Vì thế chúng tôi thực hiện nghiên cứu với đề tài: “Tìm hiểu về kiến thức và thực hành vệ sinh sau đẻ của các sản phụ đẻ thường tại khoa Phụ - Sản, bệnh viện Bạch Mai”.. Giai đoạn sau si
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VŨ THỊ LAN
TÌM HIỂU VỀ KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỆ SINH SAU
ĐẺ CỦA CÁC SẢN PHỤ ĐẺ THƯỜNG TẠI KHOA PHỤ - SẢN,
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin trân trọng cảm ơn ban Giám hiệu, phòng Đào tạo đại học, phòng Công tác chính trị học sinh sinh viên và thầy cô các bộ môn toàn trường đã giảng dạy, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô bộ môn Phụ - Sản trường đại học
Y Hà Nội, khoa Phụ - Sản, bệnh viện Bạch Mai đã tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành luận văn này
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Bá Nha - người thầy
đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho em trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Con xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn tới bố mẹ - người đã sinh thành, nuôi dưỡng, luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất, động viên con trong quá trình học tập Cuối cùng, xin được cảm ơn anh em, bạn bè thân thiết đã động viên giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Hà Nội, Ngày 20 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Vũ Thị Lan
Trang 3Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập - tự do - hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Ban Giám hiệu trường đại học Y Hà Nội
Phòng Đào tạo đại học trường đại học Y Hà nội
Bộ môn Phụ - Sản, trường đại học Y Hà Nội
Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp
Em xin cam đoan những kết quả được trình bày trong khóa luận tốt nghiệp này là có thật, không sao chép từ bất cứ tài liệu nào Quá trình thu thập
và xử lí số liệu hoàn toàn trung thực và khách quan
Hà Nội, Ngày 20 tháng 05 năm 2015
Sinh Viên
Vũ Thị Lan
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Một số khái niệm 3
1.1.1 Giai đoạn sau sinh 3
1.1.2 Những thay đổi giải phẫu sinh lí trong thời kỳ hậu sản 3
1.1.3 Những hiện tượng lâm sàng 5
1.2 Những nguy cơ của bà mẹ trong thời kỳ hậu sản 9
1.2.1 Nguy cơ về sức khỏe bệnh tật 9
1.2.2 Nguy cơ về vấn đề vệ sinh, lao động và nghỉ ngơi 11
1.2.3 Nguy cơ về vấn đề quan hệ tình dục sau sinh 11
1.3 Chăm sóc hậu sản thường 11
1.3.1 Chăm sóc ngay khi sau đẻ 11
1.3.2 Sau 6 giờ đến hết ngày thứ nhất 12
1.3.3 Chăm sóc trong thời kỳ hậu sản 12
1.3.4 Diễn biến bất thường trong thời khì hậu sản 16
1.4 Một số nghiên cứu liên quan 16
1.4.1 Một số nghiên cứu liên quan ở Việt Nam 16
1.4.2 Một số nghiên cứu liên quan trên thế giới 17
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 19
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 19
2.1.3 Cỡ mẫu 19
2.1.4 Phương pháp chọn mẫu 20
Trang 52.2 Thời gian nghiên cứu 20
2.3 Địa điểm nghiên cứu 20
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu 20
2.4.2 Các sai số và cách khống chế 20
2.4.3 Kỹ thuật thu thập số liệu 20
2.4.4 Biến số và chỉ số 21
2.5 Xử lý số liệu 23
2.6 Khía cạnh đạo đức của đề tài 23
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
3.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 24
3.1.1 Đặc điểm nhóm tuổi của đối tượng 24
3.1.2 TĐHV của sản phụ 24
3.1.3 Nghề nghiệp của sản phụ 25
3.1.4 Phân bố nơi sống của sản phụ 25
3.1.5 Số con của sản phụ 25
3.1.6 Tiền sử điều trị viêm nhiễm phụ khoa 26
3.1.7 Công tác chuẩn bị trước sinh 26
3.1.8 Phương pháp sinh của các sản phụ 27
3.1.9 Tình trạng tầng sinh môn 27
3.2 Kiến thức về DHNH sau sinh 28
3.2.1 Hiểu biết về DHNH sau sinh 28
3.2.2 Đánh giá kiến thức về DHNH sau sinh của các sản phụ 29
3.2.3 Mối tương quan giữa TĐHV của các sản phụ với hiểu biết về DHNH sau sinh 29
3.2.4 Mối tương quan giữa nghề nghiệp của sản phụ với hiểu biết về DHNH sau sinh 30
3.3 Kiến thức về biện pháp giúp tống sản dịch 31
Trang 63.4 Thực hành vệ sinh sau đẻ của các sản phụ 32
3.4.1 Thực hành vệ sinh sau đẻ của các sản phụ 32
3.4.2 Đánh giá thực hành vệ sinh sau đẻ của các sản phụ 34
3.4.3 Mối liên quan giữa đặc điểm của đối tượng và thực hành vệ sinh sau đẻ 35 3.4.4 Mối liên quan giữa nguồn thông tin và thực hành vệ sinh sau đẻ 37
3.5 Những khó khăn gặp phải của sản phụ khi thực hành vệ sinh sau đẻ 40
3.6 Nhu cầu tư vấn của các sản phụ 40
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 41
4.1 Hiểu biết của sản phụ về DHNH sau sinh 41
4.2 Hiểu biết về sản dịch 42
4.3 Hiểu biết về các biện pháp giúp tống sản dịch ra ngoài 42
4.4 Về thực hành vệ sinh 42
4.4.1 Vệ sinh khu vực sinh dục 42
4.4.2 Về vệ sinh sau khi đi đại tiểu tiện 44
4.4.3 Về vệ sinh vú 45
4.4.4 Vệ sinh thân thể 45
4.4.5 Về vấn đề quan hệ tình dục 45
4.4.6 Đánh giá thực hành vệ sinh chung 46
4.5 Một số yếu tố liên quan 46
4.5.1 Trình độ học vấn của các sản phụ 46
4.5.2 Nghề nghiệp của sản phụ 47
4.5.3 Số lần sinh con của sản phụ 47
4.5.4 Tuổi của sản phụ 48
4.5.5 Nguồn thông tin 48
4.6 Nhu cầu tư vấn của các sản phụ 49
KẾT LUẬN 50
KIẾN NGHỊ 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Internationnal Children’s Emergency Fund
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tổng hợp những vấn đề sức khỏe của bà mẹ sau sinh ở một số nước
trên thế giới 10
Bảng 2.1: Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu 21
Bảng 3.1: Phân bố nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 24
Bảng 3.2: Phân bố nghề nghiệp của sản phụ 25
Bảng 3.3: Tiền sử điều trị viêm nhiễm phụ khoa 26
Bảng 3.4: Công tác chuẩn bị trước sinh 26
Bảng 3.5: Tình trạng tầng sinh môn 27
Bảng 3.6: Hiểu biết dấu hiệu nguy hiểm sau sinh 28
Bảng 3.7: Hiểu biết về các biện pháp giúp tống sản dịch ra ngoài nhanh 31
Bảng 3.8: Thực hành vệ sinh sau đẻ của các sản phụ 32
Bảng 3.9: Mối liên quan giữa TĐHVvà thực hành vệ sinh sau đẻ 36
Bảng 3.10: Mối liên quan giữa nghề nghiệp với thực hành vệ sinh sau đẻ 37
Bảng 3.11: Mối tương quan giữa mức độ nhận được kiến thức từ phương tiện thông tin đại chúng với thực hành vệ sinh sau đẻ 37
Bảng 3.12: Mối tương quan giữa nhận được kiến thức từ gia đình mẹ đẻ, mẹ chồng với thực hành vệ sinh sau đẻ của các sản phụ 38
Bảng 3.13: Mối tương quan giữa nhận được kiến thức từ cán bộ y tế với thực hành vệ sinh sau đẻ của các sản phụ 38
Bảng 3.14: Mức độ nhận được kiến thức từ bạn bè với kiến thực hành vệ sinh sau đẻ của các sản phụ 39
Bảng 3.15: Mối tương quan giữa mức độ nhận được kiến thức từ lớp học y tế với thực hành vệ sinh sau đẻ của các sản phụ 39
Bảng 3.16: Những khó khăn gặp phải của các sản phụ sau sinh 40
Trang 10DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 3.1: Phân bố TĐHV của sản phụ 24Biểu đồ 3.2: Phân bố số con của sản phụ 25Biểu đồ 3.3: Phân loại hiểu biết về DHNH sau sinh 29Biểu đồ 3.4: Mối liên hệ giữa mức độ hiểu biết về DHNH sau sinhvà
TĐHV 29Biểu đồ 3.5: Mối quan hệ giữa nghề nghiệp của sản phụ với hiểu biết về
DHNH sau sinh 30Biểu đồ 3.6: Đánh giá thực hành vệ sinh sau đẻ của sản phụ 34Biểu đồ 3.7: Thể hiện mối liên hệ giữa thực hành vệ sinh sau đẻ và số con của
sản phụ 35Biểu đồ 3.8: Thể hiện mối liên quan giữa thực hành vệ sinh sau đẻ và tuổi của
sản phụ 36Biểu đồ 3.9: Hình thức mong muốn tư vấn của sản phụ 40
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Thai nghén đối với người phụ nữ là một hiện tượng sinh lí mang tính chất đặc biệt, dễ chuyển thành bệnh lí, vì vậy người phụ nữ khi mang thai cần được cán bộ y tế, gia đình, cũng như bản thân chăm sóc theo dõi sát hơn đối tượng khác Đặc biệt là thời kì hậu sản Đây là thời kỳ quan trọng của bà mẹ
và đứa trẻ, đặc biệt là người làm mẹ lần đầu Thời kỳ này người mẹ phải đối mặt với nhiều nguy cơ mới sau sinh [1] Ở Việt Nam, theo điều tra của viện chiến lược và chăm sóc y tế về tình hình tử vong bà mẹ trong hai năm 2006 -
2007 có tới 42,9% các trường hợp tử vong mẹ xảy ra sau đẻ [2] Mỗi năm trên thế giới có khoảng 50000 phụ nữ mắc bệnh do hậu quả của quá trình sinh đẻ không an toàn, thiếu chăm sóc sau đẻ trong đó 15,0% để lại biến chứng lâu dài hoặc vĩnh viễn [3]
Năm 1987, với sự hợp tác chặt chẽ giữa tổ chức y tế thế giới WHO (World Health Organization) và quỹ dân số liên hợp quốc UNFPA (United Nations Fund for Population Activities), ngân hàng thế giới WB (World Bank) và hội đồng dân số thế giới, chương trình làm mẹ an toàn đã được khởi xướng nhằm mục tiêu tất cả các phụ nữ đều nhận được sự chăm sóc cần thiết
để được hoàn toàn khỏe mạnh trong thời gian mang thai, sinh đẻ và sau đẻ.Từ năm 1995 bộ y tế đã phối hợp với tổ chức y tế thế giới và quỹ nhi đồng liên hợp quốc UNICEP (United National International Children’s Emergency Fund) khởi xướng chương trình “ làm mẹ an toàn ở Việt Nam” [4]
Cùng với sự phát triển của phương tiện thông tin đại chúng như đài báo, internet, tivi…, rất nhiều cuốn sách hướng dẫn bà mẹ về quá trình mang thai
và trong thời kỳ hậu sản Đó là nguồn kiến thức rất phong phú và dễ tìm Tuy nhiên, ở Việt Nam cũng như các nước phương đông khác thời kỳ hậu sản là
Trang 12thời kỳ kiêng kỵ cho sản phụ [5] Kiến thức và thực hành vệ sinh sau sinh còn mang tính tự phát và kinh nghiệm [6]
Theo một nghiên cứu của Nguyễn Duy Ánh (2005) cho thấy nhóm phụ
nữ có kiến thức chưa đạt chiếm tỷ lệ 77,4% [7] Nghiên cứu của Nguyễn Khắc Minh, Đinh Thanh Huế, Cao Ngọc Thành (2007) đã chứng tỏ có sự liên quan chặt chẽ giữa tỷ lệ mắc bệnh và kiến thức, thái độ trong phòng bệnh [8] Hiện nay ở Việt Nam chưa thực sự có nhiều nghiên cứu mô tả kiến thức
và thực hành vệ sinh, của sán phụ sau đẻ thường Vì thế chúng tôi thực hiện
nghiên cứu với đề tài: “Tìm hiểu về kiến thức và thực hành vệ sinh sau đẻ
của các sản phụ đẻ thường tại khoa Phụ - Sản, bệnh viện Bạch Mai”
Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2014 - hết tháng 03/2015
Mục tiêu của đề tài:
1 - Tìm hiểu kiến thức, thực hành vệ sinh sau đẻ của các sản phụ đẻ thường tại khoa Phụ - Sản, bệnh viện Bạch Mai
2 - Phân tích một số ưu điểm và tồn tại trong nhận thức và thực hành, mối liên quan và nhu cầu tư vấn của các sản phụ
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Giai đoạn sau sinh [9]
Định nghĩa: Hậu sản là khoảng thời gian 6 tuần lễ sau sinh.Trong
khoảng thời gian này các cơ quan trong cơ thể người mẹ, nhất là các cơ quan sinh dục sẽ dần trở lại trạng thái bình thường như trước khi có thai Trừ tuyến
vú vẫn tiếp tục phát triển để tiết ra sữa
Thời kỳ hậu sản được đánh dấu bằng những hiện tượng chính là sự co hồi tử cung, tiết ra sản dịch, lên sữa và tiết sữa, những thay đổi tổng quát khác trong cơ thể
1.1.2 Những thay đổi sinh lí, giải phẫu trong thời kỳ hậu sản
1.1.2.1 Thay đổi ở tử cung [10]
Ngay sau khi sổ rau, tử cung co chặt lại thành một khối chắc, đáy tử cung ở ngay rốn Trọng lượng tử cung lúc đó nặng khoảng 1000g Kích thước
tử cung giảm đi do máu và các mạch máu mất đi và một phần khác là do lượng tiêu hóa một lượng lớn các tương bào và tế bào Các cơ tử cung tự tiêu
và giảm về kích thước và số lượng Trong 4 tuần đầu sau đẻ, có sự tăng co hồi
tử cung để tái tạo lại các tổ chức cơ tử cung Niêm mạc tử cung thực sự hồi phục sau sinh 6 tuần
Trang 14- Ở thành bụng, các vết rạn da vẫn còn tồn tại Các cơ thành bụng cũng
co lại Các cân và đặc biệt là cân cơ thẳng to cũng co lại dần nhưng thành vẫn nhão hơn so với chưa có thai, đặc biệt là những người đẻ nhiều, đẻ thai to, đa thai, đa ối
1.1.2.3 Thay đổi ở phần phụ, âm đạo và âm hộ [10]
Buồng trứng, dây chằng tròn, dây chằng rộng dần trở lại bình thường về chiều dài, hướng và vị trí
Âm hộ và âm đạo bị giãn trong khi đẻ cũng co dần lại và 15 ngày sau đẻ
sẽ trở lại vị trí bình thường
Riêng màng trinh, sau khi đẻ bị rách chỉ còn lại di tích của rìa màng trinh
1.1.2.4 Thay đổi ở hệ tiết niệu
Sau khi đẻ không chỉ có thành bàng quang bị phù và xung huyết mà còn
có cả hiện tượng xung huyết ở dưới niêm mạc bàng quang Hơn nữa, bàng quang có hiện tượng tăng dung tích và mất nhạy cảm tương đối với áp lực của lượng nước tiểu ở trong bàng quang [10] Vì vậy, cần phải chú ý theo dõi hiện tượng bí đái hoặc đái sót nước tiểu sau đẻ Tác dụng gây liệt cơ của thuốc mê, đặc biệt là gây tê tủy sống, rối loạn chức năng thần kinh tạm thời của bàng quang
là các yếu tố góp thêm vào Ứ nước tiểu và vi khuẩn niệu ở một bàng quang bị chấn thương cộng thêm bể thận và niệu quản bị giãn tạo ra những thuận lợi cho những nhiễm trùng đường tiết niệu sau đẻ phát triển Bể thận và niệu quản bị giãn sẽ trở lại trạng thái bình thường sau đẻ khoảng 2 đến 8 tuần lễ [11]
1.1.2.5 Thay đổi ở vú [9], [10]
Ngược lại với cơ quan sinh dục, vú sau đẻ phát triển nhanh, vú căng lên,
to và rắn chắc Núm vú to và dài ra, các tĩnh mạch dưới da vú nổi lên rõ rệt Các tuyến sữa phát triển to lên, nắn thấy rõ ràng, có khi lan tới tận nách Lúc đó
vú sẽ tiết ra sữa mà trên lâm sàng gọi là sự xuống sữa Hiện tượng này xảy ra sau
Trang 15đẻ 2 - 3 ngày Cơ chế của hiện tượng đó là sau đẻ nồng độ estrogen tụt xuống đột ngột, prolactin được giải phóng và tác dụng lên tuyến sữa gây ra sự tiết sữa
Sự tiết sữa được duy trì bằng động tác mút đầu vú, nó kích thích thùy trước tuyến yên do đó prolacatin được tiết ra liên tục Mặt khác động tác mút núm vú, thùy sau tuyến yên tiết ra oxytocin làm cạn sữa ở tuyến bài tiết sữa
1.1.3 Những hiện tượng lâm sàng
1.1.3.1 Sự co hồi tử cung
Sau đẻ tử cung co hồi trên khớp mu 13cm, ở dưới rốn hai khoát ngón tay Trung bình mỗi ngày tử cung co hồi lại 1cm, riêng ngày đầu co nhanh hơn, có thể được 2 - 3cm và đến ngày thứ 12 - 13 thì không nắn thấy tử cung trên khớp vệ nữa [10]
Vì trong tử cung vẫn còn máu cục, sản dịch nên thỉnh thoảng tử cung có những cơn co bóp mạnh để tống máu cục và sản dịch ra ngoài gây ra những cơn đau gọi là cơn đau tử cung Ở người con so thường ít gặp vì chất lượng cơ
tử cung còn tốt, tử cung luôn luôn co chặt lại Các cơn đau tử cung thường gặp ở người con rạ, mức độ đau nhiều hay ít tùy theo cảm giác của mỗi người nhưng càng đẻ nhiều lần càng đau vì chất lượng cơ tử cung yếu dần, tử cung càng cần phải co bóp mạnh hơn các lần trước để đẩy cục máu và sản dịch ra ngoài Đôi khi, các cơn đau tử cung này cần phải dùng thuốc giảm đau vì cường độ quá mạnh Thông thường các cơn đau giảm dần về cường độ và sản phụ cảm thấy dễ chịu vào ngày thứ ba sau đẻ [10]
Trong những ngày sau đẻ cần phải theo dõi sự co hồi của tử cung bằng cách đo chiều cao tử cung, tính từ khớp mu tới đáy tử cung hàng ngày Sự co hồi tử cung phụ thuộc vào:
- Ở những người con so tử cung co hồi nhanh hơn ở những người con rạ
- Tử cung ở người đẻ thường co nhanh hơn người đẻ mổ
Trang 16- Những người cho con bú tử cung co nhanh hơn những người không cho con bú
- Tử cung bị nhiễm khuẩn co hồi chậm hơn tử cung không bị nhiễm khuẩn
- Trường hợp bí đái, táo bón sau đẻ tử cung bị đẩy lên cao và co hồi chậm Trên lâm sàng nếu thấy tử cung co hồi chậm, sốt, tử cung còn to và đau, sản dịch hôi cần phải nghĩ tới nhiễm khuẩn hậu sản [12]
- Tính chất: Trong ba ngày đầu, sản dịch gồm toàn máu loãng và máu cục nhỏ nên có màu đỏ sẫm Từ ngày thứ tư tới ngày thứ tám, sản dịch loãng hơn, chỉ còn có một chất nhầy có lẫn ít máu nên có màu lờ lờ máu cá Từ ngày thứ chín trở đi sản dịch không có máu chỉ là một chất dịch màu trong
Bình thường sản dịch không bao giờ có mủ nhưng sau khi chảy qua âm đạo, âm hộ sản dịch mất tính chất vô khuẩn và có thể bị nhiễn khuẩn các vi khuẩn gây bệnh như tụ cầu, liên cầu, trực khuẩn…
- Mùi: Sản dịch có mùi tanh nồng, độ pH kiềm Nếu bị nhiễm khuẩn có mùi hôi
- Khối lượng: Khối lượng sản dịch thay đổi tùy từng người Trong 10 ngày đầu trung bình sản dịch có thể ra tới 1500g, đặc biệt vào ngày thứ nhất và ngày thứ hai ra nhiều có thể lên tới 1000g Các ngày sau sản dịch ít dần Sau hai tuần lễ sản dịch sẽ hết hẳn
Trang 17Ở người con so, người cho con bú, sản dịch hết nhanh vì tử cung co hồi nhanh hơn
Ở người mổ đẻ sản dịch thường ít hơn so với đẻ thường
Nếu sản dịch ra nhiều, kéo dài hoặc đã hết huyết đỏ thẫm, lại ra máu tái phát lại cần phải theo dõi sót rau sau đẻ
Trên lâm sàng, 3 tuần lễ sau đẻ ở một số sản phụ có thể ra một ít máu qua đường âm đạo, đó là hiện tượng thấy kinh non do niêm mạc tử cung phục hồi sớm
1.1.3.3 Sự xuống sữa
Trong thời kì có thai có thể đã có sữa non Sau đẻ một vài ngày, đối với con rạ sẽ là ngày thứ 2 - 3, đối với con so là ngày thứ ba, thứ tư Dưới tác dụng của prolactin, hai vú sẽ căng to và tiết sữa, đó là hiện tượng xuống sữa Khi xuống sữa, sản phụ thấy người khó chịu sốt nhẹ (≤ 38) hai vú căng tức và rắn chắc, mạch hơi nhanh Các hiện tượng này mất đi sau khi sữa được tiết ra Nếu sau khi sữa đã tiết rồi mà vẫn sốt phải đề phòng nhiễm khuẩn ở tử cung hay ở vú [10]
Sữa non được tiết ra ba ngày đầu sau đẻ, có màu vàng chanh chứa nhiều muối khoáng và protein (globin và kháng thể), ít đường và mỡ Sữa non phù hợp với sự tiêu hóa của trẻ sơ sinh trong những ngày đầu Về sau sữa tiết ra sẽ đặc hơn, ngọt hơn, đó là sữa mẹ bình thường [11]
1.1.3.4 Thay đổi tâm lý sau sinh
Nhiều công trình nghiên cứu của nước ngoài cho rằng có khoảng 50% các bà mẹ sau sinh bị thay đổi tính tình thường là nhẹ: Cảm thấy mệt mỏi, lo lắng sợ hãi, hồi hộp, buồn rầu, kèm theo mất ngủ [12]
Có ba hình thức rối loạn tâm lý trong thời kỳ hậu sản là:
Trang 181 Cơn buồn thoáng qua sau sinh -“baby blues”- thường xuất hiện từ ngày thứ ba tới ngày thứ sáu sau sinh và chỉ kéo dài vài ngày
2 Trầm cảm sau sinh, các triệu chứng kéo dài lâu hơn trên 10 ngày
3 Chứng loạn thần sau sinh
Để tâm lý các bà mẹ thoải mái nhằm đảm bảo việc tiết sữa và sức khỏe
để chăm con cần tạo không khí thoải mái, vui tươi trong gia đình Các thành viên trong gia đình cần quan tâm động viên và tạo môi trường nghỉ ngơi, yên tĩnh, thoải mái cho người mẹ [13]
1.1.3.5 Các hiện tượng khác
- Cơn rét run: Ngay sau đẻ, sản phụ có thể lên cơn rét run, đó là cơn rét run sinh lý Đặc điểm cơn rét run sinh lý là mạch, nhiệt độ, huyết áp vẫn bình thường Cần phân biệt cơn rét run sinh lý với cơn rét run do choáng mất máu Trong choáng mất máu, ngoài cơn rét run còn có thay đổi về mạch, huyết áp,
vã mồ hôi, các chi lạnh
- Bí đại, tiểu tiện: Sau đẻ sản phụ có thể bị bí đái, tiểu tiện do nhu động ruột bị giảm, do chuyển dạ kéo dài, ngôi thai đè vào bàng quang
- Các hiện tượng khác về toàn thân:
Mạch thường chậm lại 10 nhịp/phút và tồn tại 5 - 6 ngày sau đẻ
Nhiệt độ vẫn có thể bình thường sau đẻ, không thay đổi
Huyết áp trở lại bình thường sau đẻ 5 - 6 giờ
Nhịp thở chậm lại và sâu hơn do cơ hoành không bị đẩy lên cao nữa
Máu: Những ngày đầu sau đẻ, hemoglobin, hematocrit, hồng cầu hơi giảm so với trước khi chuyển dạ do lượng máu mất trong chuyển dạ Sau một tuần lễ, khối lượng trở về gần bằng trước khi có thai.Cung lượng tim còn tăng caoít nhất 48 h sau đẻ Sau 2 tuần lễ, các thay đổi này trở lại giá trị bình thường
Trang 19 Số lượng bạch cầu đặc biệt là bạch cầu hạt tăng lên sau đẻ Fibrinogen
và tốc độ lắng máu còn cao ít nhất một tuần lễ sau đẻ
Trọng lượng cơ thể: Sau đẻ sản phụ có thể sụt 3 - 5kg do sự bài tiết mồ hôi nước tiểu, sản dịch [10]
Nếu không cho con bú, 6 tuần lễ đầu sau đẻ có thể có kinh lại lần đầu tiên và đó cũng là dấu hiệu chấm dứt thời kì hậu sản Kì kinh nguyệt đầu tiên thường nhiều hơn các kì kinh bình thường [14]
1.2 Những nguy cơ của bà mẹ trong thời kỳ hậu sản
1.2.1 Nguy cơ về sức khỏe bệnh tật
Trong thời kỳ hậu sản, bà mẹ có thể bị đe dọa bởi nhiều vấn đề sức khỏe Một số vấn đề sức khỏe nghiêm trọng có thể là nguy cơ gây tử vong bao gồm: Chảy máu muộn sau đẻ, sản giật, đau, mệt mỏi, lo lắng, buồn chán và trầm cảm là những biểu hiện rõ rệt nhất của bà mẹ trong thời kì này Có 55,0% bà mẹ
ở Canada và 76,0% bà mẹ ở Mỹ cho biết cảm thấy mệt mỏi ở tháng thứ 2 sau sinh Về triệu chứng đau: Đau ở vùng khung chậu (45,9% tại Canada) đau vết
mổ (83,0% ở Mỹ), đau vùng lưng (54,5% ở Canada), đau đầu (23,0%)[15]
Trang 20Bảng 1.1: Tổng hợp những vấn đề sức khỏe của bà mẹ sau sinh ở một số
nước trên thế giới
Trang 21tiết niệu, đường sinh dục, và các vấn đề tâm lý như: Mệt mỏi, căng thẳng, mất ngủ,…[3], [15]
1.2.2 Nguy cơ về vấn đề vệ sinh, lao động và nghỉ ngơi
Thời kỳ mang thai và sinh nở là thời kỳ tiêu tốn nhiều năng lượng cũng như sức lực của nười phụ nữ, vì vậy nếu không có chế độ lao động và nghỉ ngơi thích hợp trong thời kỳ sau sinh bà mẹ sẽ có những hệ lụy về sức khỏe như: Mất ngủ, giảm cân, suy nhược cơ thể, rối nhiễu tâm lý… Vì vậy, ngoài việc tránh lao động nặng, bà mẹ phải ngủ đủ giấc để phục hồi sức khỏe Chế
độ vệ sinh thân thể và bộ phận sinh dục đúng cách sẽ tránh được các nhiễm khuẩn về vú, đường sinh dục tiết niệu… [16]
1.2.3 Nguy cơ về vấn đề quan hệ tình dục sau sinh
Thời điểm kết thúc hậu sản (6 tuần sau sinh) bà mẹ có thể quan hệ tình dục sau sinh Nếu quan hệ sớm trong thời kỳ hậu sản bà mẹ có thể gặp phải một số nguy cơ như: Nhiễm khuẩn, tổn thương đường sinh dục dưới…, bên cạnh đó nếu không có biện pháp tránh thai dễ có thai sớm ngoài ý muốn, khoảng cách giữa hai lần sinh ngắn ảnh hưởng tới sức khỏe của bà mẹ [17]
1.3 Chăm sóc hậu sản thường
1.3.1 Chăm sóc ngay khi sau đẻ (6h đầu sau đẻ) [9]
Trong hai giờ đầu sau đẻ cần theo dõi tình trạng toàn thân của sản phụ để phát hiện sớm tình trạng choáng sản khoa hoặc choáng mất máu Theo dõi mạch, đo huyết áp, xoa đáy tử cung thành bụng để xác định khối an toàn của
tử cung sau đẻ, đánh giá lượng máu chảy ra ngoài qua âm đạo 15 phút Một lần ít nhất trong thời gian một giờ sau đẻ
Cần phát hiện và xử trí sớm đờ tử cung và chảy máu sau đẻ Ngay sau khi đẻ, tử cung co chặt lại tạo thành khối an toàn tử cung ở ngay dưới rốn, tồn tại khoảng 2 - 3 h sau đẻ Nếu khám thấy mất khối an toàn, tử cung mềm
Trang 22nhão, tử cung to ra, đáy tử cung cao dần lên trên rốn là có máu đọng lại trong buồng tử cung
Cần đánh giá lượng máu chảy sau đẻ Nguyên nhân chảy máu sau đẻ có thể do sót rau, đờ tử cung, chấn thương đường sinh dục Máu có thể chảy ra ngoài qua đường âm đạo hoặc đọng lại trong buồng tử cung mà không chảy ra ngoài [10]
Vì vậy, sau khi sản phụ ra khỏi phòng đẻ cần đưa sản phụ vào buồng hậu sản theo dõi sát Buồng nằm sau đẻ phải sạch sẽ, yên tĩnh, thoáng mát về mùa
Ăn thức ăn mềm, uống sữa để tránh hạ đường huyết
30 phút tới một giờ đầu sau đẻ có thể cho con bú ngay nhằm tận dụng sữa non
và giúp tử cung co hồi tốt và mau lên sữa hơn Nên nằm cho con bú đề phòng
mẹ ngã
1.3.2 Sau 6 giờ đến hết ngày thứ nhất [10]
Sau 6 h đầu mẹ có thể ngồi dậy cho con bú và đi lại trong phòng
Theo dõi dấu hiệu sinh tồn
Phải thường xuyên thay băng vệ sinh để theo dõi lượng máu chảy ra và tránh nhiễm trùng
1.3.3 Chăm sóc trong thời kỳ hậu sản
1.3.3.1 Theo dõi sự co hồi tử cung [10]
Hằng ngày theo dõi sự co hồi tử cung trên khớp vệ và sờ nắn tử cung để đánh giá:
Trang 23- Tử cung co hồi tốt hay xấu
- Mật độ tử cung tốt hay mềm
- Di động tử cung hay sờ nắn tử cung có đau không
Nếu tử cung co hồi chậm, mật độ mềm, ấn đau là tử cung bị nhiễm khuẩn cần được điều trị sớm
- Tử cung co hồi tốt sau sinh các bà mẹ cần:
- Cho con bú sớm 30 phút – 1giờ sau đẻ và cho con bú hoàn toàn trong vòng sáu tháng đầu
- Xoa bóp tử cung trong ngoài thành bụng
- Đứng dậy đi lại sớm
- Dùng thuốc co hồi tử cung nếu có chỉ định
1.3.3.2 Vệ sinh bộ phận sinh dục và theo dõi sản dịch
Thay bỉm và rửa sạch vùng âm hộ, tầng sinh môn và hậu môn cho sản phụ mỗi ngày ít nhất ba lần sáng, trưa, tối, nếu nhiều dịch phải thay nhiều hơn, sử dụng nước chín, hoặc nước sát trùng nhẹ sau đó thay khố vô khuẩn Không thụt rửa âm đạo vì cổ tử cung trong những ngày đầu sau đẻ chưa đóng lại, nước có thể qua cổ tử cung vào buồng tử cung gây nhiễm trùng ngược dòng [18]
Đối với trường hợp có rách hoặc cắt, khâu tầng sinh môn, sau khi làm thuốc phải thấm khô, đóng khố sạch
Chú ý kỹ thuật làm thuốc ngoài chỉ rửa từ phía âm hộ xuống hậu môn chứ không đươc làm ngược lại [9]
Theo dõi sản dịch:
Hằng ngày theo dõi sản dịch bằng cách xem khố của sản phụ để đánh giá:
- Số lượng sản dịch nhiều hay ít
- Có bị bế sản dịch sau đẻ hay không (không có sản dịch)
Trang 24- Màu sắc sản dịch
- Mùi sản dịch không hôi, nếu có mùi hôi là có sự nhiễm khuẩn ở tử cung
1.3.3.3 Theo dõi chăm sóc đại tiểu tiện [10]
Sau đẻ sản phụ dễ bí đái và táo bón do tình trạng giảm nhu động ruột
và liệt cơ bàng quang Nếu sau đẻ 12h mà sản phụ vẫn không tự đái được
mà điều trị nội khoa như xoa vùng bàng quang, chườm nóng, châm cứu…thì phải thông bàng quang sau đó bơm vào bàng quang 5 - 10ml glycerin borat 5,0% để kích thích sự co bóp của bàng quang Nếu vẫn chưa
tự đái được thì những ngày sau phải rửa bàng quang sau đó bơm glycerin borat cho tới khi nào tự đái được
Nếu sản phụ bị táo bón cần cho thuốc nhuận tràng, uống dầu parafin 20g Sau ba ngày không đi ngoài thì phải thụt tháo cho sản phụ hoặc bơm microlax vào trực tràng
Vệ sinh sau khi đại tiểu tiện:
Không đi tiểu tiện trực tiếp vào bỉm vì rất dễ gây nhiễm khuẩn ngược dòng, nhiễm khuẩn vết khâu tầng sinh môn
Sau khi đi vệ sinh cần phải vệ sinh lại bằng khăn ướt hoặc giấy khô Nếu
có thể thì vệ sinh bằng nước sạch sau đó lau khô bằng giấy
Sau khi đi đại tiện cần phải vệ sinh đúng cách: Dùng nước sạch dội rửa và lau khô theo thứ tự từ trước ra sau, hoặc dùng giấy lau khô sạch theo thứ tự trên
1.3.3.4 Chăm sóc vú
Cần giữ cho đầu vú và vú sạch sẽ để tránh nhiễm khuẩn
Không mặc áo lót quá chật, nếu không thật sự cần thiết thì không cần mặc [10]
Trang 25Rửa và lau đầu vú bằng nước sạch, khăn mềm trước và sau khi cho bú tránh xây sát vú
Khuyên bà mẹ nên cho con bú sớm ngay sau đẻ trong vòng 30 phút để kích thích tiết sữa và làm cho tử cung co hồi tốt hơn Cho trẻ bú từng bên, nếu
bú một bên không đủ thì cho bú sang vú bên cạnh Sau khi cho bú phải mềm đều, nếu có một vùng nào rắn hơn, nắn thấy căng chắc, đau tức, thường tuyến
đó bị tắc, thì cần phải chườm ấm, phải day, vắt sữa hoặc hút sữa để đề phòng tắc tia sữa dẫn đến áp xe vú [18]
Sau khi cho trẻ bú không hết thì phải vắt hết sữa, đảm bảo những giờ sau sữa sẽ tiết dần
Nếu có nứt kẽ đầu vú thì phải cho trẻ ngừng bú bên đó, rửa sạch đầu vú, thấm khô và bôi glyceryl borat 5,0%
Nếu đầu vú bị tụt vào bên trong thì cần dùng máy hút sữa để hút cho đầu
vú lộ ra ngoài [10]
1.3.3.5 Vệ sinh thân thể [14]
Ngày thứ hai sau đẻ có thể lau mình bằng nước ấm Có thể tắm vào ngày thứ ba sau đẻ bằng cách dội nước, tắm nhanh, không tắm ở những nơi gió lùa Không ngâm mình trong bồn tắm, chậu nước, vì trong thời kỳ hậu sản cổ tử cung thường mở Sau đẻ thì có thể sử dụng một số loại nước lá dân gian dùng
để tắm hoặc để xông, tạo cảm giác dễ chịu Tuyệt đối không kiêng tắm trong thời kì hậu sản, vì thời kì này sản phụ còn ra nhiều dịch tiết, là cơ hội cho sự phát triển của vi khuẩn
1.3.3.6 Chế độ sinh hoạt tình dục
Không quan hệ tình dục trong thời kì hậu sản, để tránh nhiễm khuẩn Sau
đẻ âm đạo mỏng manh, dễ rách, nếu giao hợp thô bạo dễ gây tổn thương đường sinh dục, rách âm đạo, rách cùng đồ Hơn nữa, trong thời kì này cổ tử
Trang 26cung còn mở rộng rất dễ tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển trong buồng tử cung gây nhiễm khuẩn Vì vậy không quan hệ tình dục trong thời gian ít nhất
là 1,5 tháng sau sinh có thể lâu hơn còn tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe của sản phụ và nhu cầu của từng cặp vợ chồng Trong thời kỳ này bà mẹ cần được cung cấp kiến thức cơ bản về thời điểm quan hệ tình dục cũng như các biện pháp tránh thai sau sinh Bà mẹ thiếu kiến thức về các biện pháp tránh thai sau sinh có thể dẫn đến có thai ngoài ý muốn, khoảng cách sinh gần ảnh hưởng tới sức khỏe của bà mẹ Rất nhiều bà mẹ không sử dụng biện pháp tránh thai nào vì lý do mới sinh và cho con bú [19]
1.3.4 Diễn biến bất thường trong thời kì hậu sản (nhiễm khuẩn hậu sản)
Nhiễm khuẩn tầng sinh môn: Các triệu chứng bắt đầu từ 3 đến 4 ngày sau đẻ, sản phụ sốt 38 – 38,5oc, sưng tấy nóng đỏ đau ở chỗ rách, tử cung co hồi tốt, sản dịch không hôi
Nhiễm khuẩn ở tử cung: Một số triệu chứng cần chú ý như sốt cao có khi gai rét, mệt mỏi, khó chịu, sản dịch hôi, có thể có lẫn máu, tử cung to, mật độ mềm, co hồi chậm…
Viêm phúc mạc: Các triệu chứng xuất hiện muộn hơn, sản phụ sốt 39 –
40oc, mạch nhanh, thở nhanh nông, bụng chướng toàn bộ, nắn đau, có ỉa chảy, phân khẳm, tử cung to đau, đái ít, vàng sẫm, có thể nôn ra dịch bẩn…
Nhiễm khuẩn huyết hậu sản: Sốt cao, nhiệt độ dao động, suy sụp toàn trạng, sản phụ có thể choáng do độc tố và đưa đến hôn mê, vô niệu…[20]
1.4 Một số nghiên cứu liên quan
1.4.1 Một số nghiên cứu liên quan ở Việt Nam
Theo nghiên cứu của Phạm Đình Khanh (2011) thì 63,5% bà mẹ biết dấu hiệu “ sa tử cung” 79,5% biết dấu hiệu đau bụng dữ dội, 62,5% biết dấu hiệu sốt cao, 70,0% biết dấu hiệu co giật, 89,0% biết dấu hiệu chảy máu kéo dài là DHNH sau đẻ, 4,5% không biết một DHNH nào sau đẻ Nghiên cứu cũng chỉ ra
Trang 27rằng các bà mẹ có trình độ học vấn cao có kiến thức tốt hơn về DHNH sau sinh,
có DHNH sau sinh ít hơn với các bà mẹ có trình độ học vấn thấp hơn [21]
Lê Minh Thi, Wanawipha pasandarntorn và Oratai Rauyajin đã tiến hành nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu tập quán chăm sóc sau sinh của phụ nữ tại Ân Thi, Hưng Yên (2003) bằng các phỏng vấn sâu thì thấy các bà mẹ kiêng ăn rau quả, tôm cá, đồ biển các loại khác bị coi là “tanh” Hầu hết phải kiêng tắm giặt, gội đầu sớm vì sợ “gió” sẽ thâm nhập qua lỗ chân lông gây ra những hậu quả xấu như đau đầu, cảm lạnh, người yếu Có một nửa số phụ nữ sinh hoạt tình dục sớm vì tập quán tin rằng mình không thể có thai trong thời
kỳ này vì chưa có kinh nguyệt trở lại [5]
1.4.2 Một số nghiên cứu liên quan trên thế giới
Nian Liu, Limei Mao, Xiufasun, Liegangliu và Bangghua chen đã tiến hành nghiên cứu về thực hành sau đẻ và các yếu tố ảnh hưởng tại Hồ Bắc, Trung Quốc (2003) trên 2100 phụ nữ sinh con trong năm 2002 và 2003 thu được kết quả là: 18,0% bà mẹ tham gia không bao giờ ăn rau, 78,8% không bao giờ ăn trái cây và 75,5% không bao giờ uống sữa Những điều cấm kị như tắm, gội đầu, đánh răng, vẫn còn phổ biến 59,4% phụ nữ không được ra khỏi giường trong hai ngày sau sinh Thời gian trung bình mà họ ở trên giường trong hai ngày này là 18h/ngày 80,0% không tham gia tập thể dục, chỉ có 3,8% là tập thường xuyên 25,2% phụ nữ tin rằng họ nên ở nhà để được bảo
vệ tránh gió, nếu không có thể gây bệnh Những quan niệm truyền thống này chủ yếu từ mẹ chồng (49,4%), mẹ đẻ (34,0%) sách và tạp chí (16,5%) người thân (14,3%) bạn bè hay đồng nghiệp (12.6%)[22]
Năm 2004, JoannaHraven, Qiyanchen, RachelJJolhurst và Paulgarner đã tiến hành nghiên cứu về niềm tin truyền thống và thực hành trong thời kỳ hậu sản ở Phúc Kiến Trung Quốc Nghiên cứu này cho thấy hầu hết các bà mẹ muốn thực hiện theo truyền thống của ông bà, cha mẹ họ Các bà mẹ đều
Trang 28tránh ăn rau và các loại thức ăn lạnh, tăng cường các loại thức ăn nóng giàu năng lượng và chất béo Hầu hết các bà mẹ đều cho rằng chỉ lau người mà không tắm trong thời kỳ hậu sản vì tin rằng: “Nước có thể vào các bệnh viêm khớp, thấp khớp sau này” Họ cũng tin rằng không nên đánh răng trong thời
kì này vì có thể làm răng lung lay, chảy máu lợi Tất cả bà mẹ tham gia nghiên cứu này đều cho rằng vệ sinh bộ phận sinh dục thường xuyên là cần thiết, tránh quan hệ tình dục trong thời kì hậu sản [23]
KuogLo nghiên cứu niềm tin và thực hành sau đẻ ở các bà mẹ thuộc tỉnh PreahVihear, Campuchia (2007) thu được kết quả là: Hầu hết các bà mẹ hạn chế ăn rau, trái cây vì họ nghĩ rau quả “lạnh” nên có thể gây tiêu chảy và đau bụng, họ cũng kiêng một số loại thịt, đặc biệt là thịt cá và một số loại thịt động vật hoang dã Các bà mẹ cũng cho rằng cần phải làm việc nhẹ nhàng không mang vật nặng tránh sa sinh dục Họ cũng quan niệm không quan hệ tình dục trong thời kì hậu sản, nên tắm nước ấm để cân bằng cơ thể [24] M.Hishamshamshah, Msbinramzan, A.Rashit, W.N.H.b Wanmustaffa, Rharoon và NBb Badaruddin NC trên 68 phụ nữ sinh con ở Peong, Malaisia (2001) và thu được kết quả là 65/68 phụ nữ (95,6%) vẫn tin và làm theo quan niệm kiêng thức ăn lạnh như rau củ [25]
Trang 29CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Các sản phụ sau sinh thường tại khoa Phụ - Sản bệnh viện Bạch Mai trong khoảng thời gian từ 12/12/2014 – 19/03/2015
- Là người Việt, đọc và hiểu tiếngViệt
- Không có biểu hiện của rối loạn tâm thần ảnh hưởng tới trả lời câu hỏi
- Tình nguyện tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Các sản phụ không thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn
- Các sản phụ sau đẻ mắc các bệnh lí toàn thân nặng như: tiền sản giật, sản giật, bệnh tim mạch nặng, bệnh thận…
2.1.3 Cỡ mẫu: Tính theo công thức (ước tính tỉ lệ trong một quần thể)
Áp dụng cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả, tỷ lệ cho một quần thể, cỡ mẫu được tính với tỷ lệ sản phụ thực hành tốt (dự kiến) khoảng 81,0% (p = 0,81)
tỷ lệ chính xác là: 0,05
N: Là cỡ mẫu tính cho nghiên cứu
Z: Hệ số tin cậy, giá trị Z1-α/2 = 1,96 tương ứng với α = 0,05
ε = giá trị tương đối (ε = 0,07)
Sai số: 5,0%
Tính theo công thức, ước lượng cỡ mẫu khoảng 193 người, làm tròn cỡ mẫu nghiên cứu là: 200 người
Trang 302.1.4 Phương pháp chọn mẫu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện
Cụ thể là: Trước khi tiến hành phỏng vấn sẽ xin danh sách sản phụ sinh thường trong khoa ngày hôm trước và tiến hành phỏng vấn theo danh sách để hạn chế trùng lặp bệnh nhân
2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 01/12/2014 tới ngày 31/03/2015
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Khoa Phụ - Sản bệnh viện Bạch Mai địa chỉ: 78 đường Giải Phóng, Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội
Các sản phụ được chọn ngẫu nhiên có hệ thống trong các sản phụ sinh thường tại khoa Phụ - Sản, bệnh viện Bạch Mai trong thời gian nghiên cứu đến khi đủ 200 đối tượng thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu
Đề tài được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang
2.4.3 Kỹ thuật thu thập số liệu
Dùng phương pháp phỏng vấn cá nhân có sử dụng bộ câu hỏi soạn sẵn.Nghiên cứu viên trực tiếp gặp đối tượng điều tra để phỏng vấn theo bộ câu hỏi đã soạn sẵn, trao đổi thông tin giữa hai người nhanh và chính xác hơn
Trang 31- Kiến thức trung bình: Trả lời đúng từ 35,0% - 80,0%
- Kiến thức tốt: Trả lời đúng từ 80,0% trở lên
Thực hành vệ
sinh sau đẻ
Vệ sinh khu vực sinh dục
Tỷ lệ % sản phụ:
- Sử dụng nước muối pha loãng
- Sử dụng nước sát khuẩn pha loãng
- Sử dụng dung dịch vệ sinh phụ nữ và
xà phòng tắm
Trang 32- Sử dụng dung dịch nước lá dân gian
- Ngâm vào chậu nước
- Vệ sinh bằng cách dội nước và dung vòi hoa sen
- Vệ sinh theo thứ tự từ trước ra sau
- Vệ sinh theo thứ tự từ sau ra trước
Tỷ lệ % sản phụ:
- Đi tiểu trực tiếp vào bỉm
- Vệ sinh sau khi đi tiểu tiện
- Không vệ sinh sau khi đi tiểu tiện
- Vệ sinh đại tiện từ trước ra sau
- Vệ sinh đại tiện từ sau ra trước
Vệ sinh vú
Tỷ lệ % sản phụ:
- Vệ sinh vú trước và sau khi cho bú
- Chỉ vệ sinh vú trước khi cho bú
- Chỉ vệ sinh vú sau khi cho bú
Vệ sinh thân thể
Tỷ lệ % sản phụ:
- Tắm gội đầu ≤1 tuần sau sinh
- Tắm gội đầu > 1 tuần sau sinh
- Tắm bằng cách dội nước, dùng vòi hoa sen
- Ngâm mình trong bồn tắm
Quan hệ tình dục
Tỷ lệ % sản phụ:
- Quan hệ tình dục ≤ 6 tuần sau sinh
- Quan hệ tình dục > 6 tuần sau sinh Đánh giá
thực hành vệ sinh sau đẻ
Tỷ lệ % sản phụ:
Thực hành tốt: Thực hành đúng ≥ 70% Thực hành không tốt: Thực hành đúng < 70%
Trang 332.5 Xử lý số liệu
- Số liệu được kiểm tra ngay sau khi thu thập
- Làm sạch số liệu trước khi cho vào máy tính
- Số liệu được xử lý trên máy tính theo chương trình spss 16.0
- Tính các số liệu trong bảng dùng test X2 để so sánh hai tỷ lệ
- Nếu p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê
2.6 Khía cạnh đạo đức của đề tài
Nghiên cứu viên giải thích cho các bà mẹ mục đích của nghiên cứu Các bà mẹ tình nguyện tham gia
Nghiên cứu chỉ phỏng vấn sản phụ mà không can thiệp ảnh hưởng tới sản phụ
Sẵn sàng tư vấn cho các bà mẹ vấn đề vệ sinh sau đẻ sau khi phỏng vấn Nghiên cứu được hội đồng thông qua đề cương nghiên cứu bộ môn Phụ - Sản cho phép thực hiện, được sự đồng ý và ủng hộ của khoa Phụ - Sản bệnh viện Bạch Mai khi thực hiện nghiên cứu
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm nhóm tuổi của đối tượng
Bảng 3.1: Phân bố nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Tuổi sản phụ thấp nhất là 20 tuổi, cao nhất là 42 tuổi, tuổi
trung bình là 28,7 ± 4,3 trong số đó sản phụ ở nhóm tuổi < 25 chiếm 25,5%, nhóm tuối từ 25 - 30 tuổi chiếm 68,5%, nhóm tuổi từ 35 – 40 chiếm 4,5% và nhóm từ 40 tuổi trở lên chiếm 6,0%
3.1.2 TĐHV của sản phụ
Biểu đồ 3.1: Phân bố TĐHV của sản phụ
Trang 35Nhận xét: Tỷ lệ sản phụ có trình độ học vấn tiểu học và THCS là 6,0%,
số sản phụ có trình độ THPT là 19,5%, số sản phụ có trình độ trung cấp dạy nghề là 14,5%, số sản phụ có trình độ cao đẳng, đại học, sau đại học chiếm tỷ
3.1.4 Phân bố nơi sống của sản phụ
Đa số sản phụ nghiên cứu sống tại khu vực thành thị chiếm tỷ lệ 84,0%,
số sản phụ sống tại khu vực nông thôn chiếm tỷ lệ là 16,0%
3.1.5 Số con của sản phụ
Biểu đồ 3.2: Phân bố số con của sản phụ
Trang 36Nhận xét: Trong số các sản phụ trả lời phỏng vấn có 44,0% sản phụ làm
mẹ lần đầu, có 49,0% sản phụ có 2 con và số sản phụ có số con lớn hơn 2 chiếm 7,0%
3.1.6 Tiền sử điều trị viêm nhiễm phụ khoa
Bảng 3.3: Tiền sử điều trị viêm nhiễm phụ khoa
Nhận xét: Trong tổng số 200 sản phụ nghiên cứu thì có 57,0% sản phụ
chưa từng điều trị viêm nhiễm phụ khoa, 16,5% sản phụ tự mua thuốc điều trị tại nhà, 13,0% điều trị tại phòng khám tư nhân, 13,5% đã từng điều trị viêm nhiễm phụ khoa tại bệnh viện Như vậy có tổng 43,0% sản phụ đã từng điều trị viêm nhiễm phụ khoa trước khi sinh
3.1.7 Công tác chuẩn bị trước sinh
Bảng 3.4: Công tác chuẩn bị trước sinh
Chỉ vệ sinh khu vực sinh dục
Trang 37Nhận xét: Như vậy trong các sản phụ nghiên cứu có 19,0% sản phụ chỉ
được thụt hậu môn trước khi sinh, 4,5% sản phụ chỉ được vệ sinh khu vực sinh dục trước sinh, 68,0% sản phụ được chuẩn bị cả hai và 8,5% sản phụ không được thực hiện thụt hậu môn và vệ sinh khu vực sinh dục trước sinh
3.1.8 Phương pháp sinh của các sản phụ
Trong tổng số 200 sản phụ thì có 99,0% sản phụ sinh thường không có can
thiệp thủ thuật, 1,0% sản phụ sinh thường có sử dụng can thiệp thủ thuật khác
Nhận xét: Trong số các sản phụ sinh thường được nghiên cứu, có 96,0%
sản phụ phải cắt khâu tầng sinh môn, 2,5% sản phụ tầng sinh môn bị rách phải khâu, chỉ có 1,5% sản phụ tầng sinh môn toàn vẹn