BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI LÊ THỊ THU HÀ THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆ
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
LÊ THỊ THU HÀ
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE TẠI CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ METHADONE ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI NĂM 2012 – 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHÓA 2011 – 2015
Người hướng dẫn khoa học:
ThS Văn Đình Hòa
HÀ NỘI – 2015
Trang 2i
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành
nhất tới ThS.Văn Đình Hòa - Cán bộ giảng dạy Bộ môn Dịch tễ - Viện Đào tạo
Y học Dự phòng và Y tế Công cộng, thầy đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cặn
kẽ cho em trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận này
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới BS Bùi Nguyên Hồng – bác sĩ điều trị
tại cơ sở điều trị Methadone quận Đống Đa đã tạo điều kiện thuận lợi để em có
thể hoàn thành khóa luận này
Em xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị nhân viên của cơ sở điều trị
Methadone quận Đống Đa đã giúp đỡ em nhiều trong quá trình hoàn thành khóa
luận
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Đại học
Trường Đại học Y Hà Nội đã tạo môi trường thuận lợi cho em trong suốt 4 năm
học tập dưới mái trường
Em xin chân thành cảm ơn Thầy Cô trong bộ môn Dịch tễ, Viện Đào tạo
Y học dự phòng và Y tế công cộng - Đại học Y Hà Nội đã đóng góp nhiều ý kiến
quý báu cho em trong quá trình làm khóa luận
Và cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, người
thân và bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên, khích lệ và hỗ trợ để em không
ngừng học tập và phấn đấu trưởng thành như ngày hôm nay
Hà Nội, ngày 26 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Lê Thị Thu Hà
Trang 3 Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Hà Nội
Phòng Quản lý Đào tạo Đại học, phòng Công tác học sinh - sinh viên Trường Đại học Y Hà Nội
Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng - Trường Đại học Y Hà Nội
Bộ môn Dịch tễ Trường Đại học Y Hà Nội
Hội đồng chấm Khóa luận tốt nghiệp năm 2014 - 2015
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, cách
xử lý, phân tích số liệu là hoàn toàn trung thực và khách quan Các kết quả nghiên cứu này chưa được công bố ở trong bất kỳ tài liệu nào
Hà Nội, ngày 26 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Lê Thị Thu Hà
Trang 4iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AIDS Acquired Immunodeficiency Syndrome
((Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người)
(Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người) HIV/AIDS Acquired Immune Deficiency Syndrom
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người) MMT Methadone maintenance treatment
Trang 5iv
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Các chất gây nghiện và các biện pháp điều trị nghiện CDTP 3
1.1.1 Các chất dạng thuốc phiện 3
1.1.2 Các chất gây nghiện khác 3
1.1.3 Hậu quả của việc sử dụng Ma túy và CDTP 3
1.1.4 Các biện pháp điều trị nghiện CDTP 4
1.2 Chương trình điều nghiện thay thế CDTP bằng Methadone 5
1.2.1 Khái niệm về Methadone 5
1.2.2 Hiệu quả của Methadone 5
1.2.3 Mục đích điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng Methadone 6
1.2.4 Nguyên tắc chung trong điều trị Methadone 6
1.3 Tình hình điều trị Methadone trên thế giới và Việt Nam 7
1.3.1 Trên thế giới 7
1.3.2 Tại Việt Nam 9
1.4 Tuân thủ điều trị và thực trạng tuân thủ điều trị 10
1.4.1 Theo dõi tuân thủ điều trị 10
1.4.2 Nhỡ liều khi điều trị Methadone 11
1.4.3 Thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân 11
Trang 6v
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 14
2.2 Đối tượng nghiên cứu: 15
2.3 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 15
2.4 Phương pháp nghiên cứu 16
2.5 Biến số và chỉ số nghiên cứu 17
Thực trạng tuân thủ điều trị của đối tượng nghiên cứu 18
2.6 Xử lý và phân tích số liệu 19
2.7 Sai số và cách khắc phục sai số 19
2.8 Hạn chế của nghiên cứu 20
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu 20
CHƯƠNG III KẾT QUẢ 21
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 21
3.2 Thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân điều trị tại cơ sở điều trị Methadone Đống Đa, Hà Nội năm 2012-2014 27
3.3 Một số yếu tố liên qua tới tình trạng không tuân thủ điều trị của bệnh nhân tại cơ sở điều trị Methadone Đống Đa, Hà Nội năm 2012-2014 29
CHƯƠNG IV BÀN LUẬN 32
4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 32
4.2 Thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân điều trị tại cơ sở điều trị Methadone Đống Đa, Hà Nội năm 2012-2014 36
Trang 7vi
4.3 Một số yếu tố liên quan tới tình trạng không tuân thủ điều trị của bệnh nhân tại cơ sở điều trị Methadone Đống Đa, Hà Nội năm 2012-2014 38 KẾT LUẬN 40 KHUYẾN NGHỊ 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Đặc trưng nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 21
Bảng 3.2: Tuổi lần đầu sử dụng các chất gây nghiện 24
Bảng 3.3: Số người sử dụng nhiều loại chất gây nghiện 24
Bảng 3.4: Tiền sử quá liều của bệnh nhân 25
Bảng 3.5: Tiền sử dùng chung bơm kim tiêm 25
Bảng 3.6: Tiền sử quan hệ tình dục không an toàn 26
Bảng 3.7: Tiền sử mắc các bệnh của đối tượng nghiên cứu 26
Bảng 3.8: Liều Methadone của bệnh nhân khi điều trị ở giai đoạn khởi liều và duy trì 27
Bảng 3.9: Một số yếu tố liên quan tới tình trạng không tuân thủ điều trị của đối tượng nghiên cứu 29
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1: Số bệnh nhân vào điều trị theo các năm 23
Biểu đồ 3.2: Loại ma túy khác mà đối tượng nghiên cứu sử dụng 23
Biểu đồ 3.3: Số bệnh nhân bỏ liều 28
Biểu đồ 3.4: Số bệnh nhân bỏ liều ở giai đoạn khởi liều và giai đoạn duy trì 28
Trang 91
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo báo cáo tình hình ma túy trên thế giới năm 2014 của cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm liên hợp quốc (UNODC) cho thấy tỷ lệ sử dụng ma túy trên toàn cầu vẫn tiếp diễn với khoảng 243 triệu người – tương đương với 5% dân số thế giới Trong đó số người lệ thuộc vào ma túy chiếm khoảng 27 triệu người, xấp xỉ 0,6% dân số trưởng thành trên toàn cầu [1] Do đó, các biện pháp điều trị nghiện chất có ý nghĩa quan trọng đối với người nghiện nói riêng
và xã hội nói chung Nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đều cho thấy điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện (CDTP) bằng Methadone
là một phương pháp “tiêu chuẩn vàng” đối với người nghiện heroin, giúp người nghiện dần từ bỏ heroin, phục hồi dần sức khỏe và các chức năng xã hội [2], [3]
Và tới nay, có hơn 70 nước triển khai chương trình Methadone với khoảng 580.000 bệnh nhân tại Châu Âu và hơn 200.000 bệnh nhân tại Châu Á Tại Hoa Kỳ: đang điều trị cho 260.000 người trên tổng số gần một triệu người nghiện ma túy tại 1.200 cơ sở điều trị Methadone Hồng Kông có 20 cơ sở điều trị Methadone đang hoạt động với tổng số người đăng ký tham gia chương trình Methadone là 8.159 [4], [5] Tại Việt Nam, tính đến tháng 10/2014, cả nước có
122 cơ sở điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone cho hơn 21.000 người sử dụng heroin tại 38 tỉnh thành phố [1] Có thể nói rằng, chương trình điều trị Methadone là chương trình điều trị hiệu quả nhất trong các biện pháp điều trị nghiện các CDTP [4]
Và tuân thủ điều trị là yếu tố đảm bảo cho sự thành công của chương trình bởi thực tế cho thấy, khi bệnh nhân không tuân thủ, không đến phòng khám sẽ có nguy cơ tái sử dụng lại CDTP, tham gia vào các hoạt động phạm pháp Do đó, để
Trang 102
đảm bảo chất lượng và nâng cao được các lợi ích do chương trình đem lại tuân thủ điều trị đang là một thách thức lớn, nhất là khi chương trình điều trị Methadone đang ngày càng mở rộng với mục tiêu sẽ là điều trị 80.000 bệnh nhân vào cuối năm 2015 Đáp ứng nhu cầu này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu:
“Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị thay thế nghiện CDTP bằng Methadone tại cơ sở điều trị Methadone Đống
Đa, Hà Nội năm 2012 – 2014 ” với 2 mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân tại cơ sở điều trị
Methadone Đống Đa, Hà Nội năm 2012-2014
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị của bệnh
nhân đang điều trị tại cơ sở điều trị Methadone Đống Đa, Hà Nội
2012-2014
Trang 113
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Các chất gây nghiện và các biện pháp điều trị nghiện CDTP
1.1.1 Các chất dạng thuốc phiện
Chất dạng thuốc phiện (opiats, opioid) là tên gọi chung cho nhiều chất như thuốc phiện, morphine, heroin, methadone, buprenorphine, codein, pethidine, fentanyle, heroin, là những chất gây nghiện mạnh (gây khoái cảm mạnh); có biểu hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tương tự ở não [4]
1.1.2 Các chất gây nghiện khác
– Các chất gây êm dịu:
+ Thuốc bình thản, giải lo âu, gây ngủ (Benzodiazepiness, Barbituriques) + Rượu
+ Các chất dạng thuốc phiện: heroin, morphine,
1.1.3 Hậu quả của việc sử dụng Ma túy và CDTP
– Đối với bản thân: bệnh tật, mất việc làm, biến đổi nhân cách, vi phạm pháp luật, nguy cơ tử vong
– Đối với gia đình: kinh tế sa sút, sức khỏe người thân bị ảnh hưởng, tan vỡ hạnh phúc gia đình
– Đối với xã hội: gây rối, cướp của, giết người, lừa đảo…lây truyền các bệnh như HIV, viêm gan B, C, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng [6]
Trang 12– Tư vấn
Các tư vấn viên hỗ trợ và giúp đỡ người bệnh có được sự thay đổi cần thiết trong cuộc sống để trở thành người không lệ thuộc vào ma túy Liệu pháp này thường sẽ có hiệu quả hơn nếu kết hợp với một liệu pháp điều trị khác như Methadone
– Các nhóm tự giúp đỡ
Các nhóm tự giúp đỡ hỗ trợ và chỉ dẫn cho những người cai được ma túy phục hồi và hiệu quả cao nhất là lồng ghép với các dịch vụ khác
– Dịch vụ cai nghiện tập trung
Hiện nay có nhiều loại hình điều trị cai nghiện tập trung dài hạn và liệu pháp cộng đồng trị liệu Các dịch vụ này giúp những người có lối sống không lành mạnh trong thời gian dài có thể từ bỏ được heroin Thời gian tiến hành các hình thức điều trị này khác nhau từ 6 tuần tới 2-3 năm và thường phối hợp với các đợt tư vấn trọng điểm hoặc các hình thức điều trị khác
– Điều trị duy trì chống tái nghiện bằng thuốc đối kháng Naltrexone
Naltrexone làm mất tác dụng của các chất dạng thuốc phiện bao gồm cả heroin, vì vậy nếu sử dụng heroin trong khi đang dùng Naltrexone hàng ngày sẽ
Trang 135
không có cảm giác phê Hầu hết các nghiên cứu về Naltrexone đều không thấy
có kết quả lâu dài nhưng nó vẫn được kê đơn tại Việt Nam và có thể có tác dụng với một số ít người bệnh nếu phối hợp cùng với tư vấn và hỗ trợ tích cực của gia đình người bệnh
– Điều trị thay thế nghiện CDTP bằng thuốc (Methadone, Buprenorphin) Không còn các triệu chứng cai (vã thuốc); giảm hoặc mất hẳn các cơn thèm nhớ ma túy; ngăn chặn tác động phê/sướng nếu vẫn tiếp tục sử dụng heroin Thời gian điều trị càng dài thì hiệu quả điều trị càng cao [7]
1.2 Chương trình điều nghiện thay thế CDTP bằng Methadone
1.2.1 Khái niệm về Methadone
Methadone là một CDTP tổng hợp, có tác dụng dược lý tương tự như các CDTP khác, nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và không gây khoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán huỷ dài (trung bình là 24 giờ) nên chỉ cần sử dụng 1 lần trong 1 ngày là đủ để không xuất hiện hội chứng cai Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liều khi điều trị lâu dài [4]
1.2.2 Hiệu quả của Methadone
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy điều trị duy trì bằng thuốc Methadone có thể giúp người nghiện heroin:
– Dừng sử dụng hoặc giảm đáng kể lượng heroin sử dụng
– Dừng tiêm chích heroin (hoặc giảm đáng kể tần suất tiêm chích và giảm nguy cơ lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường máu và nguy cơ quá liều) – Cải thiện tình trạng sức khỏe, dinh dưỡng
– Dừng các hành vi phạm pháp liên quan đến việc kiếm tiền mua heroin – Cải thiện và ổn định quan hệ với gia đình
– Có công việc ổn định hơn và học tập tốt hơn
Trang 146
Điều đó có nghĩa là khi tham gia chương trình Methadone, bệnh nhân sẽ có
cơ hội tiếp cận với nhiều dịch vụ y tế và xã hội khác Do đó, sẽ ít phải chịu áp lực trong cuộc sống, giảm nguy cơ sử dụng và cuối cùng không dùng heroin nữa Điều trị Methadone chỉ áp dụng với người nghiện CDTP (heroin) mà không áp dụng với những trường hợp nghiện rượu, thuốc lá, benzodiazepine, amphetamine [7]
1.2.3 Mục đích điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng Methadone
Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, việc điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone nhằm 3 mục đích chủ yếu sau:
– Giảm tác hại do nghiện các CDTP gây ra như: lây nhiễm HIV, viêm gan
B, C do sử dụng chung dụng cụ tiêm chích, tử vong do sử dụng quá liều các CDTP và hoạt động tội phạm
– Giảm sử dụng các CDTP bất hợp pháp, giảm tỷ lệ tiêm chích CDTP – Cải thiện sức khoẻ và giúp người nghiện duy trì việc làm, ổn định cuộc sống lâu dài, tăng sức sản xuất của xã hội
1.2.4 Nguyên tắc chung trong điều trị Methadone
– Người bệnh phải tự nguyện tham gia điều trị
– Liều Methadone phải phù hợp với từng người bệnh dựa trên nguyên tắc bắt đầu với liều thấp, tăng từ từ và duy trì ở liều đạt hiệu quả
– Điều trị bằng thuốc Methadone là điều trị duy trì lâu dài, thời gian điều trị phụ thuộc vào từng người bệnh nhưng không dưới 1 năm
– Điều trị bằng thuốc Methadone cần phải kết hợp với tư vấn, hỗ trợ về tâm
lý xã hội, các dịch vụ chăm sóc và điều trị y tế khác khi có chỉ định để điều trị đạt hiệu quả cao
– Người đứng đầu cơ sở điều trị chỉ cung cấp thông tin về người bệnh cho các cơ quan có thẩm quyền khi có yêu cầu hoặc cho người khác khi được sự đồng ý của người bệnh [4]
Trang 151965, nghiên cứu về MMT của Dole/Nyswander được công bố trên Báo Hội liên hiệp Y khoa Mỹ Đến năm 1995, “Các điều lệ sử dụng Methadone” của IOM đã được ban hành Năm 1997, NIH tuyên bố đồng thuận hướng tới sự phát triển của MMT [8]
Và cho đến nay, chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone đã được triển khai tại rất nhiều nước trên thế giới như: Úc, Mỹ, Hà Lan, Ấn Độ, Thái Lan, Myanmar, Trung Quốc, Hồng Kông
Có hơn 70 nước triển khai chương trình Methadone với khoảng 580.000 bệnh nhân tại Châu Âu và hơn 200.000 bệnh nhân tại Châu Á [9]
Tại Hoa Kỳ: đang điều trị cho 260.000 người trên tổng số gần một triệu người nghiện ma túy tại 1.200 cơ sở điều trị Methadone Hiệu quả của chương trình điều trị Methadone tại Hoa Kỳ là rất lớn, chi phí cho 1 bệnh nhân trong 1 ngày là dưới 1 USD, chương trình Methadone giúp bệnh nhân cải thiện đáng kể
về tình hình sức khỏe, giảm tội phạm, giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV [5]
Ở Tây Ban Nha điều trị cai nghiện bằng Methadone cho lệ thuộc heroin, kết hợp với việc phân phối các dụng cụ tiêm chích vô trùng và tiếp cận với điều trị AIDS, đã dẫn đến một sự thay đổi đáng kể Vào năm 2010, có 60% người tiêm chích ma túy điều trị duy trì bằng Methadone (tăng từ 21% năm 1996), số người mới nhiễm HIV sử dụng ma túy đã giảm từ 6.200 vào đầu năm 1990 xuống còn
Trang 168
690 ca nhiễm mới trong năm 2010 [10]
Hồng Kông có 20 cơ sở điều trị Methadone đang hoạt động Tổng số người đăng ký tham gia chương trình Methadone là 8.159 Chương trình đã điều trị cho khoảng 60% số người nghiện các chất dạng thuốc phiện Chương trình tại Hồng Kông đã giúp 70% bệnh nhân tham gia điều trị có việc làm Tỷ lệ tội phạm giảm
từ 26% xuống còn 4% Tỷ lệ tiêm chích ma túy giảm rõ rệt từ 40% trước điều trị xuống còn dưới 10% sau điều trị [11]
Thái Lan đưa chương trình ĐT nghiện các CDTP bằng Methadone hoạt động từ năm 1979 Hiện có khoảng 4.000- 10.000 người đang được ĐT Thái Lan là một nước đã không quan tâm mở rộng chương trình Methadone và do đó,
tỷ lệ nhiễm HIV vẫn tiếp tục tăng cao trong nhóm NCMT Theo ước tính, hiện Thái Lan có khoảng 57.000 người NCMT và 50% trong số đó nhiễm HIV
Tại Trung Quốc: tính đến thời điểm năm 2008, Chính phủ Trung Quốc đã cho phép triển khai trên 500 cơ sở và điều trị cho trên 60.000 bệnh nhân [12] Kết quả từ một nghiên cứu thu được trên 1.153 bệnh nhân tại 8 phòng khám Methadone ở Trung Quốc rất khả quan( Pang 2007): tỷ lệ tiêm chích ma túy đã giảm từ 69,2% xuống còn 8,9%; số lượt tiêm chích từ 90 lần/tháng giảm xuống 2 lần/tháng; hành vi tội phạm giảm từ 20,7% xuống còn 3,8% và chỉ có 8 trường hợp huyết thanh chuyển sang HIV(+) trong vòng 12 tháng Số liệu này cho thấy việc sử dụng ma túy, hành vi tội phạm và hành vi tình dục không an toàn giảm rõ rệt [22]
Malaysia có chương trình được bắt đầu từ tháng 10 năm 2005 và hiện có khoảng hơn 4.000 bệnh nhân tham gia điều trị
Indonesia bắt đầu triển khai chương trình Methadone từ năm 2003 và hiện
có khoảng 1.300 người đang ĐT tại 7 phòng khám tại Jakarta [8]
Trang 179
1.3.2 Tại Việt Nam
Trong những năm qua, mặc dù Việt Nam đã tiến hành nhiều biện pháp cai nghiện như điều trị cắt cơn giải độc, điều trị duy trì, chống tái nghiện, nhưng hiệu quả công tác cai nghiện tại các trung tâm còn rất hạn chế, tỷ lệ tái nghiện cao Sau khi nghiên cứu kết quả điều trị nghiện thay thế các CDTP bằng Methadone của các nước trên thế giới với kết quả thử nghiệm liệu pháp Methadone tại Viện Sức Khỏe Tâm thần trung ương Bệnh viện Bạch Mai (nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam) [13] Năm 2008, chính phủ đã chỉ đạo BYT triển khai đề án thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại TP Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh Kết quả cho thấy giảm rõ rệt hành vi sử dụng CDTP bất hợp pháp : tỷ lệ sử dụng ma túy từ 100% xuống còn 18% sau 6 tháng điều trị và còn 9% sau 2 năm ĐT [14] Kết quả đánh giá bước đầu bệnh nhân duy trì điều trị methadone tại Hải Phòng cũng cho kết quả khả quan Tái hòa nhập với cuộc sống cộng đồng, bệnh nhân tìm được việc làm 15,3% Bệnh nhân giảm mức độ phụ thuộc vào ma túy và duy trì liều điều trị MMT sau 9 tháng là 90% [15]
Tính đến tháng 10/2014, cả nước có 122 cơ sở điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone cho hơn 21.000 người sử dụng heroin tại 38 tỉnh thành phố Chính phủ Việt Nam hiện đang ở thời điểm giữa hai giai đoạn của chương trình mở rộng điều trị Methadone năm 2011 – 2015 Giai đoạn một đến hết 2012: mở thêm 55 cơ sở điều trị Methadone tại 11 tỉnh thành mới,
có tỉ lệ nhiễm HIV do tiêm chích ma túy cao nhất Giai đoạn hai, từ 2013 đến
2015, tăng tổng số cơ sở điều trị Methadone lên 245 cơ sở với khả năng điều trị cho 80.000 bệnh nhân tại 30 tỉnh thành trên cả nước với nguyên tắc các quận huyện có trên 250 người nghiện các CDTP phải triển khai cơ sở điều trị
Trang 1810
Methadone Ngoài các cơ sở điều trị có đầy đủ cán bộ và cơ sở vật chất, chính phủ Việt Nam cũng phê duyệt kế hoạch mở 500 điểm cấp phát thuốc tại các trung tâm y tế xã tại khu vực nông thôn và vùng sâu vùng xa của 30 tỉnh nói trên [9], [11]
Báo cáo sơ kết 6 tháng 2014 và phương hướng năm 2015 của Cục phòng chống HIV/AIDS cho biết hiệu quả điều trị Methadone có những bước vượt bậc Giảm sử dụng ma túy sau 24 tháng điều trị từ 100% xuống còn 15,8% Giảm tỷ
lệ sử dụng chung BKT trong tiêm chích ma túy từ 21% xuống còn 2% sau 24 tháng điều trị Sau 24 tháng chỉ phát hiện 1 trường hợp HIV (+)/gần 1000 người điều trị Chất lượng cuộc sống BN được cải thiện rõ rệt sau 24 tháng đặc biệt về thể chất (58-70 điểm) và tâm thần (68-75 điểm) Tỷ lệ nguy cơ trầm cảm giảm
từ 80% xuống còn 15% sau 12 tháng điều trị [16]
1.4 Tuân thủ điều trị và thực trạng tuân thủ điều trị
1.4.1 Theo dõi tuân thủ điều trị
Tuân thủ điều trị là khả năng bệnh nhân uống các thuốc được kê đơn không quên liều nào với điều kiện: đúng thuốc, đúng liều, đúng thời gian, đúng cách
Người bệnh phải uống thuốc Methadone hàng ngày dưới sự giám sát của cán bộ y tế để đảm bảo điều trị hiệu quả và an toàn Các biện pháp hỗ trợ tuân thủ điều trị bao gồm:
– Tư vấn cho người bệnh và gia đình
– Hướng dẫn người bệnh và gia đình biết cách xử trí các tác dụng không mong muốn và các diễn biến bất thường trong quá trình điều trị
– Phối hợp với gia đình, cộng đồng và các tổ chức xã hội động viên và giúp
đỡ người bệnh tuân thủ điều trị [12]
Trang 1911
1.4.2 Nhỡ liều khi điều trị Methadone
Nếu người bệnh bỏ uống Methadone, khi quay lại điều trị thì xử trí như sau: – Bỏ uống thuốc 1-3 ngày: Không thay đổi liều Methadone đang điều trị – Bỏ uống thuốc 4-5 ngày: Đánh giá lại độ dung nạp thuốc của người bệnh Cho nửa liều Methadone đang điều trị đồng thời khám lại và cho y lệnh điều trị thích hợp
– Bỏ uống thuốc từ 6 ngày trở lên: Khởi liều Methadone lại từ đầu [12]
1.4.3 Thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân
Trên thế giới
Nghiên cứu của Shwartz Robert P và cộng sự tại Baltimore, Maryland năm
2008, với 46 bệnh nhân (18 duy trì điều trị và 28 ra khỏi chương trình) được phỏng vấn sâu [17]
Nghiên cứu của Steven Alex và cộng sự năm 2008 tại Anh về ước tính và giải thích khách hàng sớm ra khỏi chương trình điều trị nghiện ma túy, số liệu thu thập từ hồ sơ tại 3 khu vực điều trị với cỡ mẫu là 2.624 khách hàng, nghiên cứu định tính với 53 khách hàng, 16 nhân viên y tế của 10 cơ sở Kết quả nghiên cứu cho thấy có 16,7% số khách hàng rời khỏi chương trình trước khi điều trị, 7,8% khách hàng rời khỏi chương trình trong vòng 30 ngày đầu Những người sớm ra khỏi chương trình là những người trẻ tuổi, người không có nhà, người hiện tại không TCMT Tuổi và tình trạng tiêm chích là 2 yếu tố liên quan nhất đến việc rời khỏi chương trình điều trị [18]
Nghiên cứu của Cao X.B và cộng sự tiến hành trên 8 phòng khám MMT nằm tại tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam, Quảng Tây, Quý Châu và Chiết Giang vào tháng 6/2010 Trong số 539 bệnh nhân MMT, 110 (20,4%) bệnh nhân đã duy trì điều trị trong khi có 429 (79,6%) bệnh nhân gián đoạn điều trị Trong số 429
Trang 2012
bệnh nhân, có 84,1% (361/429) có 2-4 đợt điều trị; 15,9% (68/429) có 5 hoặc nhiều hơn 5 đợt trong suốt quá trình điều trị Số bệnh nhân điều trị duy trì sống chung với các thành viên trong gia đình hoặc bạn bè chiếm 88,2% (97/110) trong khi tỷ lệ đó ở bệnh nhân gián đoạn điều trị chỉ là 78,5% (337/429) Xét nghiệm nước tiểu âm tính ở bệnh nhân duy trì điều trị 67,3% (74/100) trong khi
tỷ lệ đó ở bệnh nhân gián đoạn điều trị chỉ có 38,2% (164/429) Những bệnh nhân duy trì điều trị sống trong vòng bán kính 5km quanh phòng khám MMT là 72,7% (80/110) cao hơn so với nhóm bệnh nhân gián đoạn điều trị (61,3%, 263/429) [19]
Tại Việt Nam
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn và cộng sự tại Hà Nội năm 2004, với
68 người NMT là nam giới trên 18 tuổi Kết quả cho thấy số bệnh nhân theo đuổi điều trị >6 tháng chiếm 75%, gián đoạn điều trị trước 6 tháng chiếm 25% do không tuân thủ điều trị buộc phải thôi cho ra viện Lý do bị công an bắt có 5/68,
4 người do có tiền án trước khi vào điều trị và 1 người vẫn buôn bán ma túy trong quá trình điều trị [14]
Hoàng Đình Cảnh và cộng sự năm 2009, đánh giá kết quả sau 6 tháng triển khai đề án tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ bệnh nhân
bỏ trị là 5% Liều điều trị trung bình trong giai đoạn duy trì là 104mg/ngày Liều duy trì cao nhất là 300mg/ngày và thấp nhất là 15mg/ngày Thời gian dò liều trung bình của bệnh nhân là 47 ngày [20]
Từ kết quả triển khai thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại TP Hà Nội của TS Lê Nhân Tuấn – trung tâm Phòng chống AIDS Hà Nội (2011) cho thấy: Tỷ lệ bệnh nhân ngừng điều trị rất thấp (5%) và tỷ lệ lượt bệnh nhân bỏ liều cũng rất thấp: bỏ 1 liều là 0,23%, bỏ >2 liều
là 0,036% [21]
Trang 2113
Theo nghiên cứu trên 1.000 bệnh nhân ở 06 CSĐT tại TP Hải Phòng và TP.HCM tỷ lệ tuân thủ điều trị là 92,5% trong 6 tháng điều trị đầu tiên, chỉ số này sau 12 tháng và 24 tháng lần lượt là 93,2% và 96% Tỷ lệ bỏ điều trị giảm dần theo thời gian và thấp hơn nhiều so với các quốc gia trên thế giới Nhận định này được minh chứng bằng kết quả nghiên cứu của Guohong tại Jiangsu, tỷ lệ tuân thủ điều trị sau 1 năm trong các bệnh nhân đang điều trị Methadone là 72,2% [11]
Trang 2214
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đống Đa là quận nằm trung tâm thủ đô Hà Nội Dân số: 398.798 dân, mật
độ dân cư cao Diện tích: 9,96km2; có 21 phường và có 1 ga Hà Nội Đây là nơi
có nhiều điểm nóng về sử dụng ma túy và mại dâm Tính đến tháng 12 năm
2014, lũy tích nhiễm HIV trên toàn quận là 2.620 người nhiễm, số mắc chiếm 100% các phường, lũy tích bệnh nhân AIDS 1.013 người, tổng số người nghiện lên tới 2.277 người
Địa điểm nghiên cứu: Cơ sở điều trị Methadone Đống Đa – Hà Nội
Triển khai điều trị Methadone từ 2010 Tính đến tháng 12/2014 số bệnh nhân đang điều trị tại cơ sở điều trị Methadone Đống Đa, Hà Nội
Thời gian nghiên cứu: tháng 3-5/2015
Trang 2315
2.2 Đối tượng nghiên cứu:
Bệnh nhân điều trị Methadone tại cơ sở điều trị Methadone Đống Đa từ 1/2012-12/2014
Tiêu chuẩn chọn lựa
– Được chuẩn đoán lệ thuộc vào các chất dạng thuốc phiện
– Đối tượng ưu tiên:
+ Người nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng đường tiêm chích
+ Người tích cực tham gia các hoạt động phòng chống HIV/AIDS
+ Người có cam kết hỗ trợ của gia đình
Tiêu chuẩn loại trừ các đối tượng:
Bệnh nhân không đủ điều kiện sức khỏe và năng lực pháp lý
2.3 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Cỡ mẫu:
Chọn tất cả các bệnh nhân đang điều trị tại cơ sở điều trị Methadone Đống
Đa, Hà Nội từ 1/ 2012–12/2014 Cỡ mẫu là 311 bệnh nhân
Trang 2416
Cách chọn mẫu:
Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện Tất
cả các bệnh nhân đang điều trị tại cơ sở điều trị Methadone quận Đống Đa, Hà Nội từ 1/2012-12/2014
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
– Thực trạng tuân thủ điều trị Methadone: khởi liều, liều duy trì, bỏ liều – Một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị Methadone: giới, tuổi, nghề nghiệp trước điều trị, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, tiền sử sử dụng chất gây nghiện, tiền sử quá liều, tiền sử quan hệ tình dục không an toàn, tiền sử các bệnh cơ thể, tiền sử bệnh tâm thần, có tiền án, tiền sự
Kỹ thuật thu thập: Hồi cứu hồ sơ bệnh án, hồ sơ tư vấn theo bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn (Có phụ lục kèm theo)
Trang 2517
2.5 Biến số và chỉ số nghiên cứu
STT Biến số/ Chỉ số Định nghĩa/ Cách đo lường Phương pháp
thu thập
Mục tiêu 1
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
1 Giới tính Tỷ lệ % Nam, Nữ/ tổng số BN Hồi cứu bệnh
án
2 Tuổi Tỷ lệ % BN theo nhóm tuổi( 20-29
tuổi, 30-39 tuổi, 40-49 tuổi, >50 tuổi)
Dân tộc Tỷ lệ % BN theo dân tộc kinh(
khác;không có thông tin)/ tổng số
BN
Hồi cứu bệnh
án
5
Tình trạng hôn nhân Tỷ lệ % BN chưa kết hôn( đã kết
hôn; ly thân/ly dị/góa; không có thông tin)/ tổng số BN
loại chất gây nghiện
Là tuổi lần đầu BN sử dụng chất gây nghiện( CDTP, ATS, cần sa, ; benzodiazepine/ phenolbarbital;
BN sử dụng chất gây nghiện
Hồi cứu bệnh
án
Trang 2614 Tiền sử các bệnh cơ thể Phân loại theo câu hỏi có/ không/
không có thông tin
Hồi cứu bệnh
án
15 Tiền sử các bệnh tâm
thần
Phân loại theo câu hỏi có/ không/
không có thông tin
Hồi cứu bệnh
án
16 Tiền sử có tiền án Phân loại theo câu hỏi có/ không/
không có thông tin
Hồi cứu bệnh
án
17 Có tiền sử gia đình Phân loại theo câu hỏi có/ không/
không có thông tin
Hồi cứu bệnh
án
Thực trạng tuân thủ điều trị của đối tượng nghiên cứu
18 Liều khởi liều Là số mg methadone BN bắt đầu
uống khi tham gia điều trị
Hồi cứu bệnh
án
19
Liều duy trì Là số mg methadone BN uống có
hiệu quả tối ưu duy trì trong ít nhất 4 tuần
Hồi cứu bệnh
án
20 Bỏ liều Phân loại theo câu hỏi có/ không/
không có thông tin
Trang 2719
2 Nhóm tuổi Mối liên quan giữa TTĐT và nhóm tuổi
3 Nghề nghiệp trước khi
điều trị
Mối liên quan giữa TTĐT và nghề nghiệp trước khi vào điều trị
4 Tình trạng hôn nhân Mối liên quan giữa TTĐT và tình trạng hôn nhân
5 Trình độ học vấn Mối liên quan giữa TTĐT và trình độ học vấn
bơm kim tiêm
Mối liên quan giữa TTĐT và tiền sử sử dụng chung bơm kim tiêm
9 Tiền sử quan hệ tình dục
không an toàn
Mối liên quan giữa TTĐT và tiền sử quan hệ tình dục không an toàn
10 Tiền sử các bệnh cơ thể Mối liên quan giữa TTĐT và tiền sử các bệnh cơ thể
11 Tiền sử bệnh tâm thần Mối liên quan giữa TTĐT và tiền sử bệnh tâm thần
12 Tiền sử có tiền án Mối liên quan giữa TTĐT và tiền sử có tiền án
13 Tiền sử gia đình Mối liên quan giữa TTĐT và tiền sử gia đình
2.7 Sai số và cách khắc phục sai số
Sai số:
– Sai số trong quá trình nhập liệu và xử lý số liệu
– Bệnh án và các thông tin tư vấn không đầy đủ nên có thể ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng
Trang 2820
Cách khắc phục: Tập huấn cho cán bộ thu thập để hiểu rõ về quy trình thu thập số liệu và cách tra cứu hồ sơ bệnh án
2.8 Hạn chế của nghiên cứu
Đây là nghiên cứu tiến hành trên 1 CSĐT nên chưa mang tính đại diện các CSĐT trên toàn quốc
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu
Tôn trọng đối tượng điều tra và mọi thông tin của đối tượng nghiên cứu được giữ kín Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ mục đích nào khác
Đề cương nghiên cứu đã được xét duyệt và thông qua bởi hội đồng của trường đại học Y Hà Nội
Nghiên cứu chỉ được tiến hành sau khi được sự đồng ý của cơ sở điều trị Methadone Đống Đa, Hà Nội
Trang 2921
CHƯƠNG III KẾT QUẢ
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đặc trưng nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Đặc trưng nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu
Trang 30Đa số bệnh nhân là nam giới (92,93%) và có dân tộc kinh (96,78%) Hầu hết là có công việc tự do (52,09%) và thất nghiệp chiếm 31,19%,
Số bệnh nhân có trình độ văn hóa trung học cơ sở và trung học phổ thông chiếm chủ yếu (34,41%; 56,91%), trình độ tiểu học chiếm 2,89% Còn lại trung cấp/dạy nghề và cao đẳng/đại học chiềm lần lượt 0,64% và 3,86%
Đa số bệnh nhân đã kết hôn (60,45%), một phần ly thân/ ly dị/ góa (11,9%)