1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chính sách tiền lương tối thiểu ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

16 318 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 41,74 KB
File đính kèm 2.rar (38 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Tiền lương tối thiểu là một bộ phận cấu thành của chế độ tiền lương, có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống tiền lương, có ảnh hưởng tới toàn bộ chính sách tiền lương. Tiền lương tối thiểu không chỉ áp dụng cho lao động giản đơn mà nó còn là khung pháp lý quan trọng, là cơ sở để trả công lao động toàn xã hội. Việc quy định mức lương tối thiểu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ đối với việc bảo vệ người lao động mà còn có ý nghĩa lớn đối với việc phát triển kinh tế, ổn định quan hệ lao động, ổn định chính trị xã hội. Tuy nhiên, trước biến động của tình hình giá cả như hiện nay, mức tiền lương tối thiểu quy định hiện tại là quá thấp. Mặc dù Nhà nước đã điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu hàng năm, song nó vẫn chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tế, chưa thực hiện được chức năng bảo đảm cho người lao động ở mức sống tối thiểu. Vì vậy em xin lựa chọn đề tài: “Chính sách tiền lương tối thiểu ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” nhằm đóng góp phần nào ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn trong việc nhận thức một cách hệ thống, đầy đủ hơn về pháp luật, các bất cập của pháp luật cũng như giải pháp hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam về tiền lương tối thiểu.  

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

1 Khái quát chung về tiền lương tối thiểu 1

1.1 Khái niệm 1

1.2 Vai trò 1

1.3 Đặc trưng 2

1.4 Căn cứ xác định tiền lương tối thiểu 3

2 Thực trạng chính sách tiền lương tối thiểu ở Việt Nam hiện nay 4

2.1 Pháp luật hiện hành về tiền lương tối thiểu tại Việt Nam 4

2.2 Những thành tựu đạt được 5

2.3 Những bất cập, hạn chế 6

3 Giải pháp cải thiện chế độ tiền lương tối thiểu ở nước ta trong giai đoạn hiện nay 9

3.1 Hoàn thiện pháp luật về tiền lương tối thiểu 9

3.2 Về vấn đề xác định tiền lương tối thiểu 9

3.3 Về vấn đề điều chỉnh tiền lương tối thiểu 10

3.4 Thống nhất mức lương tối thiểu 11

3.5 Quản lý Nhà nước về tiền lương tối thiểu 11

3.6 Vấn đề xử lý vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu 11 KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI TIỆU THAM KHẢO

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Tiền lương tối thiểu là một bộ phận cấu thành của chế độ tiền lương, có vi trí hết sức quan trọng trong hệ thống tiền lương, có ảnh hưởng tới toàn bộ chính sách tiền lương Tiền lương tối thiểu không chỉ áp dụng cho lao động giản đơn mà nó còn là khung pháp lý quan trọng, là cơ sở để trả công lao động toàn xã hội Việc quy đinh mức lương tối thiểu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ đối với việc bảo vệ người lao động mà còn có ý nghĩa lớn đối với việc phát triển kinh tế, ổn đinh quan hệ lao động, ổn đinh chính tri - xã hội Tuy nhiên, trước biến động của tình hình giá cả như hiện nay, mức tiền lương tối thiểu quy đinh hiện tại là quá thấp Mặc dù Nhà nước đã điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu hàng năm, song nó vẫn chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tế, chưa thực hiện được chức năng bảo đảm cho người lao động ở mức sống tối thiểu Vì vậy

em xin lựa chọn đề tài: “Chính sách tiền lương tối thiểu ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” nhằm đóng góp phần nào ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn

trong việc nhận thức một cách hệ thống, đầy đủ hơn về pháp luật, các bất cập của pháp luật cũng như giải pháp hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam về tiền lương tối thiểu

Trang 3

1 Khái quát chung về tiền lương tối thiểu

1.1 Khái niệm

Tiền lương tối thiểu được hiểu là mức trả công lao động thấp nhất trả cho người lao động tương ứng với trình độ lao động giản đơn nhất, cường độ lao động nhẹ nhàng nhất diễn ra trong điều kiện lao động bình thường nhằm đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho người lao động phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Mức lương tối thiểu chính là mức lương nền móng được pháp luật quy đinh và bắc buộc người sử dụng lao động phải thực hiện Các hành vi trả lương cho người lao động cho dù là sự thỏa thuận của hai bên mà thấp hơn mức tiền lương tối thiểu sẽ bi coi là bất hợp pháp và phải chiu một chế tài tương ứng

1.2 Vai trò

Tiền lương tối thiểu có vi trí, vai trò rất quan trọng Hiện nay, chế độ tiền lương bao gồm các nội dung cơ bản: tiền lương tối thiểu, hệ thống thang bảng lương, các chế độ phụ cấp lương, chế độ tiền thưởng Trong đó tiền lương tối thiểu có vi trí đặc biết, nó là mức “sàn”, là cơ sở để xác đinh các nội dung khác trong chế độ tiền lương Vi trí đặc biệt quan trọng của tiền lương tối thiểu được thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, tiền lương tối thiểu là cơ sở để Nhà nước và người sử dụng lao

động xác đinh các thang, bảng phù hợp với đơn vi mình

Thứ hai, tiền lương tối thiểu là cơ sở để tính toán các khoản phụ cấp và

thưởng trả cho người lao động

Thứ ba, tiền lương tối thiểu là cơ sở để thực hiện một số chế độ bảo hiểm

xã hội và chế độ ưu đãi xã hội đối với người có công

Tiền lương tối thiểu có vai trò rất quan trọng, cụ thể:

 Tiền lương tối thiểu là sự đảm bảo có tính pháp lý của Nhà nước đối với người lao động trong mọi ngành nghề, khu vực có tồn tại quan hệ lao

Trang 4

động, đảm bảo đời sống tối thiểu cho họ phù hợp với khả năng của nền kinh tế

 Xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ người lao động khi tham gia quan hệ lao động, Nhà nước quy đinh tiền lương tối thiểu như một sự đảm baot về mặt pháp lý đối với người lao động

 Tiền lương tối thiểu còn là công cụ điều tiêt của Nhà nước trên phạm vi toàn xã hội và trong từng cơ sở kinh tế

 Tiền lương tối thiểu loại bỏ sự bóc lột có thể xảy ra đới với người làm công ăn lương trước sức ép của thi trường

1.3 Đặc trưng

Từ khái niệm trên, có thể thấy tiền lương tối thiểu có các dấu hiệu đặc trưng sau:

 Tiền lương tối thiểu được xác đinh tương ứng với trình độ lao động giản đơn nhất, chưa qua đào tạo nghề

 Tiền lương tối thiểu tương ứng với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất, không đòi hỏi tiêu hao nhiều năng lượng thần kinh, cơ bắp

 Tiền lương tối thiểu được tính tương ứng với môi trường và điều kiện lao động bình thường, không có tác động xấu của các yếu tố điều kiện lao động

 Tiền lương tối thiểu được tính tương ứng với nhu cầu tiêu dùng ở mức độ tối thiểu cần thiết

 Tiền lương tối thiểu phải tương ứng với mức giá tư liệu sinh hoạt chủ yếu

cở vùng có mức giá trung bình

 Tiền lương tối thiểu phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia

Trong kết cấu tiền lương tối thiểu không bao gồm tiền lương làm thêm giờ, phụ cấp làm việc ban đêm, phụ cấp trách nhiệm hay chức vụ, tiền ăn giữa ca và các khoản tiền lương khác ngoài tiền lương thông thường hàng tháng do Chính phủ quy đinh Mức lương tối thiểu chung là căn cứ và nền thấp nhất để xây dựng các mức tiền lương tối thiểu vùng, ngành

Trang 5

1.4 Căn cứ xác định tiền lương tối thiểu

 Hệ thống các nhu cầu tối thiểu của người lao động và gia đình họ Hệ thống nhu cầu tối thiểu này bao gồm các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội bao gồm: nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, y tế, sinh hoạt văn hóa, giao tiếp xã hội, nuôi con…

 Mức tiền lương chung của cả nước Việc xác đinh tiền lương tối thiểu phải dựa trên căn cứ này để đảm bảo tiền lương tối thiểu không quá thấp hoặc không quá cao so với giá cả chung trong thi trường sức lao động đồng thời góp phần vừa bảo vệ người lao động vừa bảo vệ được người sử dụng lao động và đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn đinh, bền vững

 Chi phí và sự biến động của giá cả sinh hoạt

 Mối tương quan về điều kiện sống của các tầng lớp dân cư trong xã hội Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với việc đảm bảo công bằng trong việc trả công trong xã hội mà còn hạn chế sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư Đồng thời sự chênh lệch về mức sống giữa các tầng lớp dân cư ở các vùng miền cũng là căn cứ để xác đinh mức lương tối thiểu vùng, mức lương tối thiểu ngành cho phù hợp

 Các nhân tố kinh tế như tốc độ tăng trưởng kinh tế và mức năng suất lao động Căn cứ này thể hiện nguyên tắc điều chỉnh lương (trả lương theo nguyên tắc phân phối theo lao động và trên cơ sở năng suất lao động)

 Sự đạt được và giữ vững về mức độ có việc làm trên phạm vi vùng và quốc gia

Trang 6

2 Thực trạng chính sách tiền lương tối thiểu ở Việt Nam hiện nay

2.1 Pháp luật hiện hành về tiền lương tối thiểu tại Việt Nam

Hiện nay, chế độ tiền lương tối thiểu của nước ta được quy đinh rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật Theo đó, mức lương tối thiểu vùng năm

2016 vừa được Chính phủ ban hành Theo Nghi đinh 122/2015/NĐ-CP thì mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với doanh nghiệp kể từ ngày 01/01/2016 như sau:

Mức lương tối thiểu vùng 2016

(so với năm 2015)

Trưa 2/8, Hội đồng tiền lương quốc gia đã chốt phương án tăng lương năm 2017 để trình Chính phủ, với mức đề xuất tăng chỉ 7,3% Kết quả, mức đề xuất tăng lương tối thiểu vùng năm 2017 so với lương tối thiểu vùng năm trước như sau: Vùng 1 tăng thêm 250.000 đồng, tức tăng 7,1%; Vùng 2 tăng 220.000 đồng, tăng 7,1%; Vùng 3 tăng 200.000 đồng, tăng 7,4%; và Vùng 4 tăng 180.000 đồng, tăng 7,9%

Tính bình quân chung 4 vùng, mức tăng lương tối thiểu vùng năm 2017 được Hội đồng tiền lương Quốc gia đề xuất là 213.000 đồng, tức tăng 7,3% so với năm 2016 Kết quả bỏ phiếu 13/14 đồng ý (1 thành viên vắng), bằng 92,85%

Trang 7

2.2 Những thành tựu đạt được

Thứ nhất, quan điểm, chủ trương về cải cách chính sách tiền lương của

Đảng đến nay là đúng đắn, phù hợp với nền kinh tế thi trường (KTTT) đinh hướng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt quan điểm coi việc trả lương đúng cho người lao động là thực hiện đầu tư cho phát triển, tạo động lực để phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng dich vụ công, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước Mức lương tối thiểu mà Nhà nước quy đinh đã cơ bản đáp ứng được mục tiêu đặt ra của tiền lương tối thiểu là nhằm đảm bảo tái sản xuất giản đơn và một phần tái sản xuất sức lao động mở rộng, bảo vệ quyền lợi của người lao động khộng có trình độ tay nghề hoặc những lao đông trong các ngành, nghề có cung- cầu lao động bất lợi trong thi trường Các mức lương tối thiểu do Nhà nước quy đinh có tác động ổn đinh mức sống cho người lao động ở mức tối thiểu, là một trong những biện pháp ngăn cản sự nghèo đói dưới mức cho phép

Thứ hai, tách dần tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh với khu vực

hành chính nhà nước (HCNN) và khu vực sự nghiệp cung cấp dich vụ công; chính sách tiền lương với chính sách bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội Đó là bước ngoặt rất quan trọng cải cách tiền lương trong điều kiện mới theo đinh hướng thi trường

Thứ ba, chú ý gắn cải cách tiền lương cán bộ, công chức, viên chức

(CBCCVC) với cải cách hành chính và xây dựng nền công vụ, tinh giảm biên chế khu vực HCNN, phát triển khu vực sự nghiệp cung cấp dich vụ công theo nhu cầu phát triển của xã hội Tuy phải tiến hành dần từng bước nhưng là hướng

đi đúng đắn Một số ý kiến cho rằng cần tiếp tục cắt giảm 40% cán bộ công chức hiện nay để có nguồn bổ sung cho cải cách tiền lương, nếu không cải cách tiền lương khó thành công

Thứ tư, tiếp tục đổi mới cơ chế tiền lương, mở rộng và làm rõ trách

nhiệm, quyền tự chủ, tự chiu trách nhiệm của đơn vi sự nghiệp công lập trong việc xếp lương, trả lương gắn với chất lượng và hiệu quả cung cấp dich vụ công

Trang 8

theo tinh thần xã hội hóa Đây cũng là đinh hướng rất quan trọng trong cải cách và trong cơ chế tạo nguồn cải cách tiền lương CBCCVC

Thứ năm, tiền lương danh nghĩa của CBCCVC có xu hướng tăng do

nhiều lần điều chỉnh mức lương tối thiểu chung trên cơ sở bù trượt giá và tăng trưởng kinh tế, mở rộng quan hệ tiền lương tối thiểu - trung bình - tối đa, từng bước tiền tệ hóa các khoản ngoài lương nhằm khắc phục bình quân, bao cấp và

ổn đinh đời sống của CBCCVC Theo Bộ Nội vụ, từ năm 2003 đến nay, mức lương tối thiểu chung cho người lao động trong khu vực hành chính - sự nghiệp

đã điều chỉnh 7 lần từ 210.000 đồng/tháng lên 830.000 đồng/tháng, với mức tăng gần 4 lần Từ ngày 1/5/2012, mức lương tối thiểu đã được quyết đinh tăng lên mức 1.050.000 nghìn đồng/tháng

Theo Vụ Tiền lương (Bộ Nội vụ), sẽ cố gắng đến năm 2018 điều chỉnh lương tối thiểu của công chức đảm bảo nhu cầu tối thiểu - khoảng 3 triệu đồng/tháng và phụ cấp công vụ khoảng 30% Tuy nhiên, theo PGS., TS.Trần Văn Thiện, Viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực – Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh, mặc dù đã qua 7 lần điều chỉnh mức lương tối thiểu nhưng nếu tính tới chỉ số lạm phát và giá cả tiêu dùng thì lương tối thiểu thực tế chỉ tăng hơn 0,05 lần Tính ra, trung bình mỗi năm lương tối thiểu thực tế chỉ tăng 0,64%

2.3 Những bất cập, hạn chế

Thứ nhất, so với mức phát triển của nền kinh tế nước ta hiện nay, có thể

thất, mức tiêu tính đúng, tính đủ tối thiểu được đặt ra là khá cao nhưng thực tế đạt được còn thấp Mức lương tối thiểu so với nhu cầu của người lao động và nhu cầu đặt ra là quá thấp không đủ cho nhu cầu cần thiết của bản thân Việc quy đinh mức lương tối thiểu chủ yếu phụ thuộc vào khả năng Ngân sách Nhà nước, chưa tôn trọng thực tế mức tiền công đã hình thành trên thi trường và các kết quả nghiên cứu khoa học Vì vậy, lương tối thiểu chưa thực sự là cơ sở hình thành mức tiền công thi trường sức lao động, dẫn tới tiền lương thấp hơn nhiều lần so với thu nhập thực tế của người lao động

Trang 9

Thứ hai, về việc xác đinh tiền lương tối thiểu, ngoại trừ hệ thống nhu cầu

của người lao động, các căn cứ xác đinh mức lương tối thiểu chung chỉ được phản ánh trong lý luận nhiều hơn thực tế áp dụng Chúng ta vẫn áp đặt khả năng cân đối ngân sách với đối tương hưởng lương và trợ cấp từ ngân sách nhà nước

để xác đinh là chủ yếu Bên cạnh đó, không có sự luân chuyển lao động và sự đa dạng hóa các hình thức tổ chức lao động giữa các vùng, ngành, nghề nên tiền lương tối thiểu chung ở nước ta còn nhiều bất hợp lý, nhất là đối với khu vực sản xuất kinh doanh Vì vậy, mức lương tối thiểu chưa phát huy được hết chức năng cân đối cung- cầu giữa các vùng, các ngành, nghề Việc quy đinh mức lương tối thiểu chung chỉ có ý nghĩa đối với việc trả lương từ ngân sách nhà nước, với việc đóng bảo hiểm xã hội, không có tác dụng trong việc hình thành đúng chi phí tiền lương trong sản xuất kinh doanh Việc áp dụng mức lương tối thiểu theo vùng dường như chỉ có ý nghĩa đối với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

Thứ ba, trong khi tiền lương không đủ sống, thì thu nhập ngoài lương lại

rất cao (phụ thuộc vào vi trí, chức danh công việc, lĩnh vực quản lý, vùng, miền…) và không có giới hạn, không minh bạch, cũng không kiểm soát được Trong phần thu nhập ngoài lương cho đến nay không ai có thể thống kê, đánh giá đinh lượng được, có thể có phần chính đáng, song chủ yếu là không chính đáng do lợi dụng quyền lực để tham nhũng, tiêu cực trong thi hành công vụ (từ biếu xén, cơ chế xin - cho, cơ chế ăn chia…) Mức lương tối thiểu của công chức năm nay được nâng lên, song vẫn là mức quá thấp, không đủ cho chi phí trong cuộc sống vốn ngày càng đắt đỏ do lạm phát Chính điều này đã tạo “đất sống” cho tham nhũng, tiêu cực ngày càng nhức nhối…

Thứ tư, tiền lương Nhà nước quy đinh trả cho CBCCVC mặc dù còn rất

thấp, nhưng tổng quỹ lương và trợ cấp do NSNN bảo đảm lại chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng chi NSNN, cho nên buộc phải “gọt chân cho vừa giày” Đó là một trong những nút thắt khó gỡ nhất trong cải cách chính sách tiền lương đối với CBCCVC vừa qua Theo Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (Bộ Tài

Trang 10

chính), hiện nay mức độ đảm bảo từ NSNN cho trả lương và các khoản có tính chất lương là khá cao và liên tục tăng nhanh Cụ thể, năm 2011, lương, phụ cấp ước chiếm 51% chi thường xuyên của NSNN, đạt gần 9,6% GDP Trong khi năm 2010, con số này chỉ là 6,7% GDP Ngoài ra, 21 ngành được hưởng ở 16 loại phụ cấp ưu đãi khác nhau đang có xu hướng mở rộng hơn, khiến NSNN dành cho lương tối thiểu ngày càng bi mỏng đi

Thứ năm, việc thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp

công (dich vụ công) còn chậm và đạt kết quả thấp, nhất là trong y tế, giáo dục và đào tạo… gây khó khăn cho cải cách tiền lương và tạo nguồn để trả lương cao cho CBCCVC Đối với các tỉnh, thành phố lớn đông dân cư như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh… dễ dàng kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước triển khai thực hiện, nhưng đối với cấp huyện, nhất là đối với huyện thuộc vùng núi cao, trung

du, hải đảo, việc triển khai thực hiện xã hội hóa rất khó khăn Đây cũng là một trong những cản trở lớn nhất của cải cách tiến lương, do chưa tách bạch rõ ràng chính sách tiền lương đối với công chức khu vực HCNN và viên chức khu vực

sự nghiệp cung cấp dich vụ công

Có thể nói rằng, cải cách chính sách tiền lương đối với CBCCVC từ năm

2003 đến nay chưa thành công và vẫn không thoát ra được vòng luẩn quẩn: Đó là chính sách tiền lương thấp không đủ sống, nhưng thu nhập ngoài lương lại rất cao, mỗi lần tăng lương tối thiểu làm cho gánh nặng của NSNN càng tăng Chính sách tiền lương dù đã “cải cách” vẫn chưa tạo ra động lực đủ mạnh cho người hưởng lương phát huy tài năng và cống hiến Tiền lương thấp không kích thích được CBCCVC gắn bó với Nhà nước, không thu hút được nhân tài; ngược lại, người làm việc giỏi, người có tài bỏ khu vực nhà nước ra làm việc cho khu vực ngoài nhà nước, nơi có tiền lương và thu nhập cao, có xu hướng tăng Mặt khác, lương thấp cũng là nguyên nhân quan trọng của tiêu cực, tham nhũng

Ngày đăng: 12/03/2018, 20:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w