Điều tra và khảo sát đặc điểm sinh học của giống gà Cáy Củm tại Cao Bằng (Khóa luận tốt nghiệp)Điều tra và khảo sát đặc điểm sinh học của giống gà Cáy Củm tại Cao Bằng (Khóa luận tốt nghiệp)Điều tra và khảo sát đặc điểm sinh học của giống gà Cáy Củm tại Cao Bằng (Khóa luận tốt nghiệp)Điều tra và khảo sát đặc điểm sinh học của giống gà Cáy Củm tại Cao Bằng (Khóa luận tốt nghiệp)Điều tra và khảo sát đặc điểm sinh học của giống gà Cáy Củm tại Cao Bằng (Khóa luận tốt nghiệp)Điều tra và khảo sát đặc điểm sinh học của giống gà Cáy Củm tại Cao Bằng (Khóa luận tốt nghiệp)Điều tra và khảo sát đặc điểm sinh học của giống gà Cáy Củm tại Cao Bằng (Khóa luận tốt nghiệp)Điều tra và khảo sát đặc điểm sinh học của giống gà Cáy Củm tại Cao Bằng (Khóa luận tốt nghiệp)Điều tra và khảo sát đặc điểm sinh học của giống gà Cáy Củm tại Cao Bằng (Khóa luận tốt nghiệp)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thái Nguyên, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Hưng Quang
Thái Nguyên, 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN Thực tập tốt nghiệp là nội dung rất quan trọng đối với mỗi sinh viên
trước lúc ra trường Giai đoạn này vừa giúp cho sinh viên kiểm tra, hệ thống lại những kiến thức lý thuyết và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cũng như vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn sản xuất
Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài: ‘‘Điều tra và khảo sát đặc điểm sinh học của giống gà Cáy Củm tại Cao Bằng”
Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận sự giúp đỡ tận tình của cán
bộ tại cơ sở, các thầy cô giáo trong Khoa chăn nuôi thú y, đặc biệt là sự
hướng dẫn chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn: TS Nguyễn Hưng
Quang đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y, các cán bộ làm việc tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cao Bằng, các cán bộ tại huyện Hòa An, gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn, bỡ ngỡ ban đầu của quá trình thực tập
Do thời gian và kiến thức bản thân còn hạn chế bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong được sự giúp đỡ, góp ý chân thành của các thầy, cô giáo và toàn thể các bạn bè đồng nghiệp để khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Phan Trường Sơn
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Số lượng vật nuôi của xã Đức xuân, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng 27
Bảng 4.2 Tổng số vật nuôi của xã các năm 2013, 2014, tháng 5/2015 28
Bảng 4.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 31
Bảng 4.4 Số lượng đàn gà Cáy Củm tại xã Đức Xuân, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng năm 2013, 2014, 5/2015 32
Bảng 4.5 Kết quả điều tra tình hình mắc bệnh của gà Cáy Củm 33
Bảng 4.6 Một số đặc điểm về ngoại hình và màu sắc lông, da (n = 10) 34
Bảng 4.7 Kích thước các chiều đo của gà Cáy Củm trưởng thành (n = 6) 35
Bảng 4.9 Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu sinh lý của gà Cáy Củm (n = 3) 37
Bảng 4.10 Sinh trưởng tích lũy của gà Cáy Củm 38
Bảng 4.11 Sinh trưởng tuyệt đối của gà Cáy Củm 39
Bảng 4.12 Kết quả mổ khảo sát đánh giá năng xuất thịt của gà Cáy Củm trưởng thành 41
Bảng 4.13 Kết quả đánh giá chất lượng thịt gà Cáy Củm (n = 3) 41
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà trống và gà mái 39 Hình 4.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối gà Cáy Củm 40
Trang 7MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1.1 Mục tiêu của đề tài 2
1.1.2 Ý nghĩa của đề tài 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1 Giới thiệu về giống gà Cáy Củm 3
2.1.2 Một số đặc điểm về ngoại hình và tập tính của gà 3
2.2 Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của gà 4
2.2.1 Khái niệm 4
2.2.2 Đặc điểm phát triển cơ quan tiêu hóa 5
2.2.3 Đặc điểm về khả năng miễn dịch 7
2.3 Đặc điểm tiêu hóa 7
2.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gà 10
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 14
3.1 Đối tượng khảo sát 14
3.2 Địa điểm và thời gian 14
3.3 Nội dung thực hiện 14
3.4 Phương pháp tiến hành 14
3.4.1 Phương pháp điều tra và theo dõi 14
3.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 15
3.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 15
3.4.4 Phương pháp sử lý số liệu 18
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19
4.1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 19
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 19
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 21
Trang 84.1.3 Tình hình sản xuất tại cơ sở 23
4.1.4 Đánh giá chung 25
4.2 NỘI DUNG CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 26
4.2.1 Nội dung 26
4.2.2 Phương pháp 26
4.2.3 Kết quả phục vụ sản xuất 27
4.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.3.1 Kết quả điều tra về đàn gà Cáy Củm tại cơ sở 31
4.3.2 Kết quả nghiên cứu đặc điểm ngoại hình của gà Cáy Củm 33
4.3.3 Đặc điểm sinh học về chỉ số huyết học của gà Cáy Củm 36
4.3.4 Đặc điểm sinh học về khả năng sinh trưởng của gà Cáy Củm 37
4.3.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát dục của gà Cáy Củm 42
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Đề nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta là một nước nông nghiệp Bên cạnh trồng trọt, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Chăn nuôi cung cấp nguồn thực phẩm quan trọng cho con người, ngoài ra còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến
Chính vì thế, Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm tới phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng, nhằm không ngừng nâng cao năng suất, hiệu quả chăn nuôi, cải thiện đời sống nhân dân
Trong những năm gần đây, sự du nhập các giống mới, đặc biệt là các giống nhập nội có năng suất cao đã làm suy giảm nguồn gen của các giống bản địa một cách nhanh chóng Hoạt động này đã làm mai một đi nguồn gen bản địa và gây nên những tổn thất nguồn gen rất đáng tiếc trong bảo tồn đa dạng sinh học
Thực tiễn tại nước ta, việc mở rộng giao lưu, giao thông, giao thương và triển khai mạnh mẽ các chương trình khuyến nông đã mang đến các giống/dòng vật nuôi mới có năng suất cao đã gây áp lực rất lớn đến những giống nội địa với năng suất thấp bị giảm dần, thậm chí có những giống/dòng đang đứng trên bờ vực tuyệt chủng hoặc bị lai tạp
Gà Cáy Củm là một giống gà địa phương mới được phát hiện tại Cao Bằng, theo người dân địa phương thì đây là giống gà không có phao câu, thịt thơm ngon, nhưng lại ít người biết đến Hiện nay, giống gà này có mặt tại xã Đức Xuân, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng
Gà Cáy Củm đang ngày mất dần đi, số lượng còn rất ít được nuôi rải rác tại một số hộ dân của người dân tộc H’mông ở vùng sâu, vùng xa địa hình hẻo
Trang 10lánh Để mọi người biết về giống gà Cáy Củm và chăn nuôi đạt năng suất, hiệu quả cao, thì phải biết về những đặc điểm sinh học, tập tính của gà
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất, nhằm bảo tồn nguồn gen, khai thác và phát triển giống gà Cáy Củm, bước đầu chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài ‘‘Điều tra và khảo sát đặc điểm sinh học của giống gà Cáy Củm tại
Cao Bằng’’
1.1.1 Mục tiêu của đề tài
- Điều tra về đàn gà Cáy Củm tại cơ sở
- Đánh giá một số đặc điểm sinh học của gà Cáy Củm
1.1.2 Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa kiến thức đã học, áp dụng vào thực tế Đồng thời cung cấp số liệu khoa học cho giảng dạy, chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Kết quả của đề tài là cơ sở cho người chăn nuôi biết được một số đặc điểm sinh học để áp dụng vào việc chăn nuôi và nhân giống để phát triển giống gà Cáy Củm quy mô đại trà
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Giới thiệu về giống gà Cáy Củm
Gà Cáy Củm hay còn gọi là gà cúp (gà không có phao câu)
Theo báo Tiền phong, 2014 [1]: Gà Cáy Củm đã được nuôi từ lâu đời tại
xã Đức Xuân và Ngũ Lão (huyện Hòa An) và xã Lưu Ngọc (huyện Trà Lĩnh, Cao Bằng) và rải rác tại một số xã thuộc huyện Hoàng Su Phì (Hà Giang), từng được dùng cúng lễ cầu may mắn và là vật linh thiêng trong nhà người H’Mông Hiện nay, giống gà này giảm số lượng và chỉ được nuôi xen kẽ rất ít
ở các hộ người H’Mông, vì theo quan niệm của người địa phương, những ngày giỗ, tết phải ăn và biếu bố mẹ gà trống thiến to béo Gà Cáy Củm không đạt yếu tố thẩm mỹ
2.1.2 Một số đặc điểm về ngoại hình và tập tính của gà
- Đặc biệt là lông đuôi cúp xuống (vì không có phao câu)
- Mào: Mào đơn, mào dâu, màu đỏ
Trang 12- Tầm vóc: Tầm vóc thanh gọn, thân tương đối ngắn, chân cao vừa phải, mào bé, xương nhỏ, lông xếp xít vào thân
- Màu mắt: Đen, nâu
- Màu dái tai: Trắng đỏ, trắng
- Màu sắc chân: Chủ yếu có màu vàng, có một số màu đen, nâu
Sản lượng trứng: 13 - 16 quả/lứa, 130 - 150 quả/năm
Trọng lượng trứng: 40 - 50 gam/quả
Vỏ trứng thường có màu trắng, một số ít có màu nâu
Khoảng cách lứa đẻ: Trung bình 20 ngày
Thời gian ấp nở: 21 ngày
Tỷ lệ ấp nở là: 80%
2.2 Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của gà
2.2.1 Khái niệm
- Khái niệm sinh trưởng:
Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng của các bộ phận và
Trang 13toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở đặc tính di truyền từ thế hệ trước “Thực chất của sinh trưởng chính là tăng trưởng và phân chia của các tế bào trong cơ thể”
Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992), [6] đã khái quát:
“Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là
sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ
cơ thể trên cơ sở tính di truyền có từ đời trước”
+ Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn cơ thể hay từng bộ phận cơ thể tăng lên trong một đơn vị thời gian
+ Sinh trưởng tương đối: Là phần khối lượng kích thước, thể tích của toàn cơ thể hay từng bộ phận cơ thể tại thời điểm sinh trưởng sau tăng lên so với thời điểm sinh trưởng trước
- Khái niệm phát dục:
Phát dục là một quá trình thay đổi về chất lượng tức là sự thay đổi, tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của cơ quan, bộ phận trong cơ thể, nhờ vậy vật nuôi hoàn thiện được các chức năng của cơ thể sống (Dương Mạnh Hùng, 2008) [3].)
2.2.2 Đặc điểm phát triển cơ quan tiêu hóa
Theo Nguyễn Duy Hoan, 1998 [2]: Tiêu hóa là quá trình phân giải các chất dinh dưỡng trong thức ăn từ những hợp chất hóa học phức tạp thành những hợp chất đơn giản mà cơ thể gia cầm có thể hấp thu và lợi dụng được
Cơ quan tiêu hóa gồm: Khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quản dưới, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, manh tràng, trực tràng và lỗ huyệt, đồng thời có sự tham gia của gan và tụy
Gà không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ chỉ có vai trò lấy thức ăn chứ không có tác dụng nghiền nhỏ Mỏ chia làm 3 phần: Đầu mỏ, thân mỏ
và gốc mỏ
Trang 14Hầu ở giữa khoang miệng và thực quản trên Khoang mũi và miệng thông về phía hầu, phía trước hầu có khe hô hấp của thanh quản
Thực quản chia làm 2 phần: Phần trên bắt đầu từ hầu và tận cùng là ở diều, phần dưới từ diều đến dạ dày tuyến Thực quản có dạng ống, đường kính gà trưởng thành khoảng 7- 9 mm
Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực Diều được hình thành trong quá trình phát triển tiến hóa của ống tiêu hóa để dự trữ và chuẩn
bị tiêu hóa thức ăn
Dạ dày gồm hai phần là dạ dày cơ và dạ dày tuyến
Dạ dày cơ có dạng như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau và có thành rất dày, có màu đỏ thẫm
Dạ dày tuyến giống như cái bao túi
Ruột chiều dài của ruột phụ thuộc vào loài, tuổi và đặc điểm thức ăn Chiều dài là 170 cm gấp 6 lần chiều dài của thân Ruột được chia làm 2 phần: ruột non và ruột già Trong phần ruột non gồm: Tá tràng, ruột non và hồi tràng Ở khoảng giữa phần ruột non có mấu vàng thô sơ phân chia ruột non với hồi tràng Phần ruột già có manh tràng và trực tràng Ruột già không phát triển, nó do trực tràng thô ngắn và hai manh tràng đổ vào đoạn đầu trực tràng tạo thành Trực tràng thông ra lỗ huyệt
Tuyến tụy nằm ở đoạn vòng tá tràng có dạng dải và màu vàng
Gan là một trong những tuyến to nhất, gan gà nặng 30 - 40 g Gan tiết
ra dịch mật đổ vào tá tràng, gan thực hiện chức năng bảo vệ: Tiêu các chất độc xuất hiện trong máu từ ruột vào dạ dày Ở giai đoạn bào thai, gan thực hiện chức năng tạo máu Gan nằm sau tim, có màu xám hoặc màu vàng
* Đặc điểm về khả năng điều tiết thân nhiệt
Gà con lúc mới nở còn rất yếu nên chúng cần phải có những điều kiện môi trường đặc biệt
Trang 15Do nhiệt độ của cơ thể cao, gà con có lớp lông tơ mỏng manh và khả năng sinh nhiệt kém nên dễ mất nhiệt, giảm thân nhiệt và chết vì lạnh, vì vậy
cần phải sưởi ấm cho gà con Tuần đầu tiên gà con yếu nhất, cần ấm và
thoáng khí
Gà con lúc mới nở khả năng điều tiết thân nhiệt cũng chưa hoàn chỉnh, thân nhiệt còn chịu ảnh hưởng của môi trường bên ngoài Gà con có thân nhiệt thay đổi khi nhiệt độ bên ngoài xuống thấp quá dưới 150
C hoặc quá cao trên 380C Do đó gà con rất ngạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ của môi trường bên ngoài (Phạm Văn Hùng, 2004) [5]
2.2.3 Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Gà con mới nở có thân nhiệt chưa ổn định, thân nhiệt thấp hơn gà trưởng thành (380C), khả năng điều tiết thân nhiệt kém, khả năng miễn dịch cũng
kém nên phải có biện pháp phòng bệnh cho gà con từ khi mới nở để tăng khả
năng miễn dịch Ngay trong tuần đầu, gà con phải tập làm quen với thức ăn,
nước uống và các điều kiện ngoại cảnh rất khác biệt so với môi trường máy
ấp nhằm giúp gà hoàn thiện các chức năng sinh lý để chúng sinh trưởng và phát triển tốt (Lâm Minh Thuận và cộng sự, (2013) [9])
2.3 Đặc điểm tiêu hóa
- Tiêu hóa ở miệng
Gia cầm tìm thức ăn chủ yếu nhờ vào thị giác và xúc giác, rất ít khi nhờ vào khứu giác và vị giác Mỏ gà cấu tạo bằng chất sừng, hình thoi có mép trơn và nhọn nên rất thích hợp cho việc lấy thức ăn nhỏ và xé rách khối thức
ăn lớn
Khi thức ăn đi trong khoang miệng, nó được thấm ướt nước bọt để dễ nuốt Các tuyến nước bọt của gia cầm phát triển kém Động tác nuốt ở gia cầm được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào thực quản Thanh quản được
Trang 16nâng lên phía trước và lên trên, lối vào thanh quản bị ép tới đáy của xương dưới lưỡi và gốc lưỡi, ngăn không cho thức ăn rơi vào đường hô hấp Viên thức ăn thu nhận được ở cuống lưỡi được đẩy vào lỗ thực quản và sau đó, do những co bóp nhu động của thành thực quản, nó được đẩy vào diều Ở gia cầm đói thức ăn được đẩy thẳng vào dạ dày, không qua diều Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống, tiết ra chất nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt
- Tiêu hóa ở diều
Ở gà diều là một chỗ phình rộng hơn, hình túi Diều nằm bên phải, chỗ
đi vào khoang ngực, ngay trước chạc ba nối liền 2 xương đòn phải trái Mặt ngoài của diều được tiếp xúc trực tiếp với cơ da, cơ này giúp cho nó giãn nở rộng khi thức ăn rơi vào Các lỗ dẫn vào và dẫn ra của diều rất gần nhau và có các cơ thắt Giữa các cơ thắt lại có ống diều - là một phần của diều Khi gia cầm đói, thức ăn theo ống này đi thẳng vào dạ dày, không qua túi diều Ở gà, diều chứa được 100 - 120 g thức ăn Thức ăn ở diều được làm mềm ra, quấy trộn và được tiêu hoá từng phần bởi các men của thức ăn và các vi khuẩn nằm trong thức ăn thực vật
- Tiêu hóa ở dạ dày
Thức ăn từ diều được chuyển vào dạ dày tuyến, nó có dạng ống ngắn, vách dày, được nối với dạ dày cơ bằng một eo nhỏ Vách dạ dày tuyến cấu tạo gồm màng nhày, cơ và mô liên kết Bề mặt của màng nhầy có những nếp gấp
dễ thấy, đậm và liên tục
Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có axit clohidric, enzim và musin Dịch dạ dày tinh khiết là một chất lỏng không màu hoặc hơi trắng đục có pH axit Độ pH của dịch dạ dày ở gia cầm trung bình là 3,0 thường là 2,6 Độ pH sẽ giảm xuống sau khi tiếp nhận thức ăn giàu chất kiềm, cacbonat canxi, bột xương
Trang 17Dạ dày cơ (mề) có dạng hình đĩa, hơi bị bóp ở hai bên, nằm ở phía sau thuỳ trái của gan và lệch về khoang bụng trái Lối vào và lối ra ở dạ dày cơ rất gần nhau, nhờ vậy, thức ăn được giữ lại tại đây lâu hơn, chúng sẽ bị nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn với men và được tiêu hoá dưới tác dụng của các dịch
dạ dày cũng như enzim và chất tiết của vi khuẩn Dịch tiêu hoá không được tiết ra ở dạ dày cơ
Sự co bóp nhịp nhàng của mề xảy ra trong 2 pha: trong pha đầu, 2 cơ chính co bóp và sau đó là các cơ trung gian (pha thứ 2) Thời gian của mỗi nhịp co của 2 đôi cơ ở gà trong khoảng 2 - 3 giây, còn cả chu kỳ co bóp là 20 giây Tần số co bóp phụ thuộc vào độ rắn của thức ăn Khi ăn thức ăn ướt có 2 lần co bóp, còn thức ăn cứng 3 lần trong 1 phút
Nếu không có sỏi trong dạ dày cơ thì sự hấp thu các chất dinh dưỡng và
hệ số tiêu hoá thức ăn bị giảm xuống Ở gia cầm non, việc thiếu sỏi trong dạ dày làm giảm khối lượng tuyệt đối của dạ dày 30 - 35% Các cơ của dạ dày sẽ trở nên nhũn và xuất hiện những vết loét trên màng nhầy
- Tiêu hóa ở ruột: Quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non gia cầm Nguồn các men tiêu hoá quan trọng nhất là từ dịch dạ dày, cùng với mật đi vào manh tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn
Thành ruột cũng có lớp nhung mao nhăn nheo Các tuyến tiêu hoá phân
bố suốt dọc thành niêm mạc ruột
Ở tá tràng, các chất được tiêu hoá và hấp thu với tốc độ mạnh dưới tác dụng của mật, tuyến tuỵ và tuyến ruột Dịch mật được tiết ra từ gan, có màu xanh lá cây và sánh nhầy
Tiêu hoá ở ruột già cũng có hai quá trình lên men và thối rữa Lên men xảy ra mạnh ở manh tràng, thối rữa ở trực tràng Manh tràng gia cầm khá phát triển nên quá trình lên men tương đối mạnh, nhất là những gia cầm ăn nhiều
Trang 18thức ăn thực vật thô sơ Ruột của gia cầm nói chung tương đối ngắn, thức ăn lưu lại không quá một ngày đêm
Đầu cuối của trực tràng đổ vào một xoang chung gọi là xoang tiết niệu sinh dục Nó do bốn bộ phận thông với nhau tạo thành Trực tràng thông với
bộ phận lớn nhất gọi là bộ phận đường phân
Khi thức ăn chuyển xuống đoạn cuối ruột già, nước được hấp thu mạnh, phần bã còn lại ở trạng thái đặc, khi đi vào xoang tiết niệu sinh dục nó hỗn hợp với nước tiểu trở nên sền sệt Phân gia cầm thải ra ngoài nổi trên mặt một màu trắng hạt bã đó là các thể urat (muối kết tinh của axit uric)
2.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gà
Giống
Khả năng sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào mỗi dòng, giống và mỗi cơ thể Trong cùng điều kiện chăn nuôi, mỗi giống khác nhau có khả năng sản xuất khác nhau Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs, (1994) [4] thì sự khác nhau về khối lượng gia cầm là rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn giống gà hướng trứng 13 - 30% Giống gà thịt có tốc độ sinh trưởng cao hơn giống gà kiêm dụng và gà hướng trứng Chế độ chăm sóc và điều kiện ngoại cảnh phù hợp với tính trạng sinh trưởng ở mỗi giống sẽ khác nhau
Giống là yếu tố quan trọng quyết định năng suất của gia cầm Nên khi nghiên cứu về sinh trưởng của gà đặc biệt chú ý đến yếu tố giống
Tính biệt
Tốc độ sinh trưởng ở động vật nói chung và gia cầm nói riêng còn do tính biệt quy định, trong đó con trống tốc độ sinh trưởng nhanh hơn con mái Theo nghiên cứu của các nhà di truyền học về gia cầm, thì thật sự khác nhau
về khối lượng giữa con trống và con mái là do gen liên kết với giới tính quy định ở gà trống hoạt động mạnh hơn gà mái
Trang 19Theo Trần Tuấn Ngọc (dịch) (1984) [7] thì lúc mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng thì sai khác càng lớn Ở 8 tuần tuổi sự sai khác
về khối lượng giữa gà trống và gà mái là 27%
độ sinh trưởng của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể cũng không đều
Tốc độ mọc lông
Theo H.Brandsch và H.Bilchel (1972) [10] cho biết tốc độ mọc lông cũng là đặc tính di truyền Tính trạng mọc lông liên quan đến trao đổi chất, sinh trưởng phát triển của gia cầm Gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh thường
có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn so với gia cầm có tốc độ mọc lông chậm
Chế độ dinh dưỡng
Chế độ dinh dưỡng là một trong những yếu tố có tác động mạnh đến tốc độ sinh trưởng cũng như chất lượng thịt, trứng gia cầm Chúng trực tiếp ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, vì vậy nghiên cứu chế độ dinh dưỡng hợp lý cho gia cầm là việc làm cần thiết và có ý nghĩa thiết thực
Dinh dưỡng cho gà thịt bao gồm: Protein, gluxit, lipit, muối khoáng, vitamin và chất xơ
+ Ảnh hưởng của protein: Protein là chất cần thiết trong khẩu phần thức
ăn cho gà Ta cần phải cung cấp đủ protein và cân bằng các axít amin thiết yếu trong khẩu phần Nếu thiếu và không cân bằng dẫn đến hậu quả gà chậm lớn, còi cọc, dễ sinh bệnh Mặt khác, ta phải phối hợp các nguyên liệu giàu
Trang 20protein có nguồn gốc thực vật và động vật trong khẩu phần như: bột cá, bột thịt, khô dầu đậu tương, khô dầu mè…
+ Ảnh hưởng của gluxit: Gluxit là chất chủ yếu sinh năng lượng, đảm bảo cho các hoạt động sống diễn ra bình thường, phải cung cấp đầy đủ gluxit cho gà để giúp cho quá trình sinh trưởng phát triển diễn ra bình thường Nếu thừa gluxit trong khẩu phần ăn của gà dẫn đến hiệu suất tiêu hóa thức ăn thấp
và dễ mắc bệnh ỉa chảy Nếu thiếu gluxit thì cơ thể huy động lượng gluxit dự trữ dưới dạng mỡ và một phần trong gan làm cho quá trình trao đổi chất giảm,
gà còi cọc
+ Ảnh hưởng của lipit: Lipit là một chất được cấu tạo chủ yếu bởi các axit béo Nó có tác dụng chủ yếu tham gia cấu tạo tế bào làm mô đệm, cách nhiệt, dung môi hòa tan một số vitamin: A, D, E, K, cung cấp nước nội sinh
và là nơi dự trữ năng lượng chủ yếu dưới dạng mỡ cho cơ thể gà
+ Ảnh hưởng của năng lượng: Nhu cầu năng lượng cho gà sinh trưởng bao gồm năng lượng cho duy trì và năng lượng cho tăng trọng Deaton, Fallie, (1976) [11] đã nghiên cứu về các mức năng lượng khác nhau, trong thức ăn của gà đã đưa ra kết luận rằng mức năng lượng tối ưu cho gà thịt là 3000 -
Vitamin tham gia vào mọi hoạt động sinh lý, sinh hóa trong cơ thể và đóng vai trò là chất xúc tác, kích thích Nhu cầu về các loại vitamin ở gà
Trang 21không giống nhau, đối với gà con cần các loại như: A, D3, E, K, B1, B3, B6,
B12, PP và Colin đối với gà đẻ cần các loại vitamin: A, D, E và Colin
+ Ảnh hưởng của yếu tố nước: Trong cơ thể nước chiếm 70% khối lượng cơ thể Thiếu nước 1 - 2 ngày gà có thể bị chết Nhiệt độ môi trường cao gà cần một lượng nước nhiều hơn bình thường, ở 220C gà cần một lượng nước gấp 1,5 - 2 lần lượng thức ăn Còn nhiệt độ lên 350C thì gà cần một lượng nước gấp 4,5 - 5 lần lượng thức ăn
Các yếu tố khác
Ngoài những yếu tố trên thì sinh trưởng của gia cầm còn chịu ảnh hưởng của môi trường, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, nhiệt độ, ánh sáng, độ thông thoáng và mật độ nuôi Điều kiện nhiệt độ thích hợp nhất cho gà sinh trưởng phát triển là 18 - 210
C
Khi nhiệt độ chuồng nuôi thay đổi 10C thì lượng thức ăn tiêu thụ của gà biến đổi tương đương 2 kcal Khi nhiệt độ cao gà kém ăn, sinh trưởng chậm,
tỷ lệ chết cao, stress nhiều Nếu nhiệt độ quá thấp gà kêu nhiều ít ăn uống Ở
gà non chưa tự điều chỉnh được nhiệt độ cơ thể, sức chống chịu kém Khi nhiệt độ môi trường 350C, độ ẩm 60% làm khối lượng cơ thể gà giảm 30 - 35% (gà trống), 20 - 30% (gà mái) so với điều kiện thích hợp
Ngoài những yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm chúng ta phải quan tâm tới các yếu tố khác: Sức sống, khả năng kháng bệnh, mật độ nuôi Chính những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng
và phát triển của vật nuôi
Trang 22PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT
3.1 Đối tượng khảo sát
Đề tài được thực hiện trên đàn gà Cáy Củm
3.2 Địa điểm và thời gian
- Địa điểm: Xã Đức Xuân, huyện Hòa An
- Thời gian: Từ tháng 12/2014 đến tháng 5/2015
3.3 Nội dung thực hiện
- Điều tra về số lượng đàn gà Cáy Củm tại xã Đức Xuân - Hòa An - Cao Bằng
- Đặc điểm sinh học về ngoại hình của gà Cáy Củm
- Đặc điểm sinh học một số chỉ tiêu về chỉ số huyết học và sinh lý của
3.4.1 Phương pháp điều tra và theo dõi
- Sử dụng phiếu điều tra phỏng vấn và phân tích số liệu thực tế
- Điều tra thu thập thông tin từ cán bô ̣ kỹ thuâ ̣t của cơ sở
- Điều tra thu thập thông tin từ các hộ chăn nuôi tại địa phương
- Trực tiếp theo dõi sự sinh trưởng của gà trong thời gian thực tâ ̣p , ghi chép số liệu cẩn thận theo từng chỉ tiêu, xử lý số liệu bằng thống kê
- Dùng mắt để quan sát đặc điểm ngoại hình, kết hợp với chụp ảnh minh họa
Trang 23- Lấy máu gà đem phân tích chỉ số huyết học tại Bệnh viện trường Y - Đại học Thái Nguyên
- Theo dõi một số chỉ tiêu sinh lý của gà Cáy củm
3.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
* Chọn mẫu: Chọn gà con khỏe mạnh tiến hành thí nghiệm để tính khả năng sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tích lũy
* Bố trí thí nghiệm:
Lấy số gà đã chọn nuôi thí nghiệm
Bố trí thí nghiệm: Sử dụng 40 gà Cáy Củm một ngày tuổi trong đó có
20 trống và 20 mái Thí nghiệm được lặp lại 2 lần
Gà được nuôi nhốt từ 1 ngày tuổi đến tuần thứ 4, từ tuần thứ 5 nuôi gà theo phương thức thả vườn
Cân khối lượng gà qua các tuần để xác định khả năng sinh trưởng của
gà Bước đầu theo dõi khả năng tăng khối lượng của gà Cáy Củm
3.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu
- Phương pháp đánh giá sự sinh trưởng và phát dục:
Để đánh giá về sự sinh trưởng và phát dục của vật nuôi người ta dùng phương pháp định kỳ cân khối lượng và đo kích thước các chiều cơ thể Hiện nay, số lượng gà Cáy Củm còn quá ít, do vậy bước đầu đánh giá sơ bộ khả năng sinh trưởng của gà Cáy Củm nuôi tại Cao Bằng
- Phương pháp cân:
Gà Cáy Củm được cân đảm bảo cùng một người cân, loại cân, cùng điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, chế độ thức ăn, nước uống và được cân vào buổi sáng trước khi cho gà thí nghiệm ăn
Khối lượng gà được cân theo tuần tuổi, để đánh giá được sinh trưởng của gà
- Phương pháp đo các chiều
Trang 24Thời điểm đo, có thể cùng thời điểm với cân nhưng chỉ có kết quả tốt khi đã khá lớn
+ Sinh trưởng tích luỹ
Sinh trưởng tích lũy chính là khối lượng cơ thể gia cầm qua các giai đoạn nuôi (thường xác định theo tuần tuổi) Cân vào các thời điểm: Bắt đầu
TN (1 ngày tuổi), 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 tuần tuổi Cân vào ngày, giờ nhất định trước khi cho ăn, cân từng con một Trong thực tế, thường cân gia cầm vào buổi sáng, trước khi cho ăn, cho uống
+ Sinh trưởng tuyệt đối
Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng cơ thể trong một đơn
vị thời gian giữa hai lần khảo sát, đó là hệ quả được rút ra khi tính toán số liệu thu được từ sinh trưởng tích luỹ Trong chăn nuôi gia cầm, người ta thường xác định sinh trưởng tuyệt đối theo từng tuần tuổi (khối lượng tuần sau trừ
khối lượng tuần trước liền kề) và tính trung bình mỗi ngày trong tuần Vì vậy, thông thường đơn vị tính sinh trưởng tuyệt đối là gam/con/ngày
Sinh trưởng tuyệt đối được tính theo công thức:
A =
P2- P1
t2- t1
Trong đó:
A là sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)
P1 là khối lượng cơ thể cân tại thời điểm t1 (g)
P2 là khối lượng cơ thể cân tại thời điểm t2 (g)
t1 là thời điểm khảo sát trước (ngày tuổi)
t2 là thời điểm khảo sát sau (ngày tuổi)
+ Sinh trưởng tương đối:
Đó là khối lượng gia cầm tăng lên tương đối của lần cân sau so với lần cân trước Trong chăn nuôi gia cầm, người ta thường xác định sinh trưởng tương
Trang 25đối theo từng tuần tuổi, đơn vị tính sinh trưởng tương đối là tỷ lệ phần trăm (%) Công thức tính sinh trưởng tương đối:
Trong đó: R là sinh trưởng tương đối (%)
P1 là khối lượng cơ thể ở lần cân trước (g)
P2 là khối lượng cơ thể ở lần cân sau (g) Ngoài ra, còn tính các chỉ số sau:
Tỷ lệ thân thịt:
Tỷ lệ thân thịt (%) = Khối lượng thân thịt (g) x100
Khối lượng sống (g)
Tỷ lệ cơ đùi/kl thân thịt:
Tỷ lệ cơ đùi/KL thân thịt (%) = Khối lượng cơ đùi (g)
x100 Khối lượng thân thịt (g)
Tỷ lệ cơ ngực/KL thân thịt:
Tỷ lệ cơ ngực/KL thân thịt (%) = Khối lượng cơ ngực (g) x100
Khối lượng thân thịt (g)
Tỷ lệ cơ đùi/khối lượng sống:
Tỷ lệ cơ đùi/KL sống (%) = Khối lượng cơ đùi (g)
x100 Khối lượng sống (g)
Tỷ lệ cơ ngực/khối lượng sống:
Tỷ lệ cơ ngực/KL sống (%) =
Khối lượng cơ ngực (g)
x 100 Khối lượng sống (g)
Tỷ lệ chết:
Tỷ lệ chết (%) = Số con chết
x100 Tổng số gà nuôi
- Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất thịt
Trang 26Đánh giá năng suất và chất lượng thịt bước đầu được lựa chọn gà Cáy Củm để mổ khảo sát trong một số nông hộ ở điều kiện Cao Bằng
Phương pháp đánh giá được gửi mẫu phân tích tại Viện khoa học sự sống - Đại học Thái Nguyên
Xi Xi
Trang 27PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Đức Xuân là một xã vùng cao của huyện Hòa An, cách thị trấn Nước Hai 19 km, có vị trí địa lý như sau:
+ Phía Bắc giáp xã: Quang Vinh, huyện Trà Lĩnh
+ Phía Nam giáp xã: Xã Ngũ Lão, Đại Tiến, huyện Hoà An
+ Phía Đông giáp xã: Lưu Ngọc, huyện Trà Lĩnh
+ Phía Tây giáp xã: Hạ Thôn, huyện Hà Quảng
4.1.1.2 Địa hình đất đai
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã 2015, 63 ha Đức Xuân có địa hình phức tạp, có độ dốc lớn, đất đai chủ yếu là núi đồi, nằm xen kẽ là các thung lũng nhỏ,
độ cao trung bình là 500 m đỉnh cao nhất là 950 m, địa hình núi đá kéo thành dãy
từ Tây Bắc đến Đông Nam Do đất đai đa phần là núi đá nên rất ít đất sản xuất nông nghiệp, nguồn nước đặc biệt khó khăn, kể cả dùng cho sinh hoạt cũng không đủ Xã Đức Xuân có 96 hộ và 4 xóm hành chính, trong đó tất cả các xóm đều thuộc miền núi
4.1.1.3 Giao thông, thủy lợi
Đức Xuân là một xã có đường giao thông đi lại khó khăn đã được nhà nước đầu tư làm đường liên xã từ Đại Tiến đến UBND xã Đức Xuân đã thông
xe kỹ thuật hiện nay đã hoàn thiện nhưng việc đi lại, giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hoá tiêu thụ sản phẩm cũng như giao lưu văn hoá, trao đổi khoa học
kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất còn gặp nhiều khó khăn
Trang 28Do xã Đức Xuân có địa hình phức tạp với độ cao, thấp không đồng đều, xen kẽ giữa các đồi núi cao là các thung lũng với nhiều hình thái khác nhau Các thung lũng hẹp không bằng phẳng nên thường xuyên thiếu nước
4.1.1.4 Thời tiết, khí hậu
Theo tài liệu khí hậu của huyện Hoà An, xã có khí hậu á nhiệt đới gió mùa với các đặc trưng sau:
Nhiệt độ không khí: Bình quân năm 20 - 22 độ C Được chia ra làm hai mùa rõ rệt: Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9, mùa khô lạnh từ tháng 10 đế tháng 4 năm sau, nhiệt độ cao nhất vào mùa nóng đạt 22, 2 độ C, mùa lạnh có thể xuống tới 0 độ C
Mùa xuân thời tiết ấm áp, có mưa xuân Mùa hạ nắng nóng, thường chịu ảnh hưởng của những đợt áp thấp nhiệt đới gây mưa to, thỉnh thoảng có những đợt nóng bức khó chịu Mùa thu mát mẻ, dễ chịu Mùa đông khô hanh, luôn chịu ảnh hưởng của những đợt không khí lạnh và gió mùa đông bắc gây mưa dầm, gió rét làm cho nhiệt độ thấp và độ ẩm cao
Khí hậu khắc nghiệt như vậy đã gây ảnh hưởng rất lớn đến ngành sản xuất nông nghiệp Đặc biệt, đối với chăn nuôi gia súc, gia cầm thời tiết thay đổi theo mùa như vậy đã ảnh hưởng đến sức khoẻ vật nuôi, tạo điều kiện dịch bệnh phát triển
- Nguồn nước
Nguồn nước phục vụ sinh hoạt chủ yếu được cung cấp từ hệ thống giếng nước khoan và bơm từ chân dốc xã Đại Tiến lên nên đảm bảo nước sạch phục
vụ cho đời sống hằng ngày
Nước dùng cho chăn nuôi cũng chủ yếu lấy từ hệ thống giếng khoan, nên
về cơ bản đáp ứng yêu cầu vệ sinh