Đơn vị nông thôn mới
Khoản 3 điều 23 Thông tư 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21 tháng 8 năm
2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về NTM quy định đơn vị NTM có 3 cấp:
- Xã NTM (đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia NTM);
- Huyện NTM (khi có 75% số xã NTM);
- Tỉnh NTM (khi có 75% số thành phố NTM)
1.1.1.7 Bộ tiêu chí của chương trình xây dựng nông thôn mới
Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2009-2015 được quy định tại Quyết định số 491/QĐ-TTg Chính phủ ngày 16 tháng 4 năm 2009
Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 được quy định tại Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 quyết về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020
1.2 Quan điểm về xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ một cách toàn diện; có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao
Thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên, nhiều thành tựu đạt
Trang 18được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế Kết cấu hạ tầng nông thôn như: điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi còn nhiều yếu kém; sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, chất lượng nông sản còn thấp, bảo quản chế biến chưa gắn với thị trường tiêu thụ; chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với cơ cấu lao động, ứng dụng khoa học công nghệ còn chậm Thu nhập của nông dân thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao; kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém; đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một; môi trường và an ninh nông thôn còn nhiều vấn đề bức xúc
Nước ta đang phấn đấu trở thành nước công nghiệp, một nước công nghiệp không thể để nôngnghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó Vì vậy, phải tiến
hành xây dựng xã nông thôn mới
1.2.2 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
- Các nội dung hoạt động của Chương trình xây dựng nông thôn mới phải hướng tới mục tiêu thực hiện đạt chuẩn 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 và Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 của Thủ tướng Chính Phủ về việc sửa đổi một số tiêu chí xây dựng NTM
- Giai đoạn 2016-2020 các tiêu chí để thực hiện CTMTQG NTM được thay thế bởi Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 Quyết định về việc ban hành
bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 Trong giai đoạn này vẫn giữ nguyên 19 tiêu chí, tuy nhiên các chỉ tiêu cần đạt được trong giai đoạn này có tăng so với giai đoạn trước, cơ chế giai đoạn này có tạo cơ chế mở hơn như:
có một số tiêu chí tùy vào từng điều kiện của địa phương mà Ủy ban nhân dân tỉnh xác định được có đạt chuẩn hay không chứ không cứng nhắc, rập khuôn như giai đoạn trước
- Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
Trang 19- Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư
- Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và
cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành)
- Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện; hình thành cuộc vận động “Toàn dân xây dựng nông thôn mới” do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới
- Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án của Chương trình xây dựng NTM; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá
1.2.3 Các bước xây dựng nông thôn mới
Xây dựng NTM được thực hiện theo các bước như sau:
Bước 1: Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện
Bước 2: Tổ chức thông tin, tuyên truyền về thực hiện Chương trình xây dựng
NTM (được thực hiện trong suốt quá trình triển khai thực hiện)
Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ tiêu
chí quốc gia NTM
Bước 4: Lập đề án (kế hoạch) xây dựng NTM (gồm kế hoạch tổng thể đến
2020, kế hoạch 5 năm 2011 - 2015, giai đoạn 2016-2020 và kế hoạch từng năm cho
giai đoạn 2011-2015 và giai đoạn 2016- 2020)
Bước 5: Xây dựng quy hoạch NTM
Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án (kế hoạch)
Bước 7: Giám sát, đánh giá và báo cáo định kỳ về tình hình thực hiện dự án.
Trang 201.2.4 Nội dung Chương trình xây dựng nông thôn mới
Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm 11
nội dung sau:
1) Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Để đạt yêu cầu tiêu chí số 1 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM
Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ;
Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; Phát triển các khu
dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã
2) Phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội
Đạt yêu cầu tiêu chí số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông
thôn mới;
Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở UBND xã và bảo vệ hệ thống giao thông trên địa bàn xã
Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt
và sản xuất trên địa bàn xã
Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn xã
Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn xã
Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn xã
Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ
Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã
3) Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
Đạt yêu cầu tiêu chí số 10;12 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao;
Trang 21Tăng cường công tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông -lâm - ngư nghiệp;
Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp;
Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương;
Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào
nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn
4) Giảm nghèo và an sinh xã hội
Đạt yêu cầu tiêu chí số 11 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM;
Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
Tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo:
Thực hiện các chương trình an sinh xã hội
5) Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
Đạt yêu cầu tiêu chí số 13 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã;
Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn;
Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh
tế ở nông thôn;
6) Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn
Đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 14 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
7) Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn
Đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia trong lĩnh vực Y tế, đáp
ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
8) Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn
Đạt yêu cầu tiêu chí số 6 và số 16 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
Trang 22Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí
quốc gia nông thôn mới
9) Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y
tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã
Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn;
Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây
xanh ở các công trình công cộng
10) Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, Chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn
Đạt yêu cầu tiêu chí số 18 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới;
Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ tiêu chuẩn về công tác tại xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ ở các vùng này;
Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ
thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới;
11) Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
Đạt yêu cầu tiêu chí số 19 của Bộ tiêu chí Quốc gia nông thôn mới
Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu;
Trang 23Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thiện nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới.
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
1.3.1 Chủ trương, chính sách của nhà nước về xây dựng NTM
Đây là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến việc tổ chức thực hiện chương trình xây dựng NTM; chính sách về xây dựng NTM được đề cập trong
đề tài này được hiểu là một hệ thống các quan điểm, chủ trương, biện pháp nhằm tạo hàng lang, cơ sở pháp lý để tổ chức triển khai thực hiện Chương trình Các quan điểm, chủ trương, biện pháp được thể hiện bằng một hệ thống chính sách, cơ chế cụ thể nhằm hướng việc thực hiện Chương trình đạt được mục tiêu đề ra Vì vậy, việc nghiên cứu hoạch định và ban hành chủ trương chính sách cần phải xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, chính sách phải cụ thể, đồng bộ, chặt chẽ để các cấp, ngành và các địa phương thuận lợi trong chỉ đạo, điều hành và thực hiện
1.3.2 Năng lực tổ chức triển khai xây dựng NTM của đội ngũ cán bộ cơ sở
Là khâu quan trọng, quyết định hiệu quả quá trình xây dựng NTM Từ công tác lập kế hoạch, thẩm định, phê duyệt, giải ngân, giám sát và đánh giá các hoạt động triển khai, công tác tuyên truyền, vận động, huy động và quản lý nguồn lực, Tầm quan trọng đó đòi hỏi người cán bộ ở cơ sở phải có kiến thức và năng lực
tương đối tổng hợp Vì vậy, cần thường xuyên đào tạo, nâng cao năng lực trình độ
cho đội ngũ cán bộ các cấp làm công tác xây dựng NTM; đây cũng là một trong 19 tiêu chí cần phải đạt được trong mục tiêu xây dựng NTM
1.3.3 Nhận thức của người dân và cộng đồng dân cư
Người dân đóng vai trò chủ thể trong xây dựng NTM Vì vậy, nếu nhận thức của người dân và cộng đồng được nâng cao, họ hiểu được mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của chương trình xây dựng NTM thì họ sẽ tham gia và ủng hộ cho Chương trình và ngược lại Chính vì vậy, cần đẩy mạnh và làm tốt công tác tuyên truyền, vận động xây dựng NTM đồng thời chính quyền cấp xã cần tạo điều kiện để mỗi người dân và cộng đồng phát huy được được vai trò chủ thể của họ
Trang 241.3.4 Khả năng huy động và quản lý nguồn vốn thực hiện Chương trình
Xây dựng NTM là một quá trình chứ không đơn thuần là một chương trình,
dự án đầu tư mà là một công trình đồ sộ và để thành công cần rất nhiều kinh phí Vì vậy, cần phải huy động, tổng hợp được nhiều nguồn lực xây dựng NTM Khả năng huy động vốn ở mỗi địa phương là khác nhau tuy nhiên ngoài tranh thủ nguồn vốn ngân sách cần phải tận dụng tối đa nguồn vốn của doanh nghiệp, tín dụng và đặc biệt là sự đóng góp công sức, tiền của người dân và cộng đồng Nơi nào huy động được nhiều nguồn lực thì triển khai thuận lợi và ngược lại Bên cạnh việc huy động được các nguồn lực thì việc quản lý nguồn lực xây dựng NTM cũng rất quan trọng
để bảo toàn, phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn trong xây dựng NTM;
1.3.5 Cơ chế giải ngân vốn nhà nước hỗ trợ cho các dự án do nhóm thợ và cộng đồng dân cư tự thực hiện
Đây là điểm mấu chốt, cơ chế này liên quan đến việc cấp vốn đầu tư, các thủ tục tạm ứng, thanh quyết toán Mặt khác cần đảm bảo phát huy cao độ các nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước, sự tài trợ của các tổ chức, doanh nghiệp, HTX, huy động sức dân và cộng đồng Trong điều kiện dân còn nghèo sự đóng góp có thể không phải bằng tiền mà bằng sức lực và hiện vật thông qua khai thác và sử dụng các nguyên liệu địa phương Vì vậy, cơ chế thanh quyết toán các nội dung, hạng mục của chương trình cần gọn nhẹ, đơn giản tránh rườm rà, phức tạp (Cổng thông tin điện tử huyện Phù Ninh, 2015)
1.4 Cơ sở thực tiễn về xây dựng NTM
1.4.1 Kinh nghiệm về phát triển nông thôn ở các nước trên thế giới
1.4.1.1 Ở Hàn Quốc
Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo
Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó và hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu
tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong
Trang 25trào SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân
Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau 8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong
8 năm từ 1971 - 1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631 km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322 m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220 km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839 km đê, kè, xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào
Ông Le Sang Mu, cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về nông, lâm, ngư nghiệp cho biết: Chính phủ hỗ trợ một phần đầu tư hạ tầng để nông thôn tự mình vươn lên, xốc lại tinh thần, đánh thức khát vọng tự tin Thắng lợi đó được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn
Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn - phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước bỏ ra 1 vật
tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình
Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa
Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác định nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào SU là đội ngũ cán bộ cơ sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu
Trang 26Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập hội đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương
Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc đã thiết lập lại các hợp tác xã (HTX) kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân, cán
bộ HTX do dân bầu chọn
Thứ sáu, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh toàn dân Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp, hỗ trợ giống, tập huấn cán bộ kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng rừng để hướng dẫn và yêu cầu tất cả chủ đất trên vùng núi trọc đều phải trồng rừng, bảo vệ rừng
Phong trào SU của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành cộng đồng NTM ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở thành
xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào SU
đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có (Tưởng Kiến Chung, 2009)
1.4.1.2 Ở Thái Lan
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn
có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh
Trang 27học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ một số chính sách sau:
- Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi làng một sản phẩm và chương trình Quỹ làng
- Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm Năm
2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thế giới” Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến
và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an
Trang 28toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Do
đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận
- Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Trong tiếp cận thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của Cục Xúc tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng việc xúc tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều cơ quan cùng thực hiện Chẳng hạn, trong Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng với Cục Xúc tiến nông nghiệp, Cục Hợp tác xã giúp nông dân xây dựng hợp tác xã để thực hiện các hoạt động, trong đó
có chế biến thực phẩm; Cục Thủy sản giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thủy sản Cơ quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp xúc tiến tiêu chuẩn hoá và hệ thống chất lượng; Cơ quan Phát triển công nghệ và khoa học quốc gia xúc tiến việc áp dụng khoa học và công nghệ cho chế biến; Bộ Đầu tư xúc tiến đầu tư vào vùng nông thôn (Nguyễn Hoàng Sa, 2014)
1.4.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
1.4.2.1 Cơ sở pháp lý xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Qua 5 năm triển khai chương trình, hệ thống chính sách về xây dựng nông thôn mới đến nay tương đối đầy đủ, đồng bộ và được thể chế qua hơn 24 văn bản (01 Nghị quyết của Quốc hội, 02 Nghị định của Chính phủ, 10 Quyết định và 01 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, 07 thông tư hướng dẫn các Bộ, ngành liên quan)
Cụ thể:
Trang 29- Nghị Quyết số 26/TW ngày 05/8/2008 của BCH Trung ương Đảng (Khóa X) về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”
- Quyết định số 491/TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
- Thông tư số 54/2009/TT-BNNN&PTNT ngày 21/8/2009 của Bộ NN&PTNT hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
- Quyết định số 800/ QĐ - TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-20120
- Quyết định số 22-QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Phát triển văn hóa nông thôn đến năm 2015, định hướng đến năm 2020”;
- Nghị định số 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ về “Chính sách tín dụng phục
vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn” để chỉ đạo các chi nhánh, ngân hàng thương mại các tỉnh, thành phố bảo đảm tang cường nguồn vốn tín dụng xây dựng NTM tại các xã
- Nghị định 61/2010/NĐ-CP về khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
- Quyết định 1620/QĐ-TTg ngày 20/9/2011 ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới”
- Quyết định số 27/QĐ-TTg ngày 05/1/2012 Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015
- Thông tư số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHDT-BTC ngày 13/4/2011 hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 06/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-20120
- Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 8/6/2012 sửa đổi nguyên tắc có chế hỗ trợ vốn thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 - 2020
- Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 Sửa đổi một số tiêu chí của
bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
Trang 30- Thông tư số 51/2013/TTLT-BNNPTNT-BKHDT-BTC ngày 02/12/2013 sửa đổi bổ sung một số điều của thông thư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHDT-BTC hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 06/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-20120
- Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 21/3/2013 bổ sung cơ chế đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020
- Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04/10/2013 hướng dẫn thực hiện
bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
- Thông tư số 40/2014/BNNPTNT ngày 13/11/2014 hướng dẫn trình tự, thủ tục, hồ sơ xét công nhận và công bố xã, huyện, tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới
- Thông tư 55/2014/TT-BNNPTNT ngày 31/12/2014 hướng dẫn triển khai một số hoạt động bảo vệ môi trường trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020
- Thông tư số 03/2013/TT-BKHĐT ngày 07/8/2013 hướng dẫn thực hiện Quyết định 498/QĐ-TTg ngày 21/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ bổ sung có chế đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020
- Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 15/7/2015 về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
- Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020
- Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 quyết về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020
- Thông tư số 05/2017/TT-BNNPTNT ngày 01/3/2017 hướng dẫn một số nội dung thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia XD NTM giai đoạn 2016 - 2020 (Chính Phủ, 2016)
1.4.2.2 Một số địa phương sớm đạt được mục tiêu xây dựng nông thôn mới
Lai Châu là một tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu sổ, tỷ lệ hộ nghèo cao trong giai đoạn 2011 - 2015, vượt qua những khó khăn, thách thức của một tỉnh
Trang 31vùng cao biên giới, tỉnh Lai Châu là một trong ba địa phương có bước đột phá trong xây dựng nông thôn mới khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc
Năm 2011, tỉnh Lai Châu bắt đầu triển khai thực hiện xây dựng NTM tại các
xã với xuất phát điểm thấp như tỷ lệ hộ nghèo cao, thu nhập bình quân khu vực nông thôn đạt 605.000 đồng/người/tháng; bình quân tiêu chí NTM qua đánh giá toàn tỉnh đạt 2,68 tiêu chí/xã
Trong công tác tuyên truyền vận động, Lai Châu xác định nông dân là chủ thể trong xây dựng NTM Ngay từ những ngày đầu triển khai, các cấp, ngành ở Lai Châu đặc biệt quan tâm đến công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn Từ năm 2011 đến nay, tỉnh Lai Châu đã tổ chức được gần 100 lớp tập huấn, đào tạo nâng cao năng lực cho hơn 6.275 lượt cán bộ làm công tác xây dựng NTM từ cấp tỉnh đến cấp xã và thôn bản; xây dựng và in ấn 3.000 cuốn sổ tay về xây dựng NTM cùng trên 70.000 tờ rơi, pa
nô và áp phích Phát động các phong trào “Nhân dân các dân tộc tỉnh Lai Châu chung sức xây dựng NTM”; “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”…
Qua 5 năm thực hiện, đến nay tỉnh Lai Châu đã triển khai xây dựng NTM tại
96 xã Với sự nỗ lực quyết tâm của các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể và nhân dân các dân tộc, Chương trình NTM đạt được nhiều kết quả tích cực Nhân dân trên địa bàn đã hiến trên 203.000 m2 đất; hơn 18.800 m3 cát, đá, sỏi…; tính đến hết tháng 6/2015, toàn tỉnh có 91/93 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, liên xã; 22/96 xã đạt tiêu chí giao thông; 38/93 xã có hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh Bình quân tiêu chí chung toàn tỉnh đến hết năm 2015 đạt
11 tiêu chí/xã, tăng 8,12 tiêu chí so với năm 2011 Sơ kết 5 năm thực hiện xây dựng NTM, toàn tỉnh có 15 xã đạt 19 tiêu chí Tổng nguồn vốn đầu tư gần 6.300 tỷ đồng;
tỷ lệ hộ nghèo ở Lai Châu giảm còn 20,48% Lai Châu phấn đấu đến năm 2020, có
từ 45 xã trở lên đạt chuẩn NTM; tiếp tục tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của các cấp chính quyền về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, phát huy sức mạnh các đoàn thể xã hội ở nông thôn; đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện theo hướng tập trung, cải thiện đời sống mọi mặt cho người nông dân; đồng thời chủ
Trang 32động lồng ghép và huy động tối đa các nguồn lực thực hiện xây dựng NTM theo phương châm dựa vào nội lực cộng đồng”
Những kết quả đạt được trong xây dựng NTM ở Lai Châu là những nỗ lực không ngừng của các cấp chính quyền từ tỉnh đến xã, bản Đặc biệt là tỉnh biết phát huy nội lực và đặt người dân làm chủ thể chính là những điều kiện quan trọng để góp phần thắng lợi trong xây dựng NTM giai đoạn vừa qua và những năm tiếp theo (Nguyễn Duy Thứ, 2016, Internet)
1.4.2.3 Một số xã đặc biệt khó khăn hoàn thành chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới
- Tình hình xây dựng nông thôn mới ở xã Bản Sen huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai
Năm 2011 khi mới thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM, xã Bản Xen gặp không ít khó khăn khi kinh tế địa phương chủ yếu là thuần nông, xuất phát điểm còn thấp, ngành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển, tỷ lệ hộ nghèo còn cao 44%; hệ thống kênh mương thủy lợi xã mới kiên cố hóa được hơn 20%, chưa đảm bảo được phục vụ sản xuất Bên cạnh đó, người dân trong xã chưa nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong công cuộc xây dựng Đây là một trở ngại lớn của xã trên bước đường xây dựng và phát triển NTM
Từ khó khăn ban đầu nhưng với quyết tâm cao của cấp ủy chính quyền địa phương;
sự đoàn kết, nhất trí một lòng của người dân trong quá trình thực hiện; sự linh hoạt, sáng tạo, không khuân mẫu mà dựa vào tình hình thực tế của địa phương để triển khai công việc cho hiệu quả; biết tận dụng, tranh thủ các nguồn lực sẵn có ở địa phương và từ các tổ chức, đơn vị để hoàn thành các tiêu chí NTM, không chỉ đạt mà đạt vững chắc và duy trì lâu dài
Xã Bản Xen được chọn làm điểm XDNTM giai đoạn 5 năm 2011-2015 đến nay xã đã về đích đạt 18/19 tiêu chí là: (Quy hoạch và thực hiện quy hoạch; Giao thông; Thủy lợi; Điện; Trường học; Cơ sở vật chất văn hóa; Bưu điện; Nhà ở dân cư; Thu nhập; Hộ nghèo; Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên; Hình thức tổ chức sản xuất; Giáo dục; Y tế; Văn hóa; Môi trường; Hệ thống tổ chức chính trị xã hội; An ninh trật tự xã hội) Riêng tiêu chí số 7 về Chợ nông thôn có sự điều chỉnh
Trang 33của Tỉnh về quy hoạch xây dựng chợ thực hiện sang giai đoạn 2016-2020 Do vậy, năm 2015 xã Bản Xen đã về đích NTM đúng kế hoạch Nông thôn mới đồng nghĩa với một cuộc sống mới, cách làm mới trong phát triển kinh tế, người dân được hưởng thụ các thiết chế văn hóa-thể thao; an ninh trật tự ổn định, thu nhập của người dân được nâng lên
Để đạt được thành công trong XD NTM, cấp ủy chính quyền xã Bản Xen đều có chung khẳng định là công tác tuyên truyền; nên ngay từ khi bắt đầu triển khai xây dựng NTM, xã Bản Xen đã xây dựng kế hoạch tuyên truyền cụ thể, chi tiết tới từng thôn, bản Các ban, ngành, đoàn thể cùng vào cuộc: Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Mặt trận tổ quốc, Hội nông dân xã thường xuyên phối hợp với Đài truyền thanh - truyền hình huyện trong việc tuyên truyền, nêu gương người tốt, việc tốt,
mô hình và cách làm hay, sáng tạo trong xây dựng NTM để phát trên loa phát thanh
xã Từ đó, đã làm chuyển biến rõ nét về nhận thức, tư duy của cán bộ, đảng viên và người dân Trong các cuộc họp giao ban, UBND xã cũng nghiêm túc đánh giá những việc đã làm được, những điểm còn vướng mắc và lên kế hoạch cụ thể của tháng tiếp theo để đôn đốc, chỉ đạo kịp thời Đồng thời, việc giành ngày thứ bảy, chủ nhật xuống với cơ sở của các thành viên trong BCĐ XDNTM xã đã trở thành thông lệ Từ trực tiếp kiểm tra việc thực hiện các tiêu chí đến tham gia các cuộc họp thôn, bản, qua đó đã kịp thời uốn nắn, giúp cơ sở tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đem lại nhiều hiệu quả thiết thực
Với quan điểm không làm thay, tạo sức mạnh tại chỗ, xác định người dân làm chủ thể trong xây dựng NTM, lấy nền tảng sức dân là cơ bản, BCĐ NTM xã đã định hướng, phân định những phần việc cụ thể, việc nào dân làm, việc nào nhà nước
hỗ trợ; việc nào nhà nước và nhân dân cùng làm; dễ làm trước, khó làm sau và triển khai đến tận khu dân cư, từng hộ dân Với cách làm đó xã Bản Xen đã xây dựng quy hoạch đề án xây dựng NTM, tổ chức công bố, công khai quy hoạch cho nhân dân Trên cơ sở quy hoạch được phê duyệt, Ban Chỉ đạo xã đã xác định lộ trình cho từng thôn, trong đó ưu tiên những thôn có điều kiện thuận lợi trước Xã chọn 2 thôn: Na Nối và Thịnh Ổi là 2 thôn làm điểm về XD NTM; quá trình thực hiện
Trang 34NTM xã tập trung chính vào hai khâu đột phá là: Xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng và Đẩy mạnh các chương trình sản xuất nông nghiệp
Là xã thuần nông, hệ thống đường giao thông rộng, đóng vai trò quan trọng trong việc đi lại và vận chuyển nông sản của người dân nên việc phải làm trước tiên của Bản Xen khi thực hiện xây dựng NTM là tập trung nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng đường GTNT, hệ thống kênh mương thủy lợi phục vụ sản xuất, hệ thống đảm bảo vệ sinh môi trường và các thiết chế văn hóa Trong 5 năm, Bản Xen đã ưu tiên lồng ghép các chương trình với tổng vốn huy động trên 17 tỷ đồng để tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân, xóa đói giảm nghèo Nhiều tuyến đường thôn, bản bùn lầy, nhỏ hẹp, trụ
sở làm việc, nhà văn hóa thôn, trạm y tế xuống cấp trước đây, địa phương đã tích cực triển khai cơ chế hỗ trợ của Nhà nước về xi măng, huy động nội lực theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” 5 năm qua về đường GTNT xã đã đầu tư xây dựng, dải nhựa cấp phối, đổ bê tông được nhiều tuyến đường liên xã, liên thôn Nhiều công trình thủy lợi, 111 đập đầu mối đã đáp ứng được nhu cầu nước trong sản xuất; 14/14 thôn, bản có nhà văn hóa được đầu tư xây dựng theo chuẩn của Bộ văn hóa thể thao và du lịch, giúp người dân có nơi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, hội họp 3 trường: Mầm non, Tiểu học và THCS đạt chuẩn quốc gia, trong đó có trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức độ 2; 1 trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; 99,7% số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia Cùng với đó, xã chú trọng thực hiện tiêu chí môi trường, đến nay trên 88% số hộ dân trong xã được sử dụng nước hợp vệ sinh; 14/14 thôn, bản có tổ thu gom và xử lý chất thải Các hộ chăn nuôi quy mô lớn đã xây dựng hầm bioga để xử lý chất thải Góp phần bảo vệ môi trường và có nguồn khí đốt đun nấu trong gia đình
Trong XDNTM, Bản Xen luôn phát huy hiệu quả các nguồn lực sẵn có của địa phương, kết hợp lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình của tỉnh, của huyện Xã nhận được sự đỡ đầu của Đảng ủy khối doanh nghiệp, khối các cơ quan Tỉnh Lào Cai hỗ trợ hơn 100 triệu đồng về làm đường giao thông nông thôn, xây nhà ở cho hộ nghèo Bà con trong xã đóng góp tiền mặt được hơn 3
tỷ đồng, trên 4.700 ngày công lao động tham gia làm đường GTNT, tu sửa kênh
Trang 35mương thủy lợi, sửa chữa điểm văn hóa, các công trình phúc lợi khác trên địa bàn Hiến được 21.420m2 đất và hàng nghìn cây cối, tài sản, hoa màu Tổng nguồn xã hội hóa trong nhân dân quy ra tiền được trên 5 tỷ đồng
Cùng với hạ tầng cơ sở và điều kiện môi trường được cải thiện, việc phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao và chuyên môn hóa cũng là yếu tố giúp Bản Xen "cán đích" xã NTM Xã đã quy hoạch thành các vùng sản xuất hàng hóa như: Vùng sản xuất lúa đặc sản Séng Cù, vùng chè chất lượng cao, vùng ngô lại hàng hóa, rau vụ đông, chuyển đổi những diện tích đất ruộng kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản và đầu tư phát triển các trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm với quy mô lớn Kết hợp với đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ cao vào sản xuất Sau 5 năm thực hiện xây dựng NTM: Cơ cấu kinh tế của xã chuyển dịch đúng hướng; thu nhập bình quân đầu người đạt 18 triệu đồng/người/năm, tăng 5 triệu đồng so với năm 2012; tỷ lệ hộ nghèo từ 44 % năm
2011 giảm xuống còn 9% năm 2015 Kết quả trên đã thực sự giúp Bản Xen có diện mạo mới với hệ thống cơ sở hạ tầng được cải thiện và đời sống nhân dân được nâng cao
Việc thực hiện thành công chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới
ở Bản Xen là kết quả của ý Đảng hợp lòng dân Bằng sự chỉ đạo có trọng tâm, lấy nông dân làm hạt nhân và là chủ thể thực hiện chương trình; đồng thời phát huy và lồng ghép có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư từ Nhà nước và cộng đồng dân cư, xã Bản Xen đã huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của nhân dân thực hiện thành công các tiêu chí nông thôn mới, trở thành xã tiêu biểu trong phong trào xây dựng nông thôn mới của huyện Mường Khương Để phát huy những kết quả đạt được, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã sẽ tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng thực hiện các tiêu chí, nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, xây dựng một Bản Xen ngày càng giàu đẹp, văn minh
Kết quả xây dựng NTM đạt được là thành quả xứng đáng cho sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Bản Xen đã vượt qua khó khăn để đưa xã cập đích NTM đúng kế hoạch Mục tiêu của Bản Xen thời gian tới là nâng cao hơn nữa chất lượng các tiêu chí đã đạt được để việc chuẩn hóa diện mạo nông nghiệp nông
Trang 36thôn của xã thực sự là bước đột phá mang tính bền vững (Cổng thông tin điện tử huyện Mường Khương, 2016).
1.4.2.4 Bài học kinh nghiệm ở nước ta về xây dựng NTM
Xây dựng nông thôn cần có sự nhận thức đồng bộ của cả hệ thống chính trị, triển khai quyết liệt nhưng không thể nóng vội, vì đây là chương trình lâu dài, không chỉ đầu tư hạ tầng nông thôn là xong mà đòi hỏi phát huy sức mạnh tổng lực, không chỉ nguồn lực về vật chất mà cả về mặt tinh thần Đặc biệt chú ý đến quy hoạch đất đai, quy hoạch dân cư và quy hoạch sản xuất Quy hoạch phải dài hạn, ngay cả những quy hoạch đã được phê duyệt cũng cần thường xuyên rà soát lại để đảm bảo chất lượng, tầm nhìn và sự phù hợp với từng địa bàn, gắn với sự phát triển chung của cả huyện, tỉnh và của cả vùng
- Trong quá trình xây dựng NTM người dân phải là chủ thể chính, phải là người có vai trò chủ động trong phong trào xây dựng NTM Tuy nhiên, để người dân thực sự hiểu rõ lợi ích to lớn của Chương trình xây dựng NTM, đòi hỏi phải tăng cường công tác tuyên truyền; triển khai hiệu quả phong trào thi đua “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng NTM” và “Cả nước chung sức xây dựng NTM” ở tất cả các cấp, ngành và địa phương
- Bên cạnh đó cần thay đổi nhận thức của mỗi người dân trong việc xây dựng NTM Mỗi người nông dân có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống sạch từ nhà ra đồng, đẹp từ nhà ra vườn… Có như vậy, bộ mặt NTM từng ngày thay đổi đẹp đẽ hơn
- Chú trọng tổ chức lại sản xuất, quy hoạch lại sản xuất nông nghiệp, khuyến khích tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh, đào tạo nghề, nâng cao thu nhập cho người dân
Trang 37Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi
2.1.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc thực hiện chương trình xây dựng NTM ở 21 và các xã ĐBKK trên địa bàn huyện Na Rì - tỉnh Bắc Kạn
2.1.2 Phạm vi
- Về nội dung: Nghiên cứu, tổng kết cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng NTM, những nhân tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng NTM ở các xã ĐBKK
- Về không gian: nghiên cứu chung toàn bộ 21 xã, tuy nhiên chọn điểm là 03
xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện Na Rì, Tỉnh Bắc Kạn
- Về thời gian:
+ Số liệu thứ cấp lấy từ năm 2011 đến năm 2016, số liệu sơ cấp được điều tra năm 2016
+ Thời gian thực hiện đề tài từ 10/2016-07/2017
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm cơ bản của huyện Na Rì
- Thực trạng việc thực hiện xây dựng nông thôn mới tại các xã ĐBKK trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, So sánh tiến độ thực hiện nông thôn mới ở các
xã khu vực I, II với các xã khu vực III của huyện
- Những nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng nông thôn mới tại các xã đặc biệt khó khăn
- Phân tích những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức liên quan đến xây
dựng nông thôn mới ở các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện
- Các giải pháp đề xuất nhằm đẩy nhanh tiến độ công tác triển khai chương trình nông thôn mới tại các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện Na Rì
Trang 382.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp tiếp cận
2.3.1.1 Tiếp cận hệ thống
Quá trình xây dựng NTM được triển khai theo các bước tuần tự và có tính hệ thống cao từ bước này sang bước khác Vì vậy tiếp cận hệ thống được sử dụng để làm rõ các nội dung trong các quy trình hướng dẫn đặc biệt là trong hướng dẫn về quy hoạch và công tác lập kế hoạch
2.3.1.2 Tiếp cận theo quá trình
Do tính chất của xây dựng NTM là một quá trình lâu dài, phức tạp và phải huy động nhiều nguồn lực khác nhau nên việc hướng dẫn xây dựng NTM sẽ phải bám theo từng giai đoạn trong quá trình đó Sử dụng tiếp cận này sẽ giúp phân tích đầu vào, đầu ra của quá trình, các hoạt động trong giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn triển khai, giai đoạn theo dõi giám sát,
2.3.1.3 Tiếp cận từ dưới lên
Tiếp cận từ các địa phương trong quá trình triển khai thực hiện chương trình, thực trạng Chương trình xây dựng NTM tại các xã ĐBKK Từ đó đưa ra những vấn
đề góp phần củng cố hoàn thiện những vấn đề lý luận về thực hiện chương trình NTM Những tồn tại hạn chế; kiến nghị đề xuất nhằm hoàn thiện chủ trương chính sách của tỉnh, huyện về Chương trình xây dựng NTM
2.3.1.4 Tiếp cận có sự tham gia
Sử dụng xuyên suốt ở tất cả các lĩnh vực, các hoạt động của đề tài (từ việc điều tra, khảo sát và đánh giá thực trạng triển khai xây dựng NTM đến việc xác định các giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện) Trong đó, nhấn mạnh sự tham gia của các chủ thể như: cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức chính trị xã hội, cơ quan có liên quan trực tiếp đến Chương trình xây dựng NTM
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu
2.3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
- Trong nghiên cứu tôi lựa chọn 3 xã (Côn Minh, Quang Phong và xã Lam Sơn đại diện cho 13 xã đặc biệt khó khăn của huyện
- Các đối tượng khảo sát: Nông dân; cán bộ làm công tác xây dựng NTM ở
Trang 39xã, huyện; đội ngũ chuyên gia được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên để tiến hành điều tra, lấy ý kiến nhận xét đánh giá.
2.3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
+ Số liệu, tài liệu thứ cấp:
Số liệu, tài liệu thứ cấp bao gồm các vấn đề lý luận về NTM, các chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước, của tỉnh, thành phố có liên quan, kinh nghiệm về xây dựng NTM của các quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, báo cáo của các bộ ngành liên quan, báo cáo tổng kết của tỉnh, huyện và các xã; các sở, ban, ngành có liên quan, các tài liệu, thông tin qua sách báo, tạp chí, niên giám thống kê, … sẽ được tổng hợp và hệ thống hóa
+ Số liệu sơ cấp:
Thông tin, số liệu sẽ được tiến hành thu thập thông qua: điều tra các đối tượng
ở trên (liên quan đến tình hình thực hiện Chương trình xây dựng NTM ở địa bàn nghiên cứu) theo phương pháp điều tra xã hội học và phỏng vấn, bộ công cụ PRA (điều tra, đánh giá có sự tham gia sẽ được phối hợp sử dụng khi tiến hành điều tra)
Số liệu sơ cấp sẽ được tính toán, phân tích để làm rõ về thực trạng triển khai thực hiện Chương trình xây dựng NTM ở các xã ĐBKK trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Điểm nghiên cứu, cũng như số lượng cụ thể đối tượng tiến hành điều tra được lựa chọn minh họa cụ thể như bảng dưới đây:
Bảng 2.1 Phân bổ mẫu điều tra
điều tra
Cán bộ làm công tác NTM
Số cán bộ thôn
Số cán
bộ xã
Chuyên gia
- Đối với số liệu thứ cấp, sau khi thu thập sẽ tiến hành tổng hợp và lựa chọn
số liệu có liên quan đến đề tài phục vụ cho công tác nghiên cứu
Trang 40- Đối với số liệu sơ cấp, sau khi thu thập sẽ tiến hành tổng hợp và xử lý số liệu điều tra theo mục tiêu nghiên cứu qua sự trợ giúp của phần mềm Excel Căn cứ kết quả xử lý tiến hành tổng hợp kết quả điều tra theo các chỉ tiêu phân tích, so sánh
và rút ra những kết luận từ thực tiễn
2.3.2.4 Phương pháp phân tích
Các phương pháp phân tích (thống kê mô tả, thống kê phân tích, chuyên gia), nội dung và mục tiêu sau khi thu thập số liệu, tiến hành rà soát số liệu, loại bỏ những biểu, những phiếu thu thập thông tin không đáng tin cậy Các tài liệu thứ cấp được sắp xếp cho từng nội dung nghiên cứu của đề tài Số liệu điều tra được xử lý qua phần mềm Excel
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Bên cạnh các chỉ tiêu đưa ra để làm rõ đặc điểm địa bàn nghiên cứu thì các chỉ tiêu của phần kết quả nghiên cứu nhằm phân tích, đánh giá thực trạng, các nội dung của việc thực hiện Chương trình xây dựng NTM tại các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn bao gồm các nhóm chỉ tiêu sau:
2.4.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nguồn vốn thực hiện Chương trình
- Tổng nhu cầu kinh phí;
- Nguồn vốn được phân bổ, vốn huy động từ các nguồn khác
2.4.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh về tổ chức bộ máy, cách thức triển khai thực hiện Chương trình
- Số người trong Ban Chỉ đạo cấp huyện;
- Số người trong Tổ công tác giúp việc cho Ban Chỉ đạo cấp huyện;
- Số xã thành lập BQL xây dựng NTM; số người trong Ban quản lý;
- Số thôn thành lập Ban phát triển nông thôn mới; số người trong Ban;
- Số xã lập tổ khảo sát cấp xã, khảo sát cấp thôn;
- Kết quả khảo sát đánh giá;
- Số xã lập nhiệm vụ quy hoạch;
- Số xã lấy ý kiến đóng góp cho quy hoạch, đề án;
- Số quy hoạch, đề án được duyệt
2.4.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới
Mức độ đạt được các tiêu chí NTM