MỤC LỤC MỞ ĐẦU 2 CHƯƠNG I 5 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT CHỈNH QUAN HỆ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI NHẬN TRẺ EM VIỆT NAM LÀM CON NUÔI 5 1.1. Mục đích và ý nghĩa xã hội của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 5 1.2. Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 8 1.3. Pháp luật điều chỉnh quan hệ người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi 9 CHƯƠNG II 12 PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI NHẬN TRẺ EM VIỆT NAM LÀM CON NUÔI 12 2.1. Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 12 2.2. Điều kiện nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài 15 2.2.1. Điều kiện đối với người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi 15 2.2.2. Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi 19 2.3. Thủ tục đăng ký việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi 23 2.3.1. Đăng ký việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi tại Việt Nam 23 2.3.2. Đăng ký việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi tại cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam 28 2.4. Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi. 29 2.5. Chấm dứt việc nuôi con nuôi 33 CHƯƠNG III 40 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI NHẬN 40 TRẺ EM VIỆT NAM LÀM CON NUÔI 40 3.1. Thực trạng người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi 40 3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện Pháp luật Việt Nam điều chỉnh qua hệ người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi 42 3.2.1. Cần sớm ban hành Luật nuôi con nuôi 42 3.2.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành về việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi 44 3.2.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các thiết chế nuôi con nuôi 47 KẾT LUẬN 52 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nuôi con nuôi là một chế định pháp lý quan trọng trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia và trong pháp luật quốc tế. Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em đã khẳng định: “Để phát triển đầy đủ và hài hòa về nhân cách của mình trẻ em cần được trưởng thành trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và thông cảm”. Chế định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được các quốc gia và cộng đồng quốc tế quan tâm đặc biệt vì đó là sự bảo vệ pháp lý rất cần thiết đối với những lợi ích tốt nhất cho trẻ em, những đối tượng đặc biệt không chỉ non nớt về thể chất và trí tuệ mà còn có hoàn cảnh khó khăn, thiếu tình yêu thương lại thiếu một mái ấm gia đình trên quê cha đất tổ. Với tư cách là thành viên của Công ước về bảo vệ quyền trẻ em, Nhà nước ta luôn luôn có chính sách nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em, hướng sự quan tâm tới trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, nhất là những trẻ em thiếu mái ấm gia đình. Từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng giao lưu về mọi mặt giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài ngày càng phát triển thì quan hệ hôn nhân và gia đình trong đó có quan hệ về nuôi con nuôi đã và đang là hiện tượng thu hút sự quan tâm của nhiều người cả trong và ngoài nước. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trở thành vấn đề cấp thiết. Điều này sẽ góp phần tạo cơ sở pháp lý vững chắc để chúng ta tham gia hợp tác chặt chẽ với cộng đồng quốc tế bảo vệ trẻ em đặc biệt là trẻ em Việt Nam sau khi làm con nuôi người nước ngoài. Như chúng ta đã biết, thực tiễn cho và nhận con nuôi quốc tế ở Việt Nam chủ yếu là việc cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài đã và đang là một nhu cầu chính đáng của chính các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và cả từ phía những gia đình nước ngoài muốn được nhận các em về nuôi trong gia đình của họ, chính vì vậy khóa luận này tập trung vào việc nghiên cứu việc “Người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi theo quy định của pháp luật Việt Nam”.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I 5
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT CHỈNH QUAN HỆ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI NHẬN TRẺ EM VIỆT NAM LÀM CON NUÔI 5
1.1 Mục đích và ý nghĩa xã hội của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 5
1.2 Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 8
1.3 Pháp luật điều chỉnh quan hệ người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi 9
CHƯƠNG II 12
PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI NHẬN TRẺ EM VIỆT NAM LÀM CON NUÔI 12
2.1 Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài 12
2.2 Điều kiện nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài 15
2.2.1 Điều kiện đối với người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi 15
2.2.2 Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi 19
2.3 Thủ tục đăng ký việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi 23
2.3.1 Đăng ký việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi tại Việt Nam 23
2.3.2 Đăng ký việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi tại cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam 28
2.4 Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi 29
2.5 Chấm dứt việc nuôi con nuôi 33
CHƯƠNG III 40
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI NHẬN 40
TRẺ EM VIỆT NAM LÀM CON NUÔI 40
3.1 Thực trạng người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi 40
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện Pháp luật Việt Nam điều chỉnh qua hệ người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi 42
3.2.1 Cần sớm ban hành Luật nuôi con nuôi 42
3.2.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành về việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi 44
3.2.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các thiết chế nuôi con nuôi 47
KẾT LUẬN 52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nuôi con nuôi là một chế định pháp lý quan trọng trong hệ thống pháp luậtcủa nhiều quốc gia và trong pháp luật quốc tế Công ước của Liên hợp quốc vềquyền trẻ em đã khẳng định: “Để phát triển đầy đủ và hài hòa về nhân cách củamình trẻ em cần được trưởng thành trong môi trường gia đình, trong bầu khôngkhí hạnh phúc, yêu thương và thông cảm” Chế định nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài được các quốc gia và cộng đồng quốc tế quan tâm đặc biệt vì đó là
sự bảo vệ pháp lý rất cần thiết đối với những lợi ích tốt nhất cho trẻ em, nhữngđối tượng đặc biệt không chỉ non nớt về thể chất và trí tuệ mà còn có hoàn cảnhkhó khăn, thiếu tình yêu thương lại thiếu một mái ấm gia đình trên quê cha đất
tổ Với tư cách là thành viên của Công ước về bảo vệ quyền trẻ em, Nhà nước taluôn luôn có chính sách nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em, hướng sựquan tâm tới trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, nhất là những trẻ em thiếu mái ấmgia đình
Từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, quan hệ quốc tếngày càng được mở rộng giao lưu về mọi mặt giữa công dân Việt Nam và ngườinước ngoài ngày càng phát triển thì quan hệ hôn nhân và gia đình trong đó cóquan hệ về nuôi con nuôi đã và đang là hiện tượng thu hút sự quan tâm củanhiều người cả trong và ngoài nước Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệthống, toàn diện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trở thành vấn
đề cấp thiết Điều này sẽ góp phần tạo cơ sở pháp lý vững chắc để chúng ta thamgia hợp tác chặt chẽ với cộng đồng quốc tế bảo vệ trẻ em đặc biệt là trẻ em ViệtNam sau khi làm con nuôi người nước ngoài
Như chúng ta đã biết, thực tiễn cho và nhận con nuôi quốc tế ở Việt Namchủ yếu là việc cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài đã và đang
là một nhu cầu chính đáng của chính các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
và cả từ phía những gia đình nước ngoài muốn được nhận các em về nuôi tronggia đình của họ, chính vì vậy khóa luận này tập trung vào việc nghiên cứu việc
Trang 3“Người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi theo quy định của pháp luật Việt Nam”
2.Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Thứ hai, kiến nghị những phương hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnhquan hệ người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi trong giai đoạnhiện nay
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung phân tích những vấn đề cơ bản của pháp luật điềuchỉnh quá trình giải quyết cho, nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nướcngoài; đánh giá thực trạng và đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện phápluật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn hiện nay
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trong điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam cũng như thế giới có nhữngbiến đổi mạnh mẽ, sâu sắc, quan hệ nuôi con nuôi có những diễn biến đa dạng,phức tạp mà pháp luật chưa thể điều chỉnh kịp thời Luận văn là công trình khoahọc nghiên cứu về vấn đề này Kết quả nghiên cứu sẽ là những bổ sung vào lýluận về pháp luật điều chỉnh quan hệ người nước ngoài nhận trẻ em Việt Namlàm con nuôi trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay Các nội dung đề xuất,kiến nghị trong luận văn cũng có thể được áp dụng để giải quyết được phần nàonhững vấn đề bức xúc liên quan đã và đang đặt ra trong thực tiễn
4 Nội dung cơ bản của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm có:
Trang 4- Chương 1: Khái quát chung về pháp luật điều chỉnh quan hệ người nướcngoại nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi
- Chương 2: Pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ người nước ngoài nhậntrẻ em Việt Nam làm con nuôi
- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam điềuchỉnh quan hệ người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi
Trang 5CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT CHỈNH QUAN HỆ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI NHẬN TRẺ EM VIỆT NAM LÀM CON NUÔI
1.1 Mục đích và ý nghĩa xã hội của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Mục đích cơ bản của việc nuôi con nuôi chính là bảo đảm cho người connuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xãhội Thực tiễn cho thấy có rất nhiều trẻ nhỏ khi sinh ra đã bị bố mẹ bỏ rơi, nhiều
em bị tàn tật bẩm sinh hoặc bị nhiễm các chất độc hoá học do chiến tranh để lại,
bố mẹ không đủ điều kiện để chăm sóc giáo dục các em… Vì lẽ đó các emkhông có môi trường để phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần Nếunhư những em đó được nhận làm con nuôi, được hưởng sự nuôi dưỡng, quantâm chăm sóc từ phía cha mẹ nuôi thì sẽ đảm bảo cho các em có sự phát triểntoàn diện, tránh đi vào những con đường lầm lỡ
So với pháp luật phong kiến, mục đích của việc nuôi con nuôi theo quyđịnh trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam thực sự là một bước phát triểnvượt bậc Trong xã hội phong kiến, việc nuôi con nuôi chủ yếu nhằm mục đíchđảm bảo sự kế tục trong việc thờ cúng tổ tiên, nối dõi tông đường; khuyếchtrương quyền thế gia đình; nuôi con nuôi vì mê tín dị đoan… vì vậy có thể nhậnthấy việc cho nhận con nuôi trong chế độ phong kiến chủ yếu là xuất phát từ lợiích của người nhận con nuôi chứ không vì quyền lợi của chính người con nuôi.Mục đích của việc nhận nuôi con nuôi theo quy định của Luật Hôn nhân vàgia đình Việt Nam thể hiện tính nhân đạo của nhà nước và có sự tương đồng sovới chế định nuôi con nuôi của một số nước có nền pháp luật khá hoàn thiện trênthế giới Đơn cử như: Điều 1741 Bộ luật dân sự Đức hay Điều 2 Luật về nuôicon nuôi của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đều quy định: mục đích củaviệc nhận con nuôi phải nhằm thiết lập quan hệ cha mẹ và con cái giữa ngườinuôi con nuôi và người con nuôi, bảo đảm vì sự phát triển và hạnh phúc củangưòi con nuôi Việc pháp luật Việt Nam có những nét tương đồng so với pháp
Trang 6luật một số nước phát triển, thể hiện chính sách nhân đạo và tư duy tiến bộ vềquan hệ nuôi con nuôi, sự tôn trọng pháp luật quốc tế và các công ước về quyềntrẻ em mà Việt Nam đã ký kết.
Việc nuôi con nuôi trước hết phải xuất phát từ mục đích quan trọng là vì lợiích của người được nhận làm con nuôi, nhằm mang lại cho đứa trẻ có được mộtmái ấm gia đình, được yêu thương, đùm bọc, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dụctrong điều kiện bình thường như bao đứa trẻ khác… Bên cạnh đó việc nuôi connuôi cũng phải xuất phát từ nhu cầu tình cảm của người nhận nuôi con nuôinhằm thiết lập quan hệ tình cảm gắn bó trong mối quan hệ giữa cha mẹ và concái
Xuất phát từ ý nghĩa xã hội và mục đích nhân đạo của việc nuôi con nuôi lànhững trẻ mồ côi, trẻ lang thang cơ nhỡ, trẻ bị bỏ rơi, trẻ bị tàn tật vv Nhà nướccòn cho phép nhận người đã thành niên là thương binh, người tàn tật, người mấtnăng lực hành vi dân sự được làm con nuôi của người già yếu cô đơn, để cha,
mẹ nuôi và con nuôi nương tựa, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau Tuy nhiên mối quan
hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôểntong các trường hợp này phải dựa trên cơ sởhoàn cảnh thực tế và phù hợp với đạo đức xã hội
Như vậy, việc nuôi con nuôi trước hết phải nhằm xác lập quan hệ cha mẹ
và con, giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi, qua đó bảo vệđược lợi ích chính đáng của ca hai bên Đặc thù của quan hệ nuôi con nuôi chính
là ở chỗ xác lập quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi, chứ không chỉ là việc đảmbảo cho người được nhận làm con nuôi được trông nom nuôi dưỡng, chăm sóc,giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội Mục đích việc xác lập quan hệ cha mẹnuôi và con nuôi nhằm để hình thành một gia đình thực sự, đó cũng là điểm đặctrưng cơ bản để phân biệt việc nuôi con nuôi với những hình thức chăm sóc nuôidưỡng khác Hơn nữa, người nhận nuôi và người được nhận nuôi đều không chỉhướng tới việc chăm sóc, nuôi dưỡng nhau mà điều quan trọng hơn cả đối với họ
là thiết lập và gắn bó với nhau trong một mối quan hệ khăng khít như một giađình ruột thịt
Trang 7Nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng làquan hệ xã hội được hình thành và phát triển một cách khách quan Nó tồn tạinhư một nhu cầu tất yếu trong cuộc sống của con người cần được thỏa mãn lợiích nào đó, có thể là nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm nhưng cũng có thể nó bịbiến dạng bởi những tính toán vật chất Vì vậy để việc nuôi con nuôi phù hợpvới bản chất tốt đẹp của nó cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật.
Chính vì nhận thức rằng: quan hệ nuôi con nuôi cần phải được điều chỉnhbằng những quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm cho mối quan hệ đó có cơ sở đểtồn tại và phát triển theo một trật tự và phạm vi nhất định, phù hợp với lợi íchchung của cộng đồng và xã hội vì vậy Nhà nước ta luôn xây dựng và điều chỉnhcác quy định pháp luật cho sát với thực tế phát triển của mối quan hệ có phầnnhạy cảm và tương đối phức tạp này
Xét về phương diện xã hội việc nhận nuôi con nuôi là thể hiện quan hệ xãhội cao đẹp, thể hiện truyền thống tương thân tương ái, đùm bọc, giúp đỡ lẫnnhau giữa con người với con người, đặc biệt là với trẻ em mồ côi không nơinương tựa Việc nuôi con nuôi cũng là một trong những biện pháp tốt nhất và cóhiệu quả nhất để giải quyết tình trạng trẻ em mồ côi, lang thang không nơinương tựa, giúp em có được mái ấm gia đình, được đùm bọc giáo dục trong sựđược yêu thương của cha mẹ
Việc giới thiệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn từ các gia đình hoặc
bị bỏ rơi tại các cơ sở y tế được làm con nuôi cũng sẽ góp phần giảm bớt khókhăn cho các gia đình đông con nghèo khó hoặc những phụ nữ sinh con ngoài ýmuốn không có điều kiện nuôi dưỡng con hay như việc tìm cho các em một mái
ấm gia đình đó cũng chính là một chính sách nhằm góp phần làm ổn định xãhội Hơn nữa, cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài cũng phầnnào làm giảm bớt gánh nặng cho các cơ sở nuôi dưỡng của nhà nước trong điềukiện kinh tế - xã hội Việt Nam còn nhiều khó khăn như hiện nay
Đối với bản thân đứa trẻ, khi được sống trong một mái ấm gia đình sẽ đượcquan tâm che chở, được thương yêu, chăm sóc… sẽ làm thay đổi cơ bản số phậncủa một con người Đứa trẻ sẽ được nuôi dưỡng trong môi trường thuận lợi để
Trang 8phát triển hài hòa về thể chất, nhân cách và tinh thần Qua kết quả phản ánh từphía cha mẹ nuôi người nước ngoài trong thời gian vừa qua thì đại đa số trẻ emViệt Nam đều hội nhập nhanh với môi trường gia đình mới và được nuôi dưỡng,chăm sóc chu đáo, được đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp như trẻ em củanước sở tại.
Đối với người nhận nuôi con nuôi, việc nuôi con nuôi đem lại cho họ sựthỏa mãn về nhu cầu tình cảm Có nhiều trường hợp nhận trẻ em làm con nuôi
do họ không có được cơ hội làm cha, làm mẹ, họ cần có một đứa trẻ để họ yêuthương chăm sóc Cũng có những trường hợp do họ nhìn thấy những đứa trẻlang thang, những em bé không có được đầy đủ tình yêu thương của cha mẹ mànhận về làm con nuôi, để chia sẻ tình yêu thương, xây dựng mái ấm gia đình Vìvậy xét về mọi góc độ đều có thể thấy: nuôi con nuôi có là một vấn đề mang tính
xã hội sâu sắc, thể hiện tinh thần nhân đạo cao cả, với “mục đích cơ bản là đemđến cho đứa trẻ một gia đình chứ không phải đem đến cho gia đình một đứa trẻ”
[3,tr.5]
1.2 Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Nhu cầu sinh tồn và phát triển đã buộc con người phải liên kết với nhauthành những cộng đồng Giữa các thành viên của cộng đồng luôn nảy sinhnhững liên hệ về vật chất và tinh thần với nhau, những mối liên hệ này luôn cógiới hạn nên người ta gọi chúng là các “quan hệ” Những quan hệ xuất hiệntrong quá trình sản xuất và phân phối của cải vật chất, trong việc thỏa mãnnhững nhu cầu văn hóa, tinh thần cũng như trong việc bảo vệ lợi ích của xã hộithì được gọi là “quan hệ xã hội” Quan hệ xã hội rất đa dạng và phong phú, đó
có thể là quan hệ lao động, quan hệ tài sản hay quan hệ gia đình… Trong quan
hệ gia đình còn có quan hệ giữa cha mẹ; vợ chồng; quan hệ giữa cha mẹ và cáccon (trong đó quan mối hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi là một thực tế)
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một trong các nhóm quan hệ hônnhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, đó là việc nuôi con giữa công dân ViệtNam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam với
Trang 9nhau hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ pháp lý làm phát sinh,thay đổi chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài.
Hiểu theo nghĩa rộng, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn bao gồm việcnuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bênđịnh cư ở nước ngoài Tuy nhiên, như đã nói ở trên, đề tài sẽ xoay quanh vấn đềngười nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi
Như chúng ta đã biết: Người nước ngoài là người không có quốc tịch ViệtNam, bao gồm công dân nước ngoài và người không quốc tịch Công dân nướcngoài là người có quốc tịch nước ngoài và không đồng thời có quốc tịch ViệtNam
Việc xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ nuôi con nuôi, trước hếtnhằm xác định thẩm quyền của các cơ quan nhà nước của Việt Nam trong việcgiải quyết các vấn đề phát sinh Đồng thời việc xác định yếu tố nước ngoài trongquan hệ nuôi con nuôi còn nhằm mục đích xem quan hệ đó có thuộc đối tượngđiều chỉnh của tư pháp quốc tế Việt Nam hay không Điều đó cũng giúp cho các
cơ quan chức năng có thẩm quyền của Việt Nam xác định được đúng mối quan
hệ pháp luật một khi có xảy ra các tranh chấp phát sinh liên quan đến quan hệnuôi con nuôi nhằm đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích của công dân Việt Namnói chung và quyền lợi của đứa trẻ được nhận làm con nuôi nói riêng
1.3 Pháp luật điều chỉnh quan hệ người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi
Pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Việt Nam từ trước đếnnay đều thể hiện truyền thống đạo đức Việt Nam, lấy lợi ích tốt nhất của trẻ emđược cho làm con nuôi và quan hệ gia đình bền vững giữ cha mẹ nuôi và connuôi làm mục tiêu cơ bản Hệ thống các văn bản quy định về vấn đề này kháchặt chẽ, đảm bảo tính thống nhất giữa văn bản pháp luật quốc gia và các vănbản pháp luật quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia Quan hệ nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài là một bộ phận quan trọng, không thể tách rời của hệ thốngpháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam vớingười nước ngoài
Trang 10Để điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi quốc tế, pháp luật là công cụ mangtính thiết thực và hiệu quả nhất Pháp luật nuôi con nuôi quốc tế ở Việt Namhiện nay gồm hai nguồn: nguồn quốc tế và nguồn quốc gia Ở nguồn quốc tế,Việt Nam đã ký trên 10 hiệp định về hợp tác nuôi con nuôi quốc tế Về phíapháp luật quốc gia, vấn đề nuôi con nuôi quốc tế được quy định trong một sốvăn bản luật như: Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Nghị định 68/2002/NĐ-
CP ngày 10/07/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân
và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Nghị định69/2006/NĐ-CP ngày 21/07/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định68/2002/NĐ-CP; Thông tư của Bộ Tư pháp số 07/2002/TT-BTP ngày16/12/2002 về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số68/2002/NĐ-CP; và Thông tư của Bộ Tư pháp số 08/2006/TT-BTP ngày08/12/2006 hướng dẫn thực hiện một số quy định về nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài Điểm đáng chú ý nhất có thể thấy là việc hạn chế, điều chỉnh hoạtđộng cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi Pháp luật ViệtNam quy định rõ về các bước thực hiện của giai đoạn đầu trong việc làm thủ tụccho nhận con nuôi, ví dụ như: về điều kiện của người nhận nuôi, của con nuôi,rồi thủ tục cho nhận con nuôi… Còn đối với giai đoạn sau của quá trình nuôicon nuôi quốc tế (vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của đứa trẻ trong mối quan hệvới bố mẹ nuôi ở nước mà nó cư trú) Sau khi trẻ em Việt Nam đã được bàn giaocho bố mẹ nuôi - thì gần như pháp luật Việt Nam không thể phát huy được hiệulực, bởi lẽ hiệu lực của hệ thống pháp luật mỗi quốc gia luôn chỉ có giá trị trênlãnh thổ của mình Trong khi đó, các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Namvới nước ngoài cũng chỉ dừng lại ở mức độ quy định về vấn đề luật áp dụng vàthẩm quyền giải quyết quan hệ nuôi con nuôi quốc tế Các hiệp định hợp tác vềnuôi con nuôi quốc tế - dù đã đi xa hơn và hiệu quả hơn khi thiết lập các cơ chế
hỗ trợ song phương trong việc đảm bảo một cuộc sống tốt đẹp cho đứa trẻ ngay
cả khi nó đã được chuyển ra nước ngoài sinh sống - nhưng lại hạn chế ở haiđiểm căn bản, đó là:
Trang 11- Các hiệp định hợp tác nuôi con nuôi vẫn chưa thực sự là một khung pháp
lý đầy đủ để chi phối được rộng khắp các vấn đề có thể phát sinh trong nuôi connuôi quốc tế;
- Hay như là các hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi quốc tế hiện nay tuy
đã rõ ràng nhưng vẫn là những thỏa thuận riêng lẻ giữa Việt Nam với từng nước
cụ thể, trong khi số lượng các nước có hiệp định với Việt Nam lại là rất hạn chế
Trang 12CHƯƠNG II PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ NGƯỜI NƯỚC
NGOÀI NHẬN TRẺ EM VIỆT NAM LÀM CON NUÔI
2.1 Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Kể từ khi Cách Mạng tháng Tám thành công đến nay, quá trình hình thành
và phát triển của pháp luật nước ta về điều chỉnh quan hệ pháp luật nuôi connuôi có yếu tố nước ngoài có thể chia thành hai giai đoạn sau:
Giai đoạn thứ nhất, từ năm 1945 đến năm 1986, đây là giai đoạn pháp luật
Việt Nam còn thiếu nhiều, chưa bao quát và điều chỉnh được các quan hệ phátsinh trong đời sống xã hội Thời gian này, vấn đề cho và nhận con nuôi nhìnchung không nhiều, chủ yếu diễn ra giữa công dân Việt Nam ở trong nước vớinhau và được thực hiện theo tập quán Vì vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm
1959 và điều lệ đăng ký hộ tịch ban hành kèm theo nghị định số 04/NĐ-CP ngày16/01/1961 (áp dụng ở miền Bắc) chỉ đề cập một cách đơn giản đến thủ tục côngnhận và giải quyết việc nuôi con nuôi, riêng các việc về hộ tịch của ngoại kiều
cư trú trên lãnh thổ Việt Nam bao gồm cả việc nuôi con nuôi cũng được tiếnhành như công dân trong nước Có thể thấy rằng luật chưa có quy định rõ vềquyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi với con nuôi cũng không quy định riêngtrình tự thủ tục cho việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.Kết thúc chiến tranh, nước ta có rất nhiều trẻ em mồ côi cha mẹ, không còn
họ hàng thân thích cưu mang, đùm bọc Trong khi đó, các cơ sở nuôi dưỡng bảotrợ xã hội cũng chưa đủ khả năng đón nhận trẻ về chăm sóc, nuôi dưỡng và cũngchưa thu xếp cho các gia đình trong nước nhận về làm con nuôi Trong bối cảnh
đó nhu cầu nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài bắt đầu xuất hiện, nhưng phápluật Việt Nam chưa có sự điều chỉnh nên mặc dù nuôi con nuôi có yếu tố nướcngoài hay nói cụ thể hơn đó là việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làmcon nuôi đã diễn ra trên thực tế nhưng lại rất ít được đăng ký tại cơ quan nhànước có thẩm quyền
Trang 13Giai đoạn thứ hai, từ năm 1986 đến nay:
Từ cuối năm 1986, Đảng và nhà nước ta thực hiện đường lối đổi mới, mởcửa, các quan hệ dân sự giữa công dân Việt Nam với nhau và với người nướcngoài ngày càng phát triển Các quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam vớicông dân nước ngoài, trong đó có quan hệ nuôi con nuôi (chủ yếu là người nướcngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi) ngày càng gia tăng
Quy định nuôi con nuôi trong luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã cónhững bước phát triển mới Chế định nuôi con nuôi được quy định tại Chương
VI gồm 6 điều, từ Điều 34 đến Điều 39 Tuy nhiên, quy định về nuôi con nuôitrong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 chủ yếu vẫn mang tính nguyên tắc,khái quát chung, bao gồm các quy định về mục đích của việc nuôi con nuôi,quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi và con nuôi, điều kiện để được nhận connuôi và điều kiện để được nhận làm con nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyềncông nhận việc nuôi con nuôi hoặc ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi
Để hướng dẫn thi hành quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 1986 nóichung, quy định về nuôi con nuôi nói riêng, ngày 20 tháng 01 năm 1988, HộiĐồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban hành nghị quyết số 01/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của luật hôn nhân và gia đình Tạimục 6 vủa Nghị quyết hướng dẫn việc nuôi con nuôi trong luật hôn nhân và giađình năm 1986, bao gồm quy định về con nuôi thực tế, giải quyết trường hợpcha mẹ đòi lại con đã cho người khác làm con nuôi, quyền thừa kế của con nuôiđối với tài sản của cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ, các trường hợp chấm dứt việc nuôicon nuôi và hậu quả của việc chấm dứt nuôi con nuôi
Trong một thời gian khá dài pháp luật Việt Nam chưa có quy định thốngnhất cụ thể nên việc quản lý và giải quyết cho trẻ em Việt Nam làm con nuôingười nước ngoài gặp rất nhiều khó khăn như: mỗi địa phương vận dụng và giảiquyết theo các hướng khác nhau; Việc người nước ngoài xin trẻ em Việt Namlàm con nuôi chủ yếu phát sinh ở các khu công nghiệp, liên doanh với nướcngoài hoặc tỉnh, thành phố lớn cũng đồng thời xuất hiện các hiện tượng thu gom
Trang 14trẻ em và tìm cách môi giới cho người nước ngoài nhằm kiếm lợi nhuận…; Từthực tế trên đây, các tổ chức con nuôi nước ngoài bắt đầu có nhu cầu vào ViệtNam để tìm hiểu tình hình tuy nhiên việc chưa có cơ sở pháp lý đã là một ràocản pháp luật để các cơ quan chức năng Việt Nam có thể ngăn ngừa và kiểmsoát được những hiện tượng tiêu cực này.
Trước tình hình đó, ngày 02/4/1992 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành quyếtđịnh số 145/ HĐBT quy định tạm thời về việc cho người nước ngoài nhận connuôi là trẻ em Việt Nam bị bỏ rơi, mồ côi, tàn tật ở các cơ sở nuôi dưỡng do BộLao động - Thương binh và Xã hội quản lý Sau đó ngày 19/01/1993 Liên bộLao động thương binh xã hội – Tư pháp – Ngoại giao – Nội vụ đã ban hànhthông tư liên bộ số 01/TT-LB hướng dẫn thi hành quy định tạm thời trên Quyđịnh tạm thời trên đã đáp ứng được phần nhu cầu của người nước ngoài xinnhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi Tuy nhiên, Quyết định số 145/HĐBT mớichỉ điều chỉnh việc người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôiđang sống trong cơ sở nuôi dưỡng do ngành Lao động thương binh xã hội quản
lý, còn việc người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi thuộc cácđối tượng khác như trong các cơ sở y tế, trong các gia đình nghèo đông con,…thì chưa có văn bản nào quy định
Ngày 2/12/1993, Quốc hội nước ta đã ban hành pháp lệnh hôn nhân và giađình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài (gọi là pháp lệnh 1993) Đểthi hành pháp lệnh này và hướng dẫn áp dụng các quan hệ cụ thể về hôn nhângia đình có yếu tố nước ngoài chính phủ ban hành nghị định 184/2004/NĐ-CPNgày 30/11/1994 quy định về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi connuôi, nhận đỡ đầu công dân Việt Nam và người nước ngoài Sau đó, ngày25/5/1995, liên bộ Tư pháp – Ngoại giao – Nội vụ ban hành thông tư số 503 quyđịnh chi tiết về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡđầu giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài Như vậy, khung pháp luật vềnuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đã được ban hành tạo cơ sở pháp lý thốngnhất bảo đảm việc giải quyết vấn đề cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi ngườinước ngoài
Trang 15Cũng tại thời kỳ này hoạt động cho nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài do
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đảm nhiệm, nguồn trẻ em được cho làmcon nuôi người nước ngoài chỉ từ các cơ sở nuôi dưỡng do ngành quản lý Từ đó
đã xuất hiện các hiện tượng độc quyền của một số cơ sở nuôi dưỡng đối với việccho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi
Việc thực hiện theo quyết định số 145/HĐBT tuy có những kết quả nhấtđịnh nhưng cũng đã gây ra không ít hậu quả phức tạp, tạo dư luận không tốttrong và ngoài nước Điển hình là một số cán bộ bị tha hóa, biến chất đã bị đưa
ra xét xử do vi phạm pháp luật trong vấn đề giải quyết cho người nước ngoàinhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ra được ban hành đã có những quyđịnh cụ thể chi tiết hơn về vấn đề cho nhận con nuôi quốc tế, quy định đầy đủđiều kiện đối với người con nuôi, người nhận con nuôi và những người có quyềnlợi và nghĩa vụ liên quan; Trình tự thủ tục cũng đã được luật hóa, tạo đượckhung pháp lý cho mọi người tuân theo
Chính phủ cũng đã ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn thi hành luậtHôn nhân và gia đình năm 2000 như Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày10/07/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình
về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Nghị định
69/2006/NĐ-CP ngày 21/07/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định CP; Thông tư của Bộ Tư pháp số 07/2002/TT-BTP ngày 16/12/2002 về việchướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP; và Thông tưcủa Bộ Tư pháp số 08/2006/TT-BTP ngày 08/12/2006 hướng dẫn thực hiện một
68/2002/NĐ-số quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
2.2 Điều kiện nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài 2.2.1 Điều kiện đối với người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi
Khoản 1 Điều 105 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, điều kiện đối vớingười nhận nuôi con nuôi phải tuân theo quy định của Luật Hôn nhân và giađình Việt Nam và pháp luật của quốc gia mà người đó là công dân về điều kiện
Trang 16nhận nuôi con nuôi Như vậy thì trước hết người nhận nuôi con nuôi phải thỏamãn đầy đủ các điều kiện do Luật hôn nhân và gia đình quy định, cụ thể nhưsau:
Thứ nhất, người nhận nuôi con nuôi phải có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ (Khoản 1 Điều 69 Luật HN&GĐ), điều này thể hiện sự tự nguyện trong vấn
đề nhận nuôi con nuôi và thể hiện khả năng chăm sóc giáo dục của cha mẹ nuôivới con nuôi
Thứ hai, người nhận nuôi con nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên
(Khoản 2 Điều 69 Luật HN&GĐ), đây là khoảng cách tuổi tối thiểu giữa cha mẹnuôi và con nuôi Việc quy định về khoảng cách tuổi giữa cha mẹ nuôi và connuôi như vậy là phù hợp với độ tuổi kết hôn cũng như độ tuổi sinh con về mặtsinh học
Thứ ba, người nhận nuôi con nuôi phải có tư cách đạo đức tốt (Khoản 3
Điều 69 Luật HN&GĐ), điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nuôi connuôi Tư cách đạo đức của cha mẹ nuôi có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trìnhhình thành và phát triển nhân cách của trẻ, đặc biệt đối với trẻ nhỏ khi đó các emchưa có khả năng nhận thức độc lập Để xác định tư cách đạo đức của ngườinhận nuôi con chúng ta cần xem xét quan điểm của họ về việc giáo dục trẻ, tìnhtrạng hôn nhân, lý lịch tư pháp…Đối với người nước ngoài xin nhận trẻ em ViệtNam làm con nuôi chúng ta có thể tìm hiểu tư cách đạo đức của họ thông quaBản điều tra về tâm lý, gia đình, xã hội của người xin nhận nuôi con nuôi Đểđảm bảo tối đa cho trẻ có một môi trường tốt để phát triển nhân cách của mìnhthì các cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần xác minh mộtcách trung thực nhất tư cách đạo đức của người nhận nuôi con nuôi
Thứ tư, người nhận nuôi con nuôi phải có điều kiện thực tế đảm bảo việc
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con nuôi (Khoản 4 Điều 69 LuậtHN&GĐ), chúng ta có thể hiểu những điều kiện đó là những điều kiện trực tiếpliên quan trực tiếp đến quyền làm cha mẹ của người nhận nuôi con nuôi, nhưđiều kiện về sức khỏe, thời gian, kinh tế Điều này được thể hiện trong bộ hồ
Trang 17sơ khi người nước ngoài muốn nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi thì bộ hồ sơphải có giấy chứng nhận sức khỏe thể hiện tại tại thời điểm xin nhận nuôi connuôi người đó có đủ sức khoẻ, không mắc bệnh tâm thần hoặc không mắc bệnhkhác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, không mắc bệnhtruyền nhiễm; Giấy tờ xác nhận về tình hình thu nhập của người xin nhận connuôi, chứng minh người đó bảo đảm việc nuôi con nuôi; Phiếu lý lịch tư phápcủa người xin nhận con nuôi; Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn đối với ngườixin nhận con nuôi, trong trường hợp người xin nhận con nuôi là vợ chồng đangtrong thời kỳ hôn nhân.
Thứ năm, người nhận nuôi con nuôi không phải là người đang bị hạn chế
một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưađược xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhânphẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ,chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứachấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em;các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làmnhững việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội
Các điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi trên đây được áp dụng đối vớitất cả các trường hợp nhận nuôi con nuôi, không phân biệt người nhận nuôi con nuôi
là người độc thân hay là người đang có vợ hoặc chồng Điều 70 Luật Hôn nhân vàgia đình năm 2000 quy định: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng cùng nhận nuôi connuôi thì vợ chồng đều phải có đủ các điều kiện quy định tại điều 69 của Luật này”.Ngay cả trong trường hợp vợ hoặc chồng nhận con riêng của bên kia làm con nuôithì vẫn phải đảm bảo các điều kiện nhận nuôi theo quy định của pháp luật Tuy nhiênnếu nhất thiết đòi hỏi người nhận nuôi con riêng của chồng hoặc vợ mình làm connuôi mà bắt buộc phải hơn con từ hai mươi tuổi trở lên là quá cứng nhắc và hạn chếviệc thiết lập quan hệ cha mẹ và con giữa hai bên, ảnh hưởng đến việc hình thànhmột gia đình trọn vẹn
Trang 18Pháp luật nước ta chỉ cho phép trẻ em có thể làm con nuôi của một người hoặc
cả hai là vợ chồng, vợ chồng phải là những người khác giới có quan hệ hôn nhân(Khoản 1 Điều 36 Nghị định 68) Quan hệ hôn nhân ở đây được hiểu là quan hệ hônnhân hợp pháp, tức là quan hệ vợ chồng được xác lập trên cơ sở thỏa mãn đầy đủ cácđiều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn
Khác với Việt Nam, trường hợp hai vợ chồng cùng nhận nuôi con nuôi bêncạnh một số điều kiện về độ tuổi, đạo đức…pháp luật một số nước còn quy định vềthời gian đã kết hôn với nhau nhằm đảm bảo tính ổn định của gia đình mà đứa trẻđược nhận về nuôi, tránh sự xáo trộn xấu như bố mẹ nuôi ly hôn, cãi vã, xung đột.Pháp luật một số nước công nhận việc xác lập quan hệ vợ chồng hợp phápgiữa hai người cùng giới tính như ở Thụy Điển… Theo quy định của nước ta thìngười nước ngoài muốn nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi thì đồng thời phảituân theo hai hệ thống pháp luật: pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước màngười đó là công dân, như vậy cặp vợ chồng đồng giới không đủ điều kiện đểnhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi
Người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các điềukiện của người nhận con nuôi theo quy định tại Điều 69 Luật Hôn nhân và giađình năm 2000 và pháp luật của nước mà người đó là công dân (Khoản 1 Điều
105 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) Theo đó, pháp luật áp dụng để xácđịnh điều kiện của người nhận nuôi là luật quốc tịch Tuy nhiên, theo quy địnhtại khoản 1 Điều 37 Nghị định số 68/CP thì người nước ngoài phải đáp ứngđược các điều kiện của người nhận nuôi theo quy định của pháp luật của nướcnơi người nhận nuôi thường trú, tức là áp dụng hệ thuộc luật nơi thường trú.Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy pháp luật quy định không thống nhất về luật
áp dụng để xác định điều kiện của người nhận nuôi Bên cạnh đó điều kiện củangười nhận nuôi con được xác định qua các các hiệp định tương trợ tư pháp vàhiệp định hợp tác nuôi con nuôi giữa nước ta với các nước khác Trong các hiệpđịnh song phương này, việc lựa chọn pháp luật được áp dụng để xác định điềukiện của người nhận nuôi con nuôi cũng dựa vào hai hệ thuộc luật trên
Trang 19Ngoài các điều kiện trên thì tại khoản 8 Điều 1 Nghị định số 69/NĐ-CP, ngườinước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi phải là người đang thường trú tạinước mà cũng như Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế nhiều bên vềhợp tác nuôi con nuôi Người nước ngoài thường trú tại nước mà cũng như ViệtNam chưa là thành viên của điều ước quốc tế hai bên, hoặc điều ước quốc tế nhiềubên vể hợp tác nuôi con nuôi Trong những trường hợp này để muốn nhận trẻ emViệt Nam làm con nuôi thì chỉ được xem xét giải quyết nếu người đó thuộc mộttrong các trường hợp sau đây:
- Có thời gian công tác, học tập làm việc ở Việt Nam từ 6 tháng trở lên; có vợchồng, cha mẹ là công dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam;
- Có quan hệ họ hàng thân thích với trẻ em được xin nhận làm con nuôi hoặcđang có con nuôi là anh chị em ruột của trẻ em được xin nhận làm con nuôi
Đối với người nước ngoài tuy không thuộc một trong các trường hợp trên,nhưng xin nhận trẻ em khuyết tật, mất năng lực hành vi dân sự, nạn nhân nhiễm chấtđộc, nhiễm HIV/AIDS, mác các bệnh hiểm nghèo đang sống ở cơ sở nuôi dưỡnghoặc gia đình làm con nuôi thì cũng được xem xét giải quyết
Có thể nhận thấy pháp luật đã quy định các điều kiện đối với người muốn nhậnnuôi tương đối toàn diện Tuy nhiên vẫn còn một số khía cạnh chưa quy định cụ thểnên việc xác định tư cách của người nhận nuôi con nuôi còn gặp khó khăn
2.2.2 Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi
Việc nuôi con nuôi hướng tới đối tượng trước tiên là trẻ em nên pháp luậtthường quy định độ tuổi tối đa của người được nhận làm con nuôi Theo Khoản 1Điều 68 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Người được nhận làm connuôi phải là người từ mười lăm tuổi trở xuống” Đây là những đối tượng chưa trưởngthành đầy đủ về thể chất và tinh thần, đang trong quá trình định hình và phát triểnnhân cách, rất cần sự quan tâm nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục của người lớn Khituổi còn nhỏ sự giáo dục, dạy dỗ của người lớn có ảnh hưởng tới việc hình thànhnhân cách của trẻ trong tương lai Quy định về độ tuổi của người được nhận làm connuôi như vậy là tương đối phù hợp với quy định về độ tuổi của một số ngành luậtkhác như luật lao động, khi các em đến độ tuổi lao động và có khả năng lao động
Trang 20kiếm sống thì việc nhận con nuôi không thực sự còn nhiều ý nghĩa nữa, hơn nữa vào
độ tuổi này các em cũng có khả năng nhận thức sự việc một cách tương đối chínhxác… Như vậy, quy định về độ tuổi của người được nhận làm con nuôi là khá phùhợp về mặt thực tế xã hội, hơn nữa, việc quy định độ tuổi của trẻ được nhận làm connuôi phải là từ mười lăm tuổi trở xuống cũng là phù hợp với việc các em được ngườinước ngoài nhận làm con nuôi vì nếu một khi đã quá tuổi quy định như trên naychuyển sang một môi trường mới, tiếp xúc với ngôn ngữ mới khác hẳn với cuộcsống ở Việt Nam khi đó các em sẽ rất khó thích nghi để hoà nhập
Ngoài Luật HN&GĐ, điều kiện để trẻ em Việt Nam được nhận làm con nuôingười nước ngoài còn được quy định cụ thể chi tiết trong nghị định số 68/CP và nghịđịnh số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định
số 68/CP Theo quy định tại khoản 9 Điều 1 Nghị định 69/NĐ-CP thì: “trẻ em đượcnhận làm con nuôi phải là trẻ em từ mười lăm tuổi trở xuống Trẻ em từ trên mườilăm đến dưới mười sáu tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu là trẻ em tàn tật, trẻmất năng lực hành vi dân sự” Trẻ em được nhận làm con nuôi của người nước ngoàilà: trẻ em đang sống tại các cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp hoặc trẻ emđang sống tại gia đình hoặc trẻ em đang chữa bệnh ở nước ngoài Đó là những trẻ em
bị bỏ rơi; mồ côi; khuyết tật, tàn tật; mất năng lực hành vi dân sự; trẻ em là nạn nhâncủa chất độc hóa học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo khác.Ngoài những trẻ em đó, những trẻ em sống trong gia đình mà có quan hệ họ hàng,thân thích với người xin nhận con nuôi hoặc có anh chị em ruột đang làm con nuôicủa người xin nhận con nuôi cũng được xem xét giải quyết (khoản 9 điều 1 nghị định
số 69/NĐ-CP) qua đó đã mở ra hướng cho phép người nước ngoài được nhận trẻ emmắc các bệnh hiểm nghèo đang chữa bệnh tại nước sở tại được nhận làm con nuôi.Bên cạnh đó, trường hợp nhận trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên phải cần có sự đồng ýcủa chính bản thân đứa trẻ Đây là quy định được kế thừa Điều 36 của Luật Hônnhân và gia đình năm 1986 Quy định này thể hiện sự tôn trọng nguyện vọng củangười được nhận làm con nuôi, bởi về độ tuổi này có thể đứa trẻ chưa nhận thứcđược toàn bộ vấn đề nhưng cũng đã nhận thức được về môi trường sống và hệ quảcủa việc được nhận làm con nuôi, đứa trẻ có quyền không đồng ý làm con nuôi nếu
Trang 21thấy không phù hợp với bản thân, hoặc không có tình cảm Tuy nhiên thực tế chothấy, quy định này chưa được thực hiện đầy đủ, có khá nhiều trường con nuôi trên 9tuổi nhưng không có ý kiến của con nuôi trong việc nuôi con nuôi Pháp luật một sốnước cũng có quy định về vấn đề này nhưng còn tuỳ thuộc điều kiện xã hội của mỗinước vì vậy mới có các quy định khác nhau:
Ví dụ: ở Trung Quốc quy định độ tuổi này là trên 10 tuổi, Đức 14 tuổi, Pháp 13Tuổi, Thụy Điển 12 tuổi…Một số nước còn quy định muốn nhận nuôi con nuôi thìphải trải qua một thời gian chung sống và nuôi dạy đứa trẻ để tìm hiểu cuộc sống và
cá tính của nhau xem có hợp không(Pháp quy định thời gian là 3 tháng, Đức quy
định phải có một khoảng thời gian hợp lý….) [6,tr.377]
So với việc nuôi con nuôi trong nước thì diện trẻ em được làm con nuôi củangười nước ngoài được quy định có phần hẹp và chặt chẽ hơn Với quy định nàynhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhưng sẽ không có điều kiện được nhậnlàm con nuôi người nước ngoài nếu những đứa trẻ này không được nhận vào các cơ
sở nuôi dưỡng hoặc không có quan hệ họ hàng thân thích với người nhận nuôi connuôi, do đó hạn chế quyền được sống trong mái ấm gia đình của trẻ
Bên cạnh những quy định về điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi, điềukiện của trẻ em được nhận làm con nuôi thì còn cần có sự thể hiện ý chí một số chủthể khác có liên quan như cha mẹ đẻ, người giám hộ:
Thứ nhất: sự thể hiện ý chí của cha mẹ đẻ
Cha mẹ đẻ có quyền quyết định cho con làm con nuôi trên cơ sở tự nguyện Sự
tự nguyện được thể hiện ở mong muốn và tình cảm của cha mẹ đẻ, phù hợp với lợiích của con nuôi, nhận thức đầy đủ ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc cho con làmcon nuôi Sự đồng ý đó phải được thể hiện một cách khách quan và được pháp luậtquy định bắt buộc bằng văn bản Sự đồng ý của cha mẹ đẻ khi cho con đi làm connuôi cần phân biệt một số trường hợp cụ thể sau:
Trong trường hợp đứa trẻ còn cha mẹ đẻ thì cần có văn bản thể hiện sự đồng ýcủa cả cha và mẹ ngay cả khi cha mẹ đẻ đã ly hôn (Khoản 1 Điều 26 Nghị định số158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính Phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch,viết tắt là Nghị định 158/CP)
Trang 22Khi một người, cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết hoặc bị tuyên bố là đã chết, mất tíchhoặc mất năng lực hành vi dân sự thì chỉ cần sự đồng ý của người kia.
Khi không xác định được cha đẻ hoặc mẹ của đứa trẻ thì chỉ cần sự đồng ý củangười còn lại
Thứ hai: sự đồng ý của người giám hộ
Theo quy định tại khoản 1 Điều 58 Bộ luật dân sự năm 2005 về giám hộ:
“Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được phápluật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đâygọi chung là người được giám hộ)”
Nếu cha mẹ đẻ của đứa trẻ đều đã chết, hoặc một trong hai người chết, ngườicòn lại mất năng lực hành vi dân sự; cả hai người đều mất năng lực hành vi dân sự;không xác định được cha mẹ đẻ là ai thì việc cho trẻ làm con nuôi cần phải có sựđồng ý bằng văn bản của người giám hộ
Người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng chỉ có quyền đồng ý tạo điều kiện cho trẻ emđang sống tại cơ sở nuôi dưỡng làm con nuôi, nếu đó là trẻ em bị bỏ rơi không xácđịnh được cha mẹ hoặc cha mẹ đẻ của trẻ đó mất năng lực hành vi dân sự hoặc khitrẻ em đó được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng đã có sự đồng ý của cha mẹ đẻ cho conlàm con nuôi
Có thể thấy, về nguyên tắc, ý chí của người giám hộ về việc cho trẻ em đượcgiám hộ làm con nuôi phải xuất phát trên cơ sở ý chí của cha mẹ đẻ đã thể hiện từtrước Nếu cha mẹ đẻ còn sống và có khả năng tự thể hiện ý chí của mình thì việccho con mình đi làm con nuôi thì phải do chính họ quyết định
Sự đồng ý của cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ phải được thể hiện bằng văn bảndựa trên sự tự nguyện không bị lừa dối, cưỡng ép Nếu có dấu hiệu lừa dối, cưỡng éphay gian lận để đạt được sự đồng ý này sẽ bị coi là vô hiệu và việc nuôi con nuôi sẽ
bị hủy bỏ
Pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều quy định hiệu lực của việcnhận nuôi con nuôi phụ thuộc vào sự đồng ý của những người có liên quan:
Trang 23Nhóm người thứ nhất có liên quan gồm: cha, mẹ đẻ của đứa trẻ hoặc người đạidiện theo pháp luật hoặc người giám hộ hoặc người thân thích Về bản chất thì đây lànhững người có trách nhiệm nuôi dạy đứa trẻ và họ có quyền được quyết định giaođứa trẻ cho ai để nó có được cuộc sống tốt đẹp nhất.
Nhóm thứ hai có liên quan là bố mẹ nuôi của đứa trẻ, nếu hai vợ chồng cùngnhận nuôi con nuôi thì họ phải cùng phải làm đơn xin nhận nuôi con nuôi, nếu chỉmột người xin nhận nuôi con nuôi thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người kia
2.3 Thủ tục đăng ký việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài bao gồm những việc sau: Đăng ký việc nuôi con nuôi tại cơ quan cơquan có thẩm quyền ở Việt Nam; Đăng ký việc nuôi con nuôi tại khu vực biên giới;Đăng ký nuôi con nuôi tại cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam.Trong từngtrường hợp cụ thể đó, thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi có sự khác biệt về đặcđiểm, nội dung, trình tự thủ tục và thẩm quyền Điều đó trước hết là do sự khác nhau
về chủ thể trong từng loại việc chi phối Sự khác nhau về chủ thể là yếu tố cơ bảndẫn đến sự khác nhau về tính chất, đặc điểm của mỗi loại việc này Việc đăng ký vàcông nhận việc nuôi con nuôi còn bị chi phối bởi quan hệ hợp tác giữa nước ta vớicác nước dựa trên nguyên tắc có đi có lại
2.3.1 Đăng ký việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi tại Việt Nam
Theo quy định tại khoản 9 Điều 1 Nghị định 69/NĐ-CP thì trẻ em Việt Namđược cho làm con nuôi người nước ngoài là trẻ em từ hai nguồn: cơ sở nuôi dưỡngđược thành lập hợp pháp và từ chính gia đình đứa trẻ
Các cơ sở nuôi dưỡng gọi chung là các trung tâm bảo trợ xã hội Các cơ sở nàyđược thành lập với mục đích nhân đạo, không vì lợi nhuận, tiếp nhận đối tượng đặcbiệt khó khăn, không tự lo được cuộc sống, không có điều kiện sống cùng với gia
đình Việc tiếp nhận trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng được thực hiện theo quy định tại
Điều 2 Quy chế thành lập và hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội (ban hành kèm theoNghị định số 25/2001/NĐ-CP ngày 31/5/2001), bao gồm: “người có hoàn cảnh đặc
Trang 24biệt khó khăn, không tự lo được cuộc sống thuộc trong những trường hợp như: trẻ
em mồ côi bị mất nguồn nuôi dưỡng, không còn người thân thích để nương tựa…các đối tượng khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định” Như vậy, chỉnhững trẻ em được tiếp nhận hợp pháp, đúng đối tượng theo quyết định thành lậptrung tâm bảo nuôi dưỡng mới có thể được cho làm con nuôi người nước ngoài Tuynhiên chưa có văn bản giải thích rõ “các đối tượng khác do cơ quan nhà nước cóthẩm quyền quyết định” là những đối tượng nào nên chưa giải quyết triệt để việc tiếpnhận trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng [8,tr22-26]
* Thẩm quyền việc đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam: Theo quy định tại Điều 39 Nghị định số 68/NĐ-CP, cơ quan có thẩm quyền
đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có
cơ sở nuôi dưỡng trẻ em hoặc Ủy ban nhân tỉnh nơi thường trú của cha mẹ đẻ hoặccủa người giám hộ trẻ
Trình tự, thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
Nếu người xin nhận nuôi con nuôi chưa xác định được đích danh trẻ em cầnxin làm con nuôi thì cơ quan có thẩm quyền sẽ giới thiệu trẻ em cho họ theo quyđịnh tại Điều 51 Nghị Định 68/NĐ-CP Việc giới thiệu trẻ làm con nuôi chỉđược thực hiện đối với trường hợp người xin nhận con nuôi thường trú tại nước
đã ký kết hoặc cùng gia nhập điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi với ViệtNam và chỉ được giới thiệu trẻ em đang sống ở cơ sở nuôi dưỡng làm con nuôi,không được giới thiệu trẻ em đang sống tại gia đình(điểm3.3.1 thông tư 07/TT-BTP)
Theo quy định từ điều 40 đến điều 50 Nghị định 68/NĐ-CP, một số quyđịnh sửa đổi bổ sung tại Nghị định 69/NĐ-CP và mục II điểm 3 Thông tư07/TT-BTP thì trình tự, thủ tục giải quyết đăng ký nuôi con nuôi được thực hiệnnhư sau: khi nhận được hồ sơ của người xin nhận nuôi con nuôi, Cục con nuôiquốc tế kiểm tra, xem xét toàn bộ hồ sơ Nếu thấy hồ sơ đã đầy đủ hợp lệ, ngườixin nhận nuôi con nuôi có đủ điều kiện nhận nuôi con nuôi, Cục con nuôi quốc
tế đề nghị Sở Tư pháp hướng dẫn cơ sở nuôi dưỡng làm hồ sơ cho trẻ em Hồ
Trang 25sơ của trẻ em được làm xong trong thời hạn 30 ngày Sở Tư pháp có trách nhiệmkiểm tra lại toàn bộ giấy tờ trong hồ sơ của trẻ em; thẩm tra tính hợp pháp của
hồ sơ; xác minh, làm rõ nguồn gốc của trẻ em; Nếu thấy trẻ em có nguồn gốckhông rõ ràng hoặc có vấn đề cần xác minh, Sở Tư pháp đề nghị cơ quan Công
an cùng cấp xác minh
Khi nhận được hồ sơ của trẻ em, Cục con nuôi quốc tế kiểm tra lại toàn bộ
hồ sơ đó Nếu đã đầy đủ và hợp lệ, Cục con nuôi quốc tế cho ý kiến về việc giảiquyết cho trẻ em làm con nuôi và gửi hồ sơ của người xin nhận con nuôi cho Sở
Tư pháp Nếu thấy hồ sơ của trẻ em chưa đầy đủ, chưa hợp lệ thì Cục con nuôiquốc tế yêu cầu bổ sung hoàn thiện hồ sơ
Khi được Sở Tư pháp thông báo người xin nhận con nuôi phải có mặt tạiViệt Nam để hoàn tất thủ tục xin nhận con nuôi Theo quy định tại khoản 13Điều 1 Nghị định 69/NĐ-CP, nếu không thể có mặt ở Việt Nam vì lý do kháchquan, thì người xin nhận nuôi con nuôi có thể ủy quyền cho Văn phòng nuôi connuôi của nước đó tại Việt Nam, thay mặt họ nộp lệ phí và bản cam kết cho Sở
Tư pháp Trên cơ sở đó, Sở Tư pháp báo cáo kết quả thẩm tra và đề xuất ý kiến,trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ký Quyết định cho nhận trẻ em ViệtNam làm con nuôi, nếu việc xin nhận con nuôi đó không thuộc trường hợp từchối đăng ký theo quy định tại điều 50 Nghị định 68/NĐ-CP và là biện pháp bảo
vệ lợi ích của trẻ em đó Sở Tư pháp tiến hành việc giao nhận con nuôi trongthời hạn 7 ngày kể từ ngày ký Quyết định Việc giao nhận con nuôi được tổchức tại trụ sở Sở Tư pháp, với sự có mặt đầy đủ của các bên Không chấp nhậnviệc ủy quyền giao nhận con nuôi Đại diện văn phòng con nuôi nước ngoài cóthể tham dự lễ giao nhận con nuôi với tư cách là người chứng kiến Quyết địnhgiao nhận con nuôi có hiệu lực kể từ ngày tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào
sổ đăng ký con nuôi [5,tr103]
Đây là loại việc chủ yếu chiếm số lượng lớn nhất trong các loại việc vềnuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Trang 26Đối với cácn cơ sở nuôi dưỡng còn có hiện tượng giữ trẻ lại để nhận sự hỗtrợ về vật chất, tài chính của các tổ chức con nuôi nước ngoài [8,tr3-4] Điều nàylàm cho việc giải quyết nuôi con nuôi không thể thực hiện tiếp được, nhưngcông dân Việt Nam ở trong nước muốn nhận trẻ trong cơ sở nuôi dưỡng làm connuôi cũng không hề dễ dàng nếu không muốn nói là khó khăn Đây là một hiệntượng không lành mạnh, cần có biện pháp khắc phục kịp thời Mặt khác, do chỉ
có một số cơ sở nuôi dưỡng mới có quyền giới thiệu trẻ em làm con nuôi ngườinước ngoài nên dẫn tới sự không bình đẳng giữa các cơ sở nuôi dưỡng
Hoạt động của các tổ chức con nuôi nước ngoài: qua thực tiễn hoạt độngcho thấy, hiệu quả hoạt động của các tổ chức này còn rất khiêm tốn, đặc biệt làcủa Pháp Trong gần 400 hồ sơ con nuôi được giải quyết cho người Pháp thì chỉ
có 13% được giải quyết thông qua 5 tổ chức nuôi con nuôi của Pháp, 87% cònlại thông quan con đường cá nhân [1,tr23] Bên cạnh đó “đã bắt đầu xuất hiệnhiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức nuôi con nuôi vớinhau, gây khó khăn cho việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi và trở ngại cho côngtác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này”[7,tr27] Tăng cường hiệu quả hoạtđộng của các tổ chức này là một vấn đề có ý nghĩa thiết thực
Pháp luật còn thiếu các quy định minh bạch về phí, lệ phí và các vấn đề tàichính có liên quan khác trong quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài Thực tế cho thấy có rất nhiều khoản chi phí cần phải có để làmnhững thủ tục cần thiết như khám sức khỏe của trẻ em, xét nghiệm, đăng báotìm cha mẹ đẻ của trẻ, photo những giấy tờ cần thiết… Những khoản này khôngđược cấp từ ngân sách nhà nước mà do cơ sở nuôi dưỡng tự xoay sở Mặt khác,khi không có sự quy định minh bạch về tài chính sẽ tạo cơ hội cho các bên cóthể thỏa thuận ngầm với nhau những “mức giá” nhất định nhằm có được trẻ đểnhận nuôi Chính điều đó làm biến dạng việc nuôi con nuôi, làm nảy sinh sựcạnh tranh không lành mạnh và thúc đẩy hành vi môi giới trục lợi trong lĩnh vựcnày Vì vậy việc quy định một cách cụ thể, minh bạch những vấn đề tài chính cóliên quan trong lĩnh vực này là một yêu cầu cấp thiết khách quan phù hợp vớiquy định trong các Hiệp định hợp tác nuôi con nuôi giữa nước ta với các nước,
Trang 27đáp ứng đòi hỏi chính đáng của các nước nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi vàđảm bảo tính nhân đạo của việc cho nhận con nuôi.
* Đăng ký việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi tại khu vực biên giới
Thẩm quyền: Theo quy định tại điều 66 Nghị định 68/NĐ-CP, việc nuôi
con nuôi giữa công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dâncủa nước láng giềng cùng thường trú tại khu vực biên giới với Việt Nam do Ủyban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện Trườnghợp nếu một bên chủ thể không thuộc diện thường trú ở khu vực biên giới thìviệc đăng ký nuoi con nuôi không thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp
xã [5,tr39]
Trình tự thủ tục: Người xin nuôi con nuôi phải nộp hồ sơ xin nhận con
nuôi tại Bộ phận tiếp nhận hồ sơ Ủy ban nhân dân cấp xã thẩm tra hồ sơ vàniêm yết việc xin nhận con nuôi trong vòng 7 ngày liên tục tại trụ sở Ủy bannhân dân xã [5,tr.119] Uỷ ban nhân dân cấp xã công văn gửi Sở Tư pháp kèmtheo một bộ hồ sơ để xin ý kiến Sở Tư pháp xem xét hồ sơ và có ý kiến trả lờibằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngàynhận được ý kiến của sở Tư Pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định việc chonhận con nuôi và tiến hành giao nhận con nuôi như đối với trường hợp đăng kýnuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau ở trong nước theo quy định củapháp luật về đăng ký hộ tịch
Như vậy, Nghị định số 68/NĐ-CP đã thực hiện việc phân cấp thẩm quyềnđăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới cho Ủyban nhân dân cấp xã Việc phân cấp thẩm quyền như vậy đảm bảo tính khả thicủa việc đăng ký con nuôi tại địa phương qua đó đảm bảo được lợi ích của cácbên có liên quan, tạo cơ sở pháp lý để giải quyết những vấn đề phát sinh Tuynhiên, thực tế việc quản lý nhà nước về đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nướcngoài ở khu vực biên giới chưa được thực hiện tốt, cơ quan quản lý cấp trênkhông nắm bắt được tình hình thực tế việc cho nhận con nuôi có yếu tố nướcngoài ở khu vực biên giới Nguyên nhân chủ yếu là do Ủy ban nhân dân cấp xã