Các chủ thể khi giao kết, thực hiện hợp đồng đều phải có tư cáchchủ thể tức là phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật đối vớimột chủ thể của quan hệ dân sự ví dụ: nếu chủ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, cũng như trong cuộc sống hàng ngày mộtyếu tố không thể thiếu được là phải có giao lưu dân sự, đó là sự chuyển giao tàisản, quyền tài sản hoặc thực hiện một dịch vụ nào đó giữa người này với ngườikhác, giữa tổ chức này với tổ chức khác, giữa pháp nhân này với pháp nhânkhác Sự giao lưu dân sự đó thường được hình thành thông qua sự thỏa thuậngiữa các bên, trên cơ sở đó pháp luật buộc các bên phải thực hiện quyền vànghĩa vụ đó Sự thỏa thuận đó gọi là hợp đồng
Điều 385 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên
về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự” Như vậy,
cơ sở đầu tiên để hình thành một hợp đồng là việc thỏa thuận bằng ý chí tựnguyện của các bên Tuy nhiên hợp đồng chỉ được pháp luật công nhận và bảo
vệ khi ý chí các bên phù hợp với quy định của nhà nước, trong đó có các quyđịnh về hình thức và nội dung của hợp đồng Với mục đích đi sâu tìm hiểu vềcác quy định của pháp luật về hình thức và nội dung của hợp đồng , em xin lựa
chọn đề tài: “ Hình thức của hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”
Trong quá trình làm bài em đã cố gắng nhiều, song với trình độ hiểu biết vấn đềcòn hạn chế nên bài viết khó thể tránh khỏi những thiếu sót Bởi vậy, em rấtmong có thể nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía thầy cô để bài làm của emđược hoàn thiện hơn
Trang 2quan hệ, để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhucầu sinh hoạt, tiêu dùng, đóng một vai trò quan trọng, là một tất yếu đối với mọiđời sống xã hội Tuy nhiên việc chuyển giao các lợi ích vật chất đó không phải
là tự nhiên hình thành bởi tài sản, chúng không thể tự tìm tới nhau để thiết lậpcác quan hệ Các quan hệ tài sản chỉ được hình thành từ những hành vi có ý chícủa các chủ thể Nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí của mình mà không được bênkia chấp nhận cũng không thể hình thành một quan hệ để qua đó thực hiện việcchuyển giao tài sản hoặc làm một công việc đối với nhau được Do đó chỉ khinào có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên thì quan hệ trao đổi lợi íchvật chất mới được hình thành Quan hệ đó được gọi là hợp đồng
Như vậy, hợp đồng chính là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự traođổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận cùng nhau làm phát sinh các quyền
và nghĩa vụ nhất định Dưới góc độ pháp lý thì hợp đồng được hiểu là sự thỏathuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự (theo Điều 385 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015) Hợp đồng là một bộphận các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủthể với nhau Trên cơ sở định nghĩa về hợp đồng ta rút ra được các đặc điểm củahợp đồng
1.2 Đặc điểm của hợp đồng
Theo Điều 385 Bộ luật dân sự 2015 định nghĩa về hợp đồng thì hợp đồng có hainét cơ bản đó là: Sự thỏa thuận giữa các bên và làm phát sinh hậu quả pháp lý Hợp đồng trước hết phải là một thỏa thuận có nghĩa là hợp đồng phải chứa đựngyếu tố tự nguyện khi giao kết nó phải có sự trùng hợp ý chí của các bên Việcgiao kết hợp đồng phải tuân theo các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí,hợp tác, trung thực và ngay thẳng, tự do giao kết hợp đồng, nhưng không đượctrái với pháp luật và đạo đức xã hội
Trang 3Thỏa thuận theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là: Đi tới sự đồng ý sau khi cânnhắc, thảo luận Thỏa thuận cũng có nghĩa là sự nhất trí chung (không bắt buộcphải được nhất trí hoàn toàn) được thể hiện ở chỗ không có một ý kiến đối lậpcủa bất cứ một bộ phận nào trong số các bên liên quan đối với những vấn đềquan trọng và thể hiện thông qua một quá trình mà mọi quan điểm của các bênliên quan đều phải được xem xét và dung hoà được tất cả các tranh chấp; là việccác bên (cá nhân hay tổ chức) có ý định chung tự nguyện cùng nhau thực hiệnnhững nghĩa vụ mà họ đã cùng nhau chấp nhận vì lợi ích của các bên Sự đồngtình tự nguyện này có thể chỉ được tuyên bố miệng và được gọi là thoả thuậnquân tử (hợp đồng quân tử) hay được viết thành văn bản gọi là hợp đồng viếthay hợp đồng thành văn Tuỳ theo từng trường hợp được gọi là hợp đồng hayhiệp định; vd hiệp định mua bán, hợp đồng đại lí.
Yếu tố thỏa thuận đã bao hàm trong nó yếu tố tự nguyện, tự định đoạt và sựthống nhất về mặt ý chí Đây là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự đặc trưng củahợp đồng so với các giao dịch dân sự khác, đây cũng là yếu tố làm nên bản chấtcủa luật dân sự so với các ngành luật khác
Về chủ thể tham gia hợp đồng : Chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng phải có ítnhất từ hai bên trở lên, vì hợp đồng là một giao dịch pháp lý song phương hay
đa phương Các chủ thể khi giao kết, thực hiện hợp đồng đều phải có tư cáchchủ thể tức là phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật đối vớimột chủ thể của quan hệ dân sự (ví dụ: nếu chủ thể là cá nhân thì phải đáp ứngđược các yêu cầu về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự…)
Mục đích hướng tới của các bên khi tham gia hợp đồng là để xác lập thay đổihoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Quyền và nghĩa vụ trong phạm vi hợpđồng có phạm vi rất rộng, trước đây trong Pháp lệnh hợp đồng ngày 29-4-1991(Điều 1) quy định hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thayđổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay,mượn, tặng, cho tài sản, làm một hoặc không làm công việc, dịch vụ hoặc các
Trang 4thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt,tiêu dùng
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì không liệt kê cụ thể các quyền vànghĩa vụ dân sự cụ thể đó tuy nhiên về bản chất thì các quyền và nghĩa vụ màcác bên hướng tới khi giao kết, thực hiện hợp đồng là những quyền và nghĩa vụ
để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng, đó cũng chính là mộttrong những đặc điểm cơ bản để phân biệt giữa hợp đồng và các hợp đồng kinh
tế, thương mại
Yếu tố này giúp phân biệt hợp đồng với hợp đồng kinh tế :
Mục đích của hợp đồng kinh tế khi các bên chủ thể tham gia là mục đíchkinh doanh (nhằm phát sinh lợi nhuận) trong khi đó hợp đồng các bêntham gia nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng
Chủ thể tham gia hợp đồng kinh tế phải là các thương nhân, các công ty,đơn vị kinh doanh (nếu chủ thể là cá nhân thì phải có đăng ký kinhdoanh)
II HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
2.1 Hình thức của hợp đồng
Hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi nhận, lưu trữ, truyền tải nội dungcủa hợp đồng Đó là phương diện để ghi nhận lại các điều khoản mà các bên đãcùng nhau thống nhất cam kết Tuy thuộc vào nội dung, tính chất của từng hợpđồng cũng như tùy thuộc vào độ tin tưởng lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọnmột hình thức nhất định trong việc giao kết hợp đồng cho phù hợp với từngtrường hợp cụ thể
Để đảm bảo được tính thống nhất và mối quan hệ liên thông, bổ trợ lẫn nhautrong hệ thống các quy định pháp luật về hợp đồng, chế định hợp đồng trong Bộluật Dân sự 2015 được xây dựng theo hướng là nền tảng chung cho pháp luật về
Trang 5hợp đồng, có hiệu lực điều chỉnh đối với tất cả các quan hệ hợp đồng trong mọilĩnh vực Về hình thức hợp đồng, luật dân sự 2015 không quy định cụ thể tạiđiều riêng như luật dân sự 2005 quy định về hình thức của hợp đồng tại điều 401
Bộ luật Dân sự 2005 mà coi đó là hoạt động giao dịch dân sự nên nó cũng phảithỏa mãn hình thức của giao dịch dân sự được quy định tại điều 119 luật dân sự2015:
“1 Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành
vi cụ thể.
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.
2 Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản
có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó’’.
Vì hợp đồng cũng là một loại giao dịch dân sự, nên theo các quy định nêu trên
có thể thấy, hình thức của hợp đồng bao gồm các loại sau: bằng lời nói, bằngvăn bản, bằng hành vi cụ thể và bằng thông điệp dữ liệu (hợp đồng điện tử) Như vậy, hình thức của hợp đồng tương đối đa dạng tạo điều kiện cho các chủthể ký kết thuận tiện Đối với những hợp đồng mà pháp luật đã quy định buộcphải giao kết theo một hình thức nhất định, thì các bên phải tuân theo các hìnhthức đó
- Hình thức miệng:
Thông qua hình thức bằng lời nói, các bên chỉ cần thỏa thuận miệng với nhau vềnội dung cơ bản của hợp đồng Hình thức miệng được coi là có độ xác thực thấpnhất Khi có tranh chấp giữa các bên về một hợp đồng đã được giao kết miệngvới nhau, bất cứ bên nào cũng có thể phủ nhận tất cả những cam kết trước đâycủa mình Tuy nhiên, đối với tất cả các quốc gia trên thế giới thì hình thứcmiệng vẫn được coi là hình thức hợp đồng có lịch sử lâu đời và được áp dụngphổ biến nhất trong các giao dịch dân sự Trước đây điều đó được lý giải là do
Trang 6số lượng những người biết đọc, biết viết còn rất ít Ngày nay, hình thức miệngvẫn giữ nguyên được vai trò to lớn của nó Các trường hợp cơ bản phổ biến ápdụng hình thức miệng là:
Thứ nhất, hình thức miệng được áp dụng trong những trường hợp các bên thamgia giao kết hợp đồng đã có độ tin cậy lẫn nhau Độ tin cậy giữa các chủ thểthường được xác lập thông qua các quan hệ ruột thịt, quan hệ hàng xóm lánggiềng, quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, cùng học tập … Sự tin tưởng giữa các chủthể ở đây đóng vai trò như là một nhân tố chủ quan bổ xung thêm cho sự xácthực của hình thức miệng Trong nhiều trường hợp do thiếu độ tin cậy nên cácchủ thể không thể áp dụng được hình thức miệng
Thứ hai, hình thức miệng được áp dụng với những hợp đồng có giá trị nhỏ Đốivới những hợp đồng có giá trị quá nhỏ ( ví dụ: mua mớ rau, bao diêm, mượn cáibút chì,…) thì các bên không có cách nào khác ngoài cách áp dụng hình thứcmiệng, nếu áp dụng các hình thức khác sẽ có thể tạo nên những chi phí quá lớn,
mà giá trị hợp đồng quá nhỏ nên các chi phí đó làm cho việc ký kết hợp đồng trởnên vô nghĩa
Thứ ba, hình thức miệng được áp dụng đối với những hợp đồng mà có thể đượcthực hiện và chấm dứt ngay sau khi giao kết Ví dụ như đa số các hợp đồng bán
lẻ đều được thực hiện dưới hình thức miệng Sau khi thỏa thuận miệng xong vềgiá cả, số lượng và chất lượng …thì hai bên thực hiện ngay thỏa thuận đó ( bênbán cân đong và bàn giao hàng, bên mua nhận lấy hàng và trả tiền ) Đến đâyhợp đồng coi như đã thực hiện xong và chấm dứt
- Hình thức văn bản
Các bên có thể ký kết hợp đồng dưới hình thức cùng nhau lập một văn bản viết.Hình thức hợp đồng bằng văn bản mang tính xác thực hơn so với hình thức hợpđồng miệng Trong văn bản đó các bên ghi đầy đủ những nội dung đã thỏathuận, cùng ký tên xác nhận vào văn bản Văn bản hợp đồng thường được soạnthành hai hay nhiều bản gốc giông nhau, đều phải có chữ ký của các bên, mỗi
Trang 7bên được giữ một bản Căn cứ vào văn bản của hợp đồng, các bên dễ dàng thựchiện quyền yêu cầu của mình đối với bên kia Các trường hợp cơ bản áp dụnghình thức văn bản này là :
+) Đối với những hợp đồng có giá trị lớn
+) Đối với những hợp đồng mà việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ hợp đồng
có thể diễn ra trong một thời gian dài không cùng lúc với việc giao kết (ví dụ :hợp đồng gia công xây dựng nhà…)
+) Khi giữa các bên chưa đật được sự tin cậy nhất định
Đối với riêng dạng hợp đồng bằng văn bản thì Điều 119 khoản 2 Bộ luật dân sự
quy định: “ Trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện
bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo các quy định đó” Thông qua chỉ dẫn này ta thấy rằng hợp đồng bằng văn bản được chia
tiếp ra làm hai loại là : hợp đồng bằng văn bản thông thường và hợp đồng bằngvăn bản có chứng nhận của công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của Ủy bannhân dân cấp có thẩm quyền Hợp đồng bằng văn bản có chứng nhận, chứngthực được coi là hình thức mang tính xác thực cao nhất và thường được phápluật quy định đối với các trường hợp như đối với các hợp đồng có tính chất phứctạp, dễ xảy ra tranh chấp hoặc với hợp đồng có đối tượng là những tài sản mànhà nước cần phải quản lý, kiểm soát Những trường hợp đó được quy định cụthể cho từng loại hợp đồng Tuy nhiên, trong trường hợp pháp luật không có quyđịnh thì các bên vẫn có thể thỏa thuận với nhau áp dụng hình thức văn bản cóchứng nhận, chứng thực đó để giao kết hợp đồng Tuy nhiên nếu có vi phạm vềhình thức thì cũng không bị coi là vô hiệu, trừ trường hợp pháp luật có quy địnhkhác
- Hình thức hành vi cụ thể Ví dụ như: hợp đồng tặng cho tài sản như việc
bỏ tiền vào hòm công đức, như người tiêu dùng mua nước tại các máy bánnước tự động, hợp đồng được coi là ký kết khi người tiêu dùng thả tiềnvào máy tự động và thực hiện một số các động tác cần thiết để nhận chai
Trang 8nước Đối với hình thức này thì chỉ cần các bên thực hiện một hoặc mộtvài (không bắt buộc phải tất cả) hành vi là nghĩa vụ của hợp đồng thì hợpđồng đã được coi là giao kết.
- Hình thức bằng thông điệp dữ liệu (hợp đồng điện tử): Ngày nay, cùngvới sự phát triển của công nghệ thông tin, việc giao kết hợp đồng dướihình thức văn bản giấy không còn là hình thức thích hợp khi các bên cókhoảng cách xa về mặt địa lý Chủ thể ở một quốc gia này có thể ký kếthợp đồng với chủ thể của một quốc gia khác mà không phải đi đến tận nơigặp nhau trực tiếp để thương thảo hợp đồng Thông qua mạng Internet,các doanh nghiệp ở các địa phương khác nhau, ở các quốc gia khác nhau
có thể nhanh chóng tìm kiếm được bạn hàng để thiết lập mối quan hệ làm
ăn, mở rộng thị trường Với chiếc máy tính nối mạng Internet, ngồi ở nhàchúng ta có thể dạo quanh thị trường một cách thoải mái vào bất cứ thờiđiểm nào trong ngày Khi cần mua một món hàng, chúng ta chỉ cần liênlạc với cửa hàng qua hệ thống mạng, sau đó sẽ có người mang món hàng
đó đến tận nơi theo yêu cầu Sự phát triển mạnh mẽ của giao dịch điện tử
kéo theo sự ra đời một hình thức hợp đồng mới: hợp đồng điện tử- hợp
đồng được giao kết thông qua phương tiện điện tử
2.2 Nội dung của hợp đồng
Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các điều khoản mà các bên tham gia giao kếthợp đồng đã thỏa thuận Các điều khoản đó xác định những quyền và nghĩa vụdân sự cụ thể của các bên trong hợp đồng
Để nhận biết được một hợp đồng và để pháp luật công nhận hợp đồng đó thì cácbên phải thoải thuận được với nhau về một số nội dung quan trọng nhất định.Vấn đề đặt ra là: Liệu các bên thỏa thuận đến đâu thì hợp đồng coi như đượchình thành (được coi là giao kết) ? Pháp luật không thể quy định cứng nhắc rằngmỗi hợp đồng có bao nhiêu điều khoản Điều đó phụ thuộc vào tính chất củatừng hợp đồng cụ thể Tuy nhiên, các điều khoản trong nội dung hợp đồng được
Trang 9chia làm ba loại đó là : Điều khoản cơ bản; Điều khoản thông thường; Điềukhoản tùy nghi.
- Điều khoản cơ bản
Các điều khoản cơ bản là những điều khoản mà nếu thiếu chúng thì hợp đồngkhông thể được coi là đã giao kết Điều khoản cơ bản có thể do tính chất củatừng hợp đồng quyết định, ngoài ra còn bao gồm cả những điều khoản mà cácbên tự cảm thấy cần thiết quy định với nhau là là các điều khoản cơ bản Tínhchất “cơ bản” thể hiện rằng chúng nêu lên bản chất của loại hợp đồng đó, không
có chúng thì hợp đồng không được sếp vào loại này hay loại khác Ví dụ: Đa sốcác tài liệu pháp lý đều cho rằng đối với hợp đồng mua bán thì điều khoản cơbản bao gồm đối tượng và giá cả (Mua gì? Giá bao nhiêu?) Tuy nhiên, cũng cóquan điểm cho rằng trong thực tế nếu như các bên không thỏa thuận về giá cả thì
có thể áp dụng giá trung bình của thị trường tại thời đó Chỉ đối với tài sảnkhông có giá cả chung trên thị trường (cổ vật, tranh vẽ, bất động sản,…) thì giá
cả là điều khoản cơ bản Trong hợp đồng bảo hiểm thì các điều khoản cơ bảnbao gồm đối tượng được bảo hiểm, sự kiện bảo hiểm, giá trị bảo hiểm, thời hạnbảo hiểm…
Các điều khoản cơ bản được quy định tại các văn bản pháp luật Tổng hợp cácđiều khoản cơ bản tạo thành nội dung chủ yếu của hợp đồng Bên cạnh nhữngđiều khoản cơ bản do pháp luật quy định còn có những điều khoản mà được coi
là cơ bản theo đề nghị của một trong những bên ký kết hợp đồng
- Điều khoản thông thường
Các điều khoản thông thường là những điều khoản được pháp luật quy địnhtrước Nều khi giao kết hợp đồng, các bên không thỏa thuận những điều khoảnnày, thì vẫn được coi như hai bên đã mặc nhiên thỏa thuận và được thực hiệnnhư pháp luật đã quy định Khác với điều khoản cơ bản, các điều khoản thôngthường không làm ảnh hưởng tới quá trình giao kết hợp đồng Để giảm bớtnhững công việc không cần thiết trong giao kết hợp đồng, các bên có thể không
Trang 10cần thỏa thuận và không cần ghi vào văn bản hợp đồng những điều khoản màpháp luật quy định nhưng các bên vẫn phải thực hiện các điều khoản đó Vì vậy,nếu có tranh chấp về những nội dung này , thì quy định của pháp luật sẽ là căn
cứ để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Ví dụ: Địa điểmgiao tài sản động sản (đối tượng của hợp đồng mua bán) là nơi cư trú của ngườimua nếu người mua đã trả tiền và trong hợp đồng các bên không thỏa thuận vềđịa điểm giao tài sản
- Điều khoản tùy nghi
Ngoài những điều khoản phải thỏa thuận về tính chất của hợp đồng và nhữngđiều khoản mà pháp luật đã quy định trước, khi giao kết hợp đồng các bên còn
có thế thỏa thuận để xác định thêm một số điều khoản khác nhằm làm cho nộidung của hợp đồng được cụ thể hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trongquá trình thực hiện hợp đồng các điều khoản này được gọi là điều khoản tùynghi
Điều khoản tùy nghi là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợpđồng tự ý lựa chọn và thỏa thuận vơi nhau để xác định quyền và nghĩa vụ dân sựcủa các bên Thông qua điều khoản tùy nghi, bên có nghĩa vụ được phép lựachọn một trong những cách thức nhất định để thực hiện hợp đồng, sao cho thuậnlợi mà vẫn bảo đảm được quyền yêu cầu của bên kia
Như vậy, một điều khoản trong nội dung của hợp đồng có thể là điều khoản cơbản, có thể là điều khoản thông thường nhưng cũng có thể là điều khoản tùynghi Chẳng hạn địa điểm giao vật trong hợp đồng mua bán tài sản sẽ là điềukhoản cơ bản, nếu khi giao kết, các bên đã thỏa thuận cụ thể về nơi giao vật.Ngược lại, nó sẽ là điều khoản thông thường nếu các bên không thỏa thuận màmặc nhiên thừa nhận và thực hiện theo quy định của pháp luật Mặt khác, địađiểm trong hợp đồng mua bán sẽ là điều khoản tùy nghi nếu các bên đã thỏathuận cho phép bên có nghĩa vụ được lựa chọn một trong nhiều nơi để thực hiệnnghĩa vụ giao vật
Trang 11Dựa vào tính chất của các điều khoản tùy nghi, người ta có thể phân chúngthành hai loại khác nhau: tùy nghi ngoài pháp luật và tùy nghi khác pháp luật.Điều 398 Bộ luật dân sự 2015 quy định :
“1 Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng.
2 Hợp đồng có thể có các nội dung sau đây:
a Đối tượng của hợp đồng;
b Số lượng, chất lượng;
c Giá, phương thức thanh toán;
d Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
e Quyền, nghĩa vụ của các bên;
f Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
g Phương thức giải quyết tranh chấp’’
Tùy theo tính chất của từng loại hợp đồng các bên có thể thỏa thuận hay khôngthỏa thuận tất cả các điêu ghi trên Các bên cũng có thể bổ sung thêm vào hợpđồng những điều khoản không có quy định nhưng các bên cảm thấy cần thiết.Đối với mọi loại hợp đồng thì điều khoản về đối tượng hợp đồng bao giờ cũngđược coi là điều khoản cơ bản Hợp đồng không thể được coi là đã ký kết nếunhư trong đó chưa xác định rõ đối tượng của hợp đồng Ví dụ như chưa thể coi
là ký kết hợp đồng mua bán nếu như giữa bên bán và bên mua chưa đạt đượcthỏa thuận về vật gì cụ thể sẽ bán cho người mua Hợp đồng ủy quyền chưa thểđược coi là ký kết nếu như các bên chưa xác định rõ bên được ủy quyền phảithực hiện những công việc gì nhân danh bên ủy quyền Tùy theo từng loại hợpđồng mà đối tượng có thể là một tài sản phải chuyển giao hay một công việcphải thực hiện Nếu đối tượng của hợp đồng là tài sản thì tài sản đó phải đượcphép giao dịch Nếu đối tượng của hợp đồng là công việc phải thực hiện thì côngviệc đó phải không bị pháp luật cấm
Một số quan điểm cho rằng khái niệm đối tượng cần phải được hiểu theo nghĩarộng bao gồm các thông số cần thiết cho phép các bên xác định được cụ thể nhất