1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo

15 270 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 128 KB
File đính kèm triết học phật giáo.rar (30 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời đại văn minh xã hội hiện nay, khi tiện nghi vật chất của con người ngày càng tiến bộ thì khoảng cách giữa người và người ngày càng xa cách. Vì thế, nhiều người đã tìm đến Phật giáo như một nơi để gửi gắm tinh thần, nương tựa. Phật giáo được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II sau Công nguyên và đã trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người Việt, bên cạnh đạo Nho và đạo Thiên Chúa. Ngay từ khi được truyền vào, đạo Phật đã nhanh chóng thích nghi với lối sống của người dân Việt Nam và trong quá trình hình thành phát triển đất nước, đạo Phật đã không gặp một trở ngại nào trong việc hòa nhập vào mọi giai tầng của xã hội. Tư tưởng, đạo lý của Phật giáo cũng đã ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của người dân Việt và dần trở thành giá trị tinh thần vô giá cho người dân.Thông qua việc nhận thức được tầm quan trọng của Phật giáo trong sự phát triển của xã hội, trong bài tập của mình, em xin chọn đề bài số 07: “Tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo”.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời đại văn minh xã hội hiện nay, khi tiện nghi vật chất của con người ngày càng tiến bộ thì khoảng cách giữa người và người ngày càng xa cách Vì thế, nhiều người đã tìm đến Phật giáo như một nơi để gửi gắm tinh thần, nương tựa Phật giáo được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II sau Công nguyên và đã trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người Việt, bên cạnh đạo Nho và đạo Thiên Chúa Ngay từ khi được truyền vào, đạo Phật đã nhanh chóng thích nghi với lối sống của người dân Việt Nam và trong quá trình hình thành phát triển đất nước, đạo Phật đã không gặp một trở ngại nào trong việc hòa nhập vào mọi giai tầng của xã hội Tư tưởng, đạo lý của Phật giáo cũng đã ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của người dân Việt và dần trở thành giá trị tinh thần vô giá cho người dân Thông qua việc nhận thức được tầm quan trọng của Phật giáo trong sự phát triển của xã

hội, trong bài tập của mình, em xin chọn đề bài số 07: “Tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo”.

NỘI DUNG

I SỰ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người sáng lập ra đạo Phật, một trong những tôn giáo có tầm ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới trong lịch sử cũng như hiện nay

1 Thân thế và sự nghiệp của Đức Phật Thích Ca

Đức Thích Ca Mâu Ni được sinh ra trong một gia đình chiến binh, quý tộc giàu sang ở nước Thích Ca (Shakya), có thủ đô là thành Ca Tỳ La Vệ nằm ở biên giới giữa Ấn Độ và Nepal ngày nay Ngài sinh ra là thái tử và có tên là Tất Đạt Đa Phụ thân ngài là Tịnh Phạn Mẫu thân của Ngài là Ma Gia Đức Phật được thụ thai một cách thần kỳ trong giấc mơ, bà Ma Gia thấy con voi trắng sáu ngà đi vào bên hông bà và lời tiên tri của nhà hiền triết A Tư Đà (Asita), rằng đứa bé sẽ trở thành một ông vua vĩ đại, hoặc một nhà hiền triết cao quý Ông sinh ngày 8 tháng 4 năm 563 TCN, theo truyền thống Phật lịch thì là ngày 15/04 (rằm tháng tư) còn gọi là ngày Phật Đản

Năm 16 tuổi, Thái tử lấy vợ là nàng Yasodhara và sống cực kỳ sang trọng trong cung điện Nhưng bẩm tính Thái tử đa sầu đa cảm, khi nhận thấy thực trạng thống khổ cảu đời người chung quanh mình, bèn quyết tâm đi tìm phương cứu khổ cho bản thân và nhân loại Lúc Thái

tử bỏ nhà ra đi, chính là lúc vợ vừa hạ sinh con trai đầu lòng và duy nhất Rahula Bấy giờ Thái

tử vừa mới được 29 tuổi

Sáu năm rong rã, ông lang thang đây đó ở khắp thung lũng sông Hằng để cầu Thầy học Đạo và theo đủ mọi cách khổ hạnh cùng tu luyện của hầu hết các môn phái truyền thống mong tìm giải thoát Nhưng không thỏa mãn, ông bỏ tất cả các giáo phái truyền thống kia đi, và tự mình đi tìm chân lý Năm 35 tuổi, Tất Đạt Đa đã giác ngộ tìm ra chân chân lí “Tứ diệu đế” và

“Thập nhị nhân duyên”, tìm ra con đường giải thoát nỗi khổ cho chúng sinh Từ đó ông đi khắp nơi để truyền bá tư tưởng của mình và đã trở thành người sáng lập ra tôn gáo mới là đạo Phật

Trang 2

Qua hơn 40 năm hoằng pháp và truyền đạt giáo lý Phật giáo khăp Ấn Độ Ông qua đời ở tuổi 80 và để lại cho nhân loại những tư tưởng triết học Phật giáo vô cùng quý báu Với mục đích nhằm giải phóng con người khỏi mọi khổ đau bằng chính cuộc sống đức độ của con người, Phật giáo nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng lao động Nó đã trở thành biểu tượng của lòng từ bi bác ái trong đạo đức truyền thống của các dân tộc Châu Á Kinh điển của phật giáo rất đồ sộ gồm ba bộ phận gọi là “tam tạng kinh” bao gồm Tạng kinh, Tạng luật và Tạng luận

2 Lịch sử ra đời của Phật Giáo

Đức Thích Ca Mâu Ni đã vì một đại nguyện lớn lao, một lòng từ vô lượng mà khước từ mọi hạnh phúc, quyền uy, tiện nghi vật chất để cầu đạo giài thoát Và cũng với đại tâm đại nguyện ấy, sau khi chứng được đạo quả Vô thượng Bồ đề, Ngài đã dâng hiến thời gian cho công cuộc hằng hóa độ sanh Đức Thế Tôn đã chu du khắp đất nước Ấn Độ thời xa xưa ấy, từ cực Bắc dưới chân núi Hymalaya, đến cực Nam bên ven sông Gange (sông Hằng)

Đức Thế Tôn đã dành những tuần lễ đầu tiên để chiêm nghiệm đến giáo pháp thậm thâm vi diệu mà Ngài đã chứng đắc, và thọ hưởng pháp lạc mà quả phúc mang đến Pháp Cú kinh, kệ

số 153-154, đã ghi lại một trong những Phật ngôn đầu tiên Ngài đã thốt lên trong thời gian này:

“Lang thang bao kiếp sống

Ta tìm nhưng không gặp

Người xây nhà này

Khổ thay, phải tái sanh

Ôi! Người làm nhà kia

Nay ta đã thấy ngươi

Ngươi không làm nhà nữa

Đòn tay người bị gẫy

Kèo cột ngươi bị tan

Tâm ta được tịch diệt

Tham ái thảy tiêu phong”

(Bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu)

Câu kinh như một lời ca khải hoàn, mô tả sự chiến thắng vẻ vang rực rỡ sau cuộc chiến đấu nội tâm thầm lặng gian nan Ông thợ tượng trưng cho ái dục, vô minh, phiền não luôn ẩn sâu kín trong mỗi con người, nay đã bị phát hiện

–  Đức Phật cũng đã để lại cho thế gian một bài học luân lý đẹp đẽ, đó là sự tỏ lòng tri ân sâu sa đối với cây bồ đề che nắng che mưa cho Ngài trong suốt thời gian tầm đạo Đức Thế Tôn đã đứng cách một khoảng xa để chiêm bái đại thọ suốt trong một tuần Sau này, nơi đây vua Asoka (A Dục) dựng lên một tháp kỷ niệm gọi là Animisalocana Cetiya, nay vẫn còn –  Đức Thế Tôn đã suy nghĩ đến giáo lý giải thoát sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh cao thượng, siêu lý luận, ly dục, vô ngã mà Ngài đã chứng đắc; còn chúng sanh thì luôn chìm

Trang 3

sâu vào ái dục, định kiến, chấp ngã với nhiều thủ trước… Làm thế nào để con người dễ dàng chấp nhận giáo lý ấy? Và rồi, với trí tuệ của bậc giác ngộ, Đức Thế Tôn đã quan sát thế gian và thấy rằng: “Có hạng chúng sinh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời; có hạng độn căn, lợi căn; có hạng thiện tánh, ác tánh; có hạng dễ giáo hóa, khó giáo hóa… Như trong hồ sen xanh,

hồ sen hồng, hồ sen trắng, sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước; có loại sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước thấm ướt…” (Trung Bộ I) Và như vậy, với hình ảnh những cành sen vươn ra khỏi mặt nước, những cành ở lưng chừng, những cành ở sâu trong lòng nước v.v… đã gợi lên trong Thế Tôn về căn cơ bất đồng của mọi người Có những căn cơ thấp như cánh sen

ở đáy hồ, có những căn cơ trung bình như những cánh sen ở lưng chừng nước, cũng có những căn cơ cao có thể tiếp thu trọn vẹn giáo pháp của Ngài như những cành sen đã nhô ra khỏi mặt nước Dù sống trong nghiệp quả bất đồng, nmỗi chúng sanh đều có hạt giống giác ngộ, như hoa sen dù sống trong bùn tanh hôi, vẫn tỏa hương thơm ngát

Với ba lần thỉnh cầu và phát khởi thiện nguyện hộ trì giáo pháp của Phạm Thiên, Đức Thế Tôn quyết định gióng lên tiếng trống Pháp và bắt đầu thực hiện sứ mạng của mình Ngài tuyên

bố với thế gian, với loài người, với cõi trời và với tất cả, con đường đạo cứu khổ và diệt khổ, con đường dẫn đến cõi bất sanh bất diệt, cõi Niết bàn đã được khai mở: “Cửa bất tử rộng mở, cho những ai chịu nghe…” (Trung Bộ I) Và bánh xe Pháp bắt đầu chuyển vận

Từ đây Phật Giáo bắt đầu ra đời và phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay –  Mặc dù đạo Phật chưa bao giờ phát triển phong trào truyền giáo, tuy nhiên, các giáo huấn của Đức Phật lại lan xa và rộng trên tiểu lục địa Ấn Độ và từ đó, xuyên suốt cả Châu Á Khi đến với mỗi nền văn hóa mới, các phương tiện và phong cách của đạo Phật lại được thay đổi

để phù hợp với tâm lý của người dân địa phương, nhưng không ảnh hưởng đến những điểm tinh túy về trí tuệ và lòng bi mẫn Tuy nhiên, đạo Phật chưa bao giờ phát triển một hệ thống cấp bậc nói chung về quyền lực, với một vị lãnh đạo tối cao Mỗi quốc gia nơi đạo Phật lan truyền đến đều phát triển những hình thức riêng của nơi đó, cấu trúc tôn giáo riêng và vị lãnh đạo tinh thần riêng

3 Các tông phái Phật giáo

Đạo Phật có một lịch sử phát triển rất thăng trầm trong suốt hơn 2500 năm và nó lan toả từ

Ấn Độ ra khắp nơi Do đó, việc hình thành các bộ phái khác nhau có phương pháp tu học và cách giải thích khác nhau về giáo lý cho thích hợp với tình hình của mỗi xã hội mỗi thời điểm

là chuyện tất yếu Tuy vậy, bản thân giáo lý Phật giáo không hề có sự phân chia tông phái này

Sự phân chia thành bộ phái rõ nét đã bắt đầu xảy ra vào thời kỳ kết tập kinh điển lần thứ II (khoảng 100 năm sau khi Thích Ca Mâu Ni mất) Lần phân chia đầu tiên là do sự bất đồng về yêu cầu thay đổi 10 điều giới luật Các điều này tuy không phải là những thay đổi lớn lao nhưng đủ để gây ra sự tách biệt tăng đoàn thành Đại Chúng bộ (Mahàsamghika) mà đa số là các tì kheo trẻ muốn thay đổi Số còn lại bảo thủ các giới luật nguyên thuỷ hình thành Thượng Tọa bộ (Theravada)

Trang 4

Các cuộc phân phái về sau trở nên phức tạp và đa dạng hơn Đại Chúng bộ có trung tâm hoạt động tại Amgotara, thuộc vùng Trung Ấn Nguyên có hệ tư tưởng cấp tiến nên đã xảy ra việc phân hoá trước Các cuộc phân hoá này tất cả đều tách ra từ Đại Chúng Bộ và hình thành tổng cộng thành 9 bộ phái trong đó quan trọng về mặt lý luận bao gồm: Đại chúng bộ, Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ, Kê dận bộ, Đa văn bộ, Thuyết giả bộ, Chế đa sơn bộ, Tây sơn trụ bộ và Bắc sơn trụ bộ.  Sự thay đổi về điều kiện xã hội và điạ lý và sự phân hoá trong Đại Chúng bộ có thể là nguyên nhân gây ra sự chia phái của Thượng Tọa bộ thành tổng cộng 11

bộ Các phái có sự chuyển hoá về lý luận bao gồm: Tuyết sơn bộ, Thuyết nhất thiết hữu bộ, Độc tử bộ, Pháp thượng bộ, Hiền vị bộ, Chánh lượng bộ, Mật lâm sơn bộ, Hóa địa bộ, Pháp tạng bộ, Ẩm quang bộ và Kinh lượng bộ

Các bộ phái chính ngày nay:

- Theravada: Theravada còn gọi là Phật giáo nguyên thuỷ hay Phật giáo Nam tông, tên

quen gọi là Phật giáo Tiểu thừa Tông phái này hình thành ngay trong thế kỷ đầu tiên sau khi Thích Ca viên tịch Chữ Theravada có nghĩa là “lời dạy của bậc trưởng thượng”, do đó nhiều sách còn gọi nhóm này là Trưởng Lão bộ Trong kỳ kết tập kinh điển lần thứ III, hội đồng tham gia kết tập đã công nhận giáo pháp gọi là thuyết trưởng lão Sau đó, con trai của vua Asoka (A Dục) là Mahinda đã đem cả ba tạng kinh đến Tích Lan (Sri Lanka ngày nay) Ba tạng kinh đã được dịch sang tiếng Pali và các tạng kinh này trở thành nguồn kinh sử dụng của Theravada cho đến ngày nay

- Mahayana: Mahayana có tên gọi khác là Phật giáo Đại thừa Từ thế kỷ I TCN các tư tưởng “đại thừa” đã bắt đầu xuất hiện và thuật ngữ Mahayana, hay “đại thừa”, chỉ thực sự có khi nó được đề cập trong bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa Nói chung, ý tưởng Mahayana là có xu hướng rộng rãi và tự do hơn là các phép tắc ràng buộc của Theravada Đến thế kỷ III khái niệm Mahayana mới được xác định rõ ràng qua các trước tác của bồ tát Long Thọ (Nagarjuna) trong Trung Luận (hay Trung Quán Luận), chứng minh tính không của vạn vật Các ý này đã được Long Thọ khai triển dựa trên khái niệm “Vô ngã” và “Duyên sinh” đã có từ trong các kinh điển Pali

- Vajrayana: Varayjana còn có tên gọi là Tantra, Mật tông hay Kim cương thừa Tông phái này xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI Phái này chia sẻ chung nhiều tư tưởng với Đại thừa nhưng có nhấn mạnh trong việc thực hành Các truyền giảng được tập trung vào nhiều phương pháp tu học thực nghiệm mãnh liệt để đẩy nhanh việc thăng tiến và có thể ngay trong cuộc sống hiện tại sẽ đạt đuợc giác ngộ các thực nghiệm này thường được gọi là phương tiện Nếu như Đại thừa có nhiều tính chất thiên về triết lý, tư duy thì Mật tông đi xa hơn về mặt thực nghiệm và cũng thể hiện sự thích ứng linh hoạt của Phật giáo

- Tịnh Độ tông: Tịnh Độ Tông (Pure Land) xuất hiện vào giữa thế kỷ IV từ sự truyền bá

của sư Huệ Viễn (Hui-yuan) Tư tưởng về Tịnh Độ thì có sẵn trong Phật giáo Ấn Độ nhưng tới khi sang Trung Quốc thì nó phát triển thành một tông phái Tịnh Độ tông cũng đuợc xem là một nhánh của Đại thừa song tông này không có sự truyền thừa như các tông phái khác mà chỉ

Trang 5

do sự đóng góp công sức để phát huy giáo lý Tịnh Độ Nguyên lý của tông phái dựa vào nguyện lực (tha lực) của Phật A Di Đà và sự nhất tâm niệm danh hiệu Phật

- Thiền tông: Thiền tông (Dhyana) còn có các tên khác là ZEN, ch’an, tên cũ là Thiền na.

Thiền là một phương tiện căn bản đã được đạo Phật sử dụng ngay từ khởi thủy Nhưng cho đến khi thiền sư sơ tổ của môn phái thiền Trung Hoa là Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) du hành sang Trung Quốc (năm 520) và truyền lại thì Thiền tông bắt đầu trở thành một tông phái riêng biệt Đến đời thứ 6, sư Huệ Năng (Hui-neng) đã đưa Thiền tông phát triển và nó đã thịnh hành hơn tất cả các tông phái Phật giáo khác ở Trung Quốc Huệ Năng cũng là người đã hủy bỏ thông tục truyền thừa, nghĩa là không có sư tổ đời thứ 7 của Thiền Tông, thay vào đó là hàng loạt các thiền sư có khả năng mở thành các phái thiền khác dựa theo sự phân biệt về cung cách luyện tập và cách để đưa thiền giả đến chỗ chứng ngộ chân lý

Khi tiếp cận với cách thức giải thích giáo lý Phật giáo của các bộ phái, nhiều nhà phân tích phân chia Phật giáo thành 4 trường phái triết học chính là:

Nhất Thiết Hữu bộ: Trường phái này ra đời khoảng thế kỷ III TCN và đã phát triển ở Tây

Bắc Ấn trong thời kỳ kết tập kinh điển lần thứ IV Sau đó trở nên vững mạnh trong cả vùng Bắc và Tây Bắc xứ Ấn trong khoảng một ngàn năm sau Nó mở ra tới Kashmir, Trung Á và

cả Trung Hoa Abhidharmakośa (Đại Tỳ Bà Sa luận) của đạo sư Thế Thân là tác phẩm quan trọng nhất của phái này Trường phái này nhấn mạnh lời dạy của Phật rằng “bản chất đạo đức của các hành vi sẽ quyết định những kinh nghiệm tương lai của người làm các hành vi ấy” (theo Andrew Skilton) Phái này cho rằng các yếu tố không thể giản lược của hiện hữu (dharmas) cũng thể hiện trong quá khứ và tương lai Do đó, những dharmas đã tạo nên hành vi trong quá khứ có thể tạo được ảnh hưởng ở một thời điểm sau đó Sarvāstivādin căn cứ trên tiền đề duyên khởi (Pratityasamutpàda) là: bởi có cái này nên có cái kia để giải thích về các nhận thức tri thức Vì phải có đối tượng (cảm nhận hay nhận thức) mới có tri thức nên nếu thừa nhận hoạt động của tri thức thì cần chấp nhận sự tồn tại của đối tượng Học thuyết này còn tách biệt Phật bảo với Pháp bảo và cho rằng Phật bảo là tập họp của những dharmas làm nên Phật cũng như các hiểu biết và các cảm-hoạt (hay ngủ uẩn bao gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức

— scandhas) của Phật

Kinh Lượng bộ: Tông phái này ra đời vào khoảng năm 50 TCN cho đến cuối thế kỷ   I Phái này bác bỏ quan điểm dharmas của Sarvāstivādin và cho rằng mọi dharmas chỉ hiện hữu tức thời Để giải thích các vấn đề về nghiệp (karma), trường phái này đưa ra tư tưởng về các bījas, hay hạt giống Hạt giống được trồng bởi những hành vi với đặc tính đạo đức nhất định, sau này mới đâm chồi, và khi điều kiện cho phép sẽ cho quả phù hợp với hành vi tạo tác Đối với phái này thì giáo lý của Tạng kinh thường tồn sẽ tạo thành hạt giống trong tâm thức để khi có dịp sẽ phát huy tính năng (Tên Kinh Lượng cũng do việc đề cao vai trò của tạng Kinh mà có) Một hệ quả của lập luận này là ngoài tâm có pháp Một cách diễn dịch dễ hiểu hơn là chân lý nằm bên ngoài tâm thức Họ cũng thừa nhận về lý duyên khởi (vì có cái này nên có cái kia) nhưng cho rằng tính không được thể hiện trong mọi tình huống của nhận thức

Trang 6

Duy Thức Tông: Phái Duy thức ra đời vào khoảng đầu thế kỷ IV do đạo sư Vô Trước

(310-390) sáng lập Trường phái này nhấn mạnh rằng “vạn pháp duy tâm” (nghĩa là mọi vật đều do tâm) Từ kinh nghiệm thiền định, thuyết này chỉ ra sự sai lầm của nhận thức về các đối tượng đối với sự hiện hữu thực sự của chúng Điều mà trường phái muốn nói không phải là mọi sự đều được làm thành bởi cái tâm, nhưng muốn nói rằng toàn thể kinh nghiệm đều lệ thuộc vào hay nhờ vào tâm của chúng ta Mọi sự vật mà chúng ta biết, mọi yếu tố của nhận thức của chúng ta, cơ bản đều là một thành phần của một quy trình của tâm Trường phái này cho rằng tâm thực sự hiện hữu (khác với Trung quán) Như vậy, tâm thì trống rỗng theo nghĩa

là tâm không có phân biệt chủ thể và khách thể

Trung Quán Tông: Phái này do đạo sư Long Thọ (150–250) sáng lập Phái Trung quán tập trung vào chủ đề tính không Đây là thuộc tính của vạn vật Vạn vật chỉ do nhân duyên sinh ra, cho nên những sự vật hiện thấy có là không thực sự tồn tại Phái này có tên là Trung quán là vì

nó chỉ ra con đường ở giữa chủ nghĩa hằng cửu (mọi vật tồn tại vỉnh viễn) và chủ nghĩa hư vô (không có gì tồn tại) Chủ thuyết này nhìn nhận sự hiện hữu thông thường của các đối tượng xuất hiện trong dòng chảy liên tục của các nhân duyên Không vật gì có thể tồn tại một cách độc lập với mọi điều kiện bên ngoài (tính hỗ tương tồn tại) Đồng thời, có sự liên hệ phụ thuộc giữa thành phần và toàn thể trong mỗi sự vật Thêm vào đó, do tính chất vô thường trên từng khoảnh khắc, không vật gì có thể hiện hữu tuyệt đối kể cả tâm và và thế giới vật lý bởi vì chúng thiếu vắng đối tượng thực sự của sự hiện hữu Như vậy tính không ở đây so với trường phái Duy Thức, đã được nới rộng áp dụng lên vạn vật

II TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN CỦA PHẬT GIÁO

1 Quan điểm của Phật giáo về thế giới quan

Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo thể hiện tập trung ở nội dung của 3 phạm trù: vô

ngã, vô thường và duyên. 

- Vô ngã (không có cái tôi chân thật) 

Không cùng quan điểm của kinh Vêđa, đạo Bàlamôn và đa số các môn phái triết học tôn giáo đương thời thừa nhận sự tồn tại của một thực thể siêu nhiên tối cao, sáng tạo và chi phối

vũ trụ, Phật giáo cho rằng thế giới tồn tại khách quan không phụ thuộc vào thần thánh, không

do thần thánh sáng tạo ra, mặc dù Đạo phật thừa nhận có thần tiên là đẳng cấp cao hơn con người nhưng thần tiên lại không có vai trò đặc biệt, không sáng tạo thế giới Theo Phật giáo, mọi sự vật hiện tượng đều có nguyên nhân của nó nhưng không có gì xác định được nguyên nhân của mọi nguyên nhân, nghĩa là không thể tìm ra một nguyên nhân đầu tiên (không có một Đấng tối cao nào sáng tạo ra vũ trụ)

Phật giáo thừa nhận thế giới tồn tại cả vật chất và tinh thần Thế giới do các yếu tố vật chất

và tinh thần kết hợp với nhau tạo nên Trong đó, Vật chất gồm “sắc”, là cái có thể cảm nhận được, nó bao gồm đất, nước, lửa và không khí; Yếu tố tinh thần là “danh”, không có hình chất

mà chỉ có tên gọi Nó bao gồm: thụ (cảm thụ), tưởng (suy nghĩ), hành (ý muốn để hành động)

và thức (sự nhận thức)

Trang 7

Danh và sắc kết hợp lại tạo thành 5 yếu tố gọi là “Ngũ uẩn”.  Ngũ uẩn bao gồm sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (suy lý) và thức (ý thức), chúng tác động qua lại với nhau tạo nên vạn vật và con người Nhưng sự tồn tại của sự vật chỉ là tạm thời, thoáng qua, không có sự vật riêng biệt nào tồn tại mãi mãi Do đó, không có “Bản ngã” hay cái tôi chân thực

- Vô thường (vận động biến đổi không ngừng) 

Vô thường nghĩa là không có gì ổn định, luôn biến đổi Các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ không đứng yên mà luôn luôn biến đổi không ngừng, sự biến đổi diễn ra trong khoảnh khắc

gọi là niệm vô thường và sự biến đổi diễn ra theo những chu kì nhất định gọi là nhất kì vô thường, mỗi chu kì có 4 giai đoạn, ở thế giới vật có thể nói chung là “sinh – trụ – dị – diệt”,

nghĩa là sinh ra, tồn tại, biến dạng và mất đi còn ở thế giới sinh vật nói riêng là “sinh – lão -bệnh - tử” nghĩa là sinh ra, lớn lên, đau ốm, chết

Do đó, không có gì trường tồn, bất định, chỉ có sự vận động biến đổi không ngừng.Với quan niệm này, Đức Phật dạy: “tất cả những gì trong thế gian đó là biến đổi, hư hoại, đều là vô thường” Vì vậy mọi sự vật không mãi ở yên trong một trạng thái nhất định, luôn luôn thay đổi hình dạng, đi từ trạng thái hình thành đến biến dị rồi tan rã Sinh và diệt là hai quá trình xảy ra đồng thời trong một sự vât, hiện tượng cũng như trong toàn thể vũ trụ rộng lớn Đức Phật cũng dạy rằng không phải là sự vật, hiện tượng sinh ra mới gọi là sinh, mất (hay chết đi) mới gọi là diệt, mà trong sự sống có sự chết, chết không phải là hết, không phải là hết khổ mà chết là điều kiện của một sinh thành mới

- Duyên (điều kiện cho nguyên nhân trở thành kết quả) 

Phật giáo trong quá trình giải thích sự biến hóa vô thường của vạn vật, đã xây dựng nên thuyết nhân duyên Nhân duyên là tư tưởng, giáo lí cơ thể hiện quan điểm cuả Phật giáo đối với đời người, với tồn tại và sinh mệnh, là cơ sở triết học của giáo thuyết cụ thể và tuư tưởng quan trọng của Phật giáo, như nhân quả, không hữu, trung đạo, bình đẳng, từ bi, giải thoát …

Nó là một luận thuyết tương đối hợp lí về sự hình thành diễn biến và về bộ mặt vốn có của thế giới, là thế giới quan độc đáo của Phật giáo và là đặc trưng cơ bản để phân biệt Đạo phật với các tôn giáo khác

Thuyết nhân duyên có ba khái niệm chủ yếu là Nhân, Quả và Duyên Cái gì phát động ra ở vật gây ra một hay nhiều kết quả nào đó được gọi là Nhân (nguyên nhân) Cái gì tập hợp lại từ Nhân được gọi là Quả

Theo đó Duyên là điều kiện giúp cho nguyên nhân trở thành kết quả Kết quả ấy lại nhờ có duyên mà trở thành nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà trở thành kết quả mới Cứ như vậy mà tạo nên sự biến đổi không ngừng của các sự vật, tuân theo quy luật “Nhân-Quả”, nhân

là cái hạt, quả là cái trái, cái trái do mầm ấy phát sinh Nhân và quả là hai trạng thái nối tiếp nhau, nương vào nhau mà có Nếu không có nhân thì không thể có quả, nếu không có quả thì không thể có nhân, nhân thế nào thì quả thế ấy

Trang 8

Ở quan điểm này cho thấy một hạn chế của Phật giáo là chỉ thấy sự vận động, tuyệt đối hóa sự vận động mà không nhìn thấy sự đứng yên tương đối

Như vậy, thông qua các phạm trù Vô ngã, Vô thường và Duyên, triết học Phật giáo đã bác

bỏ quan điểm duy tâm lúc bấy giờ cho rằng thần Brahman sáng tạo ra con người và thế giới Phật giáo cho rằng sự vật và con người được cấu thành từ các yếu tố vật chất và tinh thần Các

sự vật hiện tượng thế giới nằm trong quá trình liên hệ, vận động, biến đồi không ngừng Nguyên nhân của sự vận động , biến đồi nằm trong các sự vật Đó là quan điểm biện chứng về thế giới tuy còn mọc mạc chất phát nhưng rất đáng trân trọng Và đó cũng là quan điểm duy vật biện chứng về thế giới

2 Quan điểm của Phật giáo về nhân sinh quan

Nhân sinh quan trong triết học Ấn Độ luôn xuất phát từ quan niệm cho rằng, cuộc đời của con người là khổ đau Sự khổ đau ấy được bắt nguồn từ nghiệp chướng của kiếp trước Con người càng trải qua nhiều kiếp thì nỗi khổ càng chồng chất, còn gọi là luân hồi Từ đó triết học

Ấn Độ đề ra nhiệm vụ đi tìm con đường giải thoát con người ra khỏi khổ đau Sankhya là học thuyết nhị nguyên luận Do đó, vấn đề nhân sinh quan của nó cũng liên quan đến bản chất của học thuyết này Bất cứ trong một tôn giáo, một triết học nào, phần nhân sinh quan vẫn là quan trọng

Phật giáo thừa nhận “Nhân sinh đa khổ” Dù người sinh trong giai cấp nào, ở địa vị nào, ở hoàn cảnh nào cũng đều đau khổ Cái đau khổ căn bản không ai có thể tránh được

Có một số người cho rằng quan niệm Phật giáo như vậy là thái quá Ví dụ khi người ta đói

là khổ, nhưng được ăn là vui, khi lạnh là khổ, được mặc ấm là vui Như vậy đời người vừa có khổ cũng vừa có vui

Nghĩ thế là sai lầm Cái khổ vui đói no, ấm lạnh bên ngoài là những khổ vui mong manh cạn cợt không đáng kể Phật giáo nói khổ vui là nhắm vào phần căn bản, là nghĩ đến cuộc đời đen tối, phủ vây bởi sanh, già, bệnh, chết Khổ mà Phật giáo nói là cái khổ do sự mâu thuẩn tạo thành

Là con người ai cũng mong mình được sống lâu, trẻ mãi, muốn mình mạnh khỏe luôn đừng đau ốm Nhưng (thiên nhiên không cho phép, cứ thúc đẩy bắt buộc) chúng ta lại phải đau, phải già, phải chết Sự mâu thuẫn này khiến con người khổ đau vô tận Phật giáo chỉ rõ những khổ đau của con người Nhưng Phật giáo vẫn không quên vạch những ưu điểm nơi con người

Lúc khoẻ mạnh, làm ăn bình thường, tư tưởng chúng ta cũng bằng phẳng, không có gì tiến

bộ Những khi gặp biến cố, buộc tâm trí chúng ta phải làm việc, phải suy tư, do đó mới nảy sinh những ý kiến hay, tư tưởng lạ Vì thế, lắm khi sự rủi lại hóa thành may Những thất bại dạy chúng ta thêm nhiều kinh nghiệm để thành tựu sau này

Từ bé chỉ thường sống một cuộc đời đầy đủ, được mọi người nuông chiều, con người đó

dù được bao nhiêu tuổi cũng chưa được gọi là trưởng thành Có vướng phải trở ngại, con người mới chợt tỉnh dừng lại để quán sát, để tư duy tìm lối thoát Chính trong lúc ấy tâm mình mới

Trang 9

vươn lên khỏi bậc cũ Chính sự khổ đau ấy đã điêu luyện tâm linh con người cao đẹp hơn, màu sắc hơn, trầm tỉnh hơn Con người tiến bộ nhờ khổ nhiều vui ít

Sợ khổ đau, con người không thể tiến bộ được Trong kinh điển Phật giáo luôn luôn nhắc nhở con người phải nhận thức sự khổ đau và xem sự khổ đau là những chất liệu cần yếu để xây đắp ngôi đền đạo đức Thiếu khổ đau ngôi đền đạo đức phải tan vỡ Có hiểu được cuộc đời là xấu xa, đau khổ con người mới lo tìm cách sửa đổi nếp sống và tâm hồn mình cho tươi đẹp, trong sạch hơn lên Do đó, bài thuyết pháp đầu tiên của đức Phật tại Lộc Uyển là pháp Tứ-diệu-đế

Khổ-đế được Ngài nêu lên trước nhất Khi người ta hiểu được quả đau khổ rồi, mới phăng lần đến nguyên nhân gây ra đau khổ là Tập-đế Biết rõ nguyên nhân và kết quả của sự đau khổ, Phật mới dạy phương pháp trừ diệt những nguyên nhân ấy là Đạo-đế, khi những nguyên nhân đau khổ đã diệt hết, tâm được thanh tịnh, an lạc giải thoát là Diệt-đế

Cốt tủy của con người đạo đức, động cơ thúc đẩy sự tu hành hầu hết đều phát nguyện do nhận thức cuộc đời là đau khổ Đau khổ có một địa vị trọng yếu trong đời sống con người Thiếu nó con người sẽ trở thành hư hỏng, đốn hèn Người muốn tiến bộ, muốn vươn lên và giải thoát phải nhìn thẳng vào đau khổ

Tóm lại, đạo Phật quan niệm con người đau khổ bởi sự mâu thuẫn giữa mình và thiên nhiên, giữa tình cảm và lý trí Chúng ta có thể xoay chuyển những mâu thuẩn ấy trở thành thuận hòa thì tất cả mầm đau khổ đều tan vỡ Nghĩa là chúng ta phải tận dụng lý trí dẫn tình cảm, bao giờ lý trí hoàn toàn làm chủ tình cảm là lúc ấy chúng ta sẽ hết khổ đau

Đức Phật nói khổ đau để chúng ta ý thức được nó, để biết nó ẩn tàng nơi nào, mà tìm phương pháp diệt trừ nó Người Phật tử chân chính can đảm chịu đựng mọi sự khổ đau và tin mình có đủ trí tuệ, có đủ khả năng rứt bỏ ra ngoài sự ràng buộc khốc hại của nó

Nói đến Phật giáo là nói đến sức mạnh vô biên của tâm minh do con người đầy dũng cảm, Phật giáo đã dạy con người dám nhìn thẳng sự thật và nói thẳng sự thật Phật giáo nói kiếp người là đau khổ, nhưng phải lợi dụng kiếp người này vượt ra ngoài vòng đau khổ Người Phật

tử biết mang thân này là ô uế, giả tạm, nhưng cần phải mượn thân này làm con thuyền qua bờ thanh tịnh, an lạc Người Phật tử không thúc thủ trước những khổ đau, vẫn hiên ngang đập tan bức thành khổ đau và vượt ra ngoài vòng trần lụy

Tư tưởng nhân sinh quan trong Triết học Phật giáo Tư tưởng nhân sinh quan trong Triết học Phật giáo thể hiện qua quan điểm về Tứ diệu đế bao gồm Khổ đế, Nhân đế, Diệt đế và Đạo

đế nhằm “tập trung và thực hành lý giải những vấn đề nhân sinh quan dưới góc độ tâm linh tôn giáo nhằm đạt tới sự "giải thoát" tức là đạt tới sự đồng nhất tinh thần cá nhân với tinh thần vũ trụ (Atman và Brahman)” “Phật giáo đặt vấn đề tìm kiếm mục tiêu nhân sinh ở sự "giải thoát" khỏi vòng luân hồi, "nghiệp báo" để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn

Về nội dung trong Tứ diệu đế có thể khái quát như sau:

1 Khổ đế: Phật giáo cho rằng cuộc đời là bể khổ Cái khổ của cuộc đời được tóm trong

tám nỗi khổ, còn gọi là “Bát khổ” Ngoài 4 nỗi khổ: sinh, lão, bệnh, tử còn có:

Trang 10

+ Thụ biết ly: yêu thương nhau mà phải xa nhau.

+ Oán tăng hội: ghét nhau mà vẫn phải tụ hội với nhau

+ Sở cầu bất đắc: muốn mà không được

+ Ngũ thụ uẩn: khổ vì có sự tồn tại thân xác

2 Nhân đế (còn gọi Tập đế): Mọi cái khổ đều có nguyên nhân Ở đây Phật đưa ra 12 nhân

duyên (thập nhị nhân duyên):

2.1 Vô minh: không sáng suốt, không nhận thức được thế giới, sự vật hiện tượng đều là ảo giả, nhưng lại cứ cho đó là thực

2.2 Hành: chỉ hoạt động của ý thức, sự dao động của tâm, của khuynh hướng và đã có manh nha của nghiệp Nói cách khác, là hoạt động của ý thức do áp lực của nghiệp

2.3 Thức: Tâm thức từ chỗ trong sáng, cân bằng (minh) trở nên ô nhiễm, mất cân bằng (vô minh) Cái tâm thức đó tuỳ theo nghiệp mà tìm đến các nhân duyên khác để hiện hình, thành ra một cuộc đời khác (ý thức ban đầu của bào thai)

2.4 Danh - sắc: Là sự hội họp của các yếu tố vật chất và tinh thần Đối với loại hữu tình,

sự hội nhập của danh và sắc sinh ra lục căn, tức các cơ quan cảm giác: nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân,

ý Sự kết hợp đó tạo nên tâm sinh lý sinh vật

2.5 Lục nhập: là quá trình tiếp xúc của lục căn với các hiện tượng của thế giới khách quan xung quanh, tức lục trần Lục căn tiếp xúc với Lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) tạo thành cảm giác

2.6 Xúc: là sự tiếp xúc, phối hợp giữa Lục căn, Lục trần và Thức

2.7 Thụ: là cảm thụ của con người khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài, gây ra cảm giác sướng và khổ (khổ thụ và lạc thụ) Đó là sự trải nghiệm cảm giác

2.8 Ái: ái là yêu thích, ở đây chỉ sự tham vọng, dục vọng, tức là khát vọng được hưởng thụ cảm giác

2.9 Thủ: có “ái” rồi thì có “thủ”, tức là đã yêu thích rồi thì muốn giữ lấy, chiếm lấy Là sự bám víu vào sự hưởng thụ

2.10 Hữu: tiến tới xác định chủ thể chiếm hữu (cái ta) thì phải tồn tại (hữu) tức là đã có hành động tạo nghiệp Nói cách khác, là ý nguyện được sinh ra

2.11 Sinh: Đã có tạo nghiệp (hữu), tức là khhi đã có nghiệp nhân thì ắt có nghiệp quả, tức

là phải sinh ra ta Tức là sinh và tái sinh

2.12 Lão - Tử: Đã có sinh tất có già và chết đi Sinh – Lão – Tử là kết quả cuối cùng của một quá trình nhưng đồng thời cũng là những nguyên nhân của một vòng luân hồi mới, từ vô sinh của cuộc đời khác Từ 1 -> 2 là nhân quá khứ; 3 -> 7 là quả hiện tại; 8 -> 10 là nhân hiện tại; 11 -> 12 là quả tương lai Nói một cách khái quát về nguyên nhân gây ra khổ là bởi tam độc: tham, sân, si

3 Diệt đế: Phật giáo khẳng định cái khổ có thể tiêu diệt được, có thể chấm dứt được luân

hồi để đến với Niết bàn, hưởng một cuộc sống bình an, hạnh phúc Muốn diệt khổ phải diệt tham, sân, si, diệt thập nhị nhân duyên, đưa trạng thái ý thức của con người về tĩnh lặng, hư

Ngày đăng: 10/03/2018, 20:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w