Trong thực tế, có nhiều cách hiểu về vật khác nhau: Với nghĩa vật lí: vật là một bộ phận của thế giới vật chất nhưng không phải mọi vật của thế giới vật chất đều được coi là vật tài sản
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mọi quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng Khái niệm tài sản đã được đề cập rất lâu trong trong thực tiễn cũng như trong khoa học pháp lý Tài sản trên thực
tế tồn tại ở rất nhiều dạng khác nhau, vô cùng phong phú và đa dạng Tuy nhiên, mỗi loại tài sản lại có những đặc tính khác biệt cần thiết phải
có quy chế pháp lí điều chỉnh riêng Chính vì vậy, việc phân loại tài sản
là cần thiết không chỉ có ý nghĩa trong hoạt động lập pháp mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong việc áp dụng pháp luật Tuy nhiên, ở mỗi góc độ khác nhau, một sự vật được nhìn nhận và đánh giá một cách khác nhau Bởi vậy, ở mỗi tiêu chí khác nhau, tài sản cũng sẽ được phân thành các loại cụ thể khác nhau Do đó, Điều 105_BLDS năm 2015 quy định:
“1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản
có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”
Đây là cách phân loại cũng đồng thời là cách định nghĩa về tài sản của
Bộ luật Theo quy định này thì tài sản được liệt kê khép kín chỉ tồn tại ở một trong bốn loại: Vật, tiền, giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản Bài viết dưới đây nhằm phân tích những loại tài sản đã được đề cập và một số vấn đề lí luận và thực tiễn về tài sản theo quy định tại điều 105_BLDS năm 2015 để góp phần hoàn thiện hơn nữa về cách hiểu tài sản trong luật dân sự Việt Nam
NỘI DUNG
Một số vấn đề lý luận về tài sản
Khái quát về sự hình thành và phát triển của Tài sản và pháp luật về tài sản
Tài sản là công cụ của đời sống xã hội Từ hàng nghìn năm nay, pháp luật về tài sản của các quốc gia đã hình thành dựa trên các tập quán, lối suy nghĩ và hành động khác nhau Luật tài sản Phương Tây có khởi
Trang 2nguồn từ cổ luật La Mã Từ cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỉ XVII, người ta đã tạo ra các quy định và thiết chế mới về tài sản đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế tư bản, mà vẫn dựa trên tư duy cổ xưa, mang đậm dấu ấn của luật tục Hiện nay, luật tư được các học giả thừa nhận là một ngành luật cơ bản và Luật dân sự_nền tảng căn bản của luật tư mà ở
đó, Nhà nước chỉ đóng vai trò là trọng tài-có liên quan tới con người và quan hệ của con người với nhau liên quan đến tài sản Trong các hệ thống pháp luật, thông thường người ta mượn khái niệm tài sản và các giải pháp của luật La Mã để giải quyết các mối quan hệ đó Các nước khác nhau có sự nhìn nhận và quan điểm luật học về tài sản khác nhau Luật học Việt Nam trên cơ sở vận dụng có chọn lọc những thành tựu của các hệ thống luật tiên tiến và kế thừa có sáng tạo tinh thần luật học cổ điển của nước nhà Qua các thời kì từ trong luật cổ và tục lệ cho đến thời cận đại và cuối cũng là thời hiện đại, pháp luật Việt Nam về tài sản đã dần từng bước cải thiện và nâng cao Cùng với sự phát triển của nền kinh tế-xã hội, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, tài sản được xác định với tính cách là khách thể của quyền sở hữu và phạm vi này là không hạn chế Trong chế định quyền sở hữu thì tài sản giữ một vai trò quan trọng, vừa là đối tượng của quyền sở hữu, vừa là khách thể trong quan hệ pháp luật dân sự Tài sản với tư cách là đối tượng của sở hữu được đề cập lần đầu tiên trong các quy định về tài sản và quyền sở hữu của Bộ luật dân sự Việt Nam Bộ luật dân sự năm 1995, năm 2005 trước đây cũng như Bộ luật dân sự năm 2015 hiện hành dựa vào tiêu chí tài sản là đối tượng của quyền sở hữu phải trị giá được bằng tiền và có thể đưa vào giao lưu dân sự Đến Bộ luật dân sự năm 2015 khái niệm tài sản đã được hoàn thiện thêm một bước góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình áp dụng pháp luật Mặc dù, BLDS 2015 đã quy định cụ thể khái niệm tài sản tuy nhiên trên thực tế xoay quanh vấn đề tài sản vẫn còn nhiều vướng mắc
Khái niệm tài sản theo Bộ luật dân sự 2015
Trang 3Tài sản có thể được hiểu là bất cứ thứ gì có giá trị nằm trong sự chiếm hữu của một chủ thể, một khái niệm rộng và không có giới hạn, luôn được bồi đắp thêm bởi những giá trị mới mà con người nhận thức ra Tuy nhiên, theo cách hiểu chung nhất thì tài sản chính là của cải vật chất được sử dụng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng có dụng ích, luôn luôn được con người hướng tới làm chủ: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt Dưới góc độ pháp lí, tài sản là một chế định quan trọng của của Luật dân sự Trong bối cảnh hệ thống pháp luật Việt Nam đang có nhiều thay đổi để theo kịp với tiến trình hội nhập quốc tế, các khảo cứu mang tính lí luận về tài sản về cơ bản đã bao quát và tương đối Điều
105_BLDS năm 2015 quy định:
“1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản
có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”
Để hiểu rõ hơn về quy định này của pháp luật dân sự ta đi vào phân tích, nghiên cứu từng loại tài sản theo quy định này:
1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
Vật
Vật là bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người có thể cảm nhận được bằng các giác quan của mình Vật chỉ có ý nghĩa khi
nó trở thành đối tượng trong quan hệ pháp luật nên nếu bộ phận của thế giới vật chất mà con người không thể kiểm soát, chiếm hữu được nó thì cũng đồng nghĩa với việc con người không thể tác động được vào nó Hơn nữa, là đối tượng trong quan hệ pháp luật nên vật phải đáp ứng được lợi ích của các bên chủ thể trong quan hệ Bộ luật Dân sự năm
1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 đều quy định tài sản gồm có vật Tuy nhiên, Điều 105_BLDS 2015 quy định tài sản là “vật” mà không quy định là “vật có thực” như quy định tại Điều 172_BLDS 1995 Điều 105 _BLDS 2015 quy định tài sản gồm vật, bỏ quy định vật có thực đã mở rộng nội hàm của khái niệm vật Vật có thể đang tồn tại hiện thực và vật
Trang 4chắc chắn được hình thành trong tương lai Như vậy, Quy định tại Điều
105 Bộ luật dân sự năm 2015 về vật phù hợp hơn với đời sống thực tế và các giao lưu dân sự trong cơ chế thị trường hiện nay Theo đó, các bên chủ thể tham gia giao dịch có thể thỏa thuận về đối tượng của giao dịch
là vật được hình thành trong tương lai Vậy vật là gì ? Và khi nào vật được coi là tài sản? Sự cần thiết phải xác định nhằm làm rõ để có cơ sở khi giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản, có được các căn cứ pháp
lí để quyết định đúng đắn, không gây sự nhầm lẫn Trong thực tế, có nhiều cách hiểu về vật khác nhau:
Với nghĩa vật lí: vật là một bộ phận của thế giới vật chất nhưng không phải mọi vật của thế giới vật chất đều được coi là vật (tài sản) trong quan hệ pháp luật dân sự Xét theo tiêu chuẩn lí học: vật trước hết là một vật thể tồn tại xác định được bằng các đơn vị đo lường về khối lượng Hình dáng, tính chất hóa, lí, sinh, những thuộc tính khác của vật trong mối tương quan với thế giới khách quan cả về mặt tự nhiên và xã hội Vật xét theo tiêu chuẩn pháp lí dân sự: vật phải tồn tại, có thực, con người phải chiếm hữu được, chi phối được, xác định được và phải sử dụng được trong sản xuất kinh doanh, sinh hoạt tiêu dùng nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất, tinh thần của con người
Vật xét theo chế độ pháp lí: vật đó theo quy định của pháp luật là vật cấm lưu thông, hạn chế lưu thông và vật được tự do lưu thông Chế độ pháp lí đối với vật không phải là bất biến, mà có tính chất khả biến; một mặt nó phụ thuộc vào sự phát triển chung về kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn nhất định, mặt khác nó còn phụ thuộc vào quan điểm lập pháp của mỗi quốc gia trong giai đoạn lịch sử nhất định đó
Vật xét theo quan niệm xã hội : vật được nhiều người sử dụng và vật được số ít người sử dụng, vật mang giá trị kinh tế lớn, giá trị tinh thần cao và vật mang giá trị kinh tế thấp, giá trị tinh thần không cao, Vật còn được xét theo nhiều tiêu chuẩn khác tùy thuộc vào tâm lí, thẩm mĩ và văn hóa sử dụng của mỗi cá nhân và toàn xã hội trong từng thời kì phát
Trang 5triển lịch sử nhất định và phần lớn phụ thuộc vào trình độ, chuyên môn sản xuất vật chất và lưu thông hàng hóa của thời kỳ lịch sử đó
Vậy vật khi nào là tài sản ? Để giải quyết vấn đề đặt ra cần căn cứ vào những tiêu chí của quan hệ pháp luật dân sự cụ thể để xác định Điều
105 BLDS năm 2015 quy định về vật phải được hiểu như thế nào cho đúng? Không phải bất kì vật nào của thế giới vật chất cũng đều được coi
là tài sản Xét theo quan hệ này thì một vật nhất định được coi là tài sản nhưng nếu xét theo quan hệ cụ thể khác thì vật đó không thể được coi là tài sản Để xác định một vật có được coi là tài sản hay không phải đặt vật đó trong từng quan hệ cụ thể và không thể lập luận theo một chiều,
có vật là có tài sản được Bởi vậy, vật là tài sản khi thỏa mãn các điều kiện sau:
Vật đó phải tồn tại khách quan hoặc vật đó chắc chắn được hình thành trong tương lai xác định được;
Vật đó con người phải chi phối được, phải kiểm soát được, phải chiếm hữu được;
Vật đó phải xác định được giá trị thanh toán hay giá trị trao đổi, vật đó phải khai thác được về tài sản (thương mại, dân sự, tiêu dùng), đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của con người;
Vật đó là vật được phép lưu thông dân sự và mang giá trị tài sản, có thể trao đổi được cho nhau dưới dạng vật chất hay quy đổi được bằng tiền Như vậy, vật được hiểu theo khía cạnh vật lí khác về ý nghĩa so với vật được hiểu theo góc độ pháp lí Vật được hiểu theo góc độ pháp lí là những vật được dùng trong quan hệ pháp luật cụ thể đồng thời vật là đối tượng của quan hệ pháp luật đó Từ nhận định này thì tài sản bao gồm vật nhưng không phải mọi vật của thế giới vật chất đều được coi là tài sản trong quan hệ về quyền sở hữu và các quan hệ pháp luật dân sự khác Việc xác định vật khi nào là tài sản có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp về tài sản Khi xác định một vật là tài sản, để có căn cứ pháp lí xác định các quyền và nghĩa vụ về tài sản
Trang 6của các chủ thể trọng quan hệ pháp luật dân sự Việc xác định vật là tài sản đồng thời là căn cứ để xác định quyền sở hữu đối với tài sản đó của chủ thể nhất định Từ đó có thể kết luận rằng, vật chỉ có thể được coi là tài sản khi nó được sử dụng vào mục đích xác lập quyền và nghĩa vụ tài sản của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật nhất định và vật được xác định là đối tượng của quan hệ pháp luật đó
Tiền
Tiền, theo kinh tế chính trị học là vật ngang giá chung được sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác Một tài sản được coi là tiền hiện nay khi nó đang có giá trị và lưu hành trên thực tế Có thể nói rằng việc sử dụng tiền là một phát minh vĩ đại của loài người Một trong những chức năng cơ bản nhất của tiền là nhằm vào mục đích sử dụng trong giao dịch mua bán Hợp đồng mua bán là hệ quả trực tiếp nhất của việc sử dụng tiền Với việc phát minh ra tiền thì giao dịch mua bán được xác lập, tức là việc trao đổi vật để lấy một số tiền có giá trị tương đương Với số tiền do bán được vật, người bán lại có thể trở thành người mua trong quan hệ mua bán khác, dùng số tiền do bán vật có được để lại mua lấy các tài sản cần thiết cho bản thân Từ thời điểm đó, hợp đồng mua bán đã trở thành loại hợp đồng thông dụng nhất cho đến ngày nay Pháp luật Việt Nam coi tiền là một loại tài sản riêng biệt Loại tài sản này có những đặc điểm pháp ký khác với vật Có thể liệt kê một số điểm khác biệt giữa vật và tiền như sau:
Đối với vật, chúng ta có thể khai thác công dụng hữu ích từ chính vật đó( dùng nhà để ở, dùng xe mấy để đi,) còn đối với tiền thì không thể khai thác công dụng hữu ích từ chính tờ tiền hay đồng tiền xu đó Tiền thực hiện ba chức năng chính là : công cụ thanh toán đa năng, công cụ tích lũy tài sản và công cụ định giá các loại tài sản khác Khái niệm
“quyền sử dụng” chỉ được áp dụng một cách trọn vẹn cho vật chứ không
áp dụng được cho tiền
Trang 7Các vật thông thường có thể do rất nhiều chủ thể khác nhau tạo ra nhưng tiền chỉ do nhà nước độc quyền phát hành Việc phát hành tiền được coi
là một trong những chủ quyền của mỗi quốc gia
Vật được xác định số lượng bằng những đơn vị đo lường thông dụng còn tiền lại được xác định số lượng thông qua mệnh giá của nó
Chủ sở hữu vật được toàn quyền tiêu hủy vật thuộc sở hữu của mình, còn chủ sở hữu của tiền thì lại không được tiêu hủy tiền ( không được
xé, đốt, sửa chữa, thay đổi kích thước, hình dạng, làm giả )
Như vậy, từ việc so sánh trên, có thể thấy rõ được một số điểm khác biệt
về mặt pháp lí giữa vật và tiền Dưới góc độ kinh tế thì việc sử dụng tiền được hiểu thông qua hành vi đầu tư tiền vào các loại hoạt động kinh doanh ( mua bán thiết bị, cho vay lấy lãi, góp vốn) hay tiêu dùng nhưng dưới góc độ luật dân sự thì các hành vi hay tiêu dùng đó lại phải được hiểu là các hành vi thực hiện quyền định đoạt tiền (chuyển giao quyền sở hữu tiền cho chủ thể khác) chứ không phải là quyền sử dụng Dưới góc
độ kinh tế, việc gửi tiền vào các tổ chức tín dụng ( gửi tiền vào tài khoản của mình trong ngân hàng ) thường được coi là hành vi cất giữ tiền, còn dưới góc độ luật dân sự thì việc gửi tiền vào ngân hàng hay các tổ chức tín dụng khác lại phải luôn được hiểu là hợp đồng cho vay tài sản Bởi
lẽ, sau khi gửi vào ngân hàng thì chính ngân hàng là chủ sở hữu khoản tiền đó và phải chịu rủi ro đối với khoản tiền đó Người gửi khi ấy chấm dứt quyền sở hữu đối với số tiên vừa gửi, trở thành bên cho vay, có quyền yêu cầu ngân hàng thanh toán khoản tiền tương đương theo thời hạn Tùy theo từng trường hợp cụ thể mà hợp đồng vay đó có thể có thời hạn hoặc không thời hạn, có thể có lãi hoặc không có lãi Nói cách khác, dưới góc độ kinh tế thì không có sự khác biệt cơ bản về bản chất của tiền mặt và tiền trong tài khoản nhưng dưới góc độ luật dân sự thì “tiền trong tài khoản” lại được hiểu là quyền tài sản (quyền yêu cầu ) – một loại tài sản khác chứ không phải là tiền Trong pháp luật dân sự, tiền có tính năng đặc biệt ( khác với vật) là khi chuyển giao tiền thì bao giờ cũng kèm theo chuyển giao quyền sở hữu, trừ trường hợp khi chuyển giao ta
Trang 8đặc định hóa gói tiền thông qua việc niêm phong gói tiền lại Chúng ta cũng nên phân biệt giữa nội tệ và ngoại tệ Dưới góc độ kinh tế, nội tệ hay ngoại tệ cũng đều là tiền cả Cách phân loại tiền thành nội tệ và ngoại tệ hoàn toàn phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận của một quốc gia: Một loại tiền được coi là nội tệ của quốc gia phát hành và là ngoại tệ đối với các quốc gia khác Nhưng hiện tại chưa có điều luật quy định là tiền
là nội tệ và ngoại tệ hoặc ngoại tệ là loại tài sản hạn chế lưu thông Có quan điểm cho rằng ngoại tệ không phải là tiền bởi lẽ ngoại tệ không bao giờ là công cụ thanh toán đa năng Vậy ngoại tệ xếp vào đâu? Ngoại tệ không phải là vật vì không thể khai thác công dụng hữu ích từ chính tờ ngoại tệ được Ngoại tệ cũng không được coi là giấy tờ có giá bởi ta không xác định được ai là chủ thể nghĩa vụ trong đó Suy cho cùng xuất phát từ chính khái niệm hẹp về tài sản mà phát sinh ra một số vấn đề thực tế trong cuộc sống chưa giải quyết được
Tuy nhiên có quan điểm cho rằng các kim loại quý, đá quý như vàng, bạc, kim cương có giá trị tương ứng với tiền tại một thời điểm xác định
và có thể đưa vào giao lưu thay thế cho tiền nên cũng có thể coi đó là tiền Chính tại các kim loại quý,… đó chỉ có giá trị tương ứng với tiền tại một thời điểm xác định vì các kim loại quý, đá quý thường xuyên biến động theo thị trường nhưng cái pháp luật muốn hướng tới là những quy định có tính ổn định dài vì việc xác định tiền chỉ là tiền giấy (hiện tại ở Việt Nam) còn kim loại quý là vật có ý nghĩa quan trọng đối với các nghành luật khác Ví dụ như luật hình sự, khi vận dụng để xác định hành vi chiếm đoạt vẫn phải tách riêng tiền và các loại tài sản khác vì thời điểm chiếm đoạt có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định có hay không có tội phạm xảy ra Ví dụ, đối với hành vi trộm cắp mà đối tượng tác động là một chỉ vàng 9999 thì có thời điểm nó đủ yếu tố định lượng
để xác định tội danh, nhưng ở thời điểm khác lại không đủ điều kiện về định lượng
Giấy tờ có giá
Trang 9Giấy tờ có giá là lọai tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay, đặc biệt là trong ngân hàng và trong các tổ chức tín dụng khác Nhưng trong Bộ luật dân sự năm 2015 chỉ quy định nó là một loại tài sản mà không có quy định cụ thể về cách hiểu đối với giấy tờ có giá Vậy phải hiểu Giấy tờ có giá là như thế nào cho đúng với ý nghĩa là một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự? Theo thông tư 34/2013/TT-NHNN giấy tờ có giá được hiểu là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành với người mua giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác Giấy tờ có giá ngắn hạn được hiểu là giấy tờ có giá cờ thời hạn dưới 1 năm bao gồm: kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác Giấy tờ có giá dài hạn là giấy tờ có thời hạn 1 năm trở nên kể từ khi phát hành đến khi hết hạn bao gồm: trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác Giấy tờ có giá ghi danh là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ có ghi tên người sở hữu Giấy tờ có gía vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ giấy tờ có giá đó Theo nghĩa rộng, giấy tờ có giá nói chung được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định ( tổ chức hoặc cá nhân) xét trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác Tuy nhiên trong số giấy tờ minh chứng cho quyền tài sản đó, có một số giấy tờ đặc biệt có thể chuyển giao được, ai đánh mất nó là mất quyền mà ai có nó thì có quyền, thì những giấy tờ này mới được coi là giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân
sự Dưới góc độ pháp luật dân sự, những loại giấy tờ có giá ghi danh và cấm chuyển nhượng không được coi là giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản trong giao lưu dân sự bởi lẽ mất chúng không phải là mất tiền, chứng chỉ đơn giản là những loại giấy tờ có giá trị minh chứng cho quyền sử dụng, quyền yêu cầu, quyền sử dụng, quyền định đoạt hoặc quyến sở hữu nói chung mà thôi Chỉ những giấy tờ có giá không ghi danh có thể chuyển giao, cầm cố, thế chấp,và mất nó coi như mất tiền mới được coi là giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản theo quy
Trang 10định tại Điều 105 BLDS năm 2015 Qua đó có thể thấy được rằng: Giấy
tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự Vậy dưới góc độ pháp lý trong quan hệ pháp luật dân sự giấy tờ có giá có những đặc điểm nào ? Đặc điểm của giấy tờ có giá bao gồm :
Thứ nhất về mặt hình thức thì giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định
Thứ hai là nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tài sản, giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật ghi nhận và bảo hộ
Thứ ba là giấy tờ có giá có tính thanh khoản và là công cụ có thể chuyển nhượng với điều kiện chuyển nhượng toàn bộ, một lần, việc chuyển nhượng một phần giấy tờ có giá là vô hiệu
Ngoài ra còn có thể kể thêm một số đặc điểm khác như có tính thời hạn, tính có thể đưa ra yêu cầu, tính rủi ro
Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, hối phiếu, công tráikhác với tiền chỉ do cơ quan duy nhất là Ngân hàng nhà nước ban hành thì giấy tờ có giá có thể
do rất nhiều các cơ quan khác ban hành như Chính phủ, Kho bạc, các công ty cổ phần Nếu tiền luôn có mệnh giá nhất định thể hiện thước đo gía trị của những loại tài sản khác, luôn lưu hành không có thời hạn, không ghi danh thì giấy tờ có giá có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh giá, có thể có thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng, có thể ghi danh hoặc không ghi danh và việc thực hiện quyền định đoạt về
số phận thực tế đối với giấy tờ có giá không thể xác định bằng những đơn vị đo lường thông dụng mà nó được xác định giá trị thông qua giá trị ghi trên loại giấy tờ đó ( ví dụ như hối phiếu nhận nợ, hối phiếu đòi
nợ, séc,…) nhưng có loại giấy tờ giá trị của nó có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị bề mặt của nó ( chẳng hạn như cổ phiếu)…và ta không thể khai thác công dụng hữu ích từ chính loại giấy tờ có giá đó Và một điều