MỤC LỤC MỤC LỤC 1 LỜI MỞ ĐẦU 2 I. WTO LÀ GÌ ? 3 II. ĐÁNH GIÁ VỀ THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC KHI GIA NHẬP WTO 4 1. Đánh giá chung 4 1.1 Thời cơ khi gia nhập WTO 4 1.2 Những thách thức khi gia nhập WTO 5 2. Thời cơ, thách thức của Việt Nam khi gia nhập WTO nhìn từ góc độ ngoại thương. 6 2.1 Khái niệm ngoại thương 6 2.2 Thực trạng về xuất nhập khẩu 7 a. Trước khi Việt Nam gia nhập WTO 7 b. Sau khi gia nhập WTO 8 III. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP 11 KẾT LUẬN 12 TÀI LIỆU THAM KHẢO 13 LỜI MỞ ĐẦU Ngày nay sự giao lưu giữa các nước trên Thế Giớí ngày càng mở rộng, theo xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế Thế Giới, đặc biệt là sự hình thành và phát triển của các tổ chức khu vực, liên khu vực, các công ty đa quốc gia trong mấy thập kỷ qua đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế Thế Giới. Tình hình này khiến cho các nước không thể chỉ bó hẹp trong hoạt động kinh tế của mình trong phạm vi quốc gia mà còn phải tham gia vào hoạt động kinh tế toàn cầu hoặc khu vực để tận dụng lợi thế so sánh của mình. Để hoà chung với nhịp độ phát triển của nền kinh tế Thế Giới, Việt Nam đã và đang thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại nhằm mở rộng quan hệ với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới ở trên nhiều lĩnh vực. Hơn nữa trước yêu cầu đổi mới kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ( XHCN ). Trong hoạt động kinh tế đối ngoại thì ngoại thương, đầu tư quốc tế, dịch vụ thu ngoại tệ là những hình thức kinh tế đối ngoại đã và đang được quan tâm chủ yếu trong giai đoạn hiện nay, trong đó hoạt động ngoại thương giữ vị trí trung tâm và có tác dụng to lớn: góp phần làm tăng sức mạnh tổng hợp, tăng tích luỹ của mỗi nước nhờ sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh giữa các quốc gia trong trao đổi quốc tế; là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; nâng cao trình độ công nghệ và cơ cấu nghành nghề trong nước…Điều đó được đánh dấu bằng sự kiện Việt Nam gia nhập vào Tổ chức thương mại Thế Giới (WTO) vào đầu năm 2007. Nhưng việc gia nhập vào tổ chức thương mại Thế Giới (WTO) cũng đặt ra nhiều cơ hội và thách thức. Bởi vậy việc nghiên cứu và tìm hiểu về thời cơ và thách thức khi Việt Nam gia nhập vào WTO dưới góc độ ngoại thương có ý nghĩa quan trọng trong thời đại ngày nay. Trong quá trình chuẩn bị không thể tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận được sự góp ý của cô để bài tiểu luận này thêm hoàn thiện. Em xin chân thành cảm ơn
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
II/ ĐÁNH GIÁ VỀ THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC KHI GIA NHẬP WTO 4
1 Đánh giá chung 4
1.2 Những thách thức khi gia nhập WTO 5
2 Thời cơ, thách thức của Việt Nam khi gia nhập WTO nhìn từ góc độ ngoại thương 6
2.1 Khái niệm ngoại thương 6
2.2 Thực trạng về xuất nhập khẩu 7
a Trước khi Việt Nam gia nhập WTO 7
b Sau khi gia nhập WTO 8
III/ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP 11
KẾT LUẬN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay sự giao lưu giữa các nước trên Thế Giớí ngày càng mở rộng, theo
xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế Thế Giới, đặc biệt là sự hình thành
và phát triển của các tổ chức khu vực, liên khu vực, các công ty đa quốc gia trong mấy thập kỷ qua đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế Thế Giới Tình hình này khiến cho các nước không thể chỉ bó hẹp trong hoạt động kinh tế của mình trong phạm vi quốc gia mà còn phải tham gia vào hoạt động kinh
tế toàn cầu hoặc khu vực để tận dụng lợi thế so sánh của mình
Để hoà chung với nhịp độ phát triển của nền kinh tế Thế Giới, Việt Nam đã
và đang thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại nhằm mở rộng quan hệ với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới ở trên nhiều lĩnh vực Hơn nữa trước yêu cầu đổi mới kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ( XHCN ) Trong hoạt động kinh tế đối ngoại thì ngoại thương, đầu tư quốc tế, dịch vụ thu ngoại tệ
là những hình thức kinh tế đối ngoại đã và đang được quan tâm chủ yếu trong giai đoạn hiện nay, trong đó hoạt động ngoại thương giữ vị trí trung tâm và có tác dụng
to lớn: góp phần làm tăng sức mạnh tổng hợp, tăng tích luỹ của mỗi nước nhờ sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh giữa các quốc gia trong trao đổi quốc tế; là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; nâng cao trình độ công nghệ và cơ cấu nghành nghề trong nước…Điều đó được đánh dấu bằng sự kiện Việt Nam gia nhập vào Tổ chức thương mại Thế Giới (WTO) vào đầu năm 2007
Nhưng việc gia nhập vào tổ chức thương mại Thế Giới (WTO) cũng đặt ra nhiều cơ hội và thách thức Bởi vậy việc nghiên cứu và tìm hiểu về thời cơ và thách thức khi Việt Nam gia nhập vào WTO dưới góc độ ngoại thương có ý nghĩa quan trọng trong thời đại ngày nay Trong quá trình chuẩn bị không thể tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được sự góp ý của cô để bài tiểu luận này thêm hoàn thiện Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3I/ WTO LÀ GÌ ?
Vào ngày 11/1/2007 Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của WTO,
đó là một sự kiện lớn và có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nước ta, Vậy WTO
là gì? WTO là tên viết tắt từ tiếng Anh của Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization) WTO được thành lập theo Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới ký tại Marrakesh (Marốc) ngày 15/4/1994 WTO chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1995 Đây là tổ chức quốc tế duy nhất đề ra những nguyên tắc thương mại giữa các quốc gia trên thế giới
WTO ra đời trên cơ sở kế tục tổ chức tiền thân là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (The General Agreement on Tariffs and Trade - GATT) Song WTO không phải là sự mở rộng đơn giản của GATT, WTO là một tổ chức thường trực, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, các hiệp định và thoả thuận của WTO chứa đựng một hệ thống quy định bao trùm toàn bộ các lĩnh vực kinh tế - thương mại quốc tế,
từ hàng hoá, dịch vụ đến quyền sở hữu trí tuệ
WTO là nơi đề ra những quy định để điều tiết hoạt động thương mại giữa
các nước thành viên với nhau theo các quy tắc thương mại trên quy mô toàn thế giới hoặc gần như toàn thế giới Tính đến thời điểm 31/12/2005, WTO có 148 thành viên, có tính chất của một hiệp ước, WTO là một tổ chức, có cơ cấu tổ chức hoạt động cụ thể
Về chức năng, WTO có hai chức năng chính vừa là diễn đàn đàm phán về thương mại và đồng thời là tổ chức giải quyết các tranh chấp về thương mại WTO
là một diễn đàn để các nước, về đàm phán: Có thể nói, WTO chính là một diễn đàn
để các quốc gia, các thành viên tiến hành thoả thuận, thương lượng, nhân nhượng nhau về các vấn đề thương mại, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, mỗi thành viên của WTO có một phiếu bầu giá trị ngang nhau ; về giải quyết tranh chấp, thông qua hội đồng giải quyết tranh chấp, WTO có quyền ban hành các biện pháp trừng phạt đối với các thành viên không theo luật lệ; về cơ cấu tổ chức cơ quan có quyền lực cao nhất là Hội nghị bộ trưởng, họp ít nhất là hai năm một lần Giữa hai kỳ hội nghị là Đại hội đồng gồm đại diện có thẩm quyền của tất cả các thành viên
Về hoạt động, WTO hoạt động dựa trên nguyên tắc cơ bản sau: Hoạt động của WTO nhằm mục đích loại bỏ hay giảm thiểu các rào cản thương mại để tiến tới
tự do thương mại Về quan hệ trao đổi thương mại không có sự phân biệt đối xử,
Trang 4đối xử bình đẳng đối với thương nhân, hàng hoá, dịch vụ của các bên tham gia thương mại Tạo môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng WTO không cho phép các hành vi cạnh tranh không lành mạnh như bán phá giá, trợ cấp cho hàng hoá, đồng thời cho phép các nước được áp dụng các biện pháp tự vệ khi nền sản xuất trong nước có nguy cơ bị tổn thương bởi hàng nhập khẩu
Bảo đảm thương mại ngày càng tự do, các quốc gia thành viên cam kết bãi
bỏ các hàng rào phi thuế quan và mở cửa thị trường Tạo môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng, toàn bộ thuế nhập khẩu được ràng buộc ở mức hiện hành và được cắt giảm dần theo lịch trình thoả thuận
II/ ĐÁNH GIÁ VỀ THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC KHI GIA NHẬP WTO
1
Đánh giá chung
Năm 1995 nước ta chính thức làm đơn xin gia nhập Tổ chức thương mại thế giới Nhận thức rõ “toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia”, ngày 07/11/2006, nước ta đã chính thức được kết nạp vào tổ chức này
1.1 Thời cơ khi gia nhập WTO
Một là: Được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước
thành viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụ mà các nước mở cửa theo các Nghị định thư gia nhập của các nước này, không bị phân biệt đối xử, tạo điều kiện cho hàng hoá xuất khẩu của ta thâm nhập thị trường các nước dễ dàng hơn, tạo điều kiện cho chúng ta mở rộng thị trường xuất khẩu và trong tương lai với sự lớn mạnh của doanh nghiệp và nền kinh tế nước ta mở rộng kinh doanh dịch vụ ra ngoài biên giới quốc gia Với một nền kinh tế có độ mở lớn như nền kinh tế nước ta, kim ngạch xuất khẩu luôn chiếm trên 60% GDP thì điều này là đặc biệt quan trọng, là yếu tố bảo đảm tăng trưởng
Hai là: Với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị
trường định hướng XHCN và thực hiện công khai minh bạch các thiết chế quản lý theo quy định của WTO, môi trường kinh doanh của nước ta ngày càng được cải thiện Đây là tiền đề rất quan trọng không những phát huy tiềm năng của các thành
Trang 5phần kinh tế trong nước mà còn thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, qua đó tiếp nhận vốn, công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, tạo ra công ăn việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động, thực hiện CNH - HĐH đất nước, bảo đảm tốc độ tăng trưởng và rút ngắn khoảng cách phát triển
Ba là: Gia nhập WTO chúng ta có được vị thế bình đẳng như các thành viên
khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội để đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, có điều kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp
Bốn là: Mặc dầu chủ trương của chúng ta là chủ động đổi mới, cải cách thể
chế kinh tế ở trong nước để phát huy nội lực và hội nhập với bên ngoài nhưng chính việc gia nhập WTO, hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của ta đồng bộ, có hiệu quả hơn
Năm là: Cùng với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử sau 20 năm đổi
mới, việc gia nhập WTO sẽ nâng cao vị thế của ta trên trường quốc tế, tạo điều kiện cho ta triển khai có hiệu quả đường lối đối ngoại theo phương châm:Việt Nam mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới vì hoà bình, hợp tác và phát triển
1.2 Những thách thức khi gia nhập WTO
Một là: Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên
bình diện rộng hơn, sâu hơn Đây là sự cạnh tranh giữa sản phẩm của ta với sản phẩm các nước, giữa doanh nghiệp nước ta với doanh nghiệp các nước, không chỉ trên thị trường thế giới và ngay trên thị trường nước ta do thuế nhập khẩu phải cắt giảm từ mức trung bình 17,4% hiện nay xuống mức trung bình 13,4% trong vòng 3 đến 5 năm tới, nhiều mặt hàng còn giảm mạnh hơn
Cạnh tranh không chỉ diễn ra ở cấp độ sản phẩm với sản phẩm, doanh nghiệp với doanh nghiệp Cạnh tranh còn diễn ra giữa nhà nước và nhà nước trong việc hoạch định chính sách quản lý và chiến lược phát triển nhằm phát huy nội lực
và thu hút đầu tư từ bên ngoài Chiến lược phát triển có phát huy được lợi thế so sánh hay không, có thể hiện được khả năng “phản ánh vượt trước” trong một thế giới biến đổi nhanh chóng hay không
Trang 6Chính sách quản lý có tạo được chi phí giao dịch xã hội thấp nhất cho sản xuất kinh doanh hay không, có tạo dựng được môi trường kinh doanh, đầu tư thông thoáng, thuận lợi hay không…Tổng hợp các yếu tố cạnh tranh trên đây sẽ tạo nên sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế, sức cạnh tranh quốc gia
Hai là: Trên thế giới sự “phân phối” lợi ích của toàn cầu hoá là không đồng
đều Những nước có nền kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn Ở mỗi quốc gia, sự “phân phối” lợi ích cũng không đồng đều Một bộ phận dân cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá; nguy cơ phá sản một
bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng lên, phân hoá giàu nghèo sẽ mạnh hơn Điều đó đòi hỏi phải có chính sách phúc lợi và an sinh xã hội đúng đắn; phải quán triệt và thực hiện thật tốt chủ trương của Đảng: “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”
Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới toàn cầu hoá, tính tuỳ
thuộc lẫn nhau giữa các nước sẽ tăng lên Sự biến động trên thị trường các nước sẽ tác động mạnh đến thị trường trong nước, đòi hỏi chúng ta phải có chính sách kinh
tế vĩ mô đúng đắn, có năng lực dự báo và phân tích tình hình, cơ chế quản lý phải tạo cơ sở để nền kinh tế có khả năng phản ứng tích cực, hạn chế được ảnh hưởng tiêu cực trước những biến động trên thị trường thế giới
Bốn là: Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những vấn đề mới trong việc bảo vệ
môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền
2 Thời cơ, thách thức của Việt Nam khi gia nhập
WTO nhìn từ góc độ ngoại thương.
2.1 Khái niệm ngoại thươn g
Ngoại thương hay còn gọi là thương mại quốc tế, là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ ( hàng hoá hữu hình và vô hình ) giữa các quốc gia
Nội dung của ngoại thương bao gồm: xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá hữu hình và vô hình, gia công tái sản xuất, xuất khẩu tại chỗ bán hàng và thu ngoại tệ trong nước) Trong đó, xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của hoạt động của ngoại thương ở các nước nói chung và các nước ta nói riêng
Trang 72.2 Thực trạng về xuất nhập khẩu
a Trước khi Việt Nam gia nhập WTO
Trước khi gia nhập WTO tình trạng xuất khẩu của nước ta đạt được một số thành tựu như: Năm 2005 kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 32,44 tỷ USD, xuất khẩu dịch vụ ước đạt 5,65 tỷ USD
Gạo là nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam (giữ vị trí thứ 2 Thế Giới), năm 2005, xuất khẩu được 5,2 triệu tấn, đạt kim ngạch 1,4 tỷ USD.Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, năm 2006, xuất khẩu gạo bình quân 259 USD/ tấn, đạt kim ngạch 1,38 tỷ USD
Sau gạo là cao su Năm 2005, cả nước xuất khẩu được 587.000 tấn, đạt kim ngạch 772 triệu USD Năm 2006, cao su luôn đứng đầu bảng về tốc độ tăng trưởng, xuất khẩu khoảng 822.000 tấn, Theo Bộ Thương mại, năm 2006 có 8 ngành hàng xuất khẩu vượt 1 tỷ USD, trong đó, xuất khẩu nông sản chiếm 3 là gạo, cao su và sản xuất đồ gỗ
Năm 2005, nước ta xuất khẩu được 803.647 tấn cà phê, với giá 789,2 USD/tấn, đạt kim ngạch 634,2 triệu USD Năm 2006, mới tính đến đầu tháng 12, xuất khẩu được 787.000 tấn, kim ngạch ước đạt 950 triệu USD Giá cà phê xuất khẩu trung bình từ đầu năm đến nay tăng trên 40% so với năm trước,( đứng vị trí thứ 2 trên Thế Giới) Hồ tiêu vẫn giữ ngôi vị số 1 thế giới Năm 2005, xuất khẩu 102.000 tấn, kim ngạch 15 triệu USD Năm 2006, xuất khẩu 120.000 tấn, thu về
200 triệu USD, cao nhất từ trước tới nay cả về số lượng và giá trị Hạt điều thì ngược lại Theo trung tâm thông tin Bộ Thương mại, ước tính xuất khẩu điều cả năm đạt khoảng 400 triệu USD, giảm 86 triệu USD so với năm 2005
Việt Nam đang phấn đấu cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Muốn đạt được điều này, kim ngạch xuất khẩu của chúng
ta phải đạt 100 tỷ USD mỗi năm và kim ngạch nhập khẩu cũng tương đương Hiện nay, xuất khẩu của chúng ta tăng tương đối nhanh, nhưng kim ngạch mới đạt 32,5
tỷ USD và hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu đang bị phân biệt đối xử, hàng hoá của nước ta khi xuất khẩu sang một số thị trường rộng lớn như thị trường Châu Âu, Mỹ hàng hoá chúng ta thường bị phân biệt đối xử, khó có thể đứng vững trên thị trường nước ngoài do chưa có thương hiệu, hàng rào thuế quan Năm 2005 vụ kiện
Trang 8bán phá giá của Mỹ đối với mặt hàng xuất khẩu cá tra và ca basa đã gây thiệt hại rất lớn cho xuất khẩu thuỷ sản ở nước ta
Nhập khẩu cũng là nhân tố quan trọng, góp phần đảm bảo cung cấp công nghệ, máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên, nhiên vật liệu phục vụ sản xuất trong nước
và sản xuất hàng xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu năm 2005 đạt 36,98 tỷ USD
Nhập khẩu dịch vụ cả năm ước đạt 5,3 tỷ USD Các mặt hàng nhập khẩu chiếm tỷ
trọng lớn trong kim ngạch nhập khẩu năm 2005 chủ yếu phục vụ sản xuất và đầu
tư, như thép thành phẩm, xăng dầu, chất dẻo nguyên liệu, máy móc thiết bị, linh kiện điện tử, vải, nguyên phụ liệu dệt may Nhập khẩu hầu hết các nguyên, nhiên vật liệu chủ yếu phục vụ cho sản xuất trong nước và sản xuất hàng xuất khẩu đều tăng cả về kim ngạch và số lượng nhập so với năm trước
b Sau khi gia nhập WTO
Gia nhập WTO, chúng ta sẽ được tiếp cận với thị trường rộng lớn, được bình đẳng tham gia thị trường toàn cầu để phát triển kinh tế, thương mại, thu hút đầu tư và hàng hóa, dịch vụ sẽ không bị phân biệt đối xử, sẽ dỡ bỏ được nhiều rào cản và được hưởng những ưu đãi dành cho thành viên WTO
Khi gia nhập WTO, những tranh chấp, bất đồng trong hoạt động kinh tế cũng được giải quyết tốt hơn Chẳng hạn nước X kiện và áp thuế chống bán phá giá với nước Y là thành viên WTO mà tổng thuế đó tương đương 100 triệu USD, khi WTO giải quyết tranh chấp, xác định là kiện chống phá giá không đúng sẽ yêu cầu nước X bỏ kiện Nếu nước X không bỏ, thì nước Y được quyền nâng thuế nhập khẩu các mặt hàng của nước X lên tương đương mức 100 triệu USD Cách giải quyết tranh chấp này nhanh hơn, thực tế hơn, dễ thực hiện hơn so với cách giải quyết thông qua trọng tài quốc tế và tòa án
Theo số liệu của Bộ Thương mại, tổng kim ngạch xuất khẩu quý I/2007 đạt 10,483 tỷ USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm 2006; Bước vào tháng 4/2007, giá trị xuất, nhập khẩu hàng hoá tiếp tục tăng cao so với tháng trước Theo số liệu của
Bộ Thương mại, kim ngạch xuất khẩu tháng 4 của cả nước đạt 3,95 tỷ USD, góp phần nâng tổng kim ngạch xuất khẩu của 4 tháng đầu năm 2007 đạt 14,515 tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2006
Trang 9Gạo: Ước xuất khẩu tháng 5/2007 đạt 450 ngàn tấn, kim ngạch đạt trên 140 triệu USD 5 tháng đầu năm 2007, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đạt trên 1,8 triệu tấn, kim ngạch đạt gần 580 triệu USD
Cà phê: Ước xuất khẩu cà phê tháng 5/2007 đạt khoảng 110 ngàn tấn, kim ngạch đạt 161 triệu USD, so cùng kỳ năm trước lượng tăng 24%, kim ngạch tăng 54% Xuất khẩu cà phê 5 tháng đầu năm 2007 ước đạt 776 ngàn tấn, kim ngạch 1,1
tỉ USD chiếm 42% tổng giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản, gấp gần 2 lần kim ngạch XK gạo và là mặt hàng nông sản đầu tiên có giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỉUSD
Cao su:Ước tháng 5/2007, xuất khẩu đạt 55 ngàn tấn, kim ngạch đạt 107 triệu USD, lượng cao su xuất khẩu 5 tháng năm 2007 đạt khoảng 236 ngàn tấn, kim ngạch đạt 433 triệuUSD, so cùng kỳ năm trước lượng chỉ tăng 1% trong khi kim ngạch tăng 8% Giá cao su xuất khẩu bình quân hiện ở mức 1.949USD/tấn, tăng 45USD/tấn so cùng kỳ năm trước, tăng 310 USD/tấn so với tháng Giêng năm nay Chè: Ước tháng 5/2007, xuất khẩu đạt 9 ngàn tấn, kim ngạch 8 triệu USD, đưa lượng chè xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2007 ước đạt 38 ngàn tấn, với kim ngạch gần
35 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước, lượng tăng 13% nhưng giá trị chỉ tăng 8% Hiện giá chè XK bình quân tháng này xấp xỉ cùng kỳ năm trước Do giá chè bình quân 5 tháng đầu năm 2007 giảm 4% so cùng kỳ năm trước nên kim ngạch xuất khẩu chè giảm
Hạt điều: Ước tháng 5/2007, xuất khẩu đạt 12 ngàn tấn, kim ngạch 50 triệu USD, đưa mức xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2007 ước đạt khoảng 48 ngàn tấn, kim ngạch đạt 197 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước lượng tăng 10,7%, giá trị tăng12,5%
Giá hạt điều xuất khẩu sau khi bị giảm mạnh từ mức 5.000 USD/tấn xuống 4.000 USD/tấn vào những tháng cuối năm 2005, đến nay về cơ bản vẫn ổn định ở mức 4.000 USD/tấn Thời gian gần đây giá điều xuất khẩu đã có xu hướng phục hồi, tăng 2% so với cùng kì năm trước, đạt mức 4.137 USD/tấn
Tiêu: Ước tháng 5/2007 cả nước xuất khẩu 12 ngàn tấn, kim ngạch đạt 35 triệu USD, đưa lượng tiêu xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2007 ước đạt 40 ngàn tấn, kim ngạch 110 triệu USD, so cùng kỳ năm trước lượng giảm 34%, kim ngạch tăng27% Giá hạt tiêu kỳ này cao gấp 2 lần so cùng kỳ năm trước
Trang 10Gỗ và sản phẩm gỗ: kim ngạch xuất khẩu tháng 5/2007 đạt 180 triệu USD, đưa kim ngạch xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2007 đạt 937 triệu USD tăng 21% so cùng kỳ năm trước
Xuất khẩu nhiều mặt hàng khác đã tăng mạnh như: hàng dệt may tăng 31,8%; sản phẩm nhựa tăng gần 49%; hàng điện tử tăng 27,5%; các sản phẩm gỗ, dây điện, thủ công mỹ nghệ đều tăng trên 24%; thuỷ sản tăng 20,5%… Sự gia tăng kim ngạch xuất khẩu những mặt hàng trên là do tăng cả lượng và giá, tuy nhiên tăng về lượng đóng góp phần đáng kể Trong 4 tháng đầu năm, đã có 4 mặt hàng có giá trị xuất khẩu xấp xỉ hoặc vượt ngưỡng 1 tỷ USD (trừ dầu thô), bao gồm: thuỷ sản (trên 1 tỷ USD); hàng dệt may (xấp xỉ 2,2 tỷ USD); giày dép (1,2 tỷ USD); và cà phê (947 triệu USD)
Những kết quả nêu trên được đánh giá là tích cực Việc giảm xuất khẩu dầu thô sẽ làm giảm sự lệ thuộc vào xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên này Trong khi
đó, sự gia tăng mạnh xuất khẩu những mặt hàng khác, nhất là của khu vực doanh nghiệp trong nước, là tín hiệu rất đáng mừng Xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp này sẽ đóng vai trò thay thế xuất khẩu dầu thô Các thị trường xuất khẩu truyền thống tiếp tục tăng mạnh và một số thị trường khác cũng tăng khá, đạt được kết quả trên một phần là do các doanh nghiệp Việt Nam đã tận dụng được cơ hội khi Việt Nam gia nhập WTO, với các rào cản về hạn ngạch bị dỡ bỏ, rào cản về thuế suất thuế nhập khẩu vào các nước được cắt giảm
Khi Việt Nam gia nhập WTO, những lợi ích tiềm năng như mở rộng thị trường cho những mặt hàng xuất khẩu truyền thống nông nghiệp và thủy sản, đồng thời chúng ta có cơ hội tiếp cận cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (về lâu dài) giúp tránh được những vụ kiện vô lý như cá tra- cá ba sa giữa Việt Nam và Mỹ
Song bên cạnh đó việc gia nhập vào WTO cũng đặt ra nhiều khó khăn và thách thức đối với việc xuất, nhập khẩu đối với Việt Nam: khi chung ta mở rộng thị trường, hàng hoá các nước sẽ tràn vào sẽ tạo ra một sự cạnh tranh giữa hàng nội địa và hàng ngoại nhập, hàng ngoại nhập lại rẻ hơn, mẫu mã đa dạng, trong khi đó hàng hoá trong nước có giá thành cao, chất lượng thấp nên khó cạnh tranh
Tổng kim ngạch nhập khẩu Quý I/2007 đạt 11,799 tỷ USD, tăng 33,6% so với cùng kỳ năm 2006 Kim ngạch nhập khẩu của tháng 4 tiếp tục tăng mạnh, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 4 tháng đầu năm lên 16,776 tỷ USD, tăng 32,8%