1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luât luật phá sản doanh nghiệp ở nước ta hiện nay

12 194 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Sau khi Nhà nước Việt Nam quyết định nền kinh tế quốc dân là nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường. Pháp luật cho phép các doanh nghiệp kinh doanh bình đẳng với nhau trên thường trường và tự do cạnh tranh lẫn nhau. Đã có cạnh tranh thì tất yếu có “mạnh được yếu thua”. Nhiều doanh nghiệp phát triển mạnh đã đóng góp một phần quan trọng cho Ngân sách nhà nước thông qua các nghĩa vụ. Xong cũng không ít những doanh nghiệp đã bị cái quy luật “cạnh tranh” ấy loại bỏ, làm cho doanh nghiệp bị phá sản. Phá sản doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng mà Nhà nước ta cần quy định một cách rõ ràng vì vấn đề này có thể làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của quốc gia. Thật vậy, nếu chúng ta không có biện pháp loại trừ hay cứu vãn các doanh nghiệp không còn khả năng thanh toán nợ của mình thì mức phát triển một đơn vị bất lực thì đơn vị liên kết cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp. Phá sản doanh nghiệp là một lĩnh vực có rất nhiều tranh chấp, vì có sự hiện diện của nhiều quyền lợi đối ngược nhau. Chính điều đó mà luật phá sản càng ngày càng phải hoàn thiện hơn để giải quyết sao cho công bằng nhất cho tất cả những cá nhân cũng như tổ chức hay doanh nghiệp có liên quan. Vì kiến thức có hạn, cũng như điều kiện tìm hiểu, nên em chỉ có thể đề cập đến những vấn đề chung nhất, có tính chất tổng quát của “luật phá sản doanh nghiệp”.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Sau khi Nhà nước Việt Nam quyết định nền kinh tế quốc dân là nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường Pháp luật cho phép các doanh nghiệp kinh doanh bình đẳng với nhau trên thường trường và tự do cạnh tranh lẫn nhau Đã có cạnh tranh thì tất yếu có “mạnh được yếu thua” Nhiều doanh nghiệp phát triển mạnh đã đóng góp một phần quan trọng cho Ngân sách nhà nước thông qua các nghĩa vụ

Xong cũng không ít những doanh nghiệp đã bị cái quy luật “cạnh tranh” ấy loại bỏ, làm cho doanh nghiệp bị phá sản

Phá sản doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng mà Nhà nước ta cần quy định một cách rõ ràng vì vấn đề này có thể làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của quốc gia

Thật vậy, nếu chúng ta không có biện pháp loại trừ hay cứu vãn các doanh nghiệp không còn khả năng thanh toán nợ của mình thì mức phát triển một đơn vị bất lực thì đơn vị liên kết cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp

Phá sản doanh nghiệp là một lĩnh vực có rất nhiều tranh chấp, vì có sự hiện diện của nhiều quyền lợi đối ngược nhau Chính điều đó mà luật phá sản càng ngày càng phải hoàn thiện hơn để giải quyết sao cho công bằng nhất cho tất cả những cá nhân cũng như tổ chức hay doanh nghiệp có liên quan

Vì kiến thức có hạn, cũng như điều kiện tìm hiểu, nên em chỉ có thể đề

cập đến những vấn đề chung nhất, có tính chất tổng quát của “luật phá sản doanh nghiệp”.

Trang 2

I/ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP CỦA VIỆT NAM.

1: Khái niệm về luật phá sản doanh nghiệp.

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

1992 (có sửa đổi)

“Để đảm bảo trật tự, kỷ cương trong hoạt động daonh nghiệp trong nền kinh tế thị trường; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, cũng như doanh nghiệp mắc nợ và những người khác có quyền, lợi ích liên quan

khi có doanh nghiệp mắc nợ lâm vào tình trạng phá sản”.

a Thế nào là phá sản.

Theo ngôn ngữ chung của luật phá sản nhiều nước trên thế giới thì phá sản là tình trạng doanh nghiệp không có khả năng nộp thuế, không còn khả năng thanh toán công nợ trong một thời hạn quy định (bao gồm: nợ lương công nhân viên, nợ vay mượn, thuê bao thông qua quan hệ hợp đồng)

Theo Điều 2 Luật phá sản doanh nghiệp của nước ta (có sửa đổi) khái niệm như sau:

“Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh hoặc gặp khó khăn do các nguyên nhân khách quan mà sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết hoặc đã được hoãn nợ nhưng vẫn mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn”

b Khái niệm chủ nợ.

Trong luật phá sản của đa số các nước đều xác định chủ nợ là các pháp nhân hay thể nhân có các khoản nợ không được trả đúng hạn Trong số chủ nợ thường được phân thành ba loại: Chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm:

Điều 3 (sửa đổi)

Trang 3

- Chủ nợ có bảo đảm: là chủ nợ có khoản nợ được bảo đảm bằng các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự

- Chủ nợ có bảo đàm một phần: là chủ nợ có khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ mà giá trị tài sản bảo đảm ít hơn khoản

nợ đó

ví dụ: Công ty A (doanh nghiệp mắc nợ) nợ công ty B một khoản tiền là

500 triệu đồng VN Để bảo đảm cho khoản nợ của mình Công ty A bảo đảm bằng một thiết bị sản xuất với giá trị 300 triệu đồng VN

- Chủ nợ không có bao đảm: là chủ nợ có khoản nợ không được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ

Ví dụ: Công ty C (doanh nghiệp mắc nợ) nợ Công ty D một khoản tiền

là 800 triệu đồng VN nhưng Công ty C không có bất cứ tài sản nào mang ra

để bảo đảm cho khoản nợ của mình mà chỉ có giấy tờ ký kết rằng có nợ Công

ty D một khoản tiền như thế

c Khái niệm con nợ tức doanh nghiệp mắc nợ.

Con nợ được hiểu là người chủ doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Trong luật phá sản doanh nghiệp nước ta coi con

nợ là “doanh nghiệp mắc nợ” họ có thể trực tiếp tham gia tố tụng hoặc có thể

uỷ quyền cho người khác mà luật gọi là “Đại diện hợp pháp của doanh nghiệp” đây là người được chủ sở hữu doanh nghiệp uỷ quyền theo quy định của pháp luật

Điều 3:

Người này được thay mặt chủ doanh nghiệp trong các hoạt động giải quyết các bước của quá trình phá sản doanh nghiệp

2 Các dấu hiệu của sự mất khả năng thanh toán nợ thanh toán nợ đến hạn bằng một số sự việc có thể gặp trong kinh doanh.

Trang 4

+ Doanh nghiệp đã không trả được nhiều chi phiếu hay thương phiếu

đã ký trong khoản thời gian ngắn có nhiều chủ nợ đồng ý hoãn nợ cho doanh nghiệp hoặc ngược lại, có nhiều chủ nợ gửi giấy đến đòi nợ

+ Doanh nghiệp không thi hành án lệnh trả nợ đã có hiệu lực pháp luật + Số nợ đến hạn qúa cao đối với mức vốn hoạt động của doanh nghiệp, nhất là trong đó số nợ thuế khá nhiều

+ Tài sản doanh nghiệp đã bị tịch biên

+ Toà án đã cho phép một số chủ nợ không có bảo đảm cầm cồ tài sản của doanh nghiệp

+ Giá bán tài sản của doanh nghiệp quá thấp đối với giá trị của tài sản đó

+ Chủ doanh nghiệp có hành vi thanh toán nợ bất hợp pháp giả mạo bảng kê khai tài sản để vay tiền

+ Bán tài sản đã cầm cố

+Bán hay cầm cố tài sản của người khác

3 Các đối tượng của luật phá sản.

Theo như luật phá sản (có sửa đổi) ở điều 1

“Luật này áp dụng để tuyên bố phá sản đối với các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu được thành lập và hoạt động theo pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, trừ trường hợp được quy định tại khoản 2 điều này

Luật này không áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc hình thức sở hữu toàn dân trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và phục vụ công cộng quan trọng”

Trong điều 1 này thì các doanh nghiệp này bao gồm

- Doanh nghiệp tư nhân

- Các loại Công ty như: + Công ty Việt Nam 100%

+ Công ty nước ngoài 100%

+ Công ty liên doanh VN và nước ngoài

Trang 5

- Các xí nghiệp quốc doanh.

- Doanh nghiệp các tổ chức chính trị xã hội

- Công ty trách nhiệm hữu hạn

- Công ty cổ phần

- Hợp tác xã

Khi luật phá sản đề cập doanh nghiệp nói chung là tất cả những doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh hoặc chưa huỷ bỏ giấy đăng ký kinh doanh

4 Trình tự phá sán của một doanh nghiệp.

Giai đoạn điều tra:

Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng không thể trả nợ đã quá hạn và duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường thì doanh nghiệp có thể tự đệ đơn hoặc người đại diện cho công nhân viên thuộc doanh nghiệp, hay những chủ nợ có thể đệ đơn lên toà án Sau khi toà án đã thụ lý đơn xin

mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Toà án yêu cầu doanh nghiệp gửi báo cáo về khả năng thanh toán nợ của mình Dự vào bản báo cáo và tình hình thực tế toà án quyết định doanh nghiệp còn khả năng thanh toán nợ hay không?

Giai đoạn mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản.

Nếu toà án quyết định rằng doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán

nợ thì sẽ mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Trong bản lệnh án của toà án sẽ ấn định thời điểm doanh nghiệp ngừng thanh toán nợ Chỉ định người thẩm phán phụ trách việc xây dựng và thi hành phương án hoà giải, chỉ định các thành viên trong tổ quản lý tài sản

Toà án cho doanh nghiệp thời hạn hai năm để xây dựng phương án hoà giải Sau khi đã họp các chủ nợ để thông qua phương án hoà giải Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản sẽ chấm dứt nếu doanh nghiệp thi hành đúng đắn phương án hoà giải Và sau khi chấm dứt phương án hoà giải thì doanh nghiệp đã khôi phục lại khả năng thanh toán nợ

Trang 6

Trong trường hợp sau toà án sẽ tuyên bố phá sản doanh nghiệp cho dù doanh nghiệp vẫ thông qua phương án hoà giải

- Sau khi thi hành phương án hoà giải, doanh nghiệp vẫn kinh doanh không có hiệu quả Các chủ nợ có quyền yêu cầu phá sản doanh nghiệp

- Trong thời gian thi hành phương án hoà giải, chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ trốn hoặc bị chết và người thừa kế từ chối hoặc không có thừa kế

Xong trong trường hợp hội nghị chủ nợ không thông qua phương án hoà giải, toà án sẽ tuyên bố phá sản doanh nghiệp và thanh lý tài sản Trong luật có quy định rằng hội nghị chủ nợ có thể không chấp nhận

Giai đoạn phá sản doanh nghiệp.

Đây là giai đoạn cuối cùng của một trình tự phá sản Sau khi đã trải qua hai giai đoạn trên Toà án tuyên bố phá sản doanh nghiệp và chỉ định thẩm phán phụ trách và thành viên tổ thanh lý tài sản doanh nghiệp Sau khi được chỉ định tổ thanh lý tài sản và thẩm phán tổ chức việc bán đấu giá tài sản Phân chia giá trị tài sản giữa các chủ nợ theo thứ tự ưu tiên như sau:

- Các khoản lệ phí và chi phí trong việc giải quyết phá sản

- Lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động và hợp đồng lao động

- Các khoản nợ thuế

- Các chủ nợ khác

Sau khi đã giải quyết cho các chủ nợ toà sẽ tuyên bố doanh nghiệp đã phá sản và chấm dứt thủ tục phá sản

II/ Thực trạng pháp luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.

Hệ thống pháp luật phá sản ở nước ta tuy được ban hành châm so với các nước trên thế giới và trong khu vực, nhưng đã góp phần quan trọng vào việc hình thành một cơ chế pháp lý đồng bộ cho hoạt động xử lý nợ của các doanh nghiệp, bảo đảm trật tự kỷ cương trong lĩnh vực tài chính, làm cho môi

Trang 7

trường kinh doanh trở nên lành mạnh hơn, đồng thời cũng góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế thi hành trong những năm qua đã cho thấy vai trò này của Luật phá sản doanh nghiệp đã không thể thực hiện một cách trọn vẹn, đầy đủ như Nhà nước và giới doanh nhân mong đợi

Kể từ khi Luật phá sản Doanh nghiệp có hiệp lực (1/7/1994), 151 đơn của doanh nghiệp đề nghị được phá sản, nhưng chỉ có 46 doanh nghiệp được toà tuyên bố phá sản Đó là thực trạng của 9 năm thi hành Luật phá sản doanh nghiệp mà Phó Chánh án Toà án Nhân dân tối cao Đặng Quang Phương cho biết khi trình Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội Dự luật phá sản Theo ông số doanh nghiệp cần “khai tử” lớn hơn nhiều

Chủ nhiệm Uỷ ban kinh tế và Ngân sách của Quốc Hội-ông Nguyễn Đức Kiên, cũng đồng tình với ông Phương ông Kiên cho răng: “Số doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản ít không phải vì doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản tại Việt Nam quá ít mà thực tế có khả nhiều doanh nghiệp, trong đó

có doanh nghiệp nhà nước hoạt động rất kém hiệu quả nhưng không thể tuyên

bố phá sản được vì nhiều lý do khác nhau Chủ yếu do những bất cập từ Luật doanh nghiệp, dấu hiệu phá sản không rõ ràng, khó chứng minh Nhiều giám đốc sợ mất chức nếu tuyên bố phá sản, người lao động sợ mất việc, Ngân hàng sợ giải quyết hậu quả ”

Ý kiến của Chủ nhiệm Bỷ Ban Pháp luật của Quốc Hội Vũ Đức Khiên cũng được nhiều đại biểu thừa nhân, có những Doanh nghiệp thực sự lâm vào tình trạng phá sản, thậm chí có thể phải ra toà chịu trách nhiệm về những khoản nợ không có khả năng thanh toán, nhưng thực tế không ít doanh nghiệp được Nhà nước cứu vớt Ông Khiên đề nghị Luật phá sản lần này phải quy định chặt chẽ hơn thì mới khả thi

Còn thiếu nhiều căn cứ để doanh nghiệp phá sản.

Luật hiện hành quy định, một doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ hai năm liên tiếp, không có khả năng trả nợ, không trả đủ lương cho người lao động,

Trang 8

tức là lâm vào tình trạng phá sản Nhưng để được toà tuyên bố cho phá sản thì doanh nghiệp phải tự chứng minh nguyên nhân thua lỗ, phải làm rõ từng khoản nợ Bản dự thảo lần này quy định, thương nhân bị coi lâm vào tình trạng phá sản khi không thanh toán được nợ đến hạn, có căn cứ chứng minh thương nhân gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh daonh Tuy nhiên, theo Uỷ Ban Kinh Tế và Ngân sách của Quốc Hội, quy định như dự thảo là chưa rõ ràng, chưa khắc phục được những hạn chế, bất cập hiện nay của luật hiện hành Ông Nguyễn Đức Khiên đề nghị, cần phải dựa vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn của Doanh nghiệp

Chủ nhiệm Uỷ Ban KHCN&MT Hồ Đức Việt cũng đề nghị cần làm rõ thêm các tiêu chí thế nào là phá sản Dự luật phá sản lần này quy định 3 điều kiện thương nhân lâm vào tình trạng phá sản, nhưng theo ông Việt, “các tiêu chí quy địn tại điều này chưa làm rõ thế nào là thương nhân lâm vào tình trạng phá sản, chưa có quy định về tiêu chí phá sản”

Các đại biểu đều cho rằng, dấu hiệu để chứng minh doanh nghiệp vào tình trạng phá sản là hết sức cần thiết Vì vậy, họ đề nghị cần quy định cụ thể lại về tiêu chí để toà tuyên bố phá sản, nhất là cần phải xem xét các dấu hiệu thương nhân lâm vào tình trạng phá sản là hoạt động kinh doanh liên tục thua

lỗ trong khoảng thời gian nhất định và mất khả năng thanh toán nói chung cũng như khả năng thanh toán nợ đến hạn nói riêng

Người lao động có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp.

Một trong những quy định mới về thủ tục phá sản là Dự thảo cho phép người lao động khi nhận thấy doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có quyền tự mình nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Thời hạn giải quyết vụ việc phá sản theo dự thảo luật sẽ kéo dài 4-6 tháng (từ khi nộp đơn đến khi tuyên bố phá sản) Trong trường hợp áp dụng các biện pháp phục hồi đối với thương nhân thì thời gian còn kéo dài hơn Nhiều ý kiến cho rằng thời gian như vậy là quá dài, đề nghị cần xem và rút

Trang 9

ngắn lại thời hạn đối với một số thủ tục như thụ lý đơn, thời gian lập danh sách chủ nợ, triệu tập các hội nghị chủ nợ, thời hạn xây dựng phương án phục hồi

Ngoài ra, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đề nghị Toà án Nhân dân tối cao

bổ sung các nội dung để ngăn ngừa thương nhân tẩu tán tài sản trong thời gian xem xét, giải quyết phá sản, đồng thời quy định rõ trách nhiệm hành chính, dân sự và cả trách nhiệm vật chất của chủ thể bị tuyên bố phá sản hoặc người

có trách nhiệm trực tiếp trong trường hợp xảy ra phá sản

III/ Ý KIẾN, KIẾN NGHỊ

Các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản trên thực tế không ít nhưng yêu cầu tuyên bố phá sản tại Toà án ngày càng ít đi Tình hình này xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng trong đó có một nguyên nhân quan trọng là

về mặt pháp lý Theo em thì luật phá sản của Việt Nam quá nhiều thủ tục Một doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản muốn toà tuyên bố phá sản thì phải tự chứng minh mình không còn khả năng thanh toán Trong thực tế là có nhiều doanh nghiệp mặc dù đã biết mình lâm vào tình trạng phá sản nhưng không tự nộp đơn ra Toa mà lại tìm mọi cách để trì hoãn việc nộp đơn Điều này không chỉ gây thiệt hại cho các chủ nợ, cho cả những người lao động trong doanh nghiệp mà còn có thể làm các khoản nợ của doanh nghiệp tăng thêm và thiệt hại cho Nhà nước

- Trong khi toà đã thụ lý đơn yêu cầu phá sản, doanh nghiệp còn phải xây dựng cho mình một phương án hoà giải trong vòng hai năm Liệu như thế có phải là một thời gian quá dài cho một doanh nghiệp không còn có khả năng thoát khỏi tình trạng này không? Có những doanh nghiệp không thể nào tự mình khắc phục được tình trạng hiện có, nhưng theo thủ tục họ vẫn phải xây dựng một phương án hoà giải như thế có phải là không phù hợp hay không? Nhưng thế chưa chắc đã là những giải pháp tốt nhất cho các doanh nghiệp

Trang 10

Bởi nhiều doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng ngừng mọi hoạt động thì việc xây dựng phương án hoà giải là điều không cần thiết

Ví dụ: Công ty TAMEXCO, khi Giám đốc Phạm Huy Phươc bị bắt thì Công

ty TAMEXCO hầu như ngừng hoạt động Xong theo như trình tự một phá sản một doanh nghiệp thì Công ty này phải xây dựng một phương án hoà giải Nhưng thực tế thì Công ty này không còn có khả năng khôi phục lại nữa thì điều đó liệu có cần thiết hay không?

Từ những điều trên em có một số kiến nghị sau:

-Toà án nên có một ban thanh tra tài chính để có thể nhanh chóng phát hiện sớm được tình hình tài chính của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản để chấm dứt điều này hay có những biện pháp trợ giúp cho doanh nghiệp

có thể khôi phục khả năng thanh toán và đi vào sản xuất hoạt động bình thường

- Các doanh nghiệp cần phải gia nhập thị trường Chứng khoán để thông qua thị trường này doanh nghiệp sớm bộc lộ được tình trạng mất khả năng thanh toán của mình Từ đó để các doanh nghiệp liên quan có thể tự điều chỉnh mối quan hệ của mình đối với doanh nghiệp đó

- Pháp luật phá sản Việt Nam cần có sự sửa đổi cho phù hợp để vừa chấm dứt nhanh chóng sự tồn tại của những doanh nghiệp trong tình trạng “chết lầm sàng”, lại vừa giảm thiểu đến mức tối đa chi phí cho việc cứu vớt một doanh nghiệp mà trên thực tế đã chứng tỏ là không thể phục hồi được

Ngày đăng: 11/03/2018, 18:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w