LỜI MỞ ĐẦU Vấn đề tiền lương luôn là mối quan tâm hàng đầu của mỗi người lao động nói chung và các doanh nghiệp nhà nước nói riêng. Lương bổng là một trong những động lực kích thích con người làm việc hăng hái, kích thích người lao động làm việc có năng suất chất lượng và hiệu quả từ đó làm phát triển kinh tế xã hội, đời sống vật chật tinh thần của người lao động được cải thiện. Chính sách tiền lương tối thiểu luôn là vấn đề phức tạp, nhạy cảm, ảnh hưởng sâu rộng đến kinh tế xã hội của đất nước, đòi hỏi phải được cân nhắc kỹ nhiều mặt, cả về nội dung cải cách và lộ trình triển khai với những bước đi phù hợp, ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển đất nước, bảo đảm an sinh xã hội. Trả lương đúng cho công chức tức là bảo đảm cho họ đủ sống bằng lương, toàn tâm toàn ý nâng cao trách nhiệm, hoàn thành nhiệm vụ được giao với chất lượng cao, để họ yên tâm làm việc và thăng tiến bằng năng lực thực sự của họ, không phải lo về đời sống gia đình, không phải tìm kiếm thêm các khoản thu nhập không chính đáng ngoài lương, nảy sinh tệ nạn tham nhũng. Đồng thời, chính sách tiền lương tối thiểu đối với công chức hợp lý còn góp phần thu hút được người tài vào bộ máy nhà nước, xây dựng đội ngũ công chức liêm khiết, tận tuỵ xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân. Lương của công chức phải được trả tương xứng với vị trí công việc được giao, để họ tập trung vào hoạt động công vụ, không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác. Như vậy, vấn đề tiền lương của công chức không chỉ là việc thu nhập của riêng công chức mà chính là vấn đề uy tín của bộ máy nhà nước, là phục vụ yêu cầu xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, hiện đại, tương thích với công vụ các nước trong khu vực và trên thế giới. Chính vì vậy, em đã chọn đề tài: “Chính sách tiền lương tối thiểu khu vực công ở Việt nam những năm gần đây.Thực trạng và các khuyến nghị” làm đề tài cho bài tiểu luận của mình. Bài tiểu luận kết cầu gồm ba phần: Phần 1:Cơ sở lý luận Phần 2: Phân tích chính sách tiền lương tối thiểu trong khu vực công ở Việt Nam Phần 3: Một số khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chính sách tiền lương tối thiểu trong khu vực công
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề tiền lương luôn là mối quan tâm hàng đầu của mỗi người lao động nói chung và các doanh nghiệp nhà nước nói riêng Lương bổng là một trong những động lực kích thích con người làm việc hăng hái, kích thích người lao động làm việc có năng suất chất lượng và hiệu quả từ đó làm phát triển kinh tế xã hội, đời sống vật chật tinh thần của người lao động được cải thiện
Chính sách tiền lương tối thiểu luôn là vấn đề phức tạp, nhạy cảm, ảnh hưởng sâu rộng đến kinh tế - xã hội của đất nước, đòi hỏi phải được cân nhắc kỹ nhiều mặt, cả
về nội dung cải cách và lộ trình triển khai với những bước đi phù hợp, ổn định kinh
tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển đất nước, bảo đảm an sinh xã hội Trả lương đúng cho công chức tức là bảo đảm cho họ đủ sống bằng lương, toàn tâm toàn ý nâng cao trách nhiệm, hoàn thành nhiệm vụ được giao với chất lượng cao, để họ yên tâm làm việc và thăng tiến bằng năng lực thực sự của họ, không phải lo về đời sống gia đình, không phải tìm kiếm thêm các khoản thu nhập không chính đáng ngoài lương, nảy sinh tệ nạn tham nhũng Đồng thời, chính sách tiền lương tối thiểu đối với công chức hợp lý còn góp phần thu hút được người tài vào
bộ máy nhà nước, xây dựng đội ngũ công chức liêm khiết, tận tuỵ xứng đáng với
sự tin cậy của nhân dân
Lương của công chức phải được trả tương xứng với vị trí công việc được giao, để
họ tập trung vào hoạt động công vụ, không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác Như vậy, vấn đề tiền lương của công chức không chỉ là việc thu nhập của riêng công chức mà chính là vấn đề uy tín của bộ máy nhà nước, là phục vụ yêu cầu xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, hiện đại, tương thích với công vụ các nước trong khu vực và trên thế giới
Chính vì vậy, em đã chọn đề tài: “Chính sách tiền lương tối thiểu khu vực công ở Việt nam những năm gần đây.Thực trạng và các khuyến nghị” làm đề tài
cho bài tiểu luận của mình Bài tiểu luận kết cầu gồm ba phần:
Phần 1:Cơ sở lý luận
Phần 2: Phân tích chính sách tiền lương tối thiểu trong khu vực công ở Việt Nam
Trang 2Phần 3: Một số khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chính sách tiền lương tối thiểu trong khu vực công
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm tiền lương
Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động, căn cứ vào số lượng và chất lượng của người lao động phù hợp với quy luật cung cầu và phù hợp với pháp luật lao động
1.1.2 Khái niệm tiền lương tối thiểu trong khu vực công
Tiền lương tối thiểu trong khu vực công là số tiền để trả cho người lao động có trình độ thấp nhất trong khu vực công Đó là số tiền đảm bảo cho người lao động
có thể mua được tư liệu sinh hoạt dịch vụ và tiêu dùng thiết yếu cho tái sản xuất sức lao động cá nhân và dành một phần Bảo hiểm tuổi già và nuôi con
*Đặc trưng:
-Được trả cho người làm công việc có trình độ lao động giản đơn
-Được trả tương ứng với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất
-Được trả trong điều kiện lao động và môi trường bình thường
-Được trả cho người lao động chưa qua đào tạo
*kết cấu:
Xuất phát từ nhu cầu:
-Tái sản xuất
-Bảo hiểm
-Nuôi con
1.2.Vai trò của tiền lương tối thiểu trong khu vực công
Trang 3-Là thước đo để đánh giá trình độ và mức độ phức tạp lao động của người lao động -Là cơ sở để tính tiền lương và các chế độ phụ cấp theo quy định
-Bảo đảm sựu trả công tương đương cho những công việc tương đương
-Được dùng để tính các khoản trích và khoản thưởng theo mức lương cơ sở
-Tính các mức trợ cấp dôi dưu do xắp xếp cơ cấu trong tổ chức
- Giảm bớt sự đói nghèo
-Là công cụ để nhà nước quản lý tiền lương và đạt được các mục tiêu khác cảu nhà nước
1.3.Cơ chế, thời gian điều chỉnh của tiền lương trong khu vực công
1.4.Các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương trong khu vực công
1.4.1.Nhóm nhân tố chung
-Quy định của pháp luật: các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước trong từng thời kỳ quy định về mức tiền lương tối thiểu, thang bảng lương và phụ cấp
-Nền kinh tế hội nhập có ảnh hưởng đến việc xây dựng hệ thống thang bảng lương, phụ cấp cho phù hợp với khu vực và quốc tế
-Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đạc biệt là thị trường lao động nên việc tuyển dụng, thu hút, giữ chân người lao động thì chính sách tiền lương có vai trò quyết định
-Vai trò của công đoàn trong việc xây dựng quy chế chả lương, đơn giá tiền lương, thưởng
-Ngân sách nhà nước : Qũy lương chiếm khoảng 60% chi thường xuyên và khoảng 30% tổng chi Ngân sách Nhà nước hàng năm( khoảng 200 ngàn tỷ đồng chi tiền lương hàng năm)
-Số người được hưởng lương từ ngân sách nhà nước: hiện nya cả nước có trên 1,7 triệu viên chức sự nghiệp, gần 400.000 công chức hành chính, gần 300.000 cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã phường chưa kể đến đối tượng hưởng lương hưu
và trợ cấp xã hội từ nguồn ngân sách
Trang 4-Đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp phụ thuộc vào nguồn thu và tiets kiệm; đối với đơn vị có hệ số lương tăng thêm như : ngành thuế, Bảo hiểm xã hội phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện của đơn vị và cá nhân người lao động; phụ thuộc ngân sách địa phương có thể hỗ trợ vào lương
1.4.2.Nhóm nhân tố thuộc bản thân người lao động
-Trình độ lao động: Với lao động có trình độ cao thì sẽ có thu nhập cao hơn so với lao động có trình độ thấp bởi để đạt được trình độ đó người lao động phải bỏ ra một khoản chi phí tương đương cho việc đào tạo đó, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn thì việc hưởng lương cao là tất yếu
-Thâm niên công tác và kinh nghiệm làm việc, thâm niên nhiều và tay nghề cao thì
có mức lương cao Mức độ hoàn thành công việc nhanh hay chậm, đảm bảo chất lượng hay không đều ảnh hưởng ngay đến tiền lương cho người lao động
Trang 5PHẦN 2:PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG
TỐI THIỂU TRONG KHU VỰC CÔNG CỦA VIỆT NAM
2.1.Khái quát tiền lương tối thiểu trong khu vực công của Việt
2.1.1 Mức tiền lương tối thiểu được áp dụng trong thời gian qua
Lương tối thiểu được xác định theo tháng, ngày, giờ (Khoản 1, Điều 91 của Bộ luật Lao động 2012) Chính phủ công bố mức lương tối thiểu hàng tháng, trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng tiên lương quốc gia và căn cứ vào nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội và mức tiền lương trên thị trường lao động (Khoản 2, Điều 91 Bộ luật Lao động 2012) Tiền lương công chức hiện nay ở nước ta chưa phản ánh đúng giá trị sức lao động của họ - một loại lao động đặc biệt - lao động quyền lực Điều đó góp phần làm cho các giá trị xã hội của người công chức bị giảm sút, dễ bị tổn thương và là mảnh đất nảy sinh tình trạng quan liêu, tham nhũng ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ Từ năm 1985 đến nay, Việt Nam đã thực hiện 2 lần cải cách tiền lương và hệ thống chính sách tiền lương đã từng bước chuyển biến theo hướng tích cực Từ tháng 01 năm 2003 đến tháng 5 năm 2012, Chính phủ đã 8 lần điều chỉnh tăng lương tối thiểu chung áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức từ mức 210.000 đồng/tháng lên 1.050.000 đồng/tháng, bình quân tăng 20% năm
Mới đây nhất là mức lương cơ sở cho khối hành chính sự nghiệp cũng sẽ tăng từ 1.210.00VNĐ lên 1.300.000VNĐ (theo Nghị quyết về dự toán ngân sách Nhà nước 2017)
2.1.2 Đối tượng áp dụng
Theo Điều 2 Nghị Định số: 31/2012/NĐ-CP đối tượng áp dụng mức lương tối thiểu ở khu vực công là cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang và người lao động làm việc ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức:
- Cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
- Đơn vị sự nghiệp của Nhà nước; đơn vị sự nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu được
tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp
Trang 62.1.3 Cơ chế áp dụng
Cơ chế xác định tiền lương tối thiểu là cơ chế ba bên (3P) bao gồm: Chính Phủ,các
tổ chức đại diện cho người lao động và tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động
Sự ra đời của Hội đồng Tiền lương Quốc gia tháng 8/ 2013 đánh dấu sự cải thiện đáng kể của cơ chế xác định tiền lương tối thiểu tại Việt Nam Hội đồng tạo điều kiện cho công đoàn và đại diện giới sử dụng lao động thương lượng về tiền lương tối thiểu và đưa ra khuyến nghị.Hội đồng có nhiệm vụ phân tích tình hình kinh tế
-xã hội, mức sống dân cư để xác định, dự báo nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ; đánh giá tình hình thực hiện mức lương tối thiểu, mức tiền lương trên thị trường lao động và khả năng chi trả của doanh nghiệp để xây dựng
và khuyến nghị với Chính phủ phương án tiền lương tối thiểu hằng năm và từng thời kỳ Ngoài ra, Hội đồng nghiên cứu, khuyến nghị với Chính phủ mức lương tối thiểu theo giờ áp dụng đối với một số nghề, công việc không thường xuyên hoặc làm việc không trọn thời gian
Hội đồng Tiền lương Quốc gia (Hội đồng) gồm 15 thành viên là đại diện Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH), Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Hiệp hội ngành nghề ở Trung ương có sử dụng nhiều lao động
2.2.Thực trạng chính sách tiền lương tối thiểu trong khu vực công của Việt Nam những năm gần đây
Chủ trương của Đảng coi việc trả lương đúng cho người lao động là thực hiện đầu
tư cho phát triển, tạo động lực để phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng dịch vụ công, góp phần làm trong sách và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước
Nhà nước đã nhiều lần điều chỉnh tiền lương tối thiểu sao cho đảm bảo được nhu cầu sống tối thiểu của cán bộ công chức, cụ thể qua bảng sau:
Bảng 1 Các mức điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu trong khu vực công ở
Việt Nam giai đoạn 2000-2015
ĐVT : Việt Nam đồng
Trang 7Nghị định Thời điểm áp dụng Mức lương tối thiểu
chung
77/2000/NĐ-CP
03/2003/NĐ-CP
118/2005/NĐ-CP
94/2006/NĐ-CP
166/2007/NĐ-CP
33/2009/NĐ-CP
28/2010/NĐ-CP
22/2011/NĐ-CP
31/2012/NĐ-CP
66/2013/NĐ-CP
Nghị định số 122/2015/NĐ-CP ngày 14/11/2015 của Chính phủ có hiệu lực, từ tháng 01 năm 2016 01/5/2016 mới được điều chỉnh lên 1.210.000 đồng
Trang 8Có thể thấy trong vòng 15 năm qua, Đảng và Nhà nước luôn luôn cố gắng nâng cao đời sống của cán bộ công chức bằng cách liên tục tăng lương qua từng năm Ta
có thể thấy vào năm 2000 khi Việt Nam đã triệt để thay đổi cấu trúc tiền lương từ việc phân phối gián tiếp sang trực tiếp, xóa bỏ bao cấp tình hình đất nước chưa phát triển được nên mức lương chung tối thiểu ở giai đoạn đó là 210.000 đồng,Vào thời gian đó, đồng tiền còn chưa bị trượt giá nên mức tiền lương tối thiểu đó vẫn đảm bảo mức sống cho cán bộ công chức
Tuy vậy mức độ tăng lương qua mỗi lần sửa đổi còn thấp, khoảng cách lương cong ngắn.Từ năm 2000-năm 2009 chỉ tăng được có 90.000 đồng/cán bộ công chức, tiếp theo đó đến năm 2010 ta thấy từ 2000-2010 trải qua 10 năm vậy mà tiền lương của cán bộ công chức chỉ tăng có 520.000 đồng trong vòng 10 năm, mỗi năm chỉ tawg lên có vài chục nghìn đồng Điều này phản ảnh tình hình kinh tế đất nước trong 10 năm kém phát triển, ngân sách nhà nước quá hạn hẹp để mà chi trả lương cho cán
bộ công chức
Ngày 7/11 Việt Nam ra nhập WTO,mở ra nều cơ hội phát triển nền kinh tế, trong năm nấy, tiền lương tối thiểu tăng lên từ 730.000 đồng năm 2010 lên 830.000 đồng đánh dấu sự phát triển của nên kinh tế cũng như sự phát triển của nền hành chính công theo đó mà ngân sách nhà nước có nhiều nguồn thu hơn từ đó quỹ lương để chi trả cho cán bộ viên chức cũng lớn hơn
Qua hơn 5 năm cái cách việc nâng lương giai đoạn 2011-2015, cho thấy một sự nỗ lực bền bỉ của Đảng và Nhà nước khi mà bộ máy nhà nước trở nên quá cồng kềnh,
dư thừa nhân lực không cần thiết và đem lại hiệu quả làm việc kém, việc thu lại tiền đầu tư cho bên ngoài gặp khó khăn, không thể tận thuế từ các doanh nghiệp nên ngân sách chỉ có hạn mà đội ngũ cán bộ công chức lại nhiều thì việc tăng lương cao là rất khó khăn, ta có thể thấy khoảng cách tăng lương là hơn 100.000 đồng/công chức cán bộ và mới đây nhất là tăng lên 1.210.000 đồng
Tuy có tăng lương liên tục nhưng vẫn không thể đáp ứng đủ nhu cầu của công chức cán bộ khi mà tiền lương bên ngoài thị trường lao động tăng gấp nhiều lần và giá
cả sinh hoạt thì leo thang đồng loạt tăng giá như hiện nay thì việc tăng lương này
có thể ví như ” hạt muối bỏ biển” , nó không thể làm thỏa mãm nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống của cán bộ công chức tuy nhiên tiền lương tối thiểu cũng được nâng dần qua từng giai đoạn cũng đã góp phần cải thiện đời sống, sinh hoạt của đội ngũ cán bộ, công chức
Trang 92.3.Đánh giá chung về tiền lương tối thiểu trong khu vực công ở Việt Nam những năm gần đây
2.3.1.Ưu điểm
Mức lương tối thiểu chung được quy định từ năm 1993 và trong các năm tiếp theo cho đến nay đã điều chỉnh tăng dần cùng cho thấy:
-Thứ nhất, tiền lương tối thiểu bảo đảm tái sản xuất sức lao động giản đơn và một phần để tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng cho những người lao động làm công ăn lương, phù hợp với khả năng của nền kinh tế, khả năng chi trả của người
sử dụng lao động và bảo đảm quan hệ hợp lý với mặt bằng tiền công trên thị
trường và mức sống của các tầng lớp dân cư trong xã hội
-Thứ hai, Các mức tiền lương tối thiểu trong khu vục công do Nhà nuớc qui định
có tác động ổn định mức sống cho công chức ở mức tối thiểu
-Thứ ba, tiền lương tối thiểu căn cứ để trả công, mức tiền lương tối thiểu được coi
là mức sàn thấp nhất cho công chức có trình độ đại học với bậ lương thấp nhất; dùng làm căn cứ tính các mức lương khác của hệ thống thang, bảng lương và phụ cấp lương trong khu vực nhà nước
-Thứ tư, tiền lương tối thiểu thiết lập mối quan hệ về kinh tế Tăng khả năng gns
bó với tổ chức đơn vị hành chính sự nghiệp vào thị trường lao động của khu vực và quốc tế
-Chính sách tiền lương tối thiểu đi vào cuộc sống đã phát huy vai trò của nó trong cải thiện đời sống công chức Tiền lương tối thiểu được điều chỉnh tăng dần (trên 20% mỗi lần điều chỉnh) đã từng bước thực hiện tiền tệ hóa tiền lương, thay đổi cơ cấu nhu cầu của mức sống tối thiểu theo hướng được cải thiện hơn
Quá trình thực hiện, tiền lương tối thiểu đã thực sự tham gia vào điều tiết quan hệ cung-cầu lao động trên thị trường; làm cho thị trường lao động phát triển sôi động trên cơ sở chính sách tiền lương linh hoạt hơn Thông qua việc quy định tiền lương tối thiểu, tiền lương trong khu vực sản xuất kinh doanh dần trả đúng giá trị lao động, phụ thuộc vào năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh
2.3.2.Hạn chế
-Tình trạng trả lương còn mang tính “cào bằng”, cán bộ, công chức được trả theo chức nghiệp, thâm niên công tác, chức vụ; tình trạng “làm nhiều, làm ít cũng
Trang 10hưởng lương như nhau” dẫn đến tiền lương chưa phù hợp với mức độ cống hiến, chưa phản ảnh đúng năng lực, kết quả công tác của cán bộ, công chức
-Việc xác định và điều chỉnh mức lương tối thiểu và cơ chế áp dụng mức lương tối thiểu chưa được pháp luật quy định cụ thể, dẫn đến trong quá trình thực hiện còn thiếu nhất quán, thiếu căn cứ khoa học và có tính áp đặt, chưa sát với tình hình thực tế và yêu cầu khách quan của cuộc sống
-Chưa gắn với nhu cầu sống tối thiểu của công chức và sát với mức tiền công trên thị trường để đảm bảo tiền lương tối thiểu đủ sống Một thực tế cho thấy, mặc dù trong những năm gần đây, việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu đã được thực hiện thường xuyên, tuy nhiên, mức tiền lương tối thiểu do nhà nước quy định không đáp ứng được cuộc sống tối thiểu chocông chức Chính sách tiền lương tối thiểu thấp
đã gây ra những hệ quả tiêu cực, làm cho người hưởng lương không sống được bằng tiền lương và thu nhập ngoài lương chiếm tỷ lệ cao, lại không được kiểm soát, làm cho chính sách tiền lương bị bóp méo Chính sách tiền lương tối thiểu bị ràng buộc bởi nhiều quan hệ kinh tế, quan hệ lao động, quan hệ xã hội (chính sách BHXH, chế độ đóng BHXH trong các doanh nghiệp, trợ cấp thôi việc, bồi thường tai nạn lao động, …) Đây là những mắt xích, những nút trói buộc chính sách tiền lương làm cho nó khó thoát ra khỏi cơ chế hành chính, bao cấp để đi vào đời sống
xã hội
-Tiền lương tối thiểu khu vực hành chính Nhà nước gắn liền với tiền lương tối thiểu chung là một sự bất hợp lý trong quan hệ tiền lương, làm cho tiền lương khu vực này luôn thấp hơn khu vực thị trường, và do đó dẫn đến dòng di chuyển lao động từ khu vực Nhà nước sang khu vực có tiền lương cao hơn, đồng thời là một trong những nguyên nhân gây tiêu cực, tham nhũng Mặt khác, khu vực dịch vụ công (nhất là sự nghiệp công) với cơ chế tiền lương tối thiểu hiện hành chưa thúc đẩy mạnh lao động khu vực này tham gia thị trường lao động và trở thành lực cản mạnh nhất trong cải cách hành chính ở nước ta hiện nay
-Việc quy định căn cứ để điều chỉnh lương tối thiểu còn chưa đầy đủ Ngoài yếu tố lạm phát của tiền tệ thì việc tăng mức lương tối thiểu cũng cần được xem xét điều chỉnh khi năng suất lao động trung bình của xã hội tăng lên và theo sự tăng trưởng của nền kinh tế Song, các quy định của pháp lụât và thực tế điều chỉnh tiền lương tối thiểu trong hơn chục năm qua chưa xác định yếu tố này Như vậy, pháp luật chưa có sự đảm bảo để công chức hưởng lương tối thiểu nói riêng và người lao động nói chung được tham gia đầy đủ vào sự phồn vinh của nền kinh tế