Phân loại tín dụng ngân hàng Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, ta có thể phân loại hoạt động tín dụng ngân hàng như sau: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài chính… 1.2.2 Khái
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Kết cấu luận văn 3
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 7
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng 7
1.2.2 Khái niệm tín dụng ngân hàng trong cho vay 7
1.2 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY 8
1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng trong cho vay 8
1.2.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng trong cho vay 11
1.2.3 Phân loại rủi ro tín dụng trong cho vay [10, tr 20] 11
1.2.4 Những căn cứ chủ yếu để xác định rủi ro tín dụng trong cho vay 12 1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát sinh rủi ro tín dụng [9] 15
1.2.6 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng 17
1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY 18
1.3.1 Khái niệm 18
1.3.2 Mục đích của công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay 19
1.3.3.Nội dung quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35
Trang 5CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN
DỤNG TRONG CHO VAY TẠI ABBANK ĐÀ NẴNG 36
2.1 GIỚI THIỆU VỀ ABBANK 36
2.1.1 Giới thiệu chung 36
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của ABBANK Đà Nẵng 40
2.2 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN TẠI ABBANK ĐÀ NẴNG 43
2.2.1 Tình hình hoạt động cho vay ngắn hạn 43
2.2.2 Tình hình nợ quá hạn, nợ xấu trong cho vay ngắn hạn tại ABBANK Đà Nẵng năm 2014 - 2016 45
2.2.3 Rủi ro tín dụng trong các loại hình cho vay 45
2.2.4 Những nguyên nhân chủ yếu gây rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn tại ABBANK Đà Nẵng thời gian qua 47
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY TẠI ABBANK ĐÀ NẴNG 52
2.3.1 Phân quyền trong quản trị rủi ro tín dụng tại ABBANK Đà Nẵng52 2.3.2 Thực trạng công tác nhận diện rủi ro trong cho vay tại chi nhánh 53
2.3.3 Thực trạng đo lường rủi ro tín dụng trong cho vay 55
2.3.4 Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay 56
2.3.5 Tài trợ rủi ro tín dụng 62
2.3.6 Đánh giá công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn tại ABBANK Đà Nẵng 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY NGẮN HẠN TẠI ABBANK ĐÀ NẴNG 69
Trang 63.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN VÀ MỤC TIÊU QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY NGẮN HẠN
TẠI ABBANK GIAI ĐOẠN 2018 – 2020 69
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY NGẮN HẠN TẠI ABBANK ĐÀ NẴNG 71
3.2.1 Hoàn thiện công tác nhận dạng rủi ro 71
3.2.2 Hoàn thiện công tác đo lường rủi ro 79
3.2.3 Hoàn thiện công tác kiểm soát rủi ro 83
3.2.4 Hoàn thiện công tác tài trợ rủi ro 98
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 101
3.3.1 Đối với Ngân hàng Nhà nước 101
3.3.2 Đối với ABBANK Đà Nẵng Hội sở 103
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 105
KẾT LUẬN 106 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Tình hình huy động vốn tại ABBANK Đà Nẵng
2.6 Cơ cấu nợ xấu tại ABBANK Đà Nẵng 2014 – 2016 44
3.1 Bảng Pareto về nguyên nhân trả nợ quá hạn giai đoạn
3.2 Xếp hạng mức độ rủi ro và xác suất xuất hiện của danh
mục rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn 79
3.4 Bảng kết hợp kết quả xếp hạng khách hàng và TSĐB 82
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
2.1 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quán lý tại ABBANK Đà
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của hệ thống NHTM Việt Nam, hoạt động này đã và đang mang lại nguồn thu nhập lớn cho các ngân hàng, tuy nhiên rủi ro của hoạt động này mang lại cũng không nhỏ Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với các ngân hàng thương mại thường rất lớn, làm gia tăng chi phí, thu nhập lãi bị chậm hoặc mất đi cùng với sự thất thoát của vốn vay, làm xấu đi tình hình tài chính cuối cùng làm tổn hại đến uy tín và vị thế của ngân hàng Trước bối cảnh hoạt động kinh doanh của các NHTM thời gian qua gặp nhiều khó khăn, mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt, buộc các ngân hàng nới lỏng các chính sách cho vay, bỏ qua các bước kiểm tra, rà soát, thẩm định…Bên cạnh đó, tình hình kinh tế còn diễn biến phức tạp và chưa có dấu hiệu phục hồi, sức mua trong nước suy giảm, hàng tồn kho tăng, các đơn vị doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ngừng hoạt động, phá sản, giải thể ngày càng nhiều, kéo theo tình trạng thất nghiệp, thu ngân sách nhà nước cũng suy giảm Điều này đã làm cho rủi ro tín dụng trở nên phức tạp, tác động đến sự
an toàn của hệ thống ngân hàng
Rủi ro tín dụng trong cho vay luôn tồn tại và nợ xấu là một thực tế hiển nhiên ở bất kỳ ngân hàng nào như lời P.Volker cựu chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) từng phát biểu: “Nếu ngân hàng không có những khoản vay tồi thì đó không phải là hoạt động kinh doanh” Chính vì những lí do đó mà hoạt động quản trị rủi ro tín dụng là một yêu cầu cấp thiết được đặt ra nhằm quản lý và hạn chế rủi ro ở mức có thể chấp nhận được so với mức lợi nhuận
kỳ vọng
Để có thể khẳng định vị thế và nâng cao hiệu quả hoạt động, Ngân Hàng TMCP An Bình Chi nhánh Đà Nẵng đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng một
Trang 11mô hình quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả, phù hợp Xuất phát từ nhu cầu cấp
thiết này, đó là lý do tôi chọn đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần An Bình chi nhánh Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Những vấn đề lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP An Bình Chi nhánh Đà Nẵng Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP An Bình Chi nhánh Đà Nẵng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhận dạng, đo lường, phân tích các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng và đề ra các giải pháp nhằm hạn chế, phòng ngừa rủi ro tín dụng trong cho vay tại Ngân Hàng TMCP An Bình Chi nhánh Đà Nẵng
Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu giữa lý luận và thực tế nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, thực trạng quản trị rủi ro tín dụng của Ngân Hàng TMCP An Bình Chi nhánh Đà Nẵng trong giai đoạn từ 2014 – 2016, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro tín dụng tại chi nhánh
4 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: sử dụng số liệu dự trên báo cáo thống kê của Ngân hàng TMCP An Bình Chi nhánh Đà Nẵng; lý thuyết tài chính tiền tệ; lý thuyết quản trị ngân hàng thương mại, quản trị rủi ro…
Trang 12 Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp thống kê, phương pháp
so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp chuyên gia …
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hệ thống hóa được những vấn đề cơ bản về tín dụng và rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại, về quy trình quản trị rủi ro tín dụng cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro tín dụng hệ thống ngân hàng thương mại
Tổng hợp, phân tích, đánh giá nguyên nhân gây ra rủi ro và thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay tại Ngân Hàng TMCP An Bình Chi nhánh Đà Nẵng
Luận văn đã đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trong bối cảnh và điều kiện đặc thù tại chi nhánh Đà Nẵng
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn tại Ngân Hàng TMCP An Bình Chi nhánh Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn tại Ngân Hàng TMCP An Bình Chi nhánh Đà Nẵng
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Việc nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM cần được tiến hành nghiên cứu một cách logic, khoa học Để hoàn thành luận văn, tác giả đã tiến hành thu thập dữ liệu, thông tin, tìm hiểu cách tiếp cận, giải quyết vấn đề của các tài liệu có nội dung tương tự đã được công nhận Để từ đó tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra nền tảng cho quá trình hoàn thành luận văn Trong
Trang 13quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thực tiễn liên quan đến đề tài, tác giả đã tham khảo một số tài liệu sau:
- Trần Thị Thanh Huyền(2011), Quản trị rủi ro tín dụng doanh nghiệp theo mức độ rủi ro khách hàng- kinh doanh quốc tế, Tạp chí ngân hàng, (7), tr 60-70
Bài báo đề cập đến cách tiếp cận quản trị rủi ro danh mục tín dụng doanh nghiệp căn cứ trên mức độ rủi ro tín dụng Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong quản trị tín dụng, góp phần tăng cường chất lượng tín dụng của danh mục tín dụng nói chung, Công cụ quan trọng để thực hiện điều này là hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng và ước tính tổn thất rủi ro tín dụng
- Phạm Thị Nguyệt, Hà Mạnh Hùng (2011), Nguyên nhân và những biểu hiện ủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại, Tạp chí ngân hàng, (9), tr.29-
33 Báo cáo nêu những nghiên cứu về nguyên nhân của rủi ro tín dụng và một
số dấu hiệu cơ bản để nhận diện rủi ro tín dụng
Nguyễn Văn Tiến (2010), Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, NXB Thống Kê Giáo trình này đã giới thiệu một cách khái quát về các loại rủi ro, khái niệm rủi ro, mục đích công tác quản trị rủi ro, nhận dạng đánh giá
và đo lường, kiểm soát và tài trợ rủi ro trong kinh doanh ngân hàng trong đó
có rủi ro tín dụng
Nguyễn Minh Kiều (2006), Tín dụng và thẩm định tín dụng ngân hàng, NXB Tài chính Giáo trình đã đề cập đến các vấn đề về tính dụng và việc xếp hạng tín dụng doanh nghiệp
Nguyễn Minh Kiều (2007), Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, NXB Thống Kê Cuốn giáo trình giúp người đọc nắm bắt được các nghiệp vụ cấp tín dụng ngân hàng trong phần 3 và các nghiệp vụ quản lý rủi ro trong phần 6 của cuốn sách
Trang 14 Trần Huy Hoàng (2007), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Lao động xã hội Cuốn giáo trình sử dụng kỹ thuật tiên tiến về quản trị ngân hàng
ở các nước phát triển vào thực tế hệ thống ngân hàng Việt Nam về quản trị vốn, rủi ro
Các tài liệu trên giúp người đọc nắm bắt được về nghiệp vụ ngân hàng, quản trị rủi ro tín dụng, từ đó làm căn cứ để làm cơ sở lý luận thực hiện Luận văn tốt nghiệp
Đỗ Thùy Dung (2009), “Rủi ro tín dụng – một cách tiếp cận lượng hóa”, Tạp chí ngân hàng, (số 11 tháng 06 năm 2009)
Trong tài liệu này, tác giả Đỗ Thùy Dung đã nêu ra một số phương pháp
để đo lường rủi ro tín dụng, ưu nhược điểm của từng phương pháp Luận văn
đã kế thừa các cách tiếp cận lượng hóa này nhằm áp dụng và giải quyết một
số vấn đề còn tồn tại trong công tác đo lường rủi ro tín dụng tại chi nhánh
Dương Hữu Hạnh (2013), Quản trị rủi ro ngân hàng trong nền kinh tế toàn cầu, NXB Lao Động, Hà Nội
Trong tài liệu này, tác giả Dương Hữu Hạnh đã nêu ra một số vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng và một số biện pháp nhằm hạn chế rủi ro Tuy nhiên, tài liệu này chủ yếu nêu ra các trích dẫn của một số công trình nghiên cứu trước
đó như Risk Management in Banking (2010) của Joll Besiss và các bài báo về lĩnh vực tài chính ngân hàng mà chưa chú trọng đi sâu phân tích các vấn đề
Do đó, luận văn chỉ tham khảo một phần trong tài liệu này để phát triển
và phân tích sâu hơn các vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay
Luận văn của tác giả Nguyễn Xuân Văn (2012), Hoàn thiện công tác Quản trị rủi ro tín dụng đối với cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam, Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng, Đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh
Trang 15Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trên cơ sở áp dụng Nguyên tắc Basel trong xây dựng mô hình quản trị rủi ro trong cho vay khách hàng doanh nghiệp Từ những phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro trong cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Vietcombank, đề tài đã đề xuất những giải pháp và kiến nghị cần thiết để hoàn thiện công tác quản trị rủi ro
Trương Hữu Huy (2012), Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông – Chi nhánh Trung Việt, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng
Trong phần lý luận của mình, tác giả Trương Hữu Huy đã khái quát được những nội dung cơ bản như: đặc điểm rủi ro tín dụng, căn cứ xác định rủi ro, nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động ngân hàng và xã hội; Trình bày được khái niệm, nhiệm vụ và quy trình quản trị rủi ro tín dụng Với những lý luận trên, tác giả đã tổng hợp, phân tích được hoạt động quản trị trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại
cổ phần Phương Đông – Chi nhánh Trung Việt Tuy nhiên, tác giả chưa nêu được những thành công và hạn chế, cũng như những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong quản trị rủi ro tín dụng
Từ cơ sở lý luận, thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại chi nhánh, tác giả
đã đưa ra những giải pháp cơ bản cho việc hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng phù hợp với môi trường kinh doanh tại đơn vị
Trang 16CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG
CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Hoạt động tín dụng là việc các tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự
có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác [10, tr 10]
Phân loại tín dụng ngân hàng
Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, ta có thể phân loại hoạt động tín dụng ngân hàng như sau: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài chính…
1.2.2 Khái niệm tín dụng ngân hàng trong cho vay
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
Phân loại cho vay [10, tr 14]
Căn cứ thời hạn cho vay: Theo tiêu thức này, hoạt động cho vay bao
gồm: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn, cho vay dài hạn
Căn cứ vào mục đích cho vay: Cho vay được phân thành: cho vay
phục vụ sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất nông nghiệp, xuất nhập khẩu…
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng: Theo tiêu thức này,
hoạt động cho vay bao gồm: cho vay có tài sản đảm bảo và cho vay không có tài sản đảm bảo
Căn cứ vào đối tượng khách hàng: Cho vay được phân thành: cho
Trang 17vay đối với khách hàng là tổ chức, cho vay đối với khách hàng cá nhân, cho vay đối với hộ gia đình…
Căn cứ vào phương thức cho vay: Theo tiêu thức này, hoạt động cho
vay bao gồm: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành thẻ tín dụng…
Nguyên tắc cho vay
Một là, sử dụng vốn vay đúng mục đích theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng Hai là, hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
1.2 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY
1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng trong cho vay
Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ
ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm
ẩn rủi ro rất lớn Các thống kê và nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm đến 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân hàng Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng, theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có xu hướng giảm xuống và thu dịch vụ có xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm từ ½ đến 2/3 thu nhập ngân hàng (Peter Rose, Quản trị ngân hàng thương mại) Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất ngân hàng P Volker, cựu chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) cho rằng: “Nếu ngân hàng không có những khoản vay tồi thì đó không phải là hoạt động kinh doanh” Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất
Trang 18và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng:
Theo quy định tại Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng
dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN, “rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng
là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.” [6, tr 3]
Theo định nghĩa của Ủy ban Basel: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thoả thuận”; cũng theo Uỷ ban này, một định nghĩa khác có thể nêu ra là “Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng”, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả gốc và/hoặc lãi”
Theo Hennie van Greuning – Ngân hàng thế giới: Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ Theo Peter S.Rose, “một số tài sản của ngân hàng (đặc biệt là các khoản cho vay) giảm giá trị hay không thể thu hồi là biểu hiện của rủi ro tín dụng” Rủi ro tín dụng có thể được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn được tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng Có nghĩa là khả năng khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng cấp cho
họ Hay rủi ro tín dụng là rủi ro mà các dòng tiền được hẹn trả theo hợp đồng (tiền lãi, tiền gốc hoặc cả hai) từ các khoản cho vay và các chứng khoán đầu
Trang 19tư sẽ không được trả đầy đủ
Trong tài liệu “Financial Institutions Management – A Modern Perpective”, A.Saunder và H.Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn
Các định nghĩa khá đa dạng nhưng tựu trung lại chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản của rủi ro tín dụng như sau:
Rủi ro tín dụng xảy ra khi người vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm gốc hoặc lãi Sự sai hẹn có thể là trễ hạn hoặc không thanh toán
Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng
và giảm giá trị thị trường của vốn Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, các ngân hàng thiếu
đa dạng trong kinh doanh các dịch vụ tài chính, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, vì vậy tín dụng được coi là dịch vụ sinh lời chủ yếu và thậm chí gần như là duy nhất, đặc biệt đối với các ngân hàng nhỏ Vì vậy, rủi ro tín dụng cao hay thấp sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
Mặt khác, rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định (lợi nhuận kỳ vọng càng cao, thì rủi ro tiềm ẩn càng lớn)
Rủi ro là một yếu tố khách quan cho nên người ta không thể nào loại trừ hoàn toàn được mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như tác hại do chúng gây ra
Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất, là khả năng, do đó có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất Điều này có nghĩa là
Trang 20một khoản vay dù chƣa quá hạn nhƣng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất, một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhƣng nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ rất cao nếu danh mục đầu tƣ tín dụng tập trung vào một nhóm khách hàng, ngành hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro Cách hiểu này sẽ giúp cho hoạt động quản trị rủi ro tín dụng đƣợc chủ động trong phòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm bảo chống đỡ và bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra
1.2.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng trong cho vay
Rủi ro mang tính gián tiếp: trong quan hệ tín dụng, ngân hàng
chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vay gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn Nói cách khác, những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng vay
đã gián tiếp gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng
Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp : sự đa dạng, phức tạp thể
hiện ở nguyên nhân, hình thức và hậu quả của rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay Do đó, cần chú ý đến mọi dấu hiệu để phòng ngừa rủi ro nhanh
phải cân nhắc giữa lợi nhuận và mức rủi ro có thể chấp nhận đƣợc
1.2.3 Phân loại rủi ro tín dụng trong cho vay [10, tr 20]
a Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro
Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của rủi ro phát sinh do những hạn
chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi
ro giao dịch đƣợc chia làm 3 loại: rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ
Trang 21 Rủi ro lựa chọn (rủi ro xét duyệt) : Quá trình đánh giá, phân tích, lựa chọn khi tác nghiệp chưa tốt
Rủi ro bảo đảm : Là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo
Rủi ro nghiệp vụ (rủi ro kiểm soát) : Là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề
Rủi ro danh mục: Là loại hình rủi ro phát sinh trong quản lý danh
mục cho vay của ngân hàng Rủi ro danh mục vừa mang tính chủ quan, lại vừa tác động của các nhân tố khách quan, bao gồm 2 loại rủi ro:
Rủi ro nội tại (rủi ro cá biệt): Xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
Rủi ro tập trung : Là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành nghề, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
Ngoài ra, còn có nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo cơ cấu các loại hình rủi ro, theo nguồn gốc hình thành, đối tượng sử dụng vốn vay
1.2.4 Những căn cứ chủ yếu để xác định rủi ro tín dụng trong cho vay
Để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng, người ta thường dùng chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu và kết quả phân loại nợ
Hệ số nợ quá hạn:
Trang 22Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi
Phân loại nợ Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 và
Thông tư 09/2014/TT-NHNN ngày 18/03/2014 về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư 02/2013/TT-NHNN của Thống đốc NHNN thì TCTD thực hiện phân loại nợ theo 5 nhóm sau:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn
Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày
Trang 23 Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu)
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày
Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa
bị quá hạn hoặc đã quá hạn
Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý
Ngoài ra theo Quy định 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/04/2005 cũng nêu rõ, thời gian thử thách để chuyển khoản vay quá hạn về trong hạn là 6 tháng đối với khoản nợ trung dài hạn và 3 tháng đối với khoản nợ ngắn hạn kể
từ ngày khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi vay của khoản vay bị quá hạn hoặc khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ
Trang 241.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát sinh rủi ro tín dụng [9]
Bất cứ hoạt động kinh doanh nào trong nền kinh tế thị trường đều gặp rủi
ro Đặc biệt hoạt động kinh doanh của ngân hàng lại là một lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm càng không tránh được những rủi ro Hơn thế nữa, rủi ro luôn tiềm ẩn lớn gây ra những tổn thất xảy ra ngoài ý muốn và ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
a Nhân tố ảnh hưởng từ phía khách hàng vay vốn
Nhân tố từ phía khách hàng là việc khách hàng lừa đảo, sử dụng vốn sai mục đích, trốn tránh trách nhiệm uỷ quyền và bảo lãnh Khi mà khách hàng lừa đảo họ lợi dụng các điểm yếu và kẽ hở của ngân hàng Họ lập các phương
án kinh doanh giả, cùng các giấy tở thế chấp giả mạo hoặc đi vay ở nhiều ngân hàng với cùng một bộ hồ sơ Khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý; Sử dụng vốn sai mục đích, kém hiệu quả; Vốn tự có tham gia vào phương
án sản xuất kinh doanh thấp; Tình hình tài chính yếu kém, thiếu minh bạch; Quản lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu thanh khoản; Công nghệ sản xuất lạc hậu; Thiếu năng lực điều hành; mất đoàn kết trong nội bộ ban điều hành; tham ô, tham nhũng ;
b Nhân tố ảnh hưởng từ phía ngân hàng
Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi nhuận dẫn đến cho vay đầu tư quá liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều vào một lĩnh vực kinh tế
Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ dẫn đến cho vay và đầu tư không hợp lý
Do cạnh tranh giành thị phần, ngân hàng buộc phải nới lỏng các điều kiện cho vay
Nhân viên tín dụng không chấp hành đúng quy trình cho vay, yếu kém
về trình độ nghiệp vụ, vi phạm đạo đức kinh doanh;
Trang 25 Định giá tài sản không chính xác; không thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần thiết; hoặc không đảm bảo các nguyên tắc của tài sản đảm bảo là:
dễ định giá; dễ chuyển nhượng quyền sở hữu; dễ tiêu thụ
Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ ngân hàng
Thiếu giám sát và quản lý trước, trong và sau khi cho vay;
Hệ thống cơ sở vật chất, công nghệ ngân hàng còn yếu kém
c Nhân tố ảnh hưởng từ phía môi trường kinh doanh
Trước hết đó là các vấn đề về chính sách vĩ mô của chính phủ đóng vai trò quyết định đối với hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung và lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tín dụng của ngân hàng thương mại nói riêng
Trong một nền kinh tế, chính phủ ra đưa ra các chính sách tiền tệ và ngân hàng là đơn vị thực hiện các chính sách đó Tuy nhiên, những chính sách
đó có thể có lợi cho ngân hàng, nhưng cũng có thể có hại Khi mà ngân hàng nhà nước thay đổi lãi suất huy động, hoặc tỷ lệ dự trứ bắt buộc… nó làm thay đổi mọi kế hoạch của ngân hàng Khi mà lãi suất huy động tăng lên làm cho ngân hàng gặp khó khăn trong việc cho vay Với mức lãi suất huy động cao thì lãi suất đối với hoạt động tín dụng cũng phải được đẩy lên để đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc khách hàng trả lãi và gốc cho ngân hàng là rất khó, và rủi ro tín dụng cao lên
Tuy nhiên ngoài các yếu tố trên về mặt pháp lý, cũng là một nhân tố ảnh hưởng tới vấn đề rủi ro trong tín dụng Khi mà các quy định về quy trình trong hoạt động tín dụng không được quy định chặt chẽ và hợp lý Nó sẽ không chỉ gây khó khăn cho hoạt động tín dụng, mà còn tạo khả năng rủi ro xảy ra Khi mà quy định hợp lý và chặt chẽ nó sẽ hạn chế được những trường hợp xấu trong hợp đồng tín dụng
Thứ ba, yếu tố chính trị và xã hội tác động tới hoạt động tín dụng của ngân hàng Chúng ta đã từng chứng kiến cuộc khủng hoảng kinh tế của Thái
Trang 26Lan khi có đảo chính trong nội bộ chính phủ Khi mà tình hình chính trị bất
ổn làm sáo trộn mọi vấn đề trong xã hội và cả các hoạt động tín dụng tại ngân hàng Tình trạng này làm cho các doanh nghiệp sản xuất bị gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh, như vậy khả năng thanh toán cho ngân hàng là không thể Vì vậy rủi ro tín dụng khi mà tình hình chính trị bất ổn là rất cao, tuy nhiên nước ta là một nước có nền chính trị xã hội tương đối ổn định
Ngoài các yếu tố trên, còn có các yếu tố tự nhiên như thiên tai, dịch bệnh, bão lũ… Đây là những yếu tố bất khả kháng, yếu tố này không thể lường trước được Bản thân các doanh nghiệp vay vốn cũng không thề dự tính được Trong các năm gần đây chúng ta đều được chứng kiến tai họa xảy đến đối với các doanh nghiệp chăn nuôi, khi mà vốn liếng của họ bị thiêu huỷ hết
do dịch cúm gia cầm Rất nhiều gia đình vay vốn ngân hàng để chăn nuôi nhưng nay bị mất trắng Họ gần như không có khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng Đồng nghĩa với điều đó là việc ngân hàng mất vốn hay rủi ro tín dụng xảy ra
1.2.6 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
RRTD luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và đã gây
ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, và lan rộng trên phạm vi toàn cầu
b Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Khi rủi ro tín dụng xảy ra, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã
Trang 27cấp và lãi cho vay, nhưng vẫn phải trả lãi cho người gửi tiền khi đến hạn, gây mất cân đối thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, chi phí tăng Từ đó, bắt buộc phải thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút, uy tín, sức cạnh tranh giảm không những đối với thị trường nội địa mà còn lan rộng sang các nước, kết quả kinh doanh của ngân hàng ngày càng xấu có thể dẫn đến thua lỗ hoặc đưa đến bờ vực phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời
c Đối với nền kinh tế xã hội
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính, có chức năng huy động vốn nhàn rỗi để cho vay lại, nên khi có rủi ro tín dụng xảy ra thì chẳng những ngân hàng bị thiệt mà quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng Ngoài
ra, khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng sẽ có tác động dây chuyền, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn Khi uy tín của ngân hàng giảm sút, hệ thống ngân hàng không còn khả năng thực hiện chức năng trung gian tài chính thì sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, dẫn đến thất nghiệp Hơn nữa, sự đổ vỡ của ngân hàng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế, làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp và xã hội mất ổn định
1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY
1.3.1 Khái niệm
Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, đo lường, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, ảnh hưởng bất lợi của rủi ro tín dụng thông qua việc xây dựng chính sách tín dụng, thiết lập quy trình tín dụng, giám sát việc tuân thủ chính sách và quy chế cho vay, xử lý trục trặc và vi phạm về chính sách, quy trình và khoản cấp tín dụng cụ thể Trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu như hiện nay, đặc biệt là
Trang 28khi các ngân hàng trong nước phải trực tiếp cạnh tranh với khối các ngân hàng nước ngoài thì rủi ro ngày càng gia tăng với nhiều hình thức và mức độ khác nhau rất khó kiểm soát Chính vì vậy, quản trị rủi ro luôn phải được đặt lên hàng đầu và được xem là vấn đề sống còn đối với NHTM
1.3.2 Mục đích của công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay
Mục đích của quản trị rủi ro tín dụng là để tối đa hóa lợi nhuận trên cơ
sở giữ mức độ rủi ro hoặc tổn thất tín dụng ở mức ngân hàng có thể chấp nhận được và trong phạm vi nguồn lực tài chính của ngân hàng
Hoạch định phương hướng, kế hoạch phòng chống rủi ro Dự đoán rủi ro
có thể xảy ra đến đâu, trong điều kiện nào, nguyên nhân và hậu quả ra sao Đồng thời, tổ chức phòng chống rủi ro một cách khoa học nhằm chỉ ra những mục tiêu
cụ thể cần đạt được, ngưỡng an toàn, mức độ sai sót có thể kiểm soát được
Xây dựng các chương trình nghiệp vụ, cơ cấu kiểm soát phòng chống rủi ro, phân quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên, lựa chọn những công cụ kỹ thuật phòng chống rủi ro, xử lý rủi ro và giải quyết hậu quả do rủi ro gây ra một cách nghiêm túc
Kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo việc thực hiện theo đúng kế hoạch phòng chống rủi ro đã hoạch định, phát hiện các rủi ro tiềm ẩn, các sai sót khi thực hiện giao dịch, trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp điều chỉnh và bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro
1.3.3 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn
a Nhận dạng rủi ro tín dụng [10, tr 17]
Nhận dạng rủi ro tín dụng là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro và bất định của một tổ chức Các hoạt động nhận dạng nhằm phát triển thông tin về nguồn rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa, và nguy cơ rủi
ro Nhận dạng rủi ro bao gồm các bước: theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và quy trình cho vay để thống kê các dạng rủi ro tín dụng,
Trang 29nguyên nhân từng thời kỳ và dự báo được những nguyên nhân tiềm ẩn có thể gây ra rủi ro tín dụng
Các phương pháp nhận dạng rủi ro
Phương pháp phân tích các thông tin tài chính, phi tài chính
Ngay từ khâu nhận hồ sơ đề nghị vay vốn, CBTD thực hiện việc thẩm định các điều kiện vay vốn như: các thông tin tài chính và thông tin phi tài chính Các thông tin phi tài chính bao gồm: trình độ quản lý và môi trường nội
bộ, quan hệ với ngân hàng (đối với KH cũ), các nhân tố bên ngoài và các đặc điểm hoạt động khác
Ngoài các yếu tố phi tài chính, ngân hàng còn sử dụng các chỉ tiêu tài chính để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng Đây là việc phân tích hiện trạng tài chính, khái quát khả năng quản trị vốn và các hoạt động kinh doanh qua số liệu trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm Một số chỉ tiêu phân tích tài chính thường áp dụng là: nhóm chỉ tiêu thanh khoản; nhóm chỉ tiêu hoạt động; nhóm chỉ tiêu đòn cân nợ; nhóm chỉ tiêu doanh lợi,… Tùy theo từng loại hình cho vay mà ngân hàng quan tâm đến các chỉ số khác nhau như cho vay ngắn hạn thì lưu ý đến các chỉ số lưu động, chỉ số về nợ; cho vay dài hạn thì quan tâm đến chỉ số sinh lời, khả năng trả nợ Bên cạnh đó, tùy theo loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ), loại hình kinh doanh (thương mại, sản xuất) để xây dựng nhóm
tỷ số trung bình ngành, từ đó có bước so sánh trong phân tích
Thông qua việc thẩm định các điều kiện có thể đưa ra nhận định ban đầu
về KH là tốt hay xấu, có đáp ứng được các điều kiện cho vay của NH mình hay không và từ đó đưa ra quyết định là chấp nhận hay từ chối khoản vay
Phương pháp thẩm định thực tế
CBTD trực tiếp đi thẩm định thực tế khách hàng để xem xét về công việc, cuộc sống, môi trường, cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như quá trình hoạt
Trang 30động sản xuất kinh doanh của khách hàng Từ đó, kiểm tra những điều kiện về mục đích sử dụng vốn, nguồn thu nhập, giá trị hiện tại của TSĐB mà khách hàng đã cam kết trong hồ sơ vay vốn Nếu phát hiện có sai sót, gian lận thì có thể có những biện pháp hữu hiệu để có thể khắc phục kịp thời
Phương pháp lập bảng điều tra
Là phương pháp thông qua các câu hỏi về những vấn đề có thể xảy ra, để
từ đó nhận dạng và đánh giá mức độ tác động của từng loại rủi ro
Phương pháp phân tích số liệu hồ sơ tổn thất trong quá khứ
Với phương pháp này đòi hỏi ngân hàng phải thu thập, phân tích, thống kê, lưu trữ số lượng thông tin lớn trong một thời gian dài, một cách
có hệ thống, khoa học để nhận biết cơ chế và nguồn gốc gây ra rủi ro; nhờ
đó có thể đánh giá đúng các yếu tố rủi ro mà trước đây đã bị xem nhẹ hoặc
bỏ qua Giúp dự báo được xu hướng diễn biến rủi ro thông qua dữ liệu trong quá khứ
Phương pháp phân tích lưu đồ
Phương pháp lưu đồ là một phương pháp có thể giúp ngân hàng liệt kê trình tự các bước đối với một quy trình đầu tư tài chính Từ những bước liệt
kê này, có thể dễ dàng xác định rủi ro khi thực hiện từng bước để có những biện pháp khắc phục nhất định
Phương pháp này được thực hiện xuyên suốt quy trình tín dụng, từ khâu đầu tiên là tiếp nhận hồ sơ, khâu trung gian như thẩm định, ra quyết định, giải ngân, theo dõi khoản vay cho đến khâu cuối cùng là thanh lý hợp đồng Việc theo sát quy trình giúp NH xác định rủi ro xuất hiện và tập trung nhất ở khâu nào để có biện pháp kiểm soát kịp thời, hiệu quả
Việc áp dụng các phương pháp cần có sự linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với thực tế để chất lượng công tác nhận dạng rủi ro đạt được hiệu quả cao nhất
Trang 31b Đánh giá và đo lường rủi ro tín dụng [10, tr 21]
Đo lường xác suất và mức độ thiệt hại có thể xảy ra của các rủi ro đã được xác định: Là việc thu thập số liệu và phân tích đánh giá, từ đó xác định xác suất và mức độ thiệt hại có thể xảy ra
Vấn đề là sau khi đã nhận dạng những rủi ro thì phải tiến hành đo lường
để xem rủi ro đó tập trung chủ yếu vào những rủi ro nào, loại rủi ro nào gây ra mức độ tổn thất lớn nhất, loại nào yếu nhất, loại rủi ro nào xuất hiện nhiều nhất, loại rủi ro nào tần số xuất hiện ít để có những biện pháp kiểm soát phù hợp
Năng lực của người vay (Capacity): Tùy thuộc vào quy định luật pháp của quốc gia Người vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành
vi dân sự
Thu nhập của người vay (Cash): Trước hết phải xác định nguồn trả nợ của người vay như dòng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản,…
Bảo đảm tiền vay (Collateral): Là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng
và là nguồn tài sản có thể sử dụng để trả nợ vay
Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo
Trang 32chính sách tín dụng theo từng thời kỳ
Kiểm soát (Control): Đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật pháp, quy chế hoạt động đến khả năng khách hàng đáp ứng các tiêu chuẩn của ngân hàng
Việc sử dụng mô hình 6C tương đối đơn giản, tuy nhiên lại phụ thuộc quá nhiều vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập được, khả năng
dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá chủ quan của cán bộ tín dụng
Mô hình định lượng
Mô hình 1: Mô hình xếp hạng Moody’s và Standard & Poor’s
Rủi ro tín dụng thường được thể hiện bằng việc xếp hạng các khoản cho vay Việc xếp hạng này được thực hiện bởi một số dịch vụ xếp hạng tư nhân trong đó có Moody’s và Standard & Poor’s là những dịch vụ tốt nhất
Đối với Moody xếp hạng cao nhất từ Aaa nhưng đối với Standard & Poor’s thì cao nhất là AAA Việt xếp hạng giảm dần từ Aaa (Moody’s) và AAA (Standard & Poor’s) sau đó thấp dần để phản ánh rủi ro không được hoàn vốn cao Nhưng thực tế vì phải xem xét mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa rủi
ro và lợi nhuận nên những khoản cho vay tuy được xếp hạng thấp (rủi ro không hoàn vốn cao) nhưng lại có lợi nhuận cao nên có lúc ngân hàng vẫn chấp nhận đầu từ vào các khoản cho vay này
Mô hình 2: Mô hình điểm số Z
Chỉ số Z là một trong những công cụ để phát hiện dấu hiệu báo trước sự phá sản của khách hàng vay luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu về rủi ro Chỉ số này được phát minh bởi Giáo sư Edward I.Altman, trường kinh doanh Leonard N.Stern, thuộc Đại học New York, dựa vào việc nghiên cứu khá công phu trên số lượng nhiều công ty khác nhau tại Mỹ và được phát triển độc lập bởi giáo sư Richard Taffer và những nhà nghiên cứu khác Đến nay, hầu hết các nước vẫn còn sử dụng vì nó có độ
Trang 33tin cậy khá cao
Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5
Chỉ số Z bao gồm 5 yếu tố X1, X2, X3, X4, X5:
X1= Vốn lưu động/Tổng tài sản
X2= Lợi nhuận giữ lại/Tổng tài sản
X3= Lợi nhuận trước lãi vay và thuế/Tổng tài sản
X4= Giá trị thị trường của Vốn chủ sở hữu/Giá trị sổ sách của tổng nợ X5= Doanh số/Tổng tài sản
Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro đối với người đi vay và phụ thuộc vào:
Trị số của các chỉ số tài chính của người vay
Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác xuất vỡ nợ của người vay trong quá khứ
Trị số Z càng cao, thì xác suất vỡ nợ của người đi vay càng thấp Ngược lại, khi trị số Z thấp hoặc là một số âm thì đó là căn cứ xếp hạng khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao
Mô hình 3: Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng bao gồm: Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác…
Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng mang tính khách quan hơn, không tùy thuộc quá nhiều vào ý kiến chủ quan của CBTD, rút ngắn thời gian ra quyết định Tuy nhiên, mô hình không thể tự điều chỉnh một cách nhanh chóng để thích ứng với những thay đổi hàng ngày của nền kinh tế – xã hội
Mô hình 4: Chấm điểm tín dụng và xếp loại tín dụng
Hiệp ước Basel II cho phép ngân hàng lựa chọn giữa “đánh giá tiêu
Trang 34chuẩn” và “xếp loại nội bộ” Về cơ bản có hai công cụ là xếp loại tín dụng (Credit rating) đối với khách hàng doanh nghiệp và chấm điểm tín dụng (Credit scoring) đối với khách hàng cá nhân Về bản chất cả hai công cụ đều dùng để xếp loại tín dụng
Chấm điểm tín dụng: chỉ áp dụng trong hệ thống ngân hàng để đánh
giá mức độ rủi ro tín dụng đối với khoản vay của doanh nghiệp nhỏ và cá nhân Chấm điểm tín dụng chủ yếu dựa vào thông tin phi tài chính và các thông tin cần thiết trong giấy đề nghị vay vốn cùng các thông tin khác về khách hàng do ngân hàng thu thập được nhập vào máy tính, thông qua hệ thống thông tin tín dụng để phân tích, xử lý bằng phần mềm cho điểm Kết quả chỉ ra mức độ rủi ro tín dụng của người vay Hiệu quả kỹ thuật này cao sẽ giúp ích đắc lực cho quản trị rủi ro đối với khách hàng cá nhân và doanh nghiệp nhỏ Vì đối tượng này không có báo cáo tài chính, hoặc không đầy đủ, thiếu tài sản thế chấp, thiếu thông tin nên thường khó khăn trong tiếp cận ngân hàng
Xếp loại tín dụng: áp dụng đối với doanh nghiệp lớn, có đủ báo cáo
tài chính, số liệu thống kê tích lũy nhiều thời kỳ phục vụ cho việc xếp loại Tại các ngân hàng có thể khác nhau về cách thực hiện, tên gọi, chỉ tiêu đánh giá, nhưng luôn cùng chung một mục đích là xác định khả năng, thành ý của khách hàng trong việc hoàn trả tiền vay, lãi vay theo hợp đồng tín dụng đã
ký kết Từ đó, xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàng cũng như để trích lập dự phòng rủi ro
Mô hình 5: Đo lường rủi ro theo khung giá trị VAR
Hiệp ước Basel II khuyến khích các ngân hàng sử dụng các cách tiếp cận
và mô hình đo lường rủi ro tín dụng để có thể lượng hóa giá trị tổn thất tín dụng tối đa dựa trên khung giá trị VaR (Value at Risk)
Một cách tổng quát VaR được đo lường như tổn thất tối đa ở tình huống
Trang 35xấu nhất trong một khoảng thời gian xác định với mức xác suất cho trước (thường được gọi là độ tin cậy) VAR xác định theo cách này thường được gọi là VAR tuyệt đối VAR cho phép chúng ta tổng hợp tất cả các trạng thái rủi ro và các khoản cho vay khác nhau để tìm ra một con số nhằm trả lời câu hỏi: “Nếu năm sau là một năm không thuận lợi, tổn thất tín dụng tối đa của ngân hàng là bao nhiêu với một độ tin cậy cho trước (thường là 99,9%), từ đó xác định mức vốn cần thiết để chống đỡ cho rủi ro này”
Trong khi giá trị VAR cho danh mục đầu tư đã được sử dụng khá phổ biến tại các Ngân hàng thương mại, việc tính toán VaR tín dụng gặp nhiều khó khăn do:
VaR tín dụng thường được đo lường trong 1 khoảng thời gian dài hơn, thường là 1 năm (trong khi giá trị VAR của danh mục đầu tư thường được tính cho khoảng thời gian là 1 ngày)
Các số liệu quan sát (các vụ rủi ro vỡ nợ thực tế) thường nhỏ hơn rất nhiều so với rủi ro thị trường
Tính lỏng của các công cụ tín dụng thấp, ít được giao dịch trên thị trường nên khó có thể tính được giá trị thị trường và độ biến động giá trị thị trường của khoản vay
Mô hình 6: Mô hình dự đoán xác suất vỡ nợ
Theo Basel II, các ngân hàng sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ để đánh giá rủi ro tín dụng, từ đó xác định hệ số an toàn vốn tối thiểu, khả năng tổn thất tín dụng Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất có thể được tính dựa trên công thức sau:
Tổn thất ước tính được
EL = PD x EAD x LGD
EL: Tổn thất TD ước tính (Expected Loss)
PD: Xác suất không trả được nợ (Probability of Default)
Trang 36EAD: Tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm không trả được nợ (Exposure at Default) LGD: Tỷ trọng tổn thất ước tính (Loss Given Default)
PD: để tính toán nợ trong vòng một năm của khách hàng, ngân hàng phải
căn cứ trên số liệu dư nợ của khách hàng trong vòng ít nhất là năm năm, bao gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được, dữ liệu được phân thành ba nhóm sau:
Nhóm dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng, cũng như các đánh giá của các tổ chức xếp hạng
Nhóm dữ liệu định tính phi tài chính liên quan đến trình độ quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu về khả năng tăng trưởng của ngành,…
Nhóm dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các hiện tượng báo hiệu khả năng không trả được nợ cho ngân hàng như số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi, …
Từ những dữ liệu trên, ngân hàng nhập vào một mô hình định sẵn, từ đó tính xác suất không trả được nợ của khách hàng
EAD: đối với các khoản vay có kỳ hạn, việc xác định EAD là dễ dàng Tuy nhiên, đối với khoản vay theo HMTD thì lại khá phức tạp Theo thống kê của Basel thì tại thời điểm không trả được nợ, khách hàng thường có xu hướng rút vốn vay xấp xỉ hạn mức được cấp
EAD = Dư nợ bình quân + LEQ x HMTD chưa sử dụng bình quân
LEQ: Tỷ trọng phần vốn chưa sử dụng (Loan Equivalent Exposure) LEQ x HMTD chưa sử dụng bình quân: Là phần khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ ngoài mức dư nợ bình quân
Việc xác định LEQ có ý nghĩa quyết định đối với độ chính xác của ước lượng về dư nợ của khách hàng tại thời điểm không trả được nợ Cơ sở xác định LEQ là các số liệu quá khứ Điều này gây khó khăn trong tính toán, khách
Trang 37hàng uy tín, trả nợ đầy đủ thường ít rơi vào trường hợp này, nên không thể tính chính xác LEQ Ngoài ra, loại hình kinh doanh của khách hàng, khả năng khách hàng tiếp cận với thị trường tài chính, quy mô HMTD, tỷ lệ dư nợ đang
sử dụng so với hạn mức,… làm cho việc xác định LEQ trở nên phức tạp hơn LGD: gồm tổn thất về khoản vay và các tổn thất khác phát sinh khi khách hàng không trả được nợ, đó là lãi suất đến hạn nhưng không được thanh toán và các chi phí hành chính có thể phát sinh như chi phí xử lý tài sản thế chấp, chi phí cho dịch vụ pháp lý và một số chi phí liên quan
LGD = (EAD - Số tiền có thể thu hồi)/EAD
Số tiền có thể thu hồi gồm các khoản tiền mà khách hàng trả và các khoản tiền thu được từ xử lý tài sản thế chấp, cầm cố
LGD = 100% - Tỷ lệ vốn có thể thu hồi được
Khả năng thu hồi vốn của ngân hàng có thể rất cao hoặc rất thấp nên không thể tính bình quân Hai yếu tố giữ vai trò quan trọng trong quyết định khả năng thu hồi vốn khi khách hàng không trả được nợ là TSBĐ của khoản vay, là cơ cấu tài sản của khách hàng Ba phương pháp tính LGD là:
Tỷ trọng tổn thất căn cứ vào thị trường: sử dụng khi các khoản tín dụng có thể được mua bán trên thị trường ngân hàng có thể xác định tỷ trọng tổn thất của một khoản vay căn cứ vào giá của khoản vay đó một thời gian ngắn sau khi nó được xếp vào hạng không trả được nợ Giá này được tính trên
cơ sở ước tính của thị trường bằng phương pháp hiện tại hóa tất cả các dòng tiền có thể thu hồi được của khoản vay trong tương lai
Tỷ trọng tổn thất căn cứ vào việc xử lý các khoản tín dụng không trả được nợ: ngân hàng sẽ ước tính các luồng tiền tương lai, khoảng thời gian dự kiến thu hồi được luồng tiền và chiết khấu chúng Việc xác định lãi suất chiết khấu phù hợp là vô cùng khó khăn
Xác định tỷ trọng tổn thất căn cứ vào giá các trái phiếu rủi ro trên thị trường
Trang 38Như vậy, khi ngân hàng cho vay các khách hàng tốt, hệ số rủi ro giảm xuống, và tất yếu dẫn đến rủi ro tín dụng giảm Việc xác định tổn thất ước tính sẽ giúp ngân hàng thực hiện được thêm các mục tiêu:
Tăng cường khả năng quản trị nhân sự, cụ thể là đội ngũ nhân viên tín dụng Để đánh giá khả năng của nhân viên tín dụng, không những chỉ có chỉ tiêu dư nợ, số lượng khách hàng mà phải đặc biệt quan tâm đến chất lượng của các khoản tín dụng được cấp
Giúp ngân hàng xác định chính xác giá trị khoản vay, phục vụ hiệu quả cho việc chứng khoán hóa các khoản vay sau này Đây cũng là xu hướng hiện nay của các ngân hàng, vì đây là công cụ hiệu quả nhất để san sẻ rủi ro
và tạo tính linh hoạt trong quản lý danh mục đầu tư các khoản vay
Xác định tổn thất ước tính sẽ giúp ngân hàng xây dựng hiệu quả hơn Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng
Xác định xác suất vỡ nợ PD giúp ngân hàng nâng cao được chất lượng của việc giám sát và tái xếp hạng khách hàng sau khi cho vay
Tổn thất không ước tính được
Tổn thất không dự tính được (UL) của một khoản vay được hiểu là giá trị của độ lệch chuẩn so với giá trị trung bình (tổn thất dự tính được EL) Nguồn để bù đắp tổn thất ngoài dự tính chính là từ vốn chủ sở hữu của ngân hàng, bởi vậy ngân hàng cần nắm giữ đủ vốn để bù đắp cho tổn thất này Tỷ
lệ tổn thất ngoài dự tính của một khoản vay được tính bằng công thức:
UL = EDF ( I – EDF ) x LGD
Còn giá trị tổn thất ngoài dự tính thì được tính theo công thức sau:
UL = EDF ( I – EDF ) x LGD x EAD
Trong đó:
LGD: Tổn thất của ngân hàng trong trường hợp khách hàng không trả được nợ
Trang 39EDF: Xác suất vỡ nợ kỳ vọng của một công ty
EAD: Dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ Đối với một danh mục cho vay thì UL được xác định qua 3 bước:
Bước 1: Xác định UL riêng lẻ của từng khoản vay, chưa xem xét đến hiệu ứng của mối tương quan
Bước 2: Ước lượng hệ số tương quan vỡ nợ của các khoản vay riêng lẻ trong cùng một danh mục Hệ số tương quan vỡ nợ có thể được tính toán thông qua số liệu thống kê hoặc các mô hình
Bước 3: Xác định tổn thất không dự tính được UL trong xem xét mối quan hệ tương quan vỡ nợ giữa các khoản vay trong danh mục
Như vậy nợ xấu được xác định theo 2 yếu tố: (i) đã quá hạn trên 90 ngày
và (ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại Đây được coi là định nghĩa theo tiêu chuẩn kế toán của Việt Nam
Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng Thống kê – Liên hợp quốc, “về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá
Trang 40hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”
Sự khác biệt trong tiêu chí phân loại nợ xấu là lý do có sự chênh lệch giữa tỷ lệ nợ xấu theo tính toán của NHNN Việt nam và tỷ lệ nợ xấu theo tính toán của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế
Việc sử dụng chỉ tiêu nợ xấu để đo lường rủi ro tín dụng có nhiều ưu điểm như:
Nó cho biết quy mô và tỷ lệ vốn khó có thể thu hồi của một danh mục cho vay, thực tế đó là một khoản tổn thất của ngân hàng, tùy thuộc vào độ lớn của nợ xấu, ngân hàng có thể sử dụng nguồn dự phòng rủi ro, lợi nhuận hay vốn chủ sở hữu để bù đắp
Sử dụng chỉ tiêu này rất trực quan, đơn giản và dễ tính toán
Tuy nhiên, việc đo lường rủi ro tín dụng dựa trên chỉ tiêu nợ xấu cũng
có một số hạn chế:
Chỉ tiêu này chỉ thể hiện được mức độ rủi ro của ngân hàng tại một thời điểm trong quá khứ Ngân hàng khó có thể dự tính được tại một thời điểm trong tương lai, mức độ rủi ro của ngân hàng mình sẽ là bao nhiêu
Ngân hàng có thể làm giảm tỷ lệ nợ xấu bằng cách gia tăng dư nợ tín dụng, nhờ đó có được các hệ số tài chính rất đẹp trong khi mức độ rủi ro thực
tế tại ngân hàng không giảm đi mà còn có thể nghiêm trọng hơn
Khó có thể tính toán được rủi ro của một khoản vay trước khi cấp tín dụng, do vậy, không giúp ngân hàng trong các quyết định về mức bù rủi ro hay các quyết định tín dụng
Tóm lại: Mỗi mô hình đều có những ưu điểm và nhược điểm cũng như các điều kiện để áp dụng khác nhau Tùy theo điều kiện của mình mà các Ngân hàng có thể áp dụng mô hình thích hợp nhằm ước tính rủi ro và có quyết định phù hợp