Đây là đề thi cuối kỳ và đáp án mới nhất của lớp Luật Thương Mại 01. Luật doanh nghiệp và phá sản năm 2017, và Luật hành chính năm 2017. Đề thi có đầy đủ đáp án chính xác, các bạn có thể tham khảo đề thi này để làm căn cứ ôn luyện cho hiệu quả. Các bạn cố gắng ôn luyện nhé, luật tuy phức tạp nhưng nếu cố gắng thì chúng ta sẽ thành công thôi.
Trang 1ĐẠI HỌC LUẬT TPHCM
ĐỀ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
NĂM 2017
MÃ ĐỀ THI: DN09378017 LỚP THƯƠNG MẠI 01 MÔN: LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ PHÁ SẢN
Thời gian làm bài 75 phút
Sinh viên chỉ được sử dụng VBQPPL khi làm bài thi
Câu 1: (4 điểm)
Nhận định sau là Đúng hay Sai Giải thích tại sao?
a Mọi cá nhân, tổ chức khi góp vốn thành lập Doanh nghiệp phải tiến hành thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho doanh nghiệp
SAI
Theo Khoản 2, Điều 36 Luật Doanh nghiệp 2014 thì “Tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của chủ doanh nghiệp tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp”
b Tài sản thế chấp luôn được giao cho bên thế chấp giữ
SAI
Theo khoản 2, Điều 317 Bộ luật dân sự 2015 thì “Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp”
c Điều kiện áp dụng chế tài phạt vi phạm là phải có thiệt hại xảy ra với bên bị vi phạm
SAI
Theo Điều 300 Luật thương mại 2005 thì điều kiện phạt vi phạm không cần phải có thiệt hại chỉ cần có điều kiện vi phạm Hợp đồng và các bên đã thỏa thuận về phạt vi phạm trong Hợp đồng
Trang 2d Hợp đồng được ký kết giữa công ty TNHH hai thành viên và người có liên quan của giám đốc công ty phải được Hội đồng thành viên chấp thuận thì mới
có hiệu lực
ĐÚNG
Theo quy định tại Điều 67 Luật doanh nghiệp 2014
Câu 2: (3 điểm)
Trong Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa công ty A và công ty B có điều khoản thỏa thuận việc giải quyết tranh chấp sẽ được tiến hành tại Trung tâm trọng tài quốc
tế Việt Nam (VIAC) Tuy nhiên khi có tranh chấp xảy ra công ty A đã khởi kiện công ty B tại Tòa án nhân dân Vậy Tòa án có thẩm quyền giải quyết không Tại sao?
Hãy so sánh ưu và nhược điểm của việc giải quyết tranh chấp bằng Tòa án và Trọng tài thương mại
Trả:
Theo Điều 6, Luật trọng tài thương mại 2010 thì trong tình huống trên Tòa án không
có thẩm quyền giải quyết trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được
- So sánh trọng tài thương mại và tòa án về ưu điểm
Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại hay tòa án đều có những ưu điểm riêng Chúng ta cùng so sánh trọng tài thương mại và tòa án cụ thể như sau:
Về ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại:
Có tính linh hoạt bởi được xây dựng trên nguyên tắc tự do thỏa thuận giữa các bên
Trang 3Tiết kiệm thời gian, giảm thiểu thiệt hại có khả năng phát sinh trong quá trình xảy
ra mẫu thuẫn, đặc biệt đối với thương mại hàng hóa
Được chủ động về mặt thời gian, địa điểm, ngôn ngữ, luật áp dụng và các quy tắc tố tụng trọng tài
Có thể kết hợp thêm các phương thức hòa giải, trung gian hay thỏa thuận vào bất cứ thời điểm này trong quá trình diễn ra xử lý tranh chấp
Trọng tài có tiếng nói chung thẩm, các bên không thể kháng cáo, kháng nghị, mang tính chuyên môn cao
Ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp bằng tòa án:
Có tính pháp lý đáng tin cậy, dễ dàng thực hiện công tác thu thập chứng cứ phục vụ điều tra xác minh, và có thể yêu cầu sự hỗ trợ từ các cơ quan, tổ chức khác
Phán quyết của tòa án là phán quyết có tính bắt buộc thi hành trên phạm vi toàn lãnh thổ nơi giải quyết tranh chấp
Giải quyết tại tòa án cho chi phí thấp hơn so với các phương thức khác
Quy định chặt chẽ về trình tự thủ tục và hệ thống xét xử
So sánh trọng tài thương mại và tòa án về nhược điểm
Nhược điểm của giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại:
Trang 4Có chi phí khá cao
Phụ thuộc khá nhiều vào sự thiện chí của các bên
Các vấn đề liên quan đến công tác điều ra, xác minh thu thập chứng cứ gặp rất nhiều khó khăn
Sự phán quyết của trọng tài dựa trên các chứng cứ và tài liệu do các bên cung cấp nên đôi khi chưa thực sự khách quan
Nhược điểm của giải quyết tranh chấp bằng tòa án
Có thời gian giải quyết khá dài
Phải tuân thủ địa điểm, ngôn ngữ, thời gian giải quyết theo quy định pháp luật của từng quốc gia mà k được thỏa thuận
Có thủ tục cứng nhắc phức tạ
Quyết định của tòa có thể bị kháng cáo, bị hủy, bị từ chối công nhận và cho thi hành
ở quốc gia khác
Câu 3: (3 điểm)
Công ty cổ phần Bình Minh được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vào ngày 15.5.2015 có trụ sở tại quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh gồm có 5
cổ đông sáng lập là An, Tâm, Như, Bình, Minh Điều lệ công ty không có quy định khác so với quy định của pháp luật
a Trong cuộc họp đại hội đồng cổ đông đầu tiên, ông An đề xuất nên mời ông Nguyên -một người có trình độ chuyên môn rất giỏi trong lĩnh vực mà công ty đang hoạt động làm chủ tịch Hội đồng quản trị Tuy nhiên ông Bình lại phản đối vì cho rằng chủ tịch Hội đồng quản trị phải là cổ đông của công ty Ý kiến của anh (chị) trong tình huống trên
Trang 5b Vào tháng 5 năm 2017, công ty Bình Minh lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán Bà Như – người sở hữu 15% cổ phần phổ thông và 10% cổ phần ưu đãi
cổ tức của công ty muốn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản công ty có được
không Tại sao?
Trả lời:
a Theo quy định tại Điều 153 Luật doanh nghiệp 2014 thì chủ tịch Hội đồng quàn trị là thành viên Hội đồng quản trị mà theo Điều 151 thì điều kiện để trở thành thành viên Hội đồng quản trị không nhất thiết phải là cổ đông công ty
Nếu ông Nguyên đáp ứng các yêu cầu và được Đại hội đồng cổ đông bầu thì có thể trở thành thành viên Hội đồng quản trị và nếu được Hội đồng quản trị bầu thì vẫn
có thể làm chủ tịch Hội đồng quản trị
b Theo quy định tại Điều 5 Luật phá sản 2014 thì Cổ đông hoặc nhóm cổ đông
sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng
có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán vì bà Như chỉ sở hữu 15% cổ phần phổ thông và điều lệ công ty cũng không có quy định khác với quy định pháp luật nên bà không có quyền nộp đơn
Trang 6ĐẠI HỌC LUẬT TPHCM
ĐỀ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
NĂM 2017
MÃ ĐỀ THI: HC08393017 LỚP THƯƠNG MẠI 01 MÔN: LUẬT HÀNH CHÍNH
Thời gian làm bài 75 phút
Sinh viên chỉ được sử dụng VBQPPL khi làm bài thi
Câu 1 (4 Điểm):
a Mọi tổ chức xã hội đều có điều lệ
Đúng
Vì: Tổ chức xã hôi là hình thức tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam
có chung mục đích tập hợp, hoạt động theo pháp luật và theo điều lệ không vì lợi nhuận nhằm đáp ứng những lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia vào quản lí nhà nước, quản lí xã hội
Ngay khái niệm đã nêu rõ tổ chức xã hội hoạt động theo pháp luật và theo điều
lệ Do đó khẳng định trên là đúng
b Mọi cơ quan hành chính đều tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phụ thuộc hai chiều
Sai
Vì:
Nguyên tắc phụ thuộc 2 chiều được hiểu là sự phụ thuộc ở cả hai mặt tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước được pháp luật quy định một cách cụ thể Nguyên tắc phụ thuộc 2 chiều đều được thực hiện bởi các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích chung của cả nước
và lợi ích của địa phương giữa lợi ích ngành với lợi ích vùng lãnh thổ
Điều này không đúng với tất cả các cơ quan hành chính nhà nước Ta có thể lấy ví
dụ như đối với cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương như giữa các bộ và Chính Phủ Ở đây các bộ ngang nhau không phụ thuộc nhau về mặt tổ chức, do các bộ được
Trang 7thành lập hoặc bãi bỏ bởi đề nghị của thủ tướng Chính phủ lên quốc hội (Điều 20 luật tổ chức cp) Và các bộ chỉ có quyền kiến nghị với những quy định trái pháp luật của các bộ khác, nếu các bộ đó không nhất trí thì phải trình lên thủ tướng quyết định (Điều 25 luật tổ chức cp 2001)
Rõ ràng ta thấy ví dụ trên đã thể hiện rằng không có mối phụ thuộc 2 chiều Do đó
ta có thể khẳng định khẳng định trên là sai vì chỉ cần 1 trường hợp sai là cả khẳng định trên sai
c Tất cả các văn bản pháp luật đều là nguồn của luật hành chính
Sai
Vì:
Nguồn của luật hành chính là các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ban hành theo thủ tục và dưới những hình thức nhất định, có nội dung
là các quy phạm pháp luật hành chính, có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các đối tượng liên quan và được đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước
Nguồn của luật hành chính phải là các văn bản qppl có chứa đựng 1 phần hoặc chứa đựng qppl hành chính mới là nguồn của luật hành chính do đó khẳng định trên sai
d Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật hành chính như nhau
Sai
Vì
Năng lực pháp luật hành chính của cá nhân là khả năng cá nhân được hưởng những quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ pháp lí hành chính nhất định do Nhà nước quy định Có một số trường hợp năng lực pháp luật hành chính của 1 số cá nhân bị Nhà nước hạn chế Ví dụ: Người phạm tội có thể bị tòa án áp dụng hình phạt bộ sung: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công vệc nhất định (khoản 2 Điều 28 BLHS năm 1999 Trích giáo trình luật hành chính trang 70)
Câu 2 (3 Điểm)
Trang 8“Chứng minh rằng phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là phương pháp mệnh lệnh đơn phương bắt buộc”?
Trả lời:
Xuất phát từ khái niệm về luật hành chính là một ngành luật trong hệ thống pháp luật nước ta bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quuan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hoạt động qủan lý hành chính nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước Trong nội bộ cơ uan hành chính nhà nước và trong quá trình các cá nhân hay tổ chức được trao quyền hay tổ chức thực hiện tổ chức quản lý hành chính nhà nước đối với các vấn đề cụ thể do pháp luật quy định Mặy khác phương pháp điều chỉnh của một ngành luật nói chung là cách thức tác động của ngành luật
ấy nên đối tượng của nó Phương pháp điều chỉnh của ngành luật hành chính là cách thức mà luật hành chính tác động đến các nhóm đối tượng của luật hành chính Vậy thực tiễn nhất phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là do xuất phát từ việc thực hiện chấp hành, điều hành nên phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là mệnh lệnh, đơn phương được hình thành từ quan hệ “Quyền lực-phục tùng ” giưã một bên có quyền nhân danh nhà nước ra những mệnh lệnh bắt buộc thi hành đối với một bên có nghĩa vụ, phục tùng các mệnh lệnh đó Chính quan hệ này
đã thể hiện sự bất bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ quản lý hành chính nhà nước
Những biểu hiện sau đây làm sáng tỏ thêm phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là phương pháp bất bình đẳng về ý chí:
- chủ thể quản lý có quyền nhân danh nhà nước để áp đặt ý chí của mình nên đối tượng quản lý Các quan hệ này rất đa dạng nên việc áp đặt ý chí của chủ thể quản lý nên đối tượng quản lý cũng được thực hiện trong nhiều trường hợp khác : + Hoặc bên có thẩm quyền đơn phương ra các mệnh lệnh cụ thể hay đặt ra các quy định bắt buộc đối với bên kia và kiểm tra thực hiện chúng, phía bên kia phải thực hiện các mệnh lệnh, các quy định đó Ví dụ: Chính phủ ra mệnh lệnh cho các cấp, các ngành phải tích cực phòng chống lụt bão trong mùa mưa bão đồng thời kiểm
Trang 9tra đôn đốc việc thực hiện này đối với các cấp, các ngành, Chính phủ đặt ra các quy định về xử phạt vi phạm hành chính Các đối tượng quản lý có liên quan phải tuân thủ và thực hiện các mệnh lệnh và những quy định đó
+ Hoặc bên có thẩm quyền căn cứ vào pháp luật để đáp ứng hay bác bỏ yêu cầu, kiến nghị của đối tượng quản lý Trong trường hợp này quyền quyết định vẫn thuộc về cơ quan có thẩm quyền, Vì vây nếu có sự trùng hợp ý chí Ví dụ: Công dân
có quyền làm đơn yêu cầu UBND huyện cấp giấy sử dụng đất hay giấy xây dựng nhà ở ,UBND huyện có thể chấp nhận hay bác bỏ yêu cầu này của công dân
+ Hoặc cả 2 bên đều có quyền hạn nhất định nhưng ở bên này quyết điều gì phải được bên kia cho phép hay phê chuẩn cùng phối hợp quyết định Khi đó phải
có sự phối hợp giữa nhiều chủ thể nhân danh nhà nước mới thực hiện việc áp đặt ý chí đối với đối tượng uản lý Ví dụ : cơ quan công an cần bắt giữ đối tượng quản lý phải có sự phối hợp đồng ý của cơ quan Viện kiểm sát, lệnh bắt phải có sự phê chuẩn của Viện trưởng viện kiếm sát nhân dân thì mới được áp dụng
- Biểu hiện thứ hai của sự không bình đẳng còn thể hiện ở chỗ một bên có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính nhằm buộc đối tượng quản lý phải thực hiện mệnh lệnh của mình Sự bất bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ quản
lý hành chính nhà nước luôn biểu hiện rõ nét không phụ thuộc vào các quan hệ đó
Sự không bình đẳng giữa các bên là cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức
xã hội, đơn vị kinh tế, công dân và các đối tượng quản lý khác không bắt nguồn từ quan hệ tổ chức mà bắt nguồn từ quan hệ “ phục tùng ”trong các quan hệ đó cơ quan hành chính nhà nước, nhân danh nhà nứơc để thực hiện chức năng chấp hành - điều hành đối với đối tượng quản lý, các đối tượng quản lý phải phục tùng ý chí của nhà nước mà người đại diện là cơ quan hành chính
Sự bất bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ quản lý hành chính nhà nước còn thể hiện rõ nét trong tính chất đơn phương bắt buộc của các quyết định hành chính nhà nước và các chủ thể quản lý hành chính đưa vào thẩm quyền của mình trên cơ
sở phân tích đánh giá tình hình, có quyền ra những mệnh lệnh hoặc đề ra các biện
Trang 10pháp cưỡng chế nhà nước Tuy nhiên không phải bao giờ cũng là cưỡng chế mà còn dựa vào các biện pháp khác như giáo dục thuyết phục không có hiệu quả mới dùng đến cưỡng chế
Kết luận : Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là phương pháp mệnh lệnh đơn phương bắt nguồn từ quan hệ “ quyền lợi- phục tùng” Phương pháp này được xây dựng trên những nguyên tắc cơ bản sau :
+ Xác nhận sự không bình đẳng giữa các bên tham gia qquan hệ hành chính, một bên được nhân danh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để đưa ra các bên quyết định hành chính còn bên kia phải phục tùng các quyết định đó
+ Bên nhân danh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước có quyền quyết định công việc một cách đơn phương xuất phát từ lợi ích chung của nhà nước, của xã hội trong phạm vi quyền hạn của mình để chấp hành pháp luật
+ Quyết định đơn phương cử bên sử dụng quyền lực nhà nước co hiệu lực bắt buộc thi hành đối với bên hữu quan và được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước
Câu 3 (3 Điểm)
Nguyyên tắc xử phạt vi phạm hành chính có tính chất bắt buộc khi xử lý vi phạm hành chính không? Cho ví dụ?
Trả lời:
Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân hay tổ chức thực hiện một cách
cố ý hay vô ý xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính
Điêu 3- pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ghi rõ : Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính:
1/ Việc xử lý vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền tiến hành vi vi phạm dúng quy định của pháp lluật
Trang 112/ Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định
Cá nhân chỉ bị áp dụng các biện pháp khác trong các trường hợp quy định tại điêiù 21,22,23,24,và 25 của pháp lệnh này
3/ Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời cà phải bị đình chỉ ngay Việc xử lý phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, mọ hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng pháp luật
4/ Mọi hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt 1 lần
Một người khác thực hiện hành vi vi phạm hành chính bị xử phạt về từng hành vi vi phạm
Nhiều người cùng thực hiện 1 hành vi vi phạm hành chính thì mõi người vi phạm đều bị xử phạt
5/ Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, thân nhân và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để giải quyết định hình thức, biện pháp
xử lý thích hợp
6/ Không xử lý vi phạm hành chính trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình
Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiệh kịp thời xử lý công minh nhanh chóng theo đúng pháp luật
Việc phát hiện xử lý kịp thời đối với các vi phạm hành chính không chỉ làm cho vi phạm đó bị chấm dứt trên thực tế mà còn có tác dụng lớn lao trong việc tác động tích cực vào ý thức của người vi phạm và của các công dân khác trong việc củng cố và uy tín của nhà nước đối với nhân dân, khi bị xử lý vi phạm phải đảm bảo
sự công minh đúng pháp luật nghiêm minh khi bị xử lý không có ý nghĩa là xử phạt nặng đối với người vi phạm mà co nghĩa là bất kỳ vi phạm cũng nêu được đưa ra xử