1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Phân loại bán tự động văn bản quy phạm pháp luật dựa theo chủ đề cho hệ thống truy hồi thông tin (tt)

41 206 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 576,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân loại bán tự động văn bản quy phạm pháp luật dựa theo chủ đề cho hệ thống truy hồi thông tin (Luận văn thạc sĩ)Phân loại bán tự động văn bản quy phạm pháp luật dựa theo chủ đề cho hệ thống truy hồi thông tin (Luận văn thạc sĩ)Phân loại bán tự động văn bản quy phạm pháp luật dựa theo chủ đề cho hệ thống truy hồi thông tin (Luận văn thạc sĩ)Phân loại bán tự động văn bản quy phạm pháp luật dựa theo chủ đề cho hệ thống truy hồi thông tin (Luận văn thạc sĩ)Phân loại bán tự động văn bản quy phạm pháp luật dựa theo chủ đề cho hệ thống truy hồi thông tin (Luận văn thạc sĩ)Phân loại bán tự động văn bản quy phạm pháp luật dựa theo chủ đề cho hệ thống truy hồi thông tin (Luận văn thạc sĩ)Phân loại bán tự động văn bản quy phạm pháp luật dựa theo chủ đề cho hệ thống truy hồi thông tin (Luận văn thạc sĩ)Phân loại bán tự động văn bản quy phạm pháp luật dựa theo chủ đề cho hệ thống truy hồi thông tin (Luận văn thạc sĩ)Phân loại bán tự động văn bản quy phạm pháp luật dựa theo chủ đề cho hệ thống truy hồi thông tin (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

MỞ ĐẦU

Quản lý hành chính nhà nước là một trong những vấn đề cơ bản và cấp thiết nhất của mọi quốc gia Trong việc quản lý hành chính nhà nước thì hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đóng vai trò then chốt, ở nước ta việc quản lý các hệ thống văn bản vẫn chưa được thống nhất và tập trung Bên cạnh đó các thủ tục hành chính, các văn bản hành chính cho mỗi lĩnh vực, mỗi ngành nghề, lĩnh vực rất nhiều và đa dạng Việc phân loại văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hành chính một cách

tự động để tra cứu văn bản dễ dàng là một yêu cầu thiết thực trong công tác quản lý hành chính

Bài toán phân loại văn bản không phải là một bài toán mới, trước đây đã có nhiều người nghiên cứu và cũng đạt được thành quả nhất định như: Nguyễn Linh Giang - Nguyễn Mạnh Hiển (tỉ lệ chính xác từ 51%  94%) [2], Trần Cao Đệ và Phạm Nguyên Khang (tỉ lệ chính xác 88%  92%) [1]

Để giải quyết bài toán phân loại văn bản ta có thể tiếp cận bằng nhiều cách như: hướng tiếp cận bài toán phân loại bằng lý thuyết đồ thị [3], cách tiếp cận sử dụng lý thuyết tập thô [4], cách tiếp cận thống kê [5], cách tiếp cận sử dụng phương pháp học không giám sát và đánh chỉ mục [6],[7] Các cách tiếp cận trên đều mạng lại một số kết quả khả quan nhất định Trong những năm gần đây, phương pháp phân loại sử dụng Bộ phân loại vector hỗ trợ (SVM) được quan tâm và sử dụng nhiều trong những lĩnh vực nhận dạng và phân loại, thuật toán cải tiến của SVM là thuật toán Fuzzy SVM cho phép loại bỏ các dữ liệu nhiễu trong quá trình huấn luyện và cải thiện độ chính xác của quá trình Phân loại

Về kỹ thuật truy tìm văn bản, luận văn tìm hiểu sử dụng mô hình truy tìm văn bản theo mô hình không gian vector VSM (Vector Space Model) Nguyên lý hoạt động cốt lõi của hệ truy tìm văn bản VSM là tự động hóa quy trình tìm kiếm

Trang 2

các văn bản có liên quan bằng cách tính độ đo tương tự giữa câu truy vấn và các văn bản đó

Việc phân loại văn bản quy phạm pháp luật bán tự động dựa trên chủ đề của văn bản có thể thực hiện được bằng cách xây dựng các ontology để thu thập thông tin và Phân loại

- Mục đích nghiên cứu: Phân loại văn bản bán tự động dựa trên chủ đề theo nội dung của văn bản

- Đối tượng nghiên cứu:

o Các loại văn bản hành chính, văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến các qui định về nhân sự của Ngành Giáo dục từ năm 2011 đến nay

o Học máy (machine learning), học có giám sát và học có giám sát

- Phân loại văn bản:

o Các kỹ thuật phân loại văn bản

o Các thuật toán thường áp dụng trong phân loại văn bản

- Mô tả bài toán:

Cho trước một tập Chủ đề S = {s1, s2, …, sn} và tập văn bản

D = {d1, d2, …dm} Trong đó di là văn bản đã được phân chủ đề sj (theo hệ chuyên gia) Văn bản d (văn bản mới) được đưa vào tập D, nhiệm vụ là cho biết d thuộc chủ

đề nào trong tập S hoặc đưa ra yêu cầu người dùng tự phân loại bằng tay (nếu văn bản d không có đặc trưng của các chủ đề hoặc độ tương tự với các văn bản đã được phân loại là quá thấp)

Hướng giải quyết:

Trang 3

Khi có một văn bản mới D được thêm vào, ta thực hiện: tìm loại văn bản (Công văn, Quyết định, nghị định, thông tư, nghị quyết,…), tìm số hiệu văn bản, tách từ, sau khi tách từ ta vectơ hoá các từ, tính độ tương tự D với các văn bản đã được gán chủ đề, tìm văn bản x có độ tương tự cao nhất mà văn bản D có từ đặc trưng của chủ để x, nếu tồn tại văn bản x thoả điều này thi ta gán D cùng chủ đề với

x, người lại yêu cầu người dùng gán chủ đề bằng tay

Cấu trúc luận văn bao gồm 5 chương:

- Chương 1: Tổng quan bài toán phân loại văn bản

- Chương 2: Các phương pháp phân loại văn bản

- Chương 3: Phân loại bán tự động văn bản quy phạm pháp luật dựa trên chủ đề cho hệ thống truy hồi thông tin

- Chương 4: Cài đặt, đánh giá, hướng phát triển

- Chương 5: Kết luận

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN BÀN TỐN PHÂN LOẠI VĂN BẢN

1.1 Giới thiệu bài tốn phân loại văn bản

Phân loại văn bản là tiến trình đưa các văn bản chưa biết chủ đề vào các lớp văn bản đã biết chủ đề Các chủ đề này được xác định bởi một tập các tài liệu mẫu

Trước thập kỷ 90 của thể kỷ XX cơng việc này thường được làm bằng tay bỏi các chuyên gia tri thức (Knowledge Engineering), Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ

XX, cách tiếp cận để giải quyết bài tốn Phân loại đã cĩ sự thay đổi, cách tiếp cận máy học (Machine Learning) Nhiều kỹ thuật máy học và khai phá dữ liệu đã được

áp dụng vào bài tốn phân loại văn bản như: Nạve Bayes, cây quyết định, kNN, mạng nơron, SVM, thuật tốn cực đại hĩa kỳ vọng, …

Bài tốn phân loại văn bản cĩ thể được phát biểu như sau: Cho trước một tập văn bản D={d1,d2,…,dn} và tập chủ đề được định nghĩa C={c1,c2,…,cn} Mỗi văn bản di đã được gán một chủ đề cj nào đĩ Nhiệm vụ của bài tốn là khi cĩ một văn bản mới d, thì ta cần gán chủ đề cho d Hay nĩi cách khác, mục tiêu của bài tốn là

đi tìm hàm f:

f: DxC  boolean

f(d,c) = True/False

True: nếu d thuộc lớp c, false nếu d khơng thuộc lớp c

Với tiếng Việt thì bài tốn này gặp nhiều khĩ khăn hơn bởi cấu trúc tiếng Việt khơng chỉ cĩ từ đơn mà cịn cĩ từ ghép Để thực hiện bài tốn này cho văn bản tiếng Việt ta phải thêm một cơng đoạn tiền xử lý (tách từ)

Trang 5

1.1.1 Phân loại văn bản dựa trên cách tiếp cận chuyên gia [24]

Việc Phân loại văn bản tự động được điều khiển bằng tay bởi các chuyên gia tri thức và hệ chuyên gia có khả năng đưa ra quyết định Phân loại Hệ chuyên gia bao gồm một tập các luật logic định nghĩa bằng tay, cho mỗi loại, có dạng:

If (DNF formula) then (category)

Công thức DNF (Disjunctive Normal Form) là hợp của các mệnh đề liên kết, tài liệu được Phân loại vào category nếu nó thỏa mãn công thức, nghĩa là, nếu nó thỏa mãn ít nhất một mệnh đề trong công thức Ví dụ:

If (“bổ nhiệm” & “giáo viên”) or (“bổ nhiệm” & “nhân viên”) then

“bổ nhiệm”

Else  “bổ nhiệm”

Điều này là một hạn chế trong cách tiếp cận chuyên gia vì nó đòi hỏi việc định nghĩa các DNF formula bằng tay Nếu tập hợp (category) được thay đổi thì phải thiết lập lại DNF formula từ đầu Ngoài ra để định nghĩa tập DNF formula ta cần đến sự can thiệp của các chuyên gia tri thức của lĩnh vực mà văn bản đề cập đến Việc làm như vậy sẽ tốn rất nhiều chi phí nhân lực, thời gian

1.1.2 Phân loại văn bản dựa trên cách tiếp cận máy học [15]

Trong kỹ thuật máy học, bài toán Phân loại là hoạt động học có giám sát, quá trình học được “giám sát” bởi tri thức của các Phân loại và của các mẫu huấn luyện thuộc chúng

Trong các tiếp cận máy học, các tài liệu đã được Phân loại trở thành nguồn Trường hợp thuận lợi nhất, chúng đã có sẵn, khi đó quá trình Phân loại bắt đầu bằng

Trang 6

việc học từ tập dữ liệu này, sau đó sẽ thực hiện Phân loại tự động với các tài liệu khác Trường hợp ít thuận lợi, không có sẵn tài liệu đã Phân loại bằng tay; khi đó quá trình Phân loại bắt đầu một hành động Phân loại và chọn một phương pháp tự động ngay lập tức Do đó, cách tiếp cận máy học là thuận lợi hơn cách tiếp cận kỹ

sư tri thức

Các bước cơ bản trong cách tiếp cận máy học:

- Bước 1: chuẩn bị tập dữ liệu huấn luyện (training set) và tập dữ liệu kiểm tra (test set)

- Bước 2: Tách từ trong văn bản

- Bước 3: Biểu diễn văn bản

- Bước 4: Thực hiện phân loại

Bước 1: Chuẩn bị tập dữ liệu huấn luyện (training set) và tập dữ liệu kiểm tra (test set)

Cho trước một tập văn bản D = {d1, d2, …, dn} và tập chủ đề được định nghĩa

C = {c1, c2, …, cn} Tập H = {h1 ,h2 , …, hk} là tập huấn luyện và tập T = {t1, t2,

…,tk} là tập kiểm tra (tập test) với H  T = D và H  T = 

Với mỗi phần ti  T ta đưa vào hệ thống Phân loại và so với việc Phân loại theo hệ chuyên gia để kiểm tra hiệu quả của việc Phân loại Hiệu quả được đánh giá dựa trên sự phù hợp của hệ Phân loại theo máy học so với Phân loại theo chuyên gia

Thông thường ta chọn tỉ lệ của tập H và tập T theo tỉ lệ 70% – 30% của tập

D

Bước 2: Tách từ trong văn bản

Trang 7

Hầu hết các phương pháp Phân loại văn bản dựa trên kỹ thuật máy học hiện nay đều dựa vào tần xuất xuất hiện của từ hoặc cụm từ trong văn bản, hay dựa vào tần xuất xuất hiện của từ trong văn bản và tần xuất văn bản

Độ chính xác của kết quả tách từ cĩ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của Phân loại, khơng thể cĩ một kết quả Phân loại tốt nếu như khơng tách được đúng các từ trong văn bản Bởi vậy, một vấn đề quan trọng đối với Phân loại văn bản là phải tách được chính xác các từ trong văn bản

Bước 3: Biểu diễn văn bản

Các văn bản ở dạng thơ cần được chuyển sang một dạng biểu diễn nào đĩ để

xử lý Quá trình này được gọi là quá trình biểu diễn văn bản, dạng biểu diễn của văn bản phải cĩ cấu trúc và dễ dàng xử lý

Việc biểu diễn lại văn bản được coi là một khâu quan trọng trong quá trình

xử lý văn bản Mỗi tài liệu được mơ tả như một chuỗi các ký tự, cần phải được biến đổi thành những mơ tả phù hợp với nhiệm vụ và thuật tốn xử lý văn bản Cĩ rất nhiều phương pháp biểu diễn văn bản, mỗi phương pháp thích hợp với từng bài tốn

cụ thể Trong luận văn này chúng ta sẽ tìm hiểu sâu về phương pháp biểu diễn văn bản theo mơ hình khơng gian vector

Bước 4: Phương pháp học để Phân loại văn bản

Hiện nay, đã cĩ nhiều đề xuất xây dựng bài tốn Phân loại văn bản tự động như Nạve Bayes, K-Means, Knn (K-láng giềng gần nhất), cây quyết định (Decision tree), mạng nơron ANN (Artificial Neural Network), SVM (Support Vector Machines), … Các phương pháp này đạt được những thành cơng đáng kể khơng những đối với các văn bản mẫu tự la-tinh như: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt,…

mà cịn đối với các văn bản mẫu tự tượng hình như tiếng Hoa, tiếng Nhật, tiếng Hàn,… Nĩ đã được ứng dụng trong thực tế như trong các hệ tìm tin của Google, Yahoo,… Trong đĩ, Support Vector Machines và các thuật tốn cải tiến của nĩ

Trang 8

được đánh giá cho độ chính xác Phân loại văn bản cao hơn nhiều phương pháp Phân loại khác

1.2 Phương pháp tách từ

Để máy tính có thể tự động Phân loại văn bản, các văn bản được trình bày dưới dạng chuỗi các ký tự cần phải được biến đổi thành một biểu diễn thuận lợi cho thuật toán huấn luyện và bài toán phân loại, nghĩa là văn bản được chuyển từ dạng không có cấu trúc hoặc bán cấu trúc sang dạng có cấu trúc Có rất nhiều cách biểu diễn văn bản, nhưng dù theo cách này hay cách khác thì việc biểu diễn văn bản đều dựa vào sự xuất hiện của từ trong văn bản Độ chính xác của việc tách từ có ảnh hưởng rất lớn đến việc phân loại văn bản

Đối với văn bản hành chính thì các câu tương đối rõ nghĩa và nghĩa của mỗi câu thường là duy nhất Vì vậy việc tách từ trong văn bản hành chính thường đơn giản hơn các văn bản thông thường

1.2.1 Đặc điểm tiếng Việt [16],[17], [25]

Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm tiết và thuộc nhóm ngôn ngữ Đông Nam Á Mẫu tự trong văn bản tiếng Việt là mẫu tự thuộc hệ la-tinh

Tiếng Việt cấu thành bởi đơn vị tiếng (một âm tiết), mỗi tiếng được viết thành một chữ, mỗi chữ viết được đọc thành một tiếng Tiếng được dùng để tạo thành từ Từ trong tiếng Việt bao gồm từ đơn (81,55%) và từ ghép (18,45%)

Khi xử lý văn bản tiếng Việt ta thường gặp khó khăn bỏi các từ ghép Do tính đặt thù của tiếng Việt nên xử lý từ ghép là công đoạn khó khăn Ví dụ: khi gặp xâu chứa “đất nước” ta có thể thấy bản thân từ ghép “đất nước” có nghĩa, nhưng nếu ta

Trang 9

tách ra thành “đất” và “nước” thì cũng có nghĩa; khi gặp xâu “kheo khéo” thì ta thấy

từ “kheo khéo” có nghĩa, nhưng tách ra “kheo” thì lại không rõ nghĩa Ngoài ra từ ghép tiếng Việt còn có thể có nhiều âm tiết ví dụ: “sát sàn sạt”, “vội vội vàng vàng”,

“lếch tha lếch thếch” …

Bên cạnh đó ta thấy tiếng Việt hiện nay vẫn chưa được chuẩn hoá, đôi khi còn không rõ nghĩa, nghĩa của câu còn phụ thuộc vào ngữ cảnh Ví dụ: “ông già đi nhanh quá” ta có thể hiểu khác nhau ở ba ngữ cảnh khác nhau, mang nghĩa chỉ một người lớn tuổi di chuyển nhanh (ngữ cảnh hai người đang nói chuyện về một người thứ ba), hoặc có thể hiểu nhận xét về diện mạo của một người (ngữ cảnh hai người bạn lâu ngày gặp nhau), ở nghĩa bóng ta có thể hiểu một người lớn tuổi chết đi đột ngột

Riêng trong văn bản thể hiện trên máy tính còn phụ thuộc vào cách bỏ dấu của phần mềm hỗ trợ gõ tiếng Việt ví dụ “Uỷ ban” “Ủy ban” Khi tách từ và so sánh ta máy nhận dạng hai chữ trên khác nhau dẫn đến việc giảm độ chính xác khi phân loại

1.2.2 Tách từ bằng cách xây dựng các Ontology [18]

Như đã phân tích đặc điểm tiếng Việt ở trên công việc tách từ sẽ ảnh hưởng đến việc phân lóp Hiện nay việc tách từ bằng việc xây dựng các ontology đã được nhiều người, nhiều tổ chức thực hiện Nhưng đa phần dùng bộ từ điển bằng thống

Để xây dựng ontology tách từ ta thực hiện theo trình tự:

- Xây dựng ontology âm tiết đoán nhận tất cả các âm tiết tiếng Việt

- Xây dựng ontology từ vựng đoán nhận tất cả các từ vựng tiếng Việt

Trang 10

- Dựa vào ontology trên xây dựng đồ thị với câu cần phân tích, sử dụng thuật toán tìm kiếm trên đồ thị để liệt kê các cách phân tích có thể

- Do kết quả của việc tìm kiếm trên có nhiều phương án nên chúng ta sử dụng bộ từ điển do hệ chuyên gia cung cấp hoặc do thống kê từ một khối lượng lớn văn bản để chọn một cách phân tích ít xác suất sai nhất

1.2.3 Tách từ bằng so khớp dài nhất trong bộ tự điển

- Trong phương pháp này đòi hỏi ta phải có bộ từ điển tương đối đầy đủ, đối với tiếng Việt hiện nay thì trong bộ từ điển có khoảng 44000 từ

- Phương pháp này có tốc độ xử lý khá nhanh, tuy nhiên khi gặp một từ mới (không nằm trong từ điển) chẳng hạn tên riêng thì việc phân tích không chính xác ở cụng từ này

- Phương pháp này sẽ ít hiệu quả nếu gặp những câu có thể hiểu nhiều nghĩa khác nhau bằng cách ngắt từ khác nhau ví dụ: “ông già đi nhanh quá” nếu tách từ: [ông già] [đi nhanh] [quá] thì ta có thể nghĩa “một người lớn tuổi di chuyển nhanh”, nếu tách [ông] [già đi] [nhanh quá] thì ta có thể hiểu nghĩa “diện mạo của một con người thay đổi quá nhanh”

- Ngược lại đối với các câu trong văn bản hành chính thì thường là đơn nghĩa, ít khi có cách hiểu khác do việc tách từ thì phương pháp này tỏ ra khá hiệu quả do tốc độ xử lý của nó

1.3 Phương pháp biểu diễn văn bản trên máy [19]

Một số khái niệm khi biểu diễn văn bản:

- Từ (Thuật ngữ): là một chuỗi các kí tự xuất hiện trong văn bản, mà

không phải là dấu câu, con số, từ dừng (Stop Word)

- Từ đặc trưng: Sau khi dùng các phương pháp trích chọn thuật ngữ để

biểu diễn văn bản, ta thu được một tập các thuật ngữ T’ từ tập thuật ngữ ban đầu T

Trang 11

(T’<<T), thì mỗi thuật ngữ trong T’ được gọi là từ đặc trưng (dùng để biểu diễn văn bản), hay thuật ngữ đặc trưng

- Từ dừng (Stop word): từ dừng là từ không mang lại ý nghĩa nội dung

cho văn bản, vì nó xuất hiện trong hầu hết các văn bản

Bảng 1.3: liệt kê một số stopword

1.3.1 Một số kỹ thuật trích chọn đặc trưng của văn bản [19]

- Loại bỏ từ dừng (stopword): trong tiếng Việt có nhiều từ dùng để biểu diễn cấu trúc câu nhưng lại không mang nghĩa về nội dung của văn bản Trong tiếng Việt các từ này thường thuộc loại: quan hệ từ, kết từ, …

- Sử dụng SVM (Support Vector Machines) để trích chọn đặc trưng

Trang 12

- F-score kết hợp với SVM (điểm F kết hợp với SVM)[8] F-score là một

kỹ thuật đơn giản để đánh giá sự phân biệt của hai bộ số thực Cho các vector huấn luyện xk, k = 1, , m, nếu số các trường hợp dương và âm là n+ và n-, tương ứng, thì điểm F của đối tượng thứ i được định nghĩa là:

Trong đó ̅ , ̅ , ̅ là trung bình của tính chất thứ i của tập dữ liệu toàn thể, tích cực và âm; , là tính chất thứ i của trường hợp dương thứ k, và , là tính chất thứ i của trường hợp âm thứ k Tử số chỉ ra sự phân biệt giữa tập hợp dương và âm, và mẫu số chỉ một trong hai bộ Điểm số F càng lớn càng có khả năng tính năng này là phân biệt nhiều hơn Do đó, sử dụng điểm số này làm tiêu chí lựa chọn tính năng Tuy nhiên điểm bất lợi của F-score là không “tiết lộ” thông tin lẫn nhau giữa các đặc trưng Mặc dù có bất lợi này, F-score rất đơn giản và nói chung khá hiệu quả Ta chọn các đặc trưng có điểm F cao và sau đó áp dụng SVM

để huấn luyện / dự đoán Thủ tục được tóm tắt dưới đây:

1 Tính điểm F của mọi đặc trưng

2 Chọn một số ngưỡng có thể bằng tay để cắt điểm số F thấp và cao

3 Đối với mỗi ngưỡng, ta thực hiện:

a Bỏ không chọn các đặc trưng có điểm F dưới ngưỡng

b Phân chia ngẫu nhiên hai tập huấn luyện H và kiển tra T

c Sử dụng SVM để Phân loại dựa vào hai tập H và T để kiểm tra

d Lặp lại các bước a,b,c khoảng 5 lần và tính trung bình lỗi

4 Chọn ngưỡng có trung bình lỗi thấp nhất

5 Bỏ các đặc trưng có F dưới ngưỡng, sau đó sử dụng SVM cho các đặc trưng này

Trang 13

- Kết hợp F-score, rừng ngẫu nhiên và SVM [8]

- Sử dụng các giá trị TF, IDF và TF.IDF để trích chọn đặc trưng

1.3.2 Biểu diễn văn bản bằng Vector[21]

Phương pháp biểu diễn văn bản theo không gian vector dựa vào tần suất là một huớng tiếp cận tương đối đơn giản và hiệu quả dể biểu diễn văn bản, cũng là phương pháp duợc sử dụng dể cài đặt thuật toán Phân loại văn bản theo phương pháp SVM (Support Vector Machines) và các thuật toán cải tiến của nó

Trong mô hình tần suất, ma trận W={wij} được xác định dựa vào tần xuất xuất hiện của từ ti trong văn bản dj hoặc toàn bộ văn bản

1.3.2.1 Phương pháp dựa trên tần số thuật ngữ (TF-Term Frequency)[21]

Các giá trị wij được xác định dựa trên tần số của từ trong văn bản Gọi fij là tần số của từ ti trong văn bản dj thì wij có thể được xác định bởi một trong các công thức sau:

1 log

Trong phương pháp TF này trọng số wij tỉ lệ thuận với số lần suất hiện của từ

ti trong văn bản dj, dễ thấy wij càng lớp thì văn bản dj càng phụ thuộc nhiều vào từ ti Tuy nhiên có một số từ xuất hiện nhiều lần trong một văn bản nhưng lại không có giá trị cao đối với văn bản đó, vì không những nó xuất hiện nhiều lần trong văn bản đang xét mà còn xuất hiện ở hầu hết các văn bản khác

Trang 14

1.3.2.2 Phương pháp nghịch đảo tần số văn bản IDF ( Inverse Document Frequency ) [21]

Trong phương pháp này wij được tính như sau:

log ế ừ ấ ệ ă ả

0 ế ừ ô ấ ệ ă ả Trong đó, m là số lượng văn bản, hi là số văn bản có chứa từ ti

Trọng số wij cho ta biết độ quan trọng của từ ti trong văn bản dj Nếu wij càng lớn thì số lượng văn bản chứa ti càng bé, nghĩa là ti là từ quan trọng để phân biệt văn bản dj với các văn bản khác

1.3.3.3 Phương pháp TFxIDF [21]:

Phương pháp này là sự kết hợp của hai phương pháp TF và phương pháp IDF Theo phương pháp này trọng số wij được tính bằng tuần số xuất hiện của từ ti trong văn bản dj và khả năng xuất hiện của ti trong các văn bản khác Trọng số wij được tính theo công thức:

1 log log ế 1

0 ế 1Trong phương pháp này thì trọng số wij càng lớn thì độ quan trọng của từ ticàng cao

1.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả của Phân loại:

Giả sử ta qui định:

Trang 15

 Tỉ lệ dương đúng TP (True Positive): là số văn bản được gán nhãn là 1

Quyết định của

hệ thống máy học

Khi đó F_Score được coi là hiệu quả của hệ thống Phân loại [8]

Việc phân loại được thực hiện bằng tay khi hệ thống không thể phân loại văn bản Quá trình này là quá trình thực hiện bán tự động

Trang 16

CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN LOẠI VĂN BẢN

2.1 Bài toán phân loại văn bản

Phân loại văn bản hay còn gọi là Text Classifcation hoặc là Text Categorizer

là một bài toán thuộc về lĩnh vực Xử lý ngôn ngữ tự nhiên dưới dạng văn bản (text), tuy nhiên nó gắn liền với Machine Learning

Hình 2.1: Hình mô tả phân loại văn bản

Phân loại (Classification): ta có tập văn bản D = {d1, d2, …dm} bằng cách nào đó ta sẽ phân chúng vào tập chủ đề S = {s1, s2, …, sn} ví dụ phân loại các bài báo vào các nhóm: giải trí, thể thao, xã hội, giáo dục, kính tế,… bước này còn gọi là bước học (Learning)

Dự đoán (Prediction): với một văn bản mới máy sẽ đưa ra một sự đoán chủ

đề của nó dựa vào các đặc trưng của nó

Một số khái niệm cơ bản trong phân loại văn bản:

Chuẩn hoá văn bản (Cleaning data): ta có thể hiểu việc làm này như việc làm

“sạch” văn bản như: loại bỏ những từ không mang lại ý nghĩa (Stopword), đặt lại các dấu câu, loại bỏ các khoảng trống dư thừa,…

Trang 17

Tách từ (Words segmentation): việc tách từ là một công việc hết sức quan trong, vì nó ảnh hưởng rất lớn đến vectơ hoá để phân loại văn bản Hiện tại người ta thường tách từ dựa vào máy học hoặc sử dụng bộ từ điển để tách từ

Trích chọn đặc trưng (Feature Extraction): công việc này giúp ta đưa a được những từ có ý nghĩa quan trong đối với văn bản đang xét, đặc trưng này cũng có thể dùng nó để phân biệt các văn bản với nhau

Huấn luyện (Training): là tập văn bản mẫu, từ tập văn bản này ta sẽ “dạy” cho máy cách để phân loại văn bản mới

2.2 Các thuật toán thường dùng trong phân loại văn bản

Thuật ngữ “Học có giám sát”: một kĩ thuật của ngành học máy để xây dựng

một hàm (function) từ dữ liệu huấn luyện Dữ liệu huấn luyện bao gồm các cặp gồm đối tượng đầu vào (thường dạng vectơ), và đầu ra mong muốn Đầu ra của một hàm

có thể là một giá trị liên tục (gọi là hồi qui), hay có thể là dự đoán một nhãn phân loại cho một đối tượng đầu vào (gọi là phân loại) Nhiệm vụ của chương trình học

có giám sát là dự đoán giá trị của hàm cho một đối tượng bất kì là đầu vào hợp lệ, sau khi đã xem xét một số ví dụ huấn luyện (nghĩa là, các cặp đầu vào và đầu ra tương ứng) Để đạt được điều này, chương trình học phải tổng quát hóa từ các dữ liệu sẵn có để dự đoán được những tình huống chưa gặp phải theo một cách "hợp lý" [28]

Thuật ngữ “Học không giám sát”: một phương pháp của ngành học máy

nhằm tìm ra một mô hình mà phù hợp với các quan sát Nó khác biệt với học có giám sát ở chỗ là đầu ra đúng tương ứng cho mỗi đầu vào là không biết trước Trong học không có giám sát, một tập dữ liệu đầu vào được thu thập Học không có giám sát thường đối xử với các đối tượng đầu vào như là một tập các biến ngẫu nhiên Sau đó, một mô hình mật độ kết hợp sẽ được xây dựng cho tập dữ liệu đó

Trang 18

2.2.1 Thuật tốn Nạve bayes [26],[27]

Thuật tốn Nạve bayes thuộc nhĩm thuật tốn học cĩ giám sát

Định lý Bayes:

Cho X, C là các biến bất kỳ (rời rạc, liên tục, cấu trúc) Mục tiêu của ta là dự đốn C từ X Từ mơ hình Bayes ta cĩ thể lượng giá các tham số của P(X|C), P(C) trực tiếp từ tập huấn luyện Sau đĩ, ta sử dụng định lý Bayes để tính P(C|X=x)

Độc lập điều kiện (conditional independence): X độc lập điều kiện với Y khi cho Z nếu phân bố xác suất trên X độc lập với các giá trị của Y khi cho các giá trị của Z Ta thường viết P(X|Y, Z) = P(X|Z) Ví dụ, P(Tuyển dụng|Giáo viên, Biên chế) = P(Tuyển dụng|Biên chế)

Naive Bayes: Giả sử D là tập huấn luyện gồm các mẫu biểu diễn dưới dạng

X = <x1,x2, ,xn> Ci,D là tập các mẫu của D thuộc lớp Ci (i=1,2,…,m) Các thuộc tính x1, x2, …, xn độc lập điều kiện đơi một với nhau khi cho lớp C

Thuật tốn:

Bước 1: huấn luyện Naive Bayes trên tập dữ liệu huấn luyện

Bước 2: X mới được gán vào lớp vào lớp cĩ giá trị lớn nhất

|

Trang 19

2.2.2 Thuật toán k-Means [30]

Thuật toán k-Means thuộc nhóm thuật toán học không giám sát, ý tưởng của thuật toán là chia m phần tử (m mẫu dữ liệu văn bản) thành n nhóm (n lớp) sao cho các phần tử trong cùng một nhóm sẽ gần tâm của nhóm đó nhất

Ưu điểm của thuật toán k-means:

- Đây là một phương pháp đơn giản, hiệu quả, được sử dụng trong tiến trình khởi tạo trong nhiều thuật toán khác

- Hiệu xuất tương đối

- Thường kết thúc ở tối ưu cục bộ, có thể tìm được tối ưu toàn cục

Nhược điểm của thuật toán k-means:

- Số cụm k phải được xác định trước

- Chỉ áp dụng được khi xác định được trị trung bình, không thể xử lý nhiễu

và outliers

- Không thích hợp nhằm khám phá các dạng không lồi hay các cụm có kích thước khác nhau, vì đây là thuật toán độc lập tuyến tính

Thuật toán được thể hiện qua 5 bước:

Bước 1: Chọn ngẫu nhiên n tâm (centroid) cho n cụm (cluster) Mỗi cụm được đại diện bằng các tâm của cụm

Bước 2: Tính khoảng cách giữa các đối tượng (objects) đến n tâm (thường dùng khoảng cách Euclidean)

Bước 3: Nhóm các đối tượng vào nhóm gần nhất

Bước 4: Xác định lại tâm mới cho các nhóm

Trang 20

Bước 5: Thực hiện lại bước 2 cho đến khi không có sự thay đổi nhóm nào của các đối tượng

Hình 2.2.2: Sơ đồ khối của thuật toán K-Means

Ngày đăng: 12/03/2018, 16:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w