Bao gồm cả những nội dung như nguyên tắc phân cấp quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi và quan hệ giữa các cấp ngân sách nhà nước, xác định số bổ sung ngân sách, số bổ sung mục tiêu, tỷ lệ ph
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT
KHOA LUẬT K15504T
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Các khái niệm cơ bản và sự cần thiết trong việc phân phối nguồn thu, nhiệm vụ giữa các cấp ngân sách nhà nước 2
1.1 Thu ngân sách nhà nước 2
Khái niệm 2
Đặc điểm 2
Bao gồm 3
Phân loại các khoản thu ngân sách nhà nước 3
1.2 Chi ngân sách nhà nước 4
Khái niệm 4
Đặc điểm 4
Bao gồm 5
Phân loại các khoản chi ngân sách nhà nước 5
1.3 Phân phối thu, chi giữa các cấp ngân sách và sự cần thiết phải phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách 6
Khái niệm phân phối thu, chi giữa các cấp ngân sách 6
Sự cần thiết phải phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách 6
2 Nguyên tắc phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách 7
3 Nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương 9
3.1 Nguồn thu của ngân sách trung ương 9
3.2 Nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương 10
4 Nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương 11
4.1 Nguồn thu của ngân sách địa phương 11
4.2 Nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương 12
4.3 Phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp ở địa phương 12
5 Số bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu và tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa các cấp ngân sách 13
5.1 Số bổ sung cân đối ngân sách 13
5.2 Số bổ sung có mục tiêu 14
5.3 Tỷ lệ phần trăm (%) các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách 16
6 Thẩm quyền quyết định phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi giữua ngân sách các cấp 18
7 Bất cập và một số đề xuất 20
7.1 Mối quan hệ giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương 20
7.2 Tác động 23
Tác động tích cực 23
Hạn chế 24
7.3 Đề xuất 26
LỜI KẾT 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Nhà nước là một tổ chức quyền lực với nhiều hệ thống các cơ quan chức năng, giữ nhiệm vụ tổ chức và quản lý xã hội Để duy trì sự vận hành hệ thống các cơ quan này cũng như để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, nhà nước cần có nguồn lực về tài chính Tuy nhiên nhà nước lại không thể trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội Chính vì thế, hoạt động thu ngân sách nhà nước ra đời tạo nguồn thu cho nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu về nhiều mặt của xã hội, duy trì hoạt động của các cơ quan chức năng trên và nhằm thực hiện nhiệm vụ của nhà nước về tổ chức và quản lý xã hội Hoạt động chi ngân sách nhà nước nhằm sử dụng các khoản thu vào những mục đích được pháp luật quy định
Trong bài tiểu luận này, nhóm tìm hiểu và nghiên cứu nội dung chính về việc phân phối nguồn thu và nhiệm vụ chi của các cấp ngân sách nhà nước Bao gồm cả những nội dung như nguyên tắc phân cấp quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi và quan hệ giữa các cấp ngân sách nhà nước, xác định số bổ sung ngân sách, số bổ sung mục tiêu, tỷ lệ phần trăm % phân chia các khoản thu giữa các cấp ngân sách, v.v
Mọi ý kiến đóng góp đều được nhóm ghi nhận và tiếp thu
Trang 41 Các khái niệm cơ bản và sự cần thiết trong việc phân phối nguồn thu, nhiệm vụ giữa các cấp ngân sách nhà nước
1.1 Thu ngân sách nhà nước
Khái niệm
Như đã biết, nhà nước để duy trì hoạt động hệ thống các cơ quan chức năng cũng như để thực hiện nhiệm vụ tổ chức và quản lý xã hội thì cần có nguồn lực về tài chính nhất định Nhưng nhà nước không tự tạo ra của cải vật chất cho xã hội một cách trực tiếp, nên hoạt động thu ngân sách nhà nước ra đời như một công cụ tập trung lượng tiền cần thiết vào tay nhà nước nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng trên Có thể nói, thu ngân sách nhà nước tạo ra tiền đề kinh tế đảm bảo sự vận hành các chức năng của nhà nước Hoạt động thu ngân sách giúp nhà nước đáp ứng được các nhu cầu chi tiêu của mình
Thu ngân sách nhà nước là huy động một bộ phận giá trị sản phẩm xã hội theo quy định của pháp luật để hình thành nên quỹ ngân sách nhà nước.1
Đặc điểm
Về cơ bản, hoạt động thu ngân sách nhà nước có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, hoạt động thu ngân sách nhà nước được thực hiện trong khuôn khổ của
pháp luật Nhà nước ban hành văn bản pháp luật quy định về hình thức và nội dung thu Trên thực tiễn, nếu phát sinh các khoản thu mới cần bổ sung thì các khoản thu này đều phải được luật hóa, được quy định trong nội dung thu Việc thực hiện hoạt động thu ngân sách nhà nước cũng phải được nhà nước tuân thủ theo các quy định đã được ban hành, không được tự ý đặt ra những khoản thu trái luật
Thứ hai, hoạt động thu ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với thực trạng kinh tế và
mức độ phát triển của nền kinh tế Giá trị sản phẩm hàng hóa và dịch vụ là cở sở chủ yếu của hoạt động thu ngân sách nhà nước Các chỉ số tăng trưởng kinh tế (GDP, GNP hay PCI) là những chỉ tiêu chủ yếu chi phối tỷ lệ giá trị sản phẩm xã hội mà nhà nước có thể tập trung vào quỹ ngân sách nhà nước Đây là những yếu tố quan trọng
1 Chủ biên Nguyễn Văn Tuyến, Giáo trình Luật Ngân sách nhà nước, NXB Công An Nhân Dân, Hà Nội, 2017,
trang 76
Trang 5quyết định mức động viên vào ngân sách nhà nước thông qua hoạt động thu ngân sách.2
Thứ ba, hoạt động thu ngân sách nhà nước được thực hiện thông qua hai cơ chế pháp
lý: bắt buộc và tự nguyện Trong đó, bắt buộc là cơ chế chủ yếu, tập trung vào các khoản thu về thuế, phí, lệ phí Cơ chế tự nguyện được áp dụng trong những trường hợp huy động viện trợ nước ngoài hay các khoản đóng góp tự nguyện trong nước
Thứ tư, hoạt động thu ngân sách nhà nước gồm hai nhóm chủ thể: (1) chủ thể đại
diện nhà nước thực hiện quyền thu; và (2) chủ thể đóng góp khoản thu Nhóm (1) bao gồm các cơ quan như cơ quan tài chính, cơ quan thuế, hải quan, kho bạc nhà nước và các cơ quan khác được Bộ Tài chính ủy quyền Nhóm (2) bao gồm các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ bắt buộc nộp các khoản thu luật định và tự nguyện đóng góp cho nhà nước
Bao gồm
Căn cứ Khoản 1, Điều 5, Luật Ngân Sách Nhà Nước (“Luật NSNN”) năm 2015, thu ngân sách nhà nước bao gồm:
Toàn bộ các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí;
Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;
Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính Phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính Phủ Việt Nam và chính quyền địa phương;
Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Quy định này được hướng dẫn cụ thể tại Điều 2 NĐ 163/2016/NĐ-CP
Phân loại các khoản thu ngân sách nhà nước
2 Chủ biên Nguyễn Văn Tuyến, Giáo trình Luật Ngân sách nhà nước, NXB Công An Nhân Dân, Hà Nội, 2017,
trang 77
Trang 6Căn cứ vào nội dung kinh tế, có thể phân thành các khoản thu mang tính chất thuế và các khoản thu không mang tính chất thuế Ví dụ các khoản thu mang tính chất thuế: thuế, phí, lệ phí Ví dụ các khoản thu không mang tính chất thuế: thu viện trợ từ Chính Phủ các nước, thu từ đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân
Căn cứ vào tính chất pháp lý, có thể phân thành các khoản thu bắt buộc và các khoản thu tự nguyện Ví dụ các khoản thu bắt buộc: thuế, phí, lệ phí Ví dụ các khoản thu tự nguyện: thu viện trợ từ Chính Phủ các nước, thu từ đóng góp tự nguyện của tổ chức,
1.2 Chi ngân sách nhà nước
Khái niệm
Nếu hoạt động thu ngân sách nhà nước là huy động giá trị tiền tệ hình thành nên quỹ ngân sách thì chi ngân sách nhà nước là chu trình phân phối, sử dụng các nguồn vốn
đã thu được từ quỹ ngân sách
Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối nguồn tiền tệ nằm trong quỹ ngân sách nhà nước để chi vào những mục đích khác nhau.3 Hay có thể nói, chi ngân sách nhà nước là phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước theo dự toán ngân sách nhằm duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước và đảm bảo nhà nước thực hiện các chức năng của mình
Đặc điểm
3 Chủ biên Nguyễn Văn Tuyến, Giáo trình Luật Ngân sách nhà nước, NXB Công An Nhân Dân, Hà Nội, 2017,
trang 82
Trang 7Về cơ bản, chi ngân sách nhà nước có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, chi ngân sách nhà nước được tiến hành trên cơ sở pháp luật và theo kế
hoạch chi, phân bổ ngân sách do cơ quan quyền lực nhà nước quyết định Theo Điều
19 và Điều 30 Luật NSNN năm 2015, mọi hoạt động chi ngân sách phải được thực hiện trên cơ sở quyết định của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp
Thứ hai, chi ngân sách nhà nước đáp ứng nhu cầu tài chính cho sự vận hành bộ máy
nhà nước Điều này được thể hiện tại Khoản 3 Điều 36 và Khoản 2 Điều 38 Luật NSNN năm 2015, mục tiêu chi cho hoạt động của bộ máy nhà nước đảm bảo thực hiện các chức năng của nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng
Thứ ba, hoạt động chi ngân sách nhà nước được thực hiện giữa hai chủ thể: (1) chủ
thể đại diện nhà nước quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước; và (2) chủ thể sử dụng ngân sách Nhóm (1) gồm Bộ Tài chính, Sở Tài chính - vật giá tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Phòng tài chính quận, huyện, xã thuộc tỉnh, thành phố, Sở Kế hoạch đầu tư và kho bạc nhà nước Nhóm (2) gồm ba loại: các
cơ quan nhà nước; các đơn vị sự nghiệp; các chủ dự án
Bao gồm
Căn cứ Khoản 2, Điều 5, Luật NSNN năm 2015, chi ngân sách nhà nước bao gồm:
Chi đầu tư phát triền;
Chi dự trữ quốc gia;
Chi thường xuyên;
Chi trả nợ lãi;
Chi viện trợ;
Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
Quy định này được hướng dẫn cụ thể tại Điều 3 NĐ 163/2016/NĐ-CP
Phân loại các khoản chi ngân sách nhà nước
Trang 8Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động có sử dụng kinh phí ngân sách, có thể phân thành: chi phát triển, chi quản lý hành chính, chi quốc phòng, an ninh, chi cho giáo dục, y tế
Căn cứ mức độ định kỳ, có thể phân thành các khoản chi thường xuyên và chi không thường xuyên Ví dụ cho các khoản chi thường xuyên: chi cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao Ví dụ cho các khoản chi không thường xuyên: chi cho đầu tư phát triển kinh tế, chi trả nợ gốc và các khoản tiền do Chính Phủ vay, chi viện trợ
1.3 Phân phối thu, chi giữa các cấp ngân sách và sự cần thiết phải phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách
Khái niệm phân phối nguôn thu, chi giữa các cấp ngân sách
Phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách nhà nước là việc xác định mỗi cấp ngân sách được tập trung những nguồn thu và mức độ tập trung ngân sách đồng thời đề ra nhiệm vụ chi cụ thể cho từng cấp ngân sách Theo quy định của Luật NSNN, Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền phân phối thu, chi giữa các cấp ngân sách Trong đó, Quốc hội quyết định khoản thu và nhiệm vụ chi cho ngân sách trung ương Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định nguồn thu và nhiệm vụ chi cho các địa phương thuộc địa bàn tỉnh
Sự cần thiết phải phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách
Việc phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách là cần thiết Việc phân phối nguồn thu cụ thể giúp định lượng được các khoản thu của từng địa phương trên địa bàn chính quyền địa phương quản lý Qua đó, dự đoán được khả năng tự đáp ứng nhu cầu chi tiêu của cấp ngân sách và phần còn thiếu mà ngân sách cấp trên phải
bổ sung cho cấp dưới nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả của cấp ngân sách
đó hoặc nếu thừa thì bổ sung cho các địa phương khác
Đề ra nhiệm vụ chi cụ thể cho các cấp ngân sách cũng góp phần giúp cho việc quản
lý và kiểm soát chi tiêu của cấp ngân sách đó để lên kế hoạch thu ngân sách kịp thời, hợp lý
Trang 9Nếu không quy định nhiệm vụ chi có thể dẫn đến không tận dụng được số bội thu ở một số địa phương để điều động cho các địa phương khác đang trong tình trạng bội chi Kéo theo là việc ngân sách trung ương phải gánh chịu các khoản trợ cấp, chi bổ sung cho địa phương bị bội chi, trong khi một số địa phương khác lại tồn quỹ ngân sách
Ngược lại, nếu không phân bổ nguồn thu sẽ dẫn đến tình trạng các địa phương bị hạn chế tiềm năng và thế mạnh trong việc huy động các nguồn tài chính phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương Bên cạnh đó, nếu không phân định nguồn thu, các địa phương sẽ ỷ lại vào sự ban phát của ngân sách trung ương, nảy sinh tiêu cực, chi tùy tiện trong quá trình sử dụng ngân sách được trung ương cấp
để địa phương hoàn thành nhiệm vụ được giao
2 Nguyên tắc phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách
Nguyên tắc phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách giữa các cấp ngân sách được xem như kim chỉ nam giúp định hướng trong quá trình phân phối nguồn thu và phân giao nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách Hoạt động thu ngân sách và thực hiện nhiệm vụ chi cần thiết được tuân thủ theo những nguyên tắc trên Được quy định tại Điều 9 Luật NSNN năm 2015, có thể tóm lại thành ba nguyên tắc chính như sau:
Nguyên tắc thứ nhất: ngân sách trung trương, ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương
được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể (Khoản 1) Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo Ngân sách địa phương bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ chi được giao
Cụ thể, theo Khoản 2 và Khoản 3, ngân sách trung ương phải đảm bảo thực hiện các nhiệm
vụ chi mang tính quốc gia, hỗ trợ các địa phương chưa cân đối được ngân sách và hỗ trợ các địa phương theo Khoản 3 Điều 40 Luật NSNN năm 2015 Ngân sách địa phương phải đảm bảo địa phương có thể chủ động thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh
Nói đến vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, có thể thấy ngân sách trung ương được
sử dụng nhằm điều tiết kinh tế vĩ mô.4 Ngân sách trung ương thỏa mãn và đáp ứng nhu cầu chi tiêu để thực hiện những nhiệm vụ quan trọng của quốc gia như an ninh, quốc phòng,
4 Chủ biên Nguyễn Văn Tuyến, Giáo trình Luật Ngân sách nhà nước, NXB Công An Nhân Dân, Hà Nội, 2017,
trang 91
Trang 10ngoại giao cũng như thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn quốc Bên cạnh đó, vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương thể hiện qua việc ngân sách trung ương
hỗ trợ cho các địa phương chưa cân đối được ngân sách hay các địa phương khác theo quy định của pháp luật, giúp cho ngân sách địa phương thực hiện các chính sách, chế độ mới do cấp trên giao, hỗ trợ thực hiện các chương trình, các dự án lớn, đặc biệt quan trọng đối với địa phương, ví dụ như hỗ trợ địa phương khắc phục thiên tai, bão lũ, thảm họa tại địa phương
Ngân sách địa phương không giữu vai trò chủ đạo, chỉ đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chi được giao một cách chủ động Việc phân phối nguồn thu và nhiệm vụ chi cho ngân sách địa phương cũng hết sức quan trọng Chỉ khi được phân định nguồn thu cụ thể, ngân sách địa phương mới có thể kịp thời lên kế hoạch hình thành quỹ ngân sách của địa phương mình, làm tiền đề cho việc bố trí kinh phí ngân sách địa phương để thực hiện các nhiệm vụ được giao
Nguyên tắc thứ hai, nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm
thực hiện (Khoản 4) Các cấp ngân sách tự đảm trách nhiệm vụ chi của cấp mình Khi nhiệm vụ chi của các cấp ngân sách thay đổi do có phát sinh thêm chi thì cấp đó tự bố trí nguồn kinh phí để thực hiện Khoản 4 quy định rõ: việc ban hành chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có giải pháp đảm bảo nguồn tài chính, phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp, việc quyết định đầu tư các chương trình, dự án sử dụng vốn ngân sách phải đảm bảo trong phạm vi ngân sách theo phân cấp
Nguyên tắc trên còn thể hiện rõ ở chỗ, trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình thì phải phân bổ và giao dự toán cho cơ quan cấp dưới để thực hiện (Khoản 5) Hiểu là, nhiệm vụ chi của ngân sách cấp nào thì sử dụng kinh phí của cấp đó
Khoản 9 cũng quy định rõ, không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác và không được dùng ngân sách của địa phương này để chi cho nhiệm vụ của địa phương khác Tuy nhiên, quy định cũng có ba trường hợp ngoại lệ Cụ thể tại các Điểm
a, b, và c của Khoản 9
Nguyên tắc thứ ba, quan hệ vật chất giữa ngân sách cấp trên và ngân sách cấp dưới thể
hiện qua việc phân chia một số khoản thu và việc điều tiết, bổ sung kinh phí Khoản 6 quy định, việc phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách và số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới đảm bảo công bằng,
Trang 11phát triển cân đối giữa các vùng, địa phương Tỷ lệ phần trăm (%) trên do Quốc hội quyết định
Việc bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới gồm hai trường hợp: bổ sung cân đối thu, chi ngân sách; và bổ sung có mục tiêu Bổ sung cân đối thu, chi ngân sách được áp dụng khi ngân sách cấp dưới đã huy động hết nguồn lực mà vẫn không đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình Trong khi đó, bổ sung có mục tiêu nhằm hỗ trợ ngân sách cấp dưới thực hiện những mục tiêu nhất định
Trong thời ký ổn định ngân sách, nếu nguồn thu ở các địa phương tăng thì địa phương được sử dụng phần tăng thêm hàng năm để phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn, trừ trường hợp tăng thu do có dự án mới đi vào hoạt động trong thời kỳ ổn định ngân sách thì phần tăng thu phải nộp cho ngân sách cấp trên Trường hợp ngân sách địa phương hụt so với dự toán do nguyên nhân khách quan, sau khi đã thực hiện điều chỉnh giảm một số khoản chi và sử dụng các nguồn lực tài chính hợp pháp khác của địa phương và chưa đảm bảo được cân đối ngân sách thì ngân sách cấp trên hỗ trợ ngân sách cấp dưới theo khả năng của ngân sách cấp trên Sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách địa phương nhằm giảm dần số bổ sung từ ngân sách cấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) điều tiết số thu nộp về ngân sách cấp trên
3 Nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương
3.1 Nguồn thu của ngân sách trung ương
Được quy định chi tiết và cụ thể tại Điều 35 Luật NSNN năm 2015, Điều 13 Nghị định 163/2016/NĐ-CP và Điều 3 Thông tư 342/2016/TT-BTC, các khoản thu của ngân sách trung ương bao gồm hai nội dung lớn: các khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100% (Khoản 1); và các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương (Khoản 2)
Xuất phát từ vai trò chủ đạo như đã đề cập ở trên, ngân sách trung ương năm giữ các nguồn thu quan trọng nhất để đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chi quan trọng của quốc gia
Các khoản thu trung ương được hưởng toàn bộ bao gồm: những khoản thu từ các loại thuế gián thu có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu ; từ các khoản thuế và thu từ dầu khí; từ tiền thu hồi vốn của ngân sách trung ương, thu thập từ vốn góp của nhà
Trang 12nước, thu từ tiền viện trợ không hoàn lại của chính phủ Việt Nam; các khoản phí, lệ phí do cơ quan nhà nước trung ương (trừ lệ phí trước bạ) và một số khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Các khoản thu trung ương và địa phương được hưởng theo tỉ lệ phần trăm gồm các loại thuế gián thu không liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu; một vài loại thuế trực thu như thuế thu nhập doanh nghiệp (trừ thuế thu nhâp doanh nghiệp từ hoạt động dầu khí), thuế thu nhập cá nhân
3.2 Nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương
Được quy định tại Điều 36 Luật NSNN năm 2015, Điều 14 Nghị định
163/2016/NĐ-CP và Điều 4 Thông tư 342/2016/TT-BTC
Tuân thủ theo nguyên tắc ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, những nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương mang tính quan trọng, quốc gia Các khoản chi của ngân sách trung ương bao gồm: chi đầu tư phát triển, chi dự trữ quốc gia, chi thường xuyên, chi trả nợ lãi do các khoản vay của chính phủ, chi viện trợ, chi cho vay, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính của trung ương, chi chuyển nguồn của ngân sách trung ương cho năm sau và chi bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương
Chi bổ sung cho ngân sách địa phương đã có sự mở rộng hơn so với khoản chi này theo Luật ngân sách năm 1996.5 Trước khi Luật NSNN năm 2002 có hiệu lực, ngân sách cấp trên chỉ được phép chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới để đảm bảo cân đối thu, chi Từ khi Luật NSNN năm 2002 có hiệu lực, loại chi bổ sung cân đối thu, chi này vẫn còn được duy trì giúp chính quyền cấp dưới cân đối nguồn ngân sách để thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh được giao Ngoài ra, pháp luật còn cho phép ngân sách cấp trên chi bổ sung các mục tiêu cho ngân sách cấp dưới để hỗ trợ một phần cho những cấp ngân sách có khó khăn khi phát sinh các nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết mà sau khi đã tận dụng mọi khả năng về kinh phí của cấp mình (như
sử dụng dự phòng, dự trữ…) mà vẫn chưa đáp ứng được Xu hướng mở rộng nguồn
5 Khoản 5 Điều 29 Luật NSNN năm 1996 quy định nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương bao gồm: “Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.”
Trang 13chi bổ sung cho ngân sách địa phương vẫn tiếp tục được thừa nhận theo Luật NSNN năm 2015.6
4 Nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương
4.1 Nguồn thu của ngân sách địa phương
Được quy định tại Điều 37 Luật NSNN, Điều 15 Nghị định 163/2016/NĐ-CP, Điều 5 Thông tư 342/2016/TT-BTC Khác với nguồn thu của ngân sách trung ương, nguồn thu của ngân sách địa phương chia thành bốn nhóm: (1) các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%; (2) các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; (3) thu bổ sung cân đối ngân sách,
bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương; và (4) thu chuyển nguồn của ngân sách địa phương từ năm trước chuyển sang
Xuất phát từ nguyên tắc đã được đề cập, ngân sách địa phương được phân cấp bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ chi được giao
Các khoản thu mà ngân sách địa phương được hưởng toàn bộ bao gồm: các loại thuế
và các khoản tiền có liên quan đến đất và tài nguyên (trừ thuế tài nguyên thu từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí); lệ phí môn bài, lệ phí trước bạ và lệ phí do địa phương thu; thu từ hoạt động xổ số kiến thiết, thu hồi vốn của ngân sách địa phương, thu từ viện trợ trực tiếp cho địa phương, từ đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân, thu kết dư ngân sách địa phương, thu chuyển nguồn của ngân sách địa phương
từ năm trước chuyển sang
Trước đây, Luật NSNN năm 2002 quy định thêm một nguồn thu cho địa phương: khoản thu từ huy động vốn của các tổ chức, cá nhân để đáp ứng nhu cầu đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi cấp tỉnh đảm nhiệm nhưng ngân sách cấp tỉnh không đủ kinh phí để thi công công trình Đây là công trình thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5 năm đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định nhưng vượt quá khả năng cân đối của ngân sách cấp tỉnh trong năm dự toán Khoản thu này ngân sách địa phương được hưởng 100%, vì thế, tách riêng khoản thu trên
6 Chủ biên Nguyễn Văn Tuyến, Giáo trình Luật Ngân sách nhà nước, NXB Công An Nhân Dân, Hà Nội, 2017,
trang 99
Trang 14thành một nguồn thu độc lập của ngân sách địa phương là không cần thiết và hiện Luật NSNN năm 2015 không coi đây là nguồn thu độc lập của ngân sách địa phương
4.2 Nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương
Được quy định tại Điều 38 Luật NSNN, Điều 16 Nghị định 163/2016/NĐ-CP, Điều 6 Thông tư 342/2016/TT-BTC So với Luật NSNN năm 2002, Luật NSNN năm 2015
đã quy định thêm hai nhiệm vụ chi mới: chi bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp dưới; và chi hỗ trợ thực hiện một số nhiệm vụ được quy định tại Điểm a, b, c Khoản 9 Điều 9 Luật NSNN
So với nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương, nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương tương đối nhẹ hơn về khoản mục chi và nội dung của từng khoản mục Ví
dụ, địa phương không có nhiệm vụ chi viện trợ và chi cho vay như trung ương
4.3 Phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp ở địa phương
Theo quy định tại Điều 39 Luật NSNN năm 2015, căn cứ vào nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương theo quy định tại Điều 37 và Điều 38 Luật NSNN năm
2015, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh sẽ quyết định phân cấp cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp ở địa phương theo các nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, việc phân bổ nguồn thu và nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách địa phương
phải phù hợp với phân cấp nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh đối với từng lĩnh vực và đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư, trình độ quản lý của từng vùng, từng địa phương
Thứ hai, ngân sách xã, thị trấn được phân chia nguồn thu từ các khoản: thuế sử dụng
đất phi nông nghiệp; thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh; thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình; lệ phí trước bạ nhà, đất
Ở nguyên tắc này, nếu như Luật NSNN năm 2002 quy định “việc phân chia nguồn thu cho ngân sách cấp xã phải thỏa mãn tỷ lệ tối thiểu mà pháp luật quy định” thì Luật NSNN năm 2015 đã thay đổi theo hướng không ấn định tỷ lệ tối thiểu phân chia nguồn thu cho ngân sách cấp xã mà chỉ ra cụ thể các nguồn thu mà cấp chính quyền này được hưởng theo tỷ lệ phần trăm (%) do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định
Trang 15Thứ ba, ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã không có nhiệm vụ chi nghiên cứu
khoa học và công nghệ
Thứ tư, trong phân cấp nhiệm vụ chi đối với thị xã, thành phố thuộc tỉnh phải có
nhiệm vụ chi đầu tư xây dựng các trường phổ thông công lập các cấp, điện chiếu sáng, cấp thoát nước, giao thông đô thị, vệ sinh đô thị và các công trình phúc lợi công cộng khác
Thứ năm, căn cứ vào tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia do Chính
phủ giao và các nguồn thu ngân sách địa phương hưởng 100%, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp ở địa phương
5 Số bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu và tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa các cấp ngân sách
5.1 Số bổ sung cân đối ngân sách
Theo Khoản 20 Điều 4 Luật NSNN năm 2015: “Số bổ sung cân đối ngân sách là khoản ngân sách cấp trên bổ sung cho ngân sách cấp dưới nhằm đảm bảo cho chính quyền cấp dưới cân đối ngân sách cấp mình để thực hiện nhiệm vụ được giao.”
Khoản 1 Điều 40 Luật NSNN năm 2015 quy định rõ, ngân sách địa phương được sử dụng nguồn thu được hưởng 100%, số thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia và số bổ sung cân đối ngân sách cấp trên để cân đối thu, chi ngân sách của cấp mình, bảo đảm các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh được giao
Bổ sung cân đối ngân sách được áp dụng khi ngân sách cấp dưới đã huy động hết nguồn lực mà vẫn không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu của mình.7 Hằng năm, căn cứu khả năng cân đối của ngân sách cấp trên, cơ quan có thẩm quyền quyết định tăng thêm số bổ sung cân đối ngân sách từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới so với năm đầu thời kỳ ổn định
Về quyết định mức bổ sung cân đối ngân sách, theo Điểm c, Khoản 5 Điều 19 Luật NSNN năm 2015, Quốc hội quyết định mức bổ sung cân đối ngân sách từ ngân sách trung ương cho ngân sách từng địa phương Bên cạnh đó, Hội đồng nhân dân các cấp
7 Chủ biên Nguyễn Văn Tuyến, Giáo trình Luật Ngân sách nhà nước, NXB Công An Nhân Dân, Hà Nội, 2017,
trang 94