1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng quản lý tiền lương khu vực công tại TP hồ chí minh

15 308 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 36,57 KB
File đính kèm 4.rar (33 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Trong khu vực công, tiền lương là số tiền mà các cơ quan, tổ chức của Nhà nước trả cho người lao động theo cơ chế, chính sách của Nhà nước và được thể hiện trong hệ thống thang, bảng lương do Nhà nước quy định. Trong hoạt động công vụ, tiền lương đóng giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những yếu tố tiên quyết thu hút và giữ được người tài tham gia hoạt động trong khu vực công, tránh hiện tượng chảy máu chất xám từ khu vực công sang khu vực tư. Hiện nay đã có nhiều quốc gia (có đặc điểm kinh tế xã hội tương đồng với Việt Nam) đã thành công trong hoạt động này, điển hình như Singapore, Trung Quốc và Hàn Quốc... Với Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất Việt Nam, đồng thời là đầu tàu kinh tế của đất nuớc, bên cạnh việc áp dụng những quy định chung về tiền lương trong khu vực công, Nhà nước cũng có những biện pháp cụ thể hóa để giúp chính sách được thực hiện một cách phù hợp, hiệu quả tại khu vực này. Tuy nhiên, song song với những kết quả tích cực đạt được, việc quản lý tiền lương trong khu vực công tại TP Hồ Chí Minh nói riêng, cũng như tại Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, yêu cầu phải có những thay đổi trong công tác quản lý, chính sách phù hợp hơn nữa. Do tầm quan trọng của vấn đề này, trong bài viết, em xin đi vào phân tích nghiên cứu: “Thực trạng quản lý tiền lương khu vực công tại TP Hồ Chí Minh”. Bài tiểu luận của em gồm 3 phần: Phần 1: Cơ sở lí luận Phần 2: Thực trạng quản lý tiền luơng trong khu vực công tại TP Hồ Chí Minh Phần 3: Một số kiến nghị Em xin chân thành cảm ơn cô Vũ Thị Ánh Tuyết đã giúp em hoàn thành bài tiểu luận này.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

Chương 1 Cơ sở lý luận chung về tiền lương……….1

1.1 Khái niệm chung về tiền lương 1

1.2 Bản chất của tiền lương 2

1.3 Vai trò của tiền lương 2

1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương 3

Chương 2 Thực trạng quản lý tiền lương trong khu vực công tại TP Hồ Chí Minh 3

2.1 Những mặt tích cực 4

2.2 Một số hạn chế 6

2.3 Nguyên nhân của những hạn chế 7

Chuơng 3 Một số kiến nghị nâng cao công tác quản lý tiền lương trong khu vực công tại TP Hồ Chí Minh 9 KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong khu vực công, tiền lương là số tiền mà các cơ quan, tổ chức của Nhà nước trả cho người lao động theo cơ chế, chính sách của Nhà nước và được thể hiện trong hệ thống thang, bảng lương do Nhà nước quy định Trong hoạt động công vụ, tiền lương đóng giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những yếu tố tiên quyết thu hút và giữ được người tài tham gia hoạt động trong khu vực công, tránh hiện tượng chảy máu chất xám từ khu vực công sang khu vực tư Hiện nay đã có nhiều quốc gia (có đặc điểm kinh tế - xã hội tương đồng với Việt Nam) đã thành công trong hoạt động này, điển hình như Singapore, Trung Quốc và Hàn Quốc

Với Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất Việt Nam, đồng thời là đầu tàu kinh tế của đất nuớc, bên cạnh việc áp dụng những quy định chung về tiền lương trong khu vực công, Nhà nước cũng có những biện pháp cụ thể hóa để giúp chính sách được thực hiện một cách phù hợp, hiệu quả tại khu vực này Tuy nhiên, song song với những kết quả tích cực đạt được, việc quản lý tiền lương trong khu vực công tại TP Hồ Chí Minh nói riêng, cũng như tại Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, yêu cầu phải có những thay đổi trong công tác quản lý, chính sách phù hợp hơn nữa

Do tầm quan trọng của vấn đề này, trong bài viết, em xin đi vào phân tích

nghiên cứu: “Thực trạng quản lý tiền lương khu vực công tại TP Hồ Chí Minh”.

Bài tiểu luận của em gồm 3 phần:

Phần 1: Cơ sở lí luận

Phần 2: Thực trạng quản lý tiền luơng trong khu vực công tại TP Hồ Chí Minh Phần 3: Một số kiến nghị

Em xin chân thành cảm ơn cô Vũ Thị Ánh Tuyết đã giúp em hoàn thành bài tiểu luận này

Trang 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Cơ sở lý luận chung về tiền lương

1.1 Khái niệm chung về tiền lương

Trong nền kinh tế thị trường và sự hoạt động của thị trường sức lao động, sức lao động là hàng hóa do vậy tiền lương là giá cả của sức lao động Khi phân tích về nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nơi mà các quan hệ thị trường thống trị mọi quan hệ tế,

xã hội khác Tiền lương phản ánh nhiều quan hệ kinh tế, xã hội khác nhau

Tiền lương trước hết là số tiền mà người sử dụng lao động (mua sức lao động) trả cho người lao động (người bán sức lao động) Đó là quan hệ kinh tế của tiền lương Mặt khác, do tính chất đặc biệt của loại hàng hoá sức lao động mà tiền lương không chỉ thuần tuý là vấn đề kinh tế mà còn là một vấn đề xã hội rất quan trọng liên quan đến đời sống và trật tự xã hội Đó là quan hệ xã hội

Trong quá trình hoạt động nhất là trong hoạt động kinh doanh, đối với chủ doanh nghiệp, tiền lương là một phần chi phí cấu thành chi phí sản xuất - kinh doanh

Vì vậy tiền lương là thu nhập từ quá trình lao động của họ, phần thu nhập chủ yếu đối với đại đa số lao động trong xã hội, có ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của họ Phấn đấu nâng cao tiền lương là mục đích của hết thảy người lao động Mục đích này tạo động lực để người lao động phát triển trình độ và khả năng lao động của mình

Trong điều kiện của một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần như ở nước ta hiện nay, phạm trù tiền lương được thể hiện cụ thể trong từng thành phần và khu vực kinh tế

Trong thành phần kinh tế nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp, tiền lương là số tiền mà các doanh nghiệp quốc doanh, các cơ quan, tổ chức của nhà nước trả cho người lao động theo cơ chế và chính sách của nhà nước và được thể hiện trong

hệ thống lương thang lương, bảng lương do Nhà nước qui định

Trang 4

Tiền lương danh nghĩa là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào nguời sử dụng lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm làm việc… ngay trong quá trình lao động

Tiền lương thực tế được hiểu là số lượng các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mau được bằng tiền lương danh nghĩa của họ

Như vậy tiền lương thực tế không chỉ phụ thuộc vào số tiền lương danh nghĩa

mà còn phụ thuộc vào giá cả của các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà họ muốn mua

1.2 Bản chất của tiền lương

Tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động thông qua sự thoả thuận giữa người có sức lao động và người sử dụng người lao động Để bù đắp phần hao phí lao động đó họ cần có một lượng nhất định các vật phẩm tiêu dùng cho nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại… và người sử dụng lao động phải đáp ứng nhu cầu đó đúng mức hao phí mà người lao động đã bỏ ra thông qua tiền lương

Do đó sức lao động có thể là hàng hoá phụ thuộc vào sự biến động cung cầu và chất lượng hàng hoá sức lao động trên thị trường tức là chịu sự chi phối của các quy luật giá trị đóng vai trò chủ đạo Tiền lương đảm bảo cho người lao động có thể tái sản xuất lao động để họ có thể tham gia vào quá trình tái sản xuất tiếp theo Vì vậy, tiền lương bao gồm nhiều yếu tố cấu thành, để thu nhập là nguồn sống chủ yếu của bản thân người lao động và của gia đình họ Việc trả lương cho người lao động không chỉ căn cứ vào hợp đồng mà căn cứ vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của người lao động mà họ nhận được sau một thời gian lao động mà họ bỏ ra

1.3 Vai trò của tiền lương

Tiền lương là nguồn thu nhập chính của người lao động, là yếu tố để đảm bảo tái sản xuất sức lao động, một bộ phận đặc biệt của sản xuất xã hội Vì vậy, tiền lương đóng vai trò quyết định trong việc ổn định và phát triển kinh tế gia đình Ở đây, trước

Trang 5

hết tiền lương phải đảm bảo những nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của người lao động như

ăn, ở, đi lại… Tức là tiền lương phải đủ để duy trì cuộc sống tối thiểu của người lao động Chỉ có khi được như vậy, tiền lương mới thực sự có vai trò quan trọng kích thích lao động, và nâng cao trách nhiệm của người lao động đối với quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Đồng thời, chế độ tiền lương phù hợp với sức lao động đã hao phí sẽ đem lại sự lạc quan và tin tưởng vào doanh nghiệp, vào chế độ họ đang sống

Như vậy, trước hết tiền lương có vai trò đối với sự sống của con người lao động, từ đó trở thành đòn bảy kinh tế để nó phát huy nội lực tối đa hoàn thành công việc Khi người lao động được hưởng thu nhập xứng đáng với công sức của họ đã bỏ

ra thì lúc đó với bất kỳ công việc gì họ cũng sẽ làm Như vậy có thể nói tiền lương đã góp phần quan trọng giúp nhà tổ chức điều phối công việc dễ dàng thuận lợi

1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương

 Các quy định của pháp luật và chính sách của Nhà nước

 Tình hình cung – cầu lao động và mức lương trên thị trường lao động

 Chi phí sinh hoạt; giá cả hàng hóa, dịch vụ

 Sự tăng trưởng của nền kinh tế

 Các yếu tố khác: vùng miền, dân tộc…

Trang 6

CHUƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TIỀN LUƠNG TRONG KHU VỰC

CÔNG TẠI HỒ CHÍ MINH

2 Thực trạng quản lý tiền lương trong khu vực công tại TP Hồ Chí Minh

Về việc Chính phủ ban hành các Nghị định quy định thang bảng lương, mức lương tối thiểu, mức phụ cấp, các quy định nguyên tắc xếp lương và phụ cấp, quy định

về thời gian nâng bậc lương, đúng thời hạn, trước thời hạn, kéo dài thời gian nâng bậc lương, nguyên tắc trả lương, chế độ trả lương, nguồn chi trả, có sự quản lý của Nhà nước thông qua các quy định của chính sách tiền lương

Nghị định 117/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang

Nghị định này sửa đổi, bổ sung Điều 5, Điều 7 và Điều 11 của Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang

2.1 Những mặt tích cực

Thứ nhất, quan điểm, chủ trương về cải cách chính sách tiền lương của Đảng từ

năm 2003 đến nay là đúng đắn, phù hợp với nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng

xã hội chủ nghĩa Đặc biệt quan điểm coi việc trả lương đúng cho người lao động là thực hiện đầu tư cho phát triển, tạo động lực để phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng dịch vụ công, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước Đặc biệt, Luật Cán bộ, Công chức đã quy định công chức có 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị cho thôi việc Thực hiện tốt việc xác định vị trí việc làm sẽ là cơ sở và căn cứ để tính toán được biên chế công chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi và đối tượng quản lý trong từng cơ quan, tổ chức, đơn vị Người nào không đáp ứng được các yêu cầu của vị trí việc làm sẽ bị đưa ra khỏi công vụ Chính phủ đã xác định lộ trình thực hiện việc xây dựng hệ thống vị trí

Trang 7

việc làm trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị, phấn đấu đến năm 2015, 50% cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu cán bộ, công chức theo vị trí việc làm

Thứ hai, tách dần tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh với khu vực hành

chính nhà nước (HCNN) và khu vực sự nghiệp cung cấp dịch vụ công; chính sách tiền lương với chính sách bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội Đó là bước ngoặt rất quan trọng cải cách tiền lương trong điều kiện mới theo định hướng thị trường

Thứ ba, chú ý gắn cải cách tiền lương cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC)

với cải cách hành chính và xây dựng nền công vụ, tinh giảm biên chế khu vực HCNN, phát triển khu vực sự nghiệp cung cấp dịch vụ công theo nhu cầu phát triển của xã hội Tuy phải tiến hành dần từng bước nhưng là hướng đi đúng đắn Một số ý kiến cho rằng cần tiếp tục cắt giảm 40% cán bộ công chức hiện nay để có nguồn bổ sung cho cải cách tiền lương, nếu không cải cách tiền lương khó thành công

Thứ tư, tiếp tục đổi mới cơ chế tiền lương, mở rộng và làm rõ trách nhiệm,

quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập trong việc xếp lương, trả lương gắn với chất lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ công theo tinh thần xã hội hóa Đây cũng là định hướng rất quan trọng trong cải cách và trong cơ chế tạo nguồn cải cách tiền lương CBCCVC

Thứ năm, tiền lương danh nghĩa của CBCCVC có xu hướng tăng do nhiều lần

điều chỉnh mức lương tối thiểu chung trên cơ sở bù trượt giá và tăng trưởng kinh tế,

mở rộng quan hệ tiền lương tối thiểu - trung bình - tối đa, từng bước tiền tệ hóa các khoản ngoài lương nhằm khắc phục bình quân, bao cấp và ổn định đời sống của CBCCVC Theo Bộ Nội vụ, từ năm 2003 đến nay, mức lương tối thiểu chung cho người lao động trong khu vực hành chính - sự nghiệp đã điều chỉnh 7 lần từ 210.000 đồng/tháng lên 830.000 đồng/tháng, với mức tăng gần 4 lần Từ ngày 1/5/2012, mức lương tối thiểu đã được quyết định tăng lên mức 1.050.000 nghìn đồng/tháng Việc điều chỉnh này được thực hiện trên cơ sở các mức đã dự kiến trong Đề án tiền lương

Trang 8

giai đoạn 2003 - 2007 và 2008 - 2012, có điều chỉnh linh hoạt theo mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng và khả năng của ngân sách nhà nuớc

Theo Vụ Tiền lương (Bộ Nội vụ), sẽ cố gắng đến năm 2018 điều chỉnh lương tối thiểu của công chức đảm bảo nhu cầu tối thiểu - khoảng 3 triệu đồng/tháng và phụ cấp công vụ khoảng 30% Tuy nhiên, theo PGS., TS.Trần Văn Thiện, Viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực – Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh, mặc dù đã qua 7 lần điều chỉnh mức lương tối thiểu nhưng nếu tính tới chỉ số lạm phát và giá cả tiêu dùng thì lương tối thiểu thực tế chỉ tăng hơn 0,05 lần Tính ra, trung bình mỗi năm lương tối thiểu thực tế chỉ tăng 0,64%

2.2 Một số hạn chế

Thứ nhất: Toàn bộ hệ thống chế độ tiền lương, từ quy định mức lương tối thiểu

đến các thang, bảng, mức lương, phụ cấp lương, đến tuyển dụng, xếp lương, trả lương, nâng ngạch, bậc lương… còn thiếu đồng bộ, bất nhất, vẫn mang dáng dấp bao cấp Tiền lương hầu như không có tác động nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương từ ngân sách, không gắn nhiều với cải cách hành chính

Từ năm 1993 đến năm 2015, chúng ta đã có tới 13 lần điều chỉnh, mức lương tối thiểu chung của khu vực chi từ ngân sách nhà nước tăng từ 120 ngàn đồng lên 1,242 triệu đồng/tháng, gần 10,4 lần Hàng năm ngân sách nhà nước bố trí hàng chục ngàn tỷ đồng để thực hiện cải cách tiền lương, mà chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước không được nâng cao, thậm chí giảm sút Càng chủ trương tinh giản biên chế, thì biên chế lại càng tăng; nhiều cơ quan, đơn vị ở Trung ương và địa phương cán bộ lãnh đạo nhiều hơn chuyên viên; lực lượng vũ trang bậc quân hàm thì cao, sĩ quan nhiều như hạ sĩ quan, chiến sĩ; bộ máy quản lý vẫn trì trệ, phiền hà, gây lãng phí lớn cho ngân sách nhà nước Tiền lương và các chế độ đãi ngộ khác quá thấp đối với khoảng 1/3 đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đang ngày đêm làm việc tận tâm, có trách nhiệm, chất lượng và hiệu quả, nhưng lại quá cao với nhiều cán bộ, công chức, viên chức làm việc không hiệu quả (khoảng 2/3)

Trang 9

Thứ hai: Tiền lương thực hiện (thực nhận) ngày càng bình quân, chắp vá, phá

vỡ quan hệ tiền lương chung Điều đáng lưu ý là, thu nhập ngoài tiền lương ở nhiều ngành, nghề, vị trí công tác, chức vụ, ngày một biến tướng, tăng cao, đa dạng, phức tạp, vượt khỏi tầm kiểm soát của Nhà nước Thu nhập từ các dự án, từ nhà, đất được cấp hoặc mua theo chế độ, giá ngoại giao ngày càng tăng, nhiều hình thức bao cấp trá hình phát triển Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức trở nên giàu có, không quan tâm nhiều đến tiền lương, chênh lệch thu nhập, phân hóa giàu - nghèo ngày càng lớn ngay trong nội bộ khu vực nhà nước Trừ lực lượng vũ trang, bộ phận lớn còn lại tiền lương chưa phải là nguồn thu nhập bảo đảm cuộc sống của người làm công hưởng lương, chưa phải là động lực khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức toàn tâm làm việc, góp phần làm trong sạch bộ máy, chống tham nhũng, tiêu cực, phiền hà

Thứ ba: Càng xã hội hóa quỹ tiền lương chi từ ngân sách càng tăng cao, gánh

nặng đóng góp của người dân và người thụ hưởng cho chi tiêu công, dịch vụ công cộng ngày một lớn, thiếu công khai, minh bạch và không mấy hiệu quả

Thứ tư: Chính sách bảo hiểm xã hội càng sửa đổi càng thêm rối, phức tạp mà

không khắc phục được các hạn chế, bất cập cơ bản trước đó Chính sách người có công hầu như vẫn do ngân sách nhà nước bảo đảm, chưa thực hiện đúng tinh thần nghị quyết của các kỳ đại hội Đảng là ổn định mức sống bản thân và gia đình người có công bằng mức sống dân cư tại địa bàn trên cơ sở bảo đảm cơ bản của Nhà nước, sự hỗ trợ của xã hội và bản thân người có công; mức trợ cấp ưu đãi xác định có tính cào bằng, thiếu sự chia sẻ, tạo ra sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các đối tượng Bảo trợ, trợ giúp xã hội tăng cao, nặng về bao cấp, tạo tâm lý ỷ lại của một bộ phận không nhỏ đối tượng thụ hưởng…

2.3 Nguyên nhân của những hạn chế

Thứ nhất, tiền lương là vấn đề không dễ, chuyển tiếp qua nhiều giai đoạn, bổ

sung, sửa đổi chắp vá càng thêm phức tạp, khó hiểu, đòi hỏi từ cơ quan nghiên cứu, soạn thảo đến cấp quyết định cần có kiến thức, hiểu biết sâu sắc, có hệ thống, toàn diện, nhưng trong thực tế quá trình tổ chức nghiên cứu, làm phân tán, gián đoạn, bất

Trang 10

nhất; trao đổi, bàn luận chưa đầy đủ, thiếu tường tận, không đi đến cùng làm rõ các vấn đề phức tạp Do đó, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đề án cải cách cơ bản chính sách tiền lương và các chính sách liên quan Cấp trình và quyết định chính sách thường xuyên yêu cầu chuyên gia nghiên cứu sâu, kỹ lưỡng, làm rõ các vấn đề trong Đề án, nhưng lại chưa tập trung đầu tư công sức, dành thời gian để nghiên cứu, lắng nghe, hiểu biết rõ những vấn đề quan trọng để có thể trình bày thuyết phục, đưa tới các quyết sách đúng đắn, phù hợp Trong thực tế không ít trường hợp quyết định vẫn mang tính chủ quan, kinh nghiệm đơn thuần, nặng về chính trị, chưa đủ tầm dài hạn, toàn diện, đồng bộ

Thứ hai, một trong số các nguyên nhân là chúng ta lúng túng, chưa thể tìm ra cơ

chế phù hợp, hiệu quả để tạo nguồn tài chính thực hiện cải cách tiền lương và các chính sách liên quan, chủ yếu vẫn trông chờ vào tăng thu ngân sách trong khi khả năng

từ nền kinh tế còn hạn hẹp Cơ chế tạo nguồn để thực hiện cải cách tiền lương đã đề ra cách đây hơn 20 năm, cơ bản không có nhiều thay đổi và không tạo chuyển biến lớn

Cơ chế đặt ra chung chung, thiếu căn cứ và dữ liệu cần thiết, không có phương thức thực thi cụ thể, không giải quyết được vấn đề từ gốc, nặng về khẩu hiệu mục tiêu, mà thiếu đi những hành động cụ thể, thiết thực trong triển khai, thực hiện Tạo nguồn trong các đơn vị sự nghiệp bằng cơ chế xã hội hóa “theo hướng tính đủ tiền lương và từng bước tính đủ chi phí vào giá dịch vụ” là cực kỳ quan trọng vẫn chỉ là khẩu hiệu, không có đề án cụ thể, khoa học Vì thế, về tổng thể, càng xã hội hóa, càng khoán, quỹ tiền lương và biên chế càng tăng, tỷ trọng tăng chi ngân sách nhà nước không giảm

Thứ ba, thời gian trải nghiệm của lần cải cách tiền lương năm 1993 đến nay đã

22 năm là không ít, nhưng quyết tâm chính trị chưa thật sự cao để xây dựng, thực hiện nghiêm ngặt, đồng bộ cả chiều rộng lẫn chiều sâu đề án cải cách, ngại thay đổi, ngại đụng chạm, mặc dù thấy rõ nội dung cải cách là cần thiết Quá trình thực hiện thiếu sự chỉ đạo tập trung, chưa tuân thủ đầy đủ các nội dung đề án đã được thông qua, buông lỏng quản lý, để xảy ra những cách làm xé lẻ, mạnh ngành nào ngành đó làm, sửa đổi,

bổ sung nhiều chế độ thiếu cân đối, thiếu đồng bộ, phá vỡ quan hệ tiền lương chung

Ngày đăng: 12/03/2018, 21:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w