1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện quản lý chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội tại thành phố kon tum, tỉnh kon tum

144 254 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 5,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, hiện nay hoạt động quản lý chi trả các chế độ BHXH vẫn còn nhiều bất cập, đối tượng thụ hưởng thường xuyên biến động gây nhiều khó khăn cho công tác chi trả, tình trạng trục l

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Bố cục luận văn 4

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI 8

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BHXH 8

1.1.1 Một số khái niệm 8

1.1.2 Vai trò của quản lý chi trả các chế độ BHXH 15

1.1.3 Nguyên tắc quản lý chi trả các chế độ BHXH 16

1.2 NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BHXH 18

1.2.1 Lập dự toán chi các chế độ BHXH 18

1.2.2 Tổ chức thực hiện chi các chế độ BHXH 20

1.2.3 Công tác quyết toán chi các chế độ BHXH 24

1.2.4 Kiểm tra, giám sát công tác chi trả các chế dộ BHXH 25

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BHXH 26

1.3.1 Điều kiện kinh tế xã hội 26

1.3.2 Hệ thống pháp luật, quy định về BHXH 27

1.3.3 Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý chi trả các chế độ BHXH 29

Trang 5

2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI, KINH TẾ 30

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 30

2.1.2 Đặc điểm xã hội 30

2.1.3 Đặc điểm kinh tế 34

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BHXH TẠI THÀNH PHỐ KON TUM 37

2.2.1 Thực trạng lập dự toán chi các chế độ BHXH 37

2.2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện chi các chế độ BHXH 41

2.2.3 Thực trạng công tác quyết toán chi các chế độ BHXH 62

2.2.4 Thực trạng kiểm tra, giám sát công tác chi các chế độ BHXH 64

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG 64

2.3.1 Thành công và hạn chế 64

2.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế 67

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ KON TUM 70

3.1 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BHXH TẠI THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 70

3.1.1 Mục tiêu phát triển của Bảo hiểm xã hội Việt Nam 70

3.1.2 Mục tiêu phát triển của Bảo hiểm xã hội tỉnh Kon Tum 71

3.1.3 Một số phương hướng chủ yếu hoàn thiện quản lý chi trả các chế độ trên địa bàn thành phố Kon Tum 73

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BHXH TẠI THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 74

3.2.1 Hoàn thiện lập dự toán chi trả các chế độ BHXH 75

3.2.2 Hoàn thiện tổ chức chi trả các chế độ BHXH 76

Trang 6

3.2.5 Các giải pháp khác 81

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 84

3.3.1 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 84

3.3.2 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội tỉnh Kon Tum 86

KẾT LUẬN 88 PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)

Trang 7

ASXH An sinh xã hội

BHTN Bảo hiểm thất nghiệp

BHXH Bảo hiểm xã hội

BHYT Bảo hiểm y tế

CNTT Công nghệ thông tin

Trang 8

2.3 Cơ cấu dân số của thành phố Kon Tum theo khu vực và

giới tính qua các năm 2013-2016 32

2.4 Tình hình lao động của thành phố Kon Tum qua các năm

2.5 Số lao động có việc làm trong tuổi lao động theo ngành

tại thành phố Kon Tum qua các năm 2013-2016 33

2.6 Giá trị sản xuất của thành phố Kon Tum qua các năm

2.7 Cơ cấu kinh tế của thành phố Kon Tum qua các năm

2.8 Mức chi bình quân các chế độ BHXH tại thành phố Kon

Tum qua các năm 2013-2016 38

2.9 Tình hình lập dự toán chi BHXH tại thành phố Kon Tum

2.10 Tổng hợp đối tượng hưởng các chế độ BHXH hàng tháng

từ qua các năm 2013-2016 45 2.11 Tổng hợp đối tượng hưởng các chế độ BHXH một lần

Trang 9

Số ệu

2.12 Tổng hợp đối tượng hưởng các chế độ BHXH ngắn hạn

2.13 Tình hình thực hiện các hình thức chi trả BHXH tại thành

phố Kon Tum qua các năm 2013-2016 54

2.14 Tổng hợp tình hình chi BHXH tại thành phố Kon Tum

2.15 Số tiền chi trả chế độ hưu trí tại thành phố Kon Tum qua

2.16 Số tiền chi trả chế độ MSLĐ, Tử tuất và TNLĐ-BNN tại

thành phố Kon Tum qua các năm 2013 - 2016 58

2.17 Số tiền chi trả chế độ BHXH một lần tại thành phố Kon

Tum qua các năm 2013 – 2016 60

2.18 Số tiền chi trả các chế độ BHXH ngắn hạn tại thành phố

Kon Tum qua các năm 2013 – 2016 61 2.19 Tổng hợp thu hồi chi sai BHXH tại thành phố Kon Tum

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số ệu

2.1 Đối tượng hưởng chế độ BHXH tại thành phố Kon Tum

từ năm 2013 đến năm 2016 48

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp t ết ủ đề tài

Khoa học ngày càng phát triển, con người ngày chế ngự và dự báo được những rủi ro diễn ra trong cuộc sống như thiên tai, dịch bệnh Tuy nhiên trước diễn biến phức tạp của cuộc sống, con người cũng không thể lường trước được những rủi ro như bệnh tật, tuổi già, ốm đau, sinh tử Mong muốn

có một khoản bù đắp những rủi ro không chỉ là của mỗi người mà còn là sự quan tâm, chăm sóc của Đảng và Nhà nước

Bảo hiểm xã hội (BHXH) chính là sự đảm bảo hay bù đắp đó Nó sẽ là

sự đảm bảo và bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ - BNN, hết tuổi lao động hoặc chết trên

cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội Khi tham gia, người lao động sẽ yên tâm cống hiến và không phải lo lắng nhiều

về những rủi ro mà mình có thể gặp phải trong hoạt động sản xuất, công tác, sinh hoạt

Hoạt động của ngành BHXH rất đa dạng và phong phú bao gồm: thu tiền đóng của người sử dụng lao độngvà người lao động; triển khai chi trả các chế

độ chính sách cho người thụ hưởng như: ốm đau, thai sản, DSPHSK, hưu trí,

tử tuất ; cấp sổ BHXH và thẻ BHYT

Chi BHXH là quá trình phân phối, sử dụng quỹ để chi trả cho các chế độ nhằm ổn định cuộc sống của người lao động tham gia BHXH và đảm bảo các hoạt động của hệ thống

Hoạt động chi trả các chế độ BHXH là một nhiệm vụ quan trọng của Ngành, góp phần thực thi chính sách an sinh của Đảng và nhà nước đối với người lao động Nhận thức được điều đó, thời gian qua tại BHXH thành phố

Trang 12

Kon Tum đã rất quan tâm đến công tác quản lý chi trả các chế độ trên địa bàn thành phố Kon Tum Sau hơn 20 năm hoạt động, BHXH thành phố Kon Tum

đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đã tổ chức chi trả cho hàng trăm ngàn đối tượng dài hạn và ngắn hạn, đảm bảo chi đúng, chi đủ, chi kịp thời và chi tận tay cho đối tượng thụ hưởng

Tuy nhiên, hiện nay hoạt động quản lý chi trả các chế độ BHXH vẫn còn nhiều bất cập, đối tượng thụ hưởng thường xuyên biến động gây nhiều khó khăn cho công tác chi trả, tình trạng trục lợi quỹ vẫn còn xảy ra,… Bởi vậy, việc hoàn thiện quản lý công tác chi trả các chế độ là công việc cấp bách để đảm bảo quyền lợi của người tham gia, đảm bảo quỹ được an toàn không thất thoát, cân đối quỹ, góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội của Đảng

và nhà nước Đó là lí do tác giả chọn đề tài: “Hoàn thiện quản lý chi trả các

chế độ bảo hiểm xã hội tại thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum”

2 Mụ tiêu nghiên cứu ủ đề tài

Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng để đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý chi trả các chế

độ BHXH tại thành phố Kon Tum

Để thực hiện mục đích và các yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn đặt ra là:

- Hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận về quản lý chi BHXH ở địa phương

- Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý chi trả các chế độ BHXH trên địa bàn thành phố Kon Tum, chỉ rõ những thành tựu đạt được, hạn chế và những nguyên nhân chủ yếu

- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý chi trả các chế độ BHXH trên địa bàn thành phố Kon Tum

3 Câu ỏ ng ên ứu

Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu của đề tài cần trả các câu hỏi:

Trang 13

- Nội dung, vai trò, nguyên tắc quản lý chi trả các chế độ BHXH là gì ?

- Thực trạng quản lý chi trả các chế độ BHXH tại thành phố Kon Tum những năm qua như thế nào ?

- Những tồn tại hạn chế cần giải quyết là gì ?

- Những giải pháp để hoàn thiện quản lý chi trả các chế độ BHXH tại thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum trong thời gian tới ?

4 Đố tượng và p ạm v nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu: quản lý chi trả các chế độ BHXH cho các đối

tượng tham gia BHXH trên địa bàn một thành phố

5 P ương pháp nghiên ứu

Trên cơ sở sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, luân văn còn sử dụng các phương pháp chung như: thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh đối chiếu để phân tích thực trạng chi trả các chế độ BHXH tại thành phố Kon Tum

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: trên cơ sở những kiến thức đã được tích lũy về công tác chi trả các chế độ BHXH, kết hợp với quá trình tham khảo các tài liệu trong và ngoài nước về lĩnh vực này Luận văn đã phân tích

và tổng hợp các vấn đề chung về công tác quản lý chi trả các chế độ BHXH

- Phương pháp thống kê, so sánh đối chiếu: Luận văn đã phân tích, so sánh đối chiếu các số liệu đã được thống kê về tình hình thực hiện công tác chi trả các chế độ BHXH, đưa ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân

Trang 14

trong quá trình tổ chức thực hiện tại thành phố Kon Tum Từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi trả các chế độ BHXH tại thành phố Kon Tum

- Phương pháp thu thập thông tin: Niên giám thống kê, các báo cáo tổng kết cuối năm của BHXH Việt Nam, các báo cáo tài chính của BHXH thành phố Kon Tum giai đoạn 2013 - 2016, các số liệu thu thập từ các sở, ban ngành có liên quan

6 Bố ụ luận văn

Luận văn được kết cấu thành ba chương như sau:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chi bảo hiểm xã hội

- Chương 2: Thực trạng quản lý chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội tại thành phố Kon Tum

- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội tại thành phố Kon Tum

7 Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu

Trên thế giới hiện nay, có một số tài liệu nghiên cứu liên quan đề cập đến vấn đề ASXH, trong đó nêu lên các chương trình ASXH hoặc BHXH mà các nước trên thế giới đang tổ chức thực hiện Tuy nhiên, những tài liệu này chỉ nghiên cứu một cách tổng quan chung chung mà không xem xét kĩ vào vấn đề công tác quản lý chi trả các chế độ BHXH

Trong những năm qua, hoạt động BHXH ở nước ta đã được tổ chức thực hiện theo cơ chế mới Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến nó, cụ thể:

- Đề tài ngiên cứu khoa học cấp Bộ năm 1996: “Thực trạng quản lý thu BHXH hiện nay và các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thu” do TS Nguyễn Văn Châu làm chủ nhiệm Đề tài nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm quản lý thu của một số nước trên thế giới, tổng kết đánh giá thực tiễn hoạt

Trang 15

động quản lý thu của Việt Nam giai đoạn trước năm 1995 và những năm đầu khi BHXH Việt Nam mới thành lập và đi vào hoạt động từ 1995 đến 1996 Tác giả đã đưa ra một số kiến nghị để đổi mới nâng cao hiệu quả công tác thu

ở Việt Nam

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 1999: “Chiến lược phát triển BHXH phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2020” do TS Nguyễn Huy Ban làm chủ nhiệm Đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển BHXH, việc thực hiện nó ở một số nước trên thế giới và thực trạng tại Việt Nam, tác giả đã đưa ra những định hướng cơ bản

để phát triển BHXH ở Việt Nam

- Luận án Tiến sĩ của tác giả Đỗ Văn Sinh năm 2005 nghiên cứu vấn đề quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý quỹ ở Việt Nam, đề xuất quan điểm giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý quỹ ở Việt Nam

- Đề tài khoa học: "Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH ở Việt Nam" năm 2010 do Ths Nguyễn Thị Chính làm Chủ nhiệm Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ ở nước ta Đề tài đã tổng hợp, phân tích có hệ thống về hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ ở Việt Nam Qua

đó đã có những đánh giá xác đáng về hệ thống tổ chức chi trả các chế độ Đồng thời, nghiên cứu hoạt động chi trả các chế độ ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2003 đến 2008 về quy trình chi trả, phương thức chi trả, lệ phí chi trả, cơ

sở vật chất phục vụ công tác chi trả… rút ra kết quả đạt được và một số vấn

đề còn tồn tại Dựa trên cơ sở phân tích khoa học, đề tài đã đưa ra các giải pháp cụ thể, có tính khả thi cao nhằm hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ ở Việt Nam, bao gồm: Hoàn thiện hệ thống tổ chức chi trả; Đổi mới công tác lập kế hoạch chi trả; Hoàn thiện phương thức chi

Trang 16

trả; Quản lý chặt chẽ nguồn kinh phí chi trả; Tăng cường phương tiện phục vụ công tác chi trả; Kiện toàn công tác cán bộ; Tăng cường kiểm tra và thanh tra trong các khâu chi trả; Quản lý chặt chẽ chi trả các chế độ ngắn hạn; Tăng lệ phí chi trả và một số giải pháp khác

- Đề tài khoa học: “Đảm bảo tài chính cho BHXH Việt Nam” năm 2015 của Ths Nguyễn Thị Hào làm Chủ nhiệm Đề tài nghiên cứu đã đưa ra khái niệm đảm bảo tài chính cho BHXH dưới góc độ kinh tế chính trị học và luận giải nội dung đảm bảo tài chính bao gồm các vấn đề: đảm bảo thu; đảm bảo chi; đảm bảo duy trì sự cân đối và ốn định quỹ trong dài hạn; đảm bảo sự công bằng đối với các đối tượng tham gia Đề tài đã đưa ra hệ thống các tiêu chí đánh giá đảm bảo tài chính cho BHXH bao gồm: mức độ bao phủ của hệ thống; mức độ tuân thủ; mức độ thụ hưởng của NLĐ phân theo loại chế độ, khu vực kinh tế và giới tính; mức độ bền vững về tài chính … Trên cơ sở những tiêu chí đánh giá đảm bảo tài chính cho BHXH, đề tài đã làm rõ những kết quả và những hạn chế về đảm bảo tài chính cho BHXH Việt Nam, nguyên nhân của những kết quả, hạn chế

- Các bài báo được đăng tải trên các tạp chí, báo khoa học của ngành… Mặc dù đã có những công trình nghiên cứu có liên quan đến hoạt động BHXH ở một số tỉnh trong cả nước (Đồng Nai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Tĩnh, Tuyên Quang …), với nhiều góc độ khác nhau về cách tiếp cận, mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, các đề tài đó đã đề cập đến một số lĩnh vực hoạt động của BHXH và có những liên quan nhất định đến công tác quản

lý chi trả các chế độ BHXH Tuy nhiên, có đề tài được thực hiện trước khi có Luật BHXH và chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và hoàn thiện về công tác quản lý chi trả các chế độ BHXH tại thành phố Kon Tum một cách cập nhật và toàn diện Xuất phát từ lý do đó, cùng với định hướng

của Giảng viên hướng dẫn, tôi đã chọn đề tài: “Hoàn thiện quản lý chi trả các

Trang 17

chế độ bảo hiểm xã hội tại thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum” để nghiên

cứu, đề xuất các giải pháp và kiến nghị của mình nhằm hoàn thiện quản lý chi trả các chế độ BHXH tại thành phố Kon Tum, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh Kon Tum trong điều kiện Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BHXH 1.1.1 Một số á n ệm

a Bảo hiểm xã hội

Trong hoạt động của đời sống xã hội cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài những biến cố đã được con người tính toán một cách khoa học và được dự báo trước, con người luôn luôn phải đối mặt với những rủi ro bất ngờ có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân như: thiên tai (bão lụt, động đất, hạn hán ), tai nạn giao thông, tai nạn nghề nghiệp, ốm đau, dịch bệnh, hỏa hoạn Những bất trắc, rủi ro đó thường gây nên những hậu quả khó lường, làm ảnh hưởng đến đời sống xã hội, hoạt động sản xuất và ảnh hưởng tới sức khoẻ của con người Bởi vậy, ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu an toàn đối với con người cũng xuất hiện và đó là một trong những nhu cầu vĩnh cửu BHXH ra đời và trở thành giải pháp hữu hiệu giúp con người vượt qua những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống và trong quá trình lao động BHXH xuất hiện và phát triển cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì nước Phổ (nay thuộc Cộng hòa liên bang Đức) là nước đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ bảo hiểm ốm đau vào năm 1883, đánh dấu sự ra đời của BHXH Đến nay, BHXH trở thành nền tảng cơ bản của hệ thống ASXH của mỗi quốc gia, được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới và ngày càng phát triển Mặc dù đã

có quá trình phát triển tương đối dài, nhưng cho đến nay còn có nhiều khái niệm về BHXH, chưa có khái niệm thống nhất, chẳng hạn như:

- Theo Tổ chức Lao động quốc tế: "BHXH là hình thức bảo trợ mà xã hội dành cho các thành viên của mình thông qua nhiều biện pháp công nhằm

Trang 19

tránh tình trạng khốn khó về mặt kinh tế và xã hội do bị mất hoặc giảm đáng

kể thu nhập vì bệnh tật, thai sản, tai nạn lao động, mất sức lao động và tử vong; chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình có con nhỏ" [10]

- Theo Bộ Lao động: "BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do

sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần đảm bảo

an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội" [11, tr.7]

- "BHXH là việc tạo ra nguồn thu nhập thay thế trong trường hợp nguồn thu nhập bình thường bị gián đoạn đột ngột hoặc mất hẳn, bảo vệ cho những người lao động làm công ăn lương trong xã hội" [44]

- "BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần đảm bảo

an toàn xã hội" [31, tr.28-29]

- "BHXH là biện pháp mà Nhà nước sử dụng để đảm bảo thay thế hoặc

bù đắp một phần thu nhập cho người tham gia bảo hiểm, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động, chết; gắn liền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia bảo hiểm xã hội đóng góp và việc

sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm ổn định đời sống cho họ và gia đình

họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội" [18, tr.14]

Ngoài ra từ các góc độ khác, cũng có thể có những khái niệm khác

nhau:

Trang 20

- Dưới góc độ chính sách: BHXH là một chính sách xã hội, nhằm giải quyết các chế độ xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo người lao động

và bảo vệ sự phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị quốc gia

- Dưới góc độ tài chính: BHXH là một quỹ tài chính tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia và có sự hỗ trợ của Nhà nước

- Dưới góc độ thu nhập: BHXH là sự đảm bảo thay thế một phần thu nhập khi người lao động có tham gia BHXH bị mất hoặc giảm thu nhập

- Dưới góc độ quản lý: BHXH là công cụ quản lý của Nhà nước để điều chỉnh mối quan hệ kinh tế giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước; thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội

Từ các nhiều khái niệm dưới nhiều góc độ, theo tác giả có thể định nghĩa

chung nhất: “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập

của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, TNLĐ - BNN, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”

Các khái niệm trên đều có những điểm chung nhất định đó là đều thể hiện những nội dung cơ bản về BHXH:

- Là một loại hình bảo hiểm mang tính xã hội rất cao Vì vậy, hoạt động

không vì mục tiêu lợi nhuận

- Đối tượng là thu nhập của NLĐ, nhưng người được bảo vệ không chỉ

có NLĐ mà cả gia đình của họ Vì vậy, BHXH đã, đang và sẽ bảo vệ cho tất

cả các thành viên trong cộng đồng xã hội

- Tham gia đóng góp để hình thành nên quỹ BHXH bao gồm cả NLĐ và

NSDLĐ Quỹ được hình thành và sử dụng luôn có sự hỗ trợ và bảo hộ của Nhà nước

- Rủi ro và sự kiện trong BHXH đều liên quan đến thu nhập của NLĐ

Đó là các rủi ro như: ôm đau, thai sản, TNLĐ - BNN, thất nghiệp, tuổi già về

Trang 21

hưu, chết

b Quỹ bảo hiểm xã hội

Quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập trung, được hình thành từ đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu khác, sử dụng để bù đắp, hoặc thay thế thu nhập cho người tham gia bảo hiểm khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết; nhằm ổn định đời sống cho họ và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội và phát triển kinh tế của đất nước [18, tr.26]

* Quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn sau:

- NSDLĐ đóng theo quy định của luật: NSDLĐ đóng góp một phần cho

NLĐ một mặt sẽ tránh được những thiệt hại to lớn như đình trệ sản xuất, đào tạo lại lao động khi có rủi ro xảy ra đối với NLĐ mặt khác nó giảm bớt đi sự căng thẳng trong mối quan hệ vốn chứa đựng đầy những mâu thuẫn, tranh chấp giữa chủ và thợ

- NLĐ đóng theo quy định của luật: NLĐ đóng góp một phần vào quỹ

biểu hiện sự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình mặt khác nó có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi của họ một cách chặt chẽ Hỗ trợ của nhà nước: Nhà nước tham gia đóng góp một phần vào quỹ trên cương vị của người quản lý xã hội về mọi mặt với mục đích phát triển kinh tế ổn định xã hội Do mối quan hệ giữa chủ - thợ có chứa nhiều mâu thuẫn mà hai bên không thể tự giải quyết được Nhà nước buộc phải tham gia nhằm điều hoà mọi mâu thuẫn của hai bên thông qua hệ thống các chính sách, pháp luật Không chỉ có như vậy nhà nước còn hỗ trợ thêm vào giúp cho hoạt động BHXH được ổn định

- Các nguồn thu hợp pháp khác (như các cá nhân, tổ chức từ thiện ủng

hộ )

* Sử dụng quỹ:

Trang 22

Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho hai nội dung: Chi trả các chế độ BHXH và chi cho hoạt động quản lý sự nghiệp BHXH Trong đó, nguồn tài chính dùng để chi trả các chế độ BHXH chiếm đại bộ phận trong việc sử dụng quỹ BHXH Các chế độ BHXH được áp dụng với người lao động nhiều hay

ít, mức độ hưởng thụ của từng loại chế độ cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách BHXH do mỗi nhà nước quy định bằng pháp luật Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) ban hành Công ước số 102 ngày 04 tháng 6 năm 1952 về quy phạm tối thiểu an toàn xã hội, trong đó có quy định 9 chế độ trợ cấp, bao gồm: chăm sóc y tế; trợ cấp ốm đau; trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già (hưu bổng); trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp; trợ cấp gia đình; trợ cấp thai sản; trợ cấp tàn tật và trợ cấp tiền tuất

Quỹ BHXH được lập ra nhằm mục đích đảm bảo các nhu cầu về BHXH, đảm bảo đủ chi trả các trợ cấp cho những người thụ hưởng hiện tại và những người sẽ thụ hưởng trong tương lai Tỷ lệ, mức độ và các khoản chi trả cho các chế độ BHXH phụ thuộc vào chính sách của mỗi quốc gia được luật pháp hoá, phù hợp với các quy định của các công ước quốc tế, Đồng thời, để các hoạt động của cả hệ thống BHXH diễn ra bình thường, cần phải có các hoạt động quản lý mà chi phí được lấy từ quỹ Có thể tổng quát hoá cá khoản chi của quỹ như sau;

- Chi trả các trợ cấp: Đây là khoản chi chủ yếu của quỹ Tuỳ theo quy

định của từng nước, các chế độ trợ cấp có thể khác nhau Tuy, có thể có các loại trợ cấp sau:

+ Các trợ cấp ngắn hạn: dùng để chi cho các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản, TNLĐ - BNN, BHYT, thất nghiệp; trợ cấp gia đình

+ Các trợ cấp dài hạn: dùng để chi trả các chế độ dài hạn như hưu trí;

tử tuất, TNLĐ - BNN nặng;

Các trợ cấp này được xác định theo những căn cứ kinh tế - xã hội và các

Trang 23

điều kiện sinh học của mỗi nước trong giai đoạn nhất định và được pháp luật quy định

- Chi phí quản lý: Đây là khoản chi cho các hoạt động thường xuyên của

tổ chức, bao gồm:

+ Chi lương cho đội ngũ làm công tác trong toàn hệ thống;

+ Chi phí nghiệp vụ;

+ Chi nghiên cứu khoa học;

+ Chi phí hành chính (điện, nước, văn phòng phẩm, );

+ Chi phí mua sắm, sửa chữa,

- Chi phí đầu tư: khoản chi này để đảm bảo các hoạt động đầu tư phần

nhàn rỗi của quỹ được diễn ra bình thường và đạt hiệu quả cao Về mặt kế toán, khoản chi này có thể lấy trong tổng thu được từ lợi nhuận đầu tư

- Chi dự phòng: Đây là khoản dự trữ có thể phát sinh trong năm ngoài dự

liệu

- Những chi phí khác có liên quan đến hoạt động BHXH

c Chi bảo hiểm xã hội

Chi BHXH là một trong những nhiệm vụ trung tâm và đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của ngành BHXH

Chi bảo hiểm xã hội (thực chất là chi trả các chế độ BHXH) được hiểu

là việc cơ quan Nhà nước (cụ thể là cơ quan bảo hiểm xã hội) sử dụng số tiền thuộc nguồn Ngân sách Nhà nước và nguồn quỹ bảo hiểm xã hội để chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho đối tượng thụ hưởng theo luật định

Hoạt động chi trả BHXH được thực hiện sau khi người tham gia đã hoàn thành nghĩa vụ nộp bảo hiểm cho cơ quan BHXH Chi BHXH vừa có vai trò thực thi quyền lợi của người tham gia vừa góp phần ổn định đời sống, đảm bảo ASXH Nguồn tài chính dùng để chi trả các chế độ cho người lao động được lấy từ NSNN (đối với người lao động nghỉ hưởng BHXH trước ngày 01

Trang 24

tháng 01 năm 1995 và thực hiện chế độ hưu trí đối với quan nhân ttrực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở

về trước, có 20 năm trở lên phục vụ quân đội đã phục viên, xuất ngũ) và Quỹ BHXH

Chi BHXH được thực hiện bởi hai quá trình phân phối và sử dụng quỹ BHXH:

- Phân phối quỹ là quá trình phân bổ các nguồn tài chính từ quỹ BHXH đến các quỹ thành phần

- Sử dụng quỹ là quá trình chi tiền từ quỹ đến tay đối tượng thụ hưởng hoặc cho từng mục đích sử dụng cụ thể

Chi BHXH là một nhiệm vụ quan trọng của ngành BHXH góp phần thực thi chính sách ASXH của Đảng và Nhà nước đối với người lao động

d Quản lý chi trả bảo hiểm xã hội

Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý nhưng cách hiểu chung nhất là:

"Quản lý là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra" [21, tr.11] Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có xác định mục tiêu, thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể quản lý (quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (chịu sự quản lý), đây là quan hệ giữa lãnh đạo và bị lãnh đạo, không đồng cấp và có tính bắt buộc Nó diễn ra trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người với nhiều cấp độ, nhiều mối quan hệ với nhau Đối với hoạt động BHXH thì quản lý được bao gồm cả quản lý đối tượng tham gia và thụ hưởng, quản lý thu, quản

lý chi trả và quản lý nguồn quỹ từ đầu tư tăng trưởng

Theo quyết định 828/QĐ-BHXH, “Quản lý chi trả BHXH là các hoạt

động có tổ chức, theo quy định của pháp luật để thực hiện công tác chi trả các chế độ Các hoạt động đó được thực hiện bằng hệ thống pháp luật của nhà nước và bằng các biện pháp hành chính, tổ chức, kinh tế của các cơ quan

Trang 25

chức năng nhằm đạt được mục tiêu chi đúng đối tượng, chi đủ số lượng và đám bảo đến tận tay đối tượng thụ hưởng đúng thời gian quy định”

Quản lý chi BHXH được hiểu là sự tác động của các chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý trong các hoạt động lập, xét duyệt dự toán, tổ chức thực hiện, điều hành và kiểm tra, giám sát hoạt động chi trả các chế độ BHXH nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra theo những nguyên tắc và phương pháp quản lý nhất định

Khi nói tới chi BHXH là nói đến một loạt các mối quan hệ, bao gồm quan

hệ giữa Nhà nước, cơ quan BHXH, người lao động và người sử dụng lao động Trong các mối quan hệ trên thì người lao động và chủ sử dụng lao động là đối tượng quản lý Chủ thể quản lý chính là Nhà nước và cơ quan BHXH các cấp

từ Trung ương tới địa phương Cơ quan quản lý ở trung ương là BHXH Việt Nam; ở địa phương có BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; BHXH huyện, quận, thành phố trực thuộc tỉnh

Mục tiêu của quản lý chi BHXH là làm cho quá trình tổ chức chi trả chế

độ thông suốt, chi trả đúng, đủ, kịp thời, phục vụ cho người tham gia và hưởng các chế độ ngày càng tốt hơn, góp phần ổn định, bảo đảm an toàn xã hội và thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 26

- Đối với người SDLĐ: Thực hiện tốt công tác quản lý chi cũng chính là góp phần đảm bảo ổn định tình hình sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp khi mà tâm lý NLĐ tin tưởng, nguồn tài chính thuận lợi, mối quan hệ người SDLĐ - NLĐ thêm bền chặt, uy tín và niềm tin về doanh nghiệp được củng cố

- Đối với hệ thống BHXH: Thực hiện tốt công tác quản lý chi là góp phần đảm bảo quản lý và tăng trưởng quỹ an toàn, không bị thất thoát, từ đó tăng được niềm tin, thu hút thêm nhiều nguồn đầu tư, tài trợ, viện trợ vào phát triển quỹ Đồng thời, cũng góp phần tiết kiệm chi phí quản lý hành chính, chi phí đầu tư, góp phần cân đối quỹ

- Đối với hệ thống ASXH: Thực hiện tốt công tác quản lý chi là góp phần thực hiện tốt chính sách ASXH cơ bản nhất của quốc gia vào phát triển con người, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước bền vững

- Đối với xã hội: Thực hiện tốt quản lý chi góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vì đã đáp ứng được nhu cầu thiết thân nhất của con người, giúp cân đối ngân sách quốc gia trong trường hợp phải bù thiếu từ

đó số tiền nhàn rỗi trong quỹ và ngân sách sẽ được đầu tư vào những hạng mục thiết yếu cho sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước

Trang 27

Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trong hoạt động BHXH nói chung và hoạt động quản lý chi nói riêng, nhằm đảm bảo duy trì và tồn tại nguồn tài chính phục vụ cho hoạt động chi trả chế độ cho người tham gia Nguồn đóng góp của các đối tượng tham gia là nguồn đóng góp quan trọng để có nguồn đảm bảo chi trả các chế độ

- Nguyên tắc chi đúng, đủ và kịp thời

Chi đúng là đúng đối tượng tham gia, đảm bảo nguyên tắc tham gia có đóng - có hưởng Thực hiện chi đúng cho đối tượng là đảm bảo sự công bằng trong hưởng thụ các chế độ, loại bỏ các trường hợp gian lận, giả mạo hồ sơ để hưởng các chế độ

Chi đủ khoản trợ cấp cho các đối tượng cũng là nguyên tắc của công tác quản lý chi trả Nội dung chính của nguyên tắc này là đối tượng tham gia khi được hưởng trợ cấp bảo hiểm thì cơ quan BHXH phải chi trả đầy đủ các khoản trợ cấp Mặt khác, nguyên tắc này cũng yêu cầu đối tượng tham gia đóng góp tài chính nhiều thì được hưởng trợ cấp mức cao, đóng góp ít thì được hưởng mức trợ cấp thấp, tỷ lệ thương tật cao thì được hưởng trợ cấp mức cao và ngược lại Khi đã xác định đúng tỷ lệ trợ cấp phải tổ chức chi trả

đủ số tiền cho người được hưởng Để thực hiện được yêu cầu này cần thiết phải quản lý đồng bộ từ khâu xác định tỷ lệ thương tật, bệnh tật đến khâu xét duyệt hồ sơ xác định đối tượng được hưởng, mức hưởng, thời gian hưởng và cuối cùng là khâu chi trả

Chi kịp thời là nguyên tắc thể hiện vai trò của BHXH trong việc ổn định cuộc sống cho đối tượng Muốn vậy, phải quy định rõ ràng thời gian chi trả

và tổ chức thực hiện chi trả đúng thời gian đó Trên cơ sở quy định thời gian

đó, BHXH tổ chức các hình thức chi trả kịp thời, thuận lợi, không gây phiền

hà cho đối tượng

Để thực hiện được nguyên tắc chi đúng, đủ, kịp thời đòi hỏi trong bất kỳ

Trang 28

hoàn cảnh, điều kiện nào của nền kinh tế - xã hội thì quỹ BHXH cũng phải đảm bảo đầy đủ nguồn lực tài chính để đảm bảo chi trả kịp thời, đầy đủ các chế độ cho những người được thụ hưởng

- Nguyên tắc tập trung, thống nhất, công bằng, công khai

Quỹ BHXH phải được quản lý tập trung không phân tán để điều hòa trong toàn quốc đảm bảo nhu cầu chi tiêu kịp thời cho các đối tượng hưởng chế độ Chính sách, chế độ chi được ban hành thực hiện thống nhất trong cả nước Chế độ đóng góp và hưởng thụ phải được thực hiện công bằng đối với mọi đối tượng, không có sự phân biệt đối xử theo giới tính, dân tộc, địa giới hành chính, thành phần kinh tế Phải thực hiện chế độ công khai trong hoạt động chi, có sự thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát của các cơ quan quản

lý Nhà nước và các tổ chức xã hội

- Nguyên tắc đảm bảo an toàn, tiết kiệm và hiệu quả

Nguồn tài chính dùng để chi trả các chế độ cho đối tượng được hưởng bảo hiểm phải được quản lý chặt chẽ, chi tiêu đảm bảo đúng tiêu chuẩn, chế

độ quy định, tiết kiệm và đạt được hiệu quả cao Đây cũng là một trong những nguyên tắc cần thiết đặt ra với hoạt động quản lý chi nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những thất thoát, mất mát nhưng đồng thời cũng giảm được các chi phí, tiết kiệm cho quỹ BHXH

Quản lý chi trả các chế độ tuân thủ theo những nguyên tắc cơ bản trên không những để quỹ BHXH tránh được thất thoát, đảm bảo nguồn lực chi trả, đảm bảo quyền lợi cho người tham gia mà còn là động lực thúc đẩy niềm tin cho mọi người lao động tích cực tham gia BHXH ngày càng nhiều

1.2 NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BHXH

1.2.1 Lập ự toán chi á ế độ BHXH

- Dự toán là dự tính giá trị thực hiện trên cơ sở tính toán theo các chuẩn

mực nhất định

Trang 29

- Dự toán chi các chế độ BHXH là xác định kế hoạch chi trả các chế độ

do hai nguồn kinh phí (NSNN và Quỹ BHXH) đảm bảo để đủ nguồn chi trả hàng tháng cho các đối tượng hưởng

- Hàng năm căn cứ vào số đối tượng đang hưởng các chế độ có mặt đến

cuối năm trước và chế độ được hưởng của từng loại đối tượng, BHXH Việt Nam phải lập dự toán chi cho các đối tượng để trình Hội đồng Quản lý thông qua và gửi Bộ Tài chính Bộ Tài chính kiểm tra và tổng hợp vào tổng dự toán NSNN để trình Quốc hội Căn cứ vào dự toán được Quốc hội phê chuẩn, hàng quý, Bộ Tài chính cấp kinh phí chi (phần do NSNN đảm bảo) cho BHXH Việt Nam để có nguồn kinh phí chi cho các đối tượng hưởng các chế độ Sau

đó, cấp kinh phí chi (cả 2 nguồn) cho các tỉnh, thành phố trực thuộc để chi đúng, đủ, kịp thời cho đối tượng hưởng

- Nội dung của lập dự toán chi gồm:

Trang 30

a Tổ chức bộ máy quản lý chi trả

Cơ quan BHXH là tổ chức sự nghiệp có nhiệm vụ tổ chức triển khai thực hiện các chế độ theo quy định của Nhà nước thông qua hệ thống văn bản pháp quy, với nhiệm vụ chủ yếu quản lý các nghiệp vụ gồm: quản lý đối tượng, quản lý thu, quản lý chi trả các chế độ cho NLĐ, Việc chi trả các chế

độ thường được cơ quan BHXH tổ chức theo mô hình thống nhất từ trung ương đến địa phương, trong đó cơ quan ở Trung ương sẽ có trách nhiệm hướng dẫn, xét duyệt, cấp phát nguồn kinh phí để chi trả; còn cơ quan ở địa phương sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện chi trả trực tiếp hoặc gián tiếp cho các đối tượng hưởng theo đúng chế độ, chính sách và quy định của Trung ương

Tuỳ theo số lượng đối tượng tham gia, loại hình tham gia, tính chất các loại trợ cấp, có nước lập thêm Hội đồng quản trị cơ quan BHXH Hội đồng quản trị có nhiệm vụ định hướng và thông qua ngân sách, thẩm định kế hoạch hàng năm, giám sát, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của toàn ngành nói chung và của công tác chi trả các chế độ nói riêng

Thông thường, cơ quan BHXH tổ chức thực hiện chi trả có một Giám đốc và các Phó giám đốc Căn cứ vào nhiệm vụ hoạt động thường có Giám đốc phụ trách tài chính, chuẩn bị ngân sách, điều hành công tác kế toán và kiểm soán nội bộ; Phó giám đốc phụ trách nguồn thu, đăng ký những người được bảo hiểm và những NSDLĐ đóng BHXH cho NLĐ; còn một Phó giám đốc phụ trách mảng chính sách, giám định BHYT Cũng theo đó sẽ hình

Trang 31

thành các bộ phận chức năng như: bộ phận kế hoạch tài chính, bộ phận chế độ chính sách, bộ phận thu, bộ phận giám định chi BHYT

Đối với cấp quản lý chi trả các chế độ tại BHXH cấp huyện, các bộ phận chịu trách nhiệm chi gồm Bộ phận Kế toán Chi, chịu quản lý trực tiếp của Giám đốc huyện Bên cạnh đó trong công tác quản lý chi còn có sự tham gia của các bộ phận như : Bộ phận Một cửa, Bộ phận Kiểm tra nội bộ, Bộ phận Chế độ chính sách Các bộ phận được quản lý bởi các Phó giám đốc BHXH cấp huyện theo sự phân cấp quản lý như sơ đồ 1.1 dưới đây

Như vậy, quá trình quản lý chi tại BHXH cấp huyện cần sự phối hợp của gần như toàn bộ các bộ phận trong cơ cấu tổ chức tại huyện Do đó trong quá trình thực hiện công tác quản lý cũng như công tác chi thì khâu quan trọng là

sự gắn kết, liên kết giữa các bộ phận này Điều này cần có sự liên kết chặt chẽ giữa Giám đốc, các Phó Giám đốc quản lý các bộ phận trong việc trao đổi, kiểm tra kết quả làm việc của các bộ phận mà mình quản lý một cách hiệu quả

Sơ đồ 1.1 Tổ chức bộ máy BHXH cấp huyện

Nguồn: BHXH Việt Nam

Trang 32

b Tổ chức chi trả

* Phân cấp đối tượng hưởng

- BHXH tỉnh thực hiện quản lý người hưởng như sau:

+ Chịu trách nhiệm toàn diện trong việc quản lý người hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng trên địa bàn tỉnh

+ Hàng tháng, tổng hợp dữ liệu người hưởng duyệt tăng mới, từ tỉnh khác chuyển đến

+ Giảm người hưởng trên danh sách chi trả do: chuyển đi tỉnh khác; người hết thời hạn hưởng; người có quyết định thôi hưởng, dừng hưởng các chế độ

+ Tạm dừng in danh sách chi trả đối với trường hợp quá 6 tháng liên tục không lĩnh lương hưu, trợ cấp hàng tháng

- BHXH huyện thực huyện quản lý người hưởng như sau:

+ Chịu trách nhiệm quản lý người hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng trên địa bàn huyện

+ Xét duyệt Giấy đề nghị truy lĩnh, tiếp tục nhận chế độ đối với trường hợp quá 6 tháng không nhận lĩnh đã tạm dừng in danh sách chi trả

+ Tổng hợp các trường hợp giảm do: người hưởng chết; xuất cảnh trái phép; bị tòa án tuyên bố mất tích

+ Tổng hợp người hưởng di chuyên: chuyển tổ chi trả trong cùng xã; chuyển xã trong địa bàn huyện; chuyển huyện khác trong tỉnh

+ Tổng hợp người hưởng thay đổi phương thức nhận chế độ

+ Tổng hợp người hưởng các chế độ hàng tháng quá 6 tháng liên tục không đến lĩnh lương hưu

* Phân cấp thực hiện chi trả

- BHXH tỉnh chi trả và quyết toán các chế độ:

+ Ốm đau, thai sản, DSPHSK cho người lao động thuộc các đơn vị sử

Trang 33

dụng lao động do tỉnh quản lý thu theo phân cấp

+ Trợ cấp một lần khi bị TNLĐ-BNN; trợ cấp một lần khi chết do TNLĐ-BNN; chi hỗ trợ phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình; chi hỗ trợ phòng ngừa, chia sẻ rủi ro về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp khi trở lại làm việc thuộc đơn vị sử dụng lao động do tỉnh quản lý thu theo phân cấp

+ BHXH một lần đối với người đang hưởng chế độ hàng tháng ra nước ngoài định cư

+ Chi trả các chế độ cho người lao động bảo lưu thời gian đóng, tự đóng tiếp, nghỉ việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi trong trường hợp người hưởng có nhu cầu nhận chế độ tại tỉnh

- BHXH huyện chi trả và quyết toán các chế độ:

+ Chi chế độ ốm đau, thai sản (bao gồm nghỉ DSPHSK sau ốm đau, thai sản và sau khi điều trị ổn định thương tật, bệnh tật do TNLĐ-BNN) cho người lao động; chi hỗ trợ phòng ngừa, chia sẻ rủi ro về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp khi trở lại làm việc cho đơn vị sử dụng lao động do huyện quản lý thu theo phân cấp

+ Chi trả các chế độ cho người lao động bảo lưu thời gian đóng, tự đóng tiếp, nghỉ việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi

+ Chi chế độ BHXH một lần đối với người đang hưởng chế độ hàng tháng ra nước ngoài định cư; chi truy lĩnh chế độ BHXH một lần khi người hưởng nộp Giấy đề nghị (mẫu số 16-CBH, mẫu số 19-CBH) tại huyện; chi truy lĩnh những tháng chưa lĩnh cho người hưởng có nhu cầu nhận tại huyện

- BHXH tỉnh ký Hợp đồng dịch vụ quản lý người hưởng và chi trả các

Trang 34

chế độ qua hệ thống bưu điện với Bưu điện tỉnh để tổ chức chi trả các chế độ:

+ Lương hưu, trợ cấp hàng tháng

+ Các chế độ BHXH một lần cho người hưởng do BHXH tỉnh, BHXH huyện giải quyết hưởng theo phân cấp, gồm: Trợ cấp mai táng; trợ cấp tuất; trợ cấp khu vực; Trợ cấp một lần; một lần khi nghỉ hưu

* Phương thức và hình thức chi trả các chế độ

- Chi trả các chế độ ốm đau, thai sản, DSPHSK: BHXH tỉnh, huyện lựa chọn các phương thức chi trả phù hợp với từng địa phương và yêu cầu quản

lý, gồm các phương thức chi trả sau:

+ Thông qua đơn vị SDLĐ chi trả cho NLĐ

+ Trực tiếp bằng tiền mặt hoặc qua tài khoản các nhân của người lao động mở tại ngân hàng

- BHXH tỉnh, huyện chi trả các chế độ BHXH một lần bằng các hình thức: trực tiếp bằng tiền mặt hoặc qua tài khoản cá nhân của người hưởng theo phân cấp

- Bưu điện tỉnh tổ chức chi trả các chế độ BHXH theo hợp đồng ký với BHXH tỉnh bằng các hình thức: qua tài khoản cá nhân cho người hưởng, trực tiếp bằng tiền mặt cho người hưởng

* Quy trình thực hiện chi trả các chế độ BHXH

- Quy trình chi trả các chế độ BHXH theo Quyết định 828/QĐ-BHXH ngày 27/5/2016 của BHXH Việt Nam về việc quy định quản lý chi trả các chế

độ BHXH, BHTN và Quyết định số 1515/QĐ-BHXH ngày 17/10/2016 của BHXH Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 828/QĐ-

BHXH ngày 27/5/2016 của BHXH Việt Nam (Phụ lục)

1.2.3 Công tá quyết toán á ế độ BHXH

Quyết toán là việc kiểm tra, tập hợp lại toàn bộ khối lượng, giá trị, tính đúng đắn, hợp lý, hợp lệ, của toàn bộ nội dung công việc đã làm

Trang 35

Công tác quyết toán chi BHXH gồm các nội dung:

- Quyết toán chi BHXH

+ Chế độ BHXH hàng tháng: Quyết toán theo số thực chi trả trong tháng trước ngày 10 hàng tháng

+ Chế độ BHXH một lần: Quyết toán theo số thực chi trả trong tháng trước ngày 05 của tháng liền kề

+ Chế độ ốm đau, thai sản, DSPHSK: Quyết toán theo số thực chi trả

Đối với số chi BHXH, BHTN đã được duyệt nhưng đến 31/12 hàng năm người hưởng chưa đến nhận thực hiện theo dõi số tiền chi lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng, một lần mà người hưởng chưa nhận vào sổ sách và các tài khoản ngoại bảng theo quy định

- Thu hồi kinh phí chi sai BHXH: Khi có phát sinh thu hồi chi sai, bộ phận Kế toán thực hiện phân tích rõ: số thu hồi năm nay thì được giảm số đã chi tại đơn vị, số thu hồi năm trước thì phải chuyển nộp toàn bộ về BHXH tỉnh Thuyết minh cụ thể nội dung, nguyên nhân thu hồi chi sai

1.2.4 K ểm tr , g ám sát ông tá trả á ế ộ BHXH

Kiểm tra, giám sát là một phương thức của quản lý Kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về BHXH là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo cho các bên tham gia thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đồng thời đảm bảo quyền lợi hợp pháp của họ cũng như bảo tồn quỹ BHXH, tránh tình trạng trục lợi quỹ Kiểm tra, giám sát không chỉ phát hiện, thu hồi, xử lý vi phạm, mà quan trọng hơn là nâng cao kỷ cương, kỷ luật, ý thức chấp hành pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN; đảm bảo quyền an sinh xã hội cho mọi công dân theo quy định của Hiến pháp 2013

Hàng quý, BHXH tỉnh xét duyệt, quyết toán chi các chế độ cho huyện theo các chế độ kế toán quy định Đồng thời căn cứ vào kết quả thẩm định

Trang 36

của các đối tượng hưởng chế độ, chính sách do phòng chế độ chính sách chuyển đến, Phòng Kế hoạch Tài chính có trách nhiệm kiểm tra trước khi chuyển tiền cho huyện hoặc chủ sử dụng lao động chi trực tiếp cho đối tượng hưởng chế độ

Đối với công tác kiểm tra nội bộ tại BHXH huyện, cán bộ kiểm tra sẽ tiến hành các hoạt động đánh giá về độ chính xác trong các thông tin báo cáo lên BHXH cấp tỉnh về số lượng tăng giảm đối tượng, số tiền chi trả theo các đối tượng đã báo cáo, đồng thời kiểm tra hiệu quả làm việc của các cá nhân, các bộ phận trong cơ quan và báo cáo kết quả này lên Giám đốc Hàng tháng cán bộ kiểm tra tại huyện thực hiện công tác này tại tất cả các bộ phận liên quan đến hoạt động chi trả các chế độ

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ CHI TRẢ CÁC CHẾ

ĐỘ BHXH

1.3.1 Đ ều ện n tế xã ộ

a Đặc điểm tự nhiên – xã hội

Điều kiện tự nhiên và xã hội của địa phương là một trong những nhân tố khách quan ảnh hưởng tới hoạt động quản lý chi trả các chế độ BHXH Những địa bàn có địa hình bằng phẳng, giao thông đi lại dễ dàng, trình độ dân trí cao sẽ thuận lợi cho hoạt động chi trả Và ngược lại, với những địa bàn có địa hình phức tạp, bị chia cắt, trình độ sản xuất và dân trí thấp, giao thông đi lại khó khăn thì việc tuyên truyền và tiếp cận đối tượng thụ hưởng trong công tác chi trả gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với việc đảm bảo an toàn tiền mặt trong chi trả

b Đặc điểm kinh tế

Đối với những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, số lao động thất nghiệp ít, lúc đó tất yếu đời sống của người dân lao động được cải thiện, việc sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp cũng thuận lợi, vì thế các đơn

Trang 37

vị sử dụng lao động cũng sẽ sẵn sàng tham gia và thực hiện chế độ chính sách BHXH cho người lao động trong đơn vị

Ngược lại, đối với những địa phương có kinh tế chậm phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người thấp, dẫn đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn không ổn định, lương của người lao động tham gia thấp, tất yếu làm giảm nguồn thu, đẫn đến quyền lợi của người lao động cũng bị ảnh hưởng Số người lao động được tham gia và thụ hưởng các chế độ chính sách sẽ giảm, mức hưởng các chế độ của người lao động rất khó đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình họ

1.3.2 Hệ t ống p áp luật, quy địn về BHXH

Hiện nay, việc chi trả các chế độ được thực hiện theo luật BHXH Việt Nam Luật này ra đời đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện chính sách nói chung cũng như công tác chi trả các chế độ nói riêng Trên cơ sở quy định của Luật, hướng dẫn của Chính phủ và các bộ, ngành liên quan, BHXH Việt Nam đã ra Quyết định 828/QĐ-BHXH ngày 27/5/2016 về việc quy định quản lý chi trả các chế độ BHXH, BHTN, trong đó quy định rõ về nội dung chi trả các chế độ, hệ thống chứng từ, sổ kế toán và mẫu biểu sử dụng trong chi trả các chế độ, quản lý chi trả các chế độ Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật về bảo hiểm tương đối đầy đủ nhưng vẫn chưa có tính đồng bộ Vì vậy, muốn hoàn thiện công tác quản lý chi trả các chế độ thì cần sự hỗ trợ rất lớn từ hệ thống chính sách pháp luật đồng bộ

- Chính sách tiền lương và chính sách BHXH nói chung, chi trả các chế

độ nói riêng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Chính sách tiền lương làm tiền đề và cơ sở cho việc thực hiện chính sách Khi Nhà nước điều chỉnh mức lương tối thiểu chung, điều đó đồng nghĩa với việc nâng cao mức hưởng các chế độ của người lao động và đương nhiên số tiền chi trả các chế độ sẽ tăng lên Từ năm 1995 đến năm 2013, Nhà nước đã 13 lần điều chỉnh tăng mức

Trang 38

lương tối thiểu từ 120.000 đồng/ tháng lên 1.150.000 đồng/ tháng Vừa qua, Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm

2015 quy định mức lương tối thiểu từ 1.150.000 đồng/ tháng lên 1.210.000 đồng/ tháng Song song với việc điều chỉnh mức lương tối thiểu, Chính phủ cũng ban hành điều chỉnh lương hưu và trợ cấp hàng tháng Theo đó, từ ngày

01 tháng 01 năm 2015, tăng thêm 8% mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng đối với các đối tượng được quy định tại điều 1 nghị định 09/2015/NĐ – CP về điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc Sau đó, Chính phủ vừa ban hành Nghị định 55/2016/NĐ-CP nhằm bù đắp “khoảng trống” về hỗ trợ chính sách cho nhóm đối tượng nghỉ hưu trong giai đoạn từ ngày 1/1/2015 - 30/4/2016 Đồng thời, Nghị định 55/2016/NĐ-CP nâng mức lương hưu, trợ cấp hàng tháng của nhóm đối tượng còn thấp lên mức 2.000.000 đồng/người

Vì vậy, nguồn tài chính dùng để chi trả các chế độ vì thế cũng tăng lên

- Chính sách lao động và việc làm: Đây là nhân tố có tác động mạnh không những đến các mặt của xã hội mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH Nếu Nhà nước có chính sách lao động và việc làm hợp lý, tạo ra được nhiều việc làm trong mọi thành phần kinh tế, phù hợp với mọi lứa tuổi, giới tính thì sẽ thu hút được nhiều lao động tham gia số đối tượng thụ hưởng cũng tăng lên Ngược lại, nếu chính sách lao động và việc làm không phù hợp, số người thất nghiệp tăng sẽ làm ảnh hưởng tới nguồn tài chính đầu vào của quỹ BHXH, hoạt động chi trả các chế độ vì thế cũng thu hẹp lại

- Ngoài ra, các chính sách của Nhà nước thay đổi có liên quan đến BHXH như áp dụng về hưu trước tuổi, tinh giảm biên chế cũng ảnh hưởng lớn tới hoạt động quản lý chi trả các chế độ

Trang 39

1.3.3 Vấn đề ứng ụng ông ng ệ t ông t n trong quản lý trả các

ế độ BHXH

Sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin đang hiện diện và đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong quá trình quản lý, điều hành bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh hay quản lý nào của doanh nghiệp hoặc của tổ chức Sự phát triển của công nghệ thông tin được ứng dụng trong quản lý và giúp cho hoạt động quản lý đảm bảo tính chính xác cao hơn, dễ kiểm soát hơn và thông tin quản lý được cập nhật một cách nhanh chóng hơn rất nhiều

Nhận thức được vai trò của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quản lý chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội: quản lý đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng BHXH Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu xây dựng

đề án rà soát hồ sơ và số tiền hưởng, đảm bảo cho đối tượng hưởng trợ cấp phải có đủ hồ sơ pháp lý Tiếp đó, đã nghiên cứu ứng dụng chương trình công nghệ thông tin để quản lý đối tượng hưởng trợ cấp hàng tháng Năm 2009, đã đưa vào ứng dụng trong toàn ngành chương trình kế toán BHXH (VSA) để hạch toán kế toán và quản lý chi trả các chế độ Ban hành phần mềm ứng dụng “Xét duyệt hồ sơ hưởng BHXH” để triển khai thống nhất trong toàn bộ

hệ thống của ngành trong việc giải quyết các chế dộ ngắn hạn và dài hạn Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý chi trả các chế độ BHXH đã có những tác dụng và hiệu quả rất lớn như: quản lý chính xác đối tượng hiện có, mức lương hưu, trợ cấp của từng loại đối tượng, in danh sách chi trả hàng tháng kịp thời Đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc điều chỉnh lương hưu, trợ cấp cho đối tượng khi có quyết định của nhà nước kịp thời, nhanh chóng và chính xác Vì vậy việc ứng dụng công nghệ thông tin có ảnh hưởng rất lớn tới công tác quản lý chi trả các chế

độ BHXH

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ KON TUM

2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI, KINH TẾ

2.1.1 Đặ đ ểm tự n ên

Kon Tum là tỉnh miền núi nằm ở phía bắc Tây Nguyên có diện tích tự nhiên 9.676,61 km2, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam; phía Nam giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp Quảng Ngãi, phía Tây giáp hai nước Lào và Campuchia Tỉnh Kon Tum có 01 thành phố và 09 huyện gồm thành phố Kon Tum, các huyện Đăk Hà, Đăk Tô, Ngọc Hồi, Đăk Glei, Tu Mơ Rông, Kon Rẫy, Kon Plông, Sa Thầy, Ia H Drai Phần lớn tỉnh Kon Tum nằm ở phía tây dãy Trường Sơn, địa hình thấp dần từ bắc xuống nam và từ đông sang tây Địa hình của tỉnh Kon Tum khá đa dạng: đồi núi, cao nguyên và vùng trũng xen

kẽ nhau

Thành phố Kon Tum là tỉnh lỵ của tỉnh Kon Tum, nằm ở phía Nam của tỉnh Kon Tum, có diện tích 43.298,15ha Phía Tây giáp với huyện Sa Thầy, phía Nam giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp huyện Kon Rẫy và tỉnh Gia Lai, phía Bắc giáp huyện Đăk Hà Thành phố Kon Tum có 10 phường và 11 xã; cách thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định 200km, cách thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai 49km và cách thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đăk Lăk 232km

2.1.2 Đặ đ ểm xã ộ

Thành phố Kon Tum có dân số trung bình là 161.048(1)người gồm nhiều dân tộc sinh sống như Kinh, Bana, Xơ – đăng, Giẻ triêng, Gia rai Trong đó dân số thành thị là 101.043 người chiếm khoảng 63%, dân số nông thôn là 60.005 người, chiếm khoảng 37% Dân số nam 84.203 người chiếm 52,28%,

1

Niên giám thống kê thành phố Kon Tum năm 2015

Ngày đăng: 12/03/2018, 19:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w