1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường lý luận và thực tiễn áp dụng

53 369 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 370 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường thường gây ra những thiệt hại đáng kể, đó có thể là những hậu quả hiện hữu ngay tại thời điểm có hành vi gây ra thiệt hại và cũng có thể là những hậu quả tiềm ẩn, chỉ sau một khoảng thời gian dài mới bộc lộ sự nguy hại cao độ. Vấn đề cấp thiết là xử lý các hành vi vi phạm và yêu cầu các đối tượng có hành vi gây thiệt hại tới môi trường phải thực hiện bồi thường thiệt hại đối với những hậu quả về môi trường mà họ gây ra. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại (TNBTTH) không chỉ nhằm đảm bảo việc đền bù tổn thất đã xảy ra mà còn giáo dục mọi người về ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Hiện nay, trên các diễn đàn thời sự tại nước ta luôn đề cập nhiều đến các vụ việc gây ô nhiễm, thiệt hại môi trường. Càng ngày chúng ta càng phát hiện thêm nhiều số lượng các vụ vi phạm pháp luật môi trường: vụ Huyndai Vinasin, vụ Vedan, các khu công nghiệp gây ô nhiễm... Tuy nhiên, bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường hiện lại chưa phải là một vấn đề được nghiên cứu sâu tại Việt Nam trong khi thực tiễn yêu cầu bồi thường mang tính cấp bách, kịp thời. Mặt khác, tại thời điểm này, Chính phủ đang tiến hành lấy ý kiến nhân dân về dự thảo Nghị định quy định về việc xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái gây ra đối với môi trường. Nếu dự thảo được thông qua thì đây sẽ là 1 cơ sở pháp lý quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường. Vì vậy, trong khóa luận tốt nghiệp của mình, sinh viên đã lựa chọn đề tài: “Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường Lý luận và thực tiễn áp dụng.”

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường thường gây ra những thiệt hạiđáng kể, đó có thể là những hậu quả hiện hữu ngay tại thời điểm có hành vi gây

ra thiệt hại và cũng có thể là những hậu quả tiềm ẩn, chỉ sau một khoảng thờigian dài mới bộc lộ sự nguy hại cao độ Vấn đề cấp thiết là xử lý các hành vi viphạm và yêu cầu các đối tượng có hành vi gây thiệt hại tới môi trường phải thựchiện bồi thường thiệt hại đối với những hậu quả về môi trường mà họ gây ra.Trách nhiệm bồi thường thiệt hại (TNBTTH) không chỉ nhằm đảm bảo việc đền

bù tổn thất đã xảy ra mà còn giáo dục mọi người về ý thức tuân thủ pháp luật,bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của ngườikhác

Hiện nay, trên các diễn đàn thời sự tại nước ta luôn đề cập nhiều đến các

vụ việc gây ô nhiễm, thiệt hại môi trường Càng ngày chúng ta càng phát hiệnthêm nhiều số lượng các vụ vi phạm pháp luật môi trường: vụ Huyndai Vinasin,

vụ Vedan, các khu công nghiệp gây ô nhiễm Tuy nhiên, bồi thường thiệt hại

do hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường hiện lại chưa phải là một vấn đềđược nghiên cứu sâu tại Việt Nam trong khi thực tiễn yêu cầu bồi thường mangtính cấp bách, kịp thời

Mặt khác, tại thời điểm này, Chính phủ đang tiến hành lấy ý kiến nhândân về dự thảo Nghị định quy định về việc xác định thiệt hại do ô nhiễm, suythoái gây ra đối với môi trường Nếu dự thảo được thông qua thì đây sẽ là 1 cơ

sở pháp lý quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình giải quyết bồi thường thiệthại về môi trường

Vì vậy, trong khóa luận tốt nghiệp của mình, sinh viên đã lựa chọn đề tài:

“Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường - Lý luận và thực tiễn ápdụng.”

Trang 2

2 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận nhằm nghiên cứu một cách tương đối toàn diện, đầy đủ, có hệthống về lý luận và thực tiễn của hoạt động bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suythoái môi trường Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả củahoạt động bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường

3 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề bồi thường thiệt hại do ô nhiễm,

suy thoái môi trường: lý luận về thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do

ô nhiễm, suy thoái môi trường;

- Thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi

trường và các vướng mắc trong các quy định của pháp luật;

- Thực tiễn hoạt động yêu cầu và giải quyết bồi thường thiệt hại: số lượng

các vụ yêu cầu, kết quả giải quyết, hạn chế và nguyên nhân;

- Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động bồi thườngthiệt hại do suy thoái, ô nhiễm môi trường

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở của phương pháp luận duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử Mác-xit, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng

và Nhà nước ta về quá trình bồi thường thiệt hại do vi phạm pháp luật dân sự nóichung, giải quyết các vụ vi phạm pháp luật môi trường nói riêng

Các phương pháp cụ thể sau được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề

tài như sau: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp đối chiếu

5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Các văn bản quy phạm pháp luật, các tài liệu có liên quan đến hoạt

động bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường

Trang 3

- Thực tiễn yêu cầu và giải quyết bồi thường thiệt hại trong thời gian qua.

6 Cơ cấu luận văn

Ngoài phần mục lục, phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo thì phần nội dung của luận văn bao gồm 3 chương :

Chương 1: Lý luận cơ bản về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái

môi trường

Chương 2: Thực trạng các quy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết

bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bồi thường thiệt hại

do ô nhiễm, suy thoái môi trường

Trang 4

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM,

SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG

1.1 Lý luận về thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường.

Ở Mỹ, từ những năm 60-70 của thế kỷ 20, nhiều đạo luật về môi trường

đã được ban hành: Luật bảo vệ môi trường liên bang 1969, Luật không khí sạchnăm 1970, Luật về sản phẩm an toàn 1972 (1) Điều đáng nói là tại Mỹ thời gian

đó đã có rất nhiều án lệ liên quan đến việc bồi thường do gây ô nhiễm như vụBoomer kiện công ty xi măng và vụ Misour kiện Holland

Ở Úc, luật môi trường ban đầu cũng hình thành từ các án lệ về bồi thườngthiệt hại do gây ô nhiễm Một số đạo luật quan trọng của chính quyền liên bang

về môi trường như: Luật bảo vệ môi trường 1981, Luật bảo vệ thế giới hoang dã

1982, Luật bảo vệ tầng ôzôn 1989 (2)

Như vậy có thể nói rằng các án lệ về bồi thường thiệt hại do gây ô nhiễmmôi trường đã có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành pháp luật môi trườngtại các nước phương Tây

Trên phạm vi thế giới hiện nay đang tồn tại song song 2 quan niệm khácnhau về thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường

Một số các quốc gia cho rằng thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trườngchỉ bao gồm thiệt hại đối với các yếu tố môi trường tự nhiên như hệ động thựcvật, đất, nước, không khí mà không bao gồm thiệt hại đối với tài sản, tínhmạng của con người

Phần lớn các quốc gia khác lại quan niệm rằng thiệt hại về môi trườngkhông chỉ bao gồm các thiệt hại về môi trường tự nhiên mà còn bao gồm cả cácthiệt hại về tài sản, tính mạng của con người do ô nhiễm, suy thoái môi trường

1 1, 2: Giáo trình Luật môi trường – Đại học Luật Hà Nội, trang 35- 36

Trang 5

gây nên Trong quan niệm này, một số ít quốc gia còn coi lợi ích về văn hóa, lợiích về tình cảm, thẩm mỹ, giải trí (lợi ích phi vật chất) cũng là một loại thiệt hại

do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây nên.(1) Tuy nhiên pháp luật các nước cũnggiới hạn rõ ràng quyền khởi kiện của người bị hại đối với loại lợi ích này Chẳnghạn ở Anh, chỉ riêng lợi ích thẩm mỹ giải trí bị xâm hại thì không được coi là cơ

sở khởi kiện các vụ án về môi trường mà các lợi ích trên phải đặt trong mối quan

hệ với một yếu tố môi trường cụ thể bị xâm hại

Tại Việt Nam, tính từ thời điểm Luật Bảo vệ môi trường 2005 được banhành, thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường được xác định theo quan niệmthứ 2

Nguyên nhân dẫn đến thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường có thể do

sự cố môi trường hay hành vi vi phạm pháp luật môi trường nhưng dù xuất phát

từ nguyên nhân nào thì cũng đều dẫn đến các loại thiệt hại như nhau Theo đó,Điều 130 Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã xác định rõ 2 loại thiệt hại do ônhiễm, suy thoái môi trường bao gồm:

- Suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường

- Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợppháp của các tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữuích của môi trường gây ra

Xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường một cách rõ ràng nhưtrên là phù hợp với bản chất khoa học của hiện tượng ô nhiễm, suy thoái môi

trường Khoản 6, khoản 7 Điều 3 định nghĩa :“Ô nhiễm môi trường là sự biến

đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật Suy thoái môi trường là sự suy giảm

về số lượng, chất lượng của các thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.” Các định nghĩa trên cho thấy ô nhiễm, suy thoái môi

1 1 Luận án tiến sĩ luật học “ Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Việt Nam” - giảng viên Vũ Thu Hạnh - trường Đại học Luật Hà Nội.

Trang 6

trường trước hết là sự biến đổi, sự suy giảm các thành phần môi trường Nhưvậy, thiệt hại đối với môi trường tự nhiên là thiệt hại trực tiếp hay nói cách khác,chính các yếu tố của môi trường tự nhiên là đối tượng bị xâm hại trực tiếp.Những thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe đối với cá nhân, tổ chức cư trútại khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái phát sinh trên cơ sở tồn tại các thiệthại đối với môi trường sinh thái.

Việc phân biệt hai loại thiệt hại như kim chỉ nam cho quá trình xây dựngcác quy định pháp luật và thực hiện bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoáimôi trường Bởi lẽ nếu xác định sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môitrường là thiệt hại trực tiếp thì việc bồi thường đối với thiệt hại này phải được

ưu tiên giải quyết trong quá trình thực hiện bồi thường Mặt khác do sự phức tạpcủa đặc tính lý hóa học trong các thành phần môi trường mà tính chất thiệt hạicủa các thành phần môi trường tự nhiên là tích tụ, dần dần lan rộng và khó kiểmsoát, vì vậy cách thức xác định và thu thập chứng cứ đối với loại thiệt hại nàyđòi hỏi những quy định pháp luật đặc trưng và riêng biệt trong quá trình xâydựng pháp luật

Cách xác định thiệt hại như trên cũng phù hợp với quan điểm pháp luậtcủa nhiều nước như Anh, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Canada, Malaysia, Singapor,Nga Cụ thể theo pháp luật các nước này, những thiệt hại do ô nhiễm, suy thoáimôi trường gây nên thuộc phạm vi bồi thường bao gồm: Thiệt hại đối với môitrường, thiệt hại về tài sản vật chất, thiệt hại về kinh tế, thiệt hại về tính mạngsức khỏe.(1)

Bên cạnh đó, chúng ta có thể nhận thấy tính đặc thù của thiệt hại do ônhiễm, suy thoái môi trường so với thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng quy định tại Bộ luật dân sự 2005 Theo điều 604 Bộ luật dân

sự 2005 thì thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao

1 1 Luận án tiến sĩ luật học “ Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Việt Nam”-giảng viên Vũ Thu Hạnh-trường Đại học Luật Hà Nội.

Trang 7

gồm thiệt hại về tài sản; tính mạng- sức khỏe; tinh thần Như vậy, thiệt hại do ônhiễm, suy thoái môi trường khác biệt ở chỗ:

- Thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường bao gồm thiệt hại tới chứcnăng, tính hữu ích của môi trường và thiệt hại tới tính mạng, sức khoẻ, tài sảncủa con người;

- Xác định thiệt hại trực tiếp là thiệt hại đối với môi trường sinh thái;

- Thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường không bao gồm thiệt hại dotổn thất về mặt tinh thần

1.2 Lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường

TNBTTH ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự phát sinh khi có hành vi

vi phạm các quy định của pháp luật mà gây thiệt hại tới tính mạng, sức khỏe, tàisản của các cá nhân, tổ chức Tuy nhiên không thể dựa vào khái niệm này đểđưa ra một khái niệm tương tự đối với TNBTTH do ô nhiễm, suy thoái môitrường dù TNBTTH do ô nhiễm, suy thoái môi trường cũng là một loại

TNBTTH ngoài hợp đồng Nếu chỉ định nghĩa đơn giản rằng TNBTTH do ô

nhiễm, suy thoái môi trường là hậu quả pháp lý bất lợi mà các tổ chức, cá nhân phải gánh chịu khi vi phạm các quy định pháp luật môi trường, gây thiệt hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức khác thì chưa thật chính xác

và đầy đủ Bởi lẽ, thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường có thể do hành vigây ô nhiễm, suy thoái môi trường hoặc là do sự cố môi trường Sự cố môitrường có thể bắt nguồn từ yếu tố con người nhưng chưa hẳn là do hành vi cố ý

vi phạm các quy định pháp luật môi trường Tuy nhiên một khi sự cố môi trườngxảy ra và gây thiệt hại thì việc bồi thường thiệt hại luôn được đặt ra Sở dĩ có sựđặc biệt như vậy là do tính chất đặc trưng của đối tượng mà các quy định phápluật môi trường muốn bảo vệ Luật Bảo vệ môi trường được đặt ra với mục tiêuhàng đầu là gìn giữ sự cân bằng của các thành phần môi trường, duy trì một môitrường tự nhiên trong lành để con người tồn tại và phát triển Không nằm ngoài

Trang 8

mục tiêu chung đó, các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm,suy thoái môi trường phải đảm bảo các thành phần môi trường sẽ được bù đắp

và khôi phục nhanh chóng khi có thiệt hại xảy ra Do vậy, TNBTTH do ô nhiễm,suy thoái môi trường phát sinh ngay cả khi không có hành vi vi phạm các quyđịnh pháp luật môi trường và điểm mấu chốt là các loại hành vi này gây ra cácthiệt hại tới môi trường và con người

Như vậy nên hiểu một cách toàn diện rằng TNBTTH do ô nhiễm, suythoái môi trường phát sinh khi có hành vi làm tổn hại môi trường, gây thiệt hạicho nhà nước và người dân

Thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường theo quy định của pháp luậtViệt Nam chỉ được xem xét dưới góc độ thiệt hại về vật chất Do vậy, TNBTTH

do ô nhiễm, suy thoái môi trường cũng chỉ là TNBTTH về vật chất Theo Điều

307 Bộ luật dân sự 2005 thì “TNBTTH về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn

thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút.”

Xuất phát từ nguyên nhân gây ra ô nhiễm, suy thoái môi trường,TNBTTH được chia làm hai loại là TNBTTH do hành vi gây ô nhiễm, suy thoáimôi trường và TNBTTH do sự cố

1.2.1 Bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường và bồi thường thiệt hại do sự cố môi trường.

1.2.1.1 Đặc trưng của bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường

* Cơ sở phát sinh BTTH là các hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môitrường Theo đó: i) Hành vi gây ô nhiễm môi trường là hành vi thải vào môitrường các chất gây ô nhiễm, chất độc hại làm nhiễm bẩn, làm ô uế các thànhphần môi trường; ii) Hành vi gây suy thoái môi trường là hành vi sử dụng, khai

Trang 9

thác quá mức các thành phần môi trường, làm suy giảm, cạn kiệt các nguồn tàinguyên.

* Các loại thiệt hại tính bồi thường bao gồm : i) Thiệt hại về môi trường;ii) Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản

* Chủ thể thực hiện quyền đòi bồi thường: tổ chức, cá nhân là nạn nhâncủa tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường

* Yêu cầu của bên bị hại thường là: chấm dứt hành vi, khắc phục hậu quảhoặc trả toàn bộ chi phí mà tổ chức, cá nhân đã bỏ ra để khắc phục, cải tạo môitrường, đền bù những tổn thất về cây trồng, vật nuôi, trả chi phí khám chữabệnh

Trong thực tế việc phân biệt bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm,suy thoái môi trường với các trường hợp bồi thường ngoài hợp đồng khác khôngphải là một điều khó do đặc trưng nổi bật về cơ sở phát sinh và các loại thiệt hạitính bồi thường của dạng bồi thường này Việc liệt kê các tiêu chí đặc trưng nhưtrên chủ yếu là để có thể so sánh bồi thường thiệt hại do sự cố môi trường và bồithường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường

1.2.1.2 Đặc trưng của bồi thường thiệt hại do sự cố môi trường

Sự cố môi trường là “tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động

của con người hoặc biến đổi thất thường của thiên nhiên, gây ô nhiễm, suy thoáihoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng” ( khoản 8 điều 3 Luật Bảo vệ môi

trường 2005 ) Những tai biến này xảy ra hoàn toàn bất ngờ, nằm ngoài mong

muốn chủ quan của con người Chính những tai biến xảy ra đã tác động đến cácthành phần môi trường, làm biến đổi các thành phần môi trường, gây ô nhiễm,suy thoái môi trường nghiêm trọng

Trách nhiệm pháp lý đối với sự cố môi trường

Những tai biến môi trường thuần túy do biến đổi thất thường của thiênnhiên mà gây thiệt hại như động đất, núi lửa, hạn hán thì không làm phát sinh

Trang 10

trách nhiệm bồi thường thiệt hại Đây được coi như một nguyên tắc hiển nhiêntrong pháp luật dân sự nói chung vì những sự kiện thiên tai này không xuất phát

từ hành vi của con người mà là sức mạnh của thiên nhiên Còn những tai biếnhay rủi ro môi trường xảy ra trong quá trình hoạt động của con người sẽ làmphát sinh trách nhiệm pháp lý dân sự nói chung và TNBTTH do ô nhiễm, suythoái môi trường nói riêng Tuy nhiên nên hiểu sự tác động của con người đếncác sự cố môi trường như thế nào để có thể phân biệt rõ ràng với bồi thườngthiệt hại do hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường

Điều Luật Bảo vệ môi trường 2005 không liệt kê cụ thể các sự cố môitrường nhưng có thể tham khảo khoản 6 Điều 2 Luật Bảo vệ môi trường 1993 vìđiều luật này đã liệt kê một số sự cố môi trường: Theo đó, ngoài nguyên nhân từbão, lũ lụt, hạn hán, động đất thì sự cố môi trường có thể xảy ra do:

i) Hỏa hoạn, cháy rừng, sự cố kĩ thuật gây thiệt hại về môi trường của cơ

sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa, xã hội,

an ninh, quốc phòng gây nguy hại cho môi trường;

ii) Sự cố trong tìm kiếm, thăm dò, khai thác và vận chuyển khoáng sản,dầu khí, sập hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, đắm tàu, sự cố tại cơ sở lọc hóa dầu vàcác cơ sở công nghiệp khác;

iii) Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máysản xuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa phóng xạ

Trước hết, có thể thấy rằng những sự cố môi trường trên đây không thuầntúy là do sức mạnh thiên nhiên Có trường hợp sự cố kết hợp cả hai nguyên nhân

là con người và thiên tai như cháy rừng do hành vi đốt rẫy, nhưng gặp thời tiếtthay đổi, gió to nên gây ra hỏa hoạn trên diện tích rừng lớn Nhưng phần lớn các

sự cố trên xuất phát từ hoạt động của con người tại các nơi và phương tiện đượccoi là nguồn nguy hiểm cao độ Bộ luật dân sự 2005 chỉ rõ nguồn nguy hiểm cao

độ bao gồm phương tiện vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệpđang hoạt động, vũ khí, chất cháy nổ, chất phóng xạ Như vậy, sự cố môi

Trang 11

trường xảy ra trong hoạt động của con người mà gây ra thiệt hại cần được hiểuđầy đủ ở hai khía cạnh: Một là: cơ sở hoạt động của con người ở đây là những

cơ sở do con người tạo ra để phục vụ cho mục đích nghiên cứu và khai thác tàinguyên thiên nhiên và vốn là những cơ sở chứa đựng các nguồn nguy hiểm cao

độ mà có thể phát sinh sự cố vào bất cứ lúc nào, vượt ngoài tầm kiểm soát củacon người, dù con người có trang bị tất cả những biện pháp bảo hộ thì sự cố vẫn

có thể xảy ra; Hai là: con người trong quá trình tiến hành các hoạt động như khaithác, tìm kiếm, vận chuyển tại những nơi nguy hiểm cao độ có thể có những saisót về mặt kỹ thuật dẫn tới những hậu quả không thể lường trước và gây ra thiệthại về môi trường Ở khía cạnh thứ hai, tác động của con người thể hiện rõ rànghơn và cho thấy sự cố môi trường xảy ra trong trường hợp này không phải dohành vi chủ động xả thải gây ô nhiễm môi trường hay hành vi sử dụng quá mứccác thành phần môi trường như cơ sở phát sinh bồi thường thiệt hại do hành vigây ô nhiễm, suy thoái môi trường

Như vậy, cùng là do tác động của con người nhưng biểu hiện của tác độngnày đối với sự cố môi trường là khác biệt và đặc trưng so với tác động của conngười trong trường hợp bồi thường do hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môitrường

Đặc trưng của bồi thường thiệt hại do sự cố môi trường

* Cơ sở phát sinh: tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong hoạt động của conngười như đã phân tích ở trên

* Đại diện bên bị hại: Cơ quan quản lý môi trường ở địa phương (Sở tàinguyên môi trường tỉnh trong trường hợp sự cố xảy ra là 1 tỉnh) Cơ quan nàyvừa là đại diện cho Nhà nước, vừa là đại diện cho nạn nhân Trong một sốtrường hợp cá biệt, Uỷ ban nhân dân tỉnh còn giao nhiệm vụ cho cơ quan Tưpháp địa phương phối hợp cùng cơ quan quản lý môi trường giải quyết vụ việc

Các văn bản pháp luật hiện hành quy định rõ về điều này vì tính chất của

sự cố thường là xảy ra nhanh chóng, dễ phát sinh trên diện rộng, mức độ nguy

Trang 12

hiểm cao và thiệt hại lớn nên các cơ quan địa phương cần khẩn trương huy độnglực lượng để ứng cứu Tuy nhiên, đặc trưng này chủ yếu được phân biệt trongthực tiễn bồi thường, biểu hiện ở sự giải quyết kịp thời cao độ của các cơ quan

có thẩm quyền Còn về mặt lý luận, đặc trưng này không phải là đặc trưng cơbản bởi vì dù là thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường hay thiệthại do sự cố thì thiệt hại trực tiếp cũng là sự suy giảm chức năng, tính hữu íchcủa môi trường Thiệt hại trực tiếp này là thiệt hại tới lợi ích công cộng do nhànước làm đại diện chủ sở hữu nên khi thiệt hại tới các thành phần môi trườngxảy ra trong trường hợp nào thì các cơ quan nhà nước cũng phải có trách nhiệmtham gia giải quyết Nếu là bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm, suythoái môi trường thì cơ quan quản lý môi trường ở địa phương đại diện cho nhànước còn người dân chính mình yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tổn hại vềtính mạng, sức khỏe, tài sản Nếu là bồi thường thiệt hại do sự cố, cơ quan quản

lý môi trường ở địa phương vừa là đại diện cho nhà nước, vừa là đại diện chongười dân đứng ra yêu cầu bồi thường

* Đại diện bên gây hại: Đại diện bên gây hại trong bồi thường thiệt hại dohành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường là các tổ chức, cá nhân đã gây ônhiễm Còn đối với bồi thường thiệt hại do sự cố thì có sự khác biệt hơn Các sự

cố môi trường gây ra thiệt hại rất lớn, thường vượt quá khả năng chi trả bồithường của chủ phương tiện gây ra sự cố nên trong nhiều trường hợp pháp luậtbắt buộc các chủ phương tiện phải mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự Trongtrường hợp này, tùy theo phương thức bảo hiểm mà chủ phương tiện tham giathì bên bị hại có thể yêu cầu đòi bồi thường trực tiếp tổ chức bảo hiểm hoặc chỉđược yêu cầu đồi với chủ phương tiện

* Các khoản bồi thường thiệt hại: bên cạnh các khoản bồi thường về thiệthại tới tính mạng, sức khỏe con người; tài sản của nhà nước và nhân dân thì còngồm các khoản bồi thường về hủy hoại tài nguyên môi sinh, môi trường; điều

Trang 13

động lực lượng, phương tiện, thiết bị để ứng phó sự cố; khảo sát, đánh giá, xácđịnh thiệt hại; giải quyết các thủ tục bồi thường và khắc phục hậu quả.

Mặt khác, sau khi phân loại như trên, có thể hiểu 1 cách thống nhất rằngTNBTTH do ô nhiễm, suy thoái môi trường gồm:

- TNBTTH phát sinh do hành vi vi phạm pháp luật của con người

- TNBTTH phát sinh do sự cố môi trường bắt nguồn từ yếu tố con người

1.2.2 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường

TNBTTH do ô nhiễm, suy thoái môi trường phát sinh là TNBTTH ngoàihợp đồng Điều kiện phát sinh TNBTTH do ô nhiễm, suy thoái môi trường là cơ

sở để xác định trách nhiệm bồi thường, người phải bồi thường, người được bồithường, mức độ bồi thường

Các điều kiện phát sinh TNBTTH do ô nhiễm,suy thoái môi trường baogồm: thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có lỗi củangười gây thiệt hại, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái phápluật

Tuy nhiên, xuất phát từ những điểm đặc thù về lĩnh vực môi trường màcác điều kiện phát sinh TNBTTH do ô nhiễm, suy thoái môi trường cũng cónhững đặc điểm rất riêng, vị trí và vai trò của từng điều kiện có thể khác so vớicác điều kiện làm phát sinh TNBTTH ngoài hợp đồng nói chung và các loạitrách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự

1.2.2.1 Thiệt hại xảy ra

Thiệt hại được bồi thường là hậu quả của môi trường bị tổn hại do hành vicủa chủ thể có trách nhiệm

Thiệt hại xảy ra là tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ônhiễm, suy thoái môi trường bởi mục đích của việc áp dụng trách nhiệm là khôi

Trang 14

phục tình trạng cân bằng vốn có trong các thành phần môi trường, khôi phụctình trạng tài sản cho người bị thiệt hại, do đó nếu không có thiệt hại thì khôngđặt vấn đề bồi thường cho dù có đầy đủ các điều kiện khác

Như đã trình bày tại mục 1.1, có thể nêu một số ví dụ về các loại thiệt hại

do ô nhiễm, suy thoái môi trường sau đây:

Thiệt hại đối với môi trường tự nhiên hay thiệt hại đối với các giá trị sinhthái như: nguồn nước nhiễm các chất thải độc hại, số lượng động thực vật suygiảm, diện tích rừng bị thu hẹp

Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm như một công ty xả nước thải chưa được

xử lý làm cho ruộng lúa, hoa màu của các hộ gia đình bị hại nên năng suất bịgiảm đáng kể Hoặc do dầu tràn làm cho các ao hồ bị nhiễm độc, nguồn tàinguyên thuỷ sản như tôm, cá bị chết rất nhiều Hoặc khi nguồn nước và khôngkhí bị ô nhiễm, đồng cỏ bị nhiễm độc do các chất thải của các cơ sở công nghiệplàm cho các gia súc, gia cầm bị ốm, bị chết gây thiệt hại cho nhân dân

Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm chi phí hợp lý cho việc cứuchữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút; thu nhậpthực tế của người bị thiệt hại và người chăm sóc người bị thiệt hại bị mất, bịgiảm sút… Ví dụ: khi môi trường sống bị ô nhiễm (ô nhiễm nước, ô nhiễmkhông khí, ô nhiễm đất…) sức khoẻ con người bị giảm sút, bị mắc các bệnh vềđường hô hấp, đường tiêu hoá… Những người mắc bệnh phải bỏ ra một khoảntiền chi cho việc khám bệnh, chữa bệnh đồng thời thu nhập của họ bị giảm sút

do không tham gia lao động…

Thiệt hại do tính mạng bị xâm hại bao gồm chi phí cứu chữa, bồi dưỡng,chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết; chi phí mai táng; tiền cấp dưỡng chonhững người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng Thiệt hại do tínhmạng bị xâm hại có thể xảy ra khi có các sự cố môi trường như tràn dầu, nổxăng dầu, cháy rừng…

Trang 15

Thiệt hại về kinh tế hay thiệt hại về các lợi ích thương mại như doanh thu,lợi nhuận của doanh nghiệp sụt giảm khi nằm trong vùng ô nhiễm.

Thiệt hại xảy ra là điều kiện bắt buộc đầu tiên để xem xét việc có phát

sinh TNBTTH hay không Điều này khác với việc xác định trách nhiệm hình sự

và trách nhiệm hành chính có thể không căn cứ vào thiệt hại xảy ra Chẳng hạntrong trách nhiệm hình sự, đối với một số tội có cấu thành hình thức thì khôngđòi hỏi có hậu quả vật chất Ngay đối với một số tội có cấu thành vật chất thìtrong một số trường hợp cá biệt hậu quả chưa xảy ra nhưng do tính chất củahành vi nguy hiểm có khả năng gây ra hậu quả lớn cũng đã cấu thành tội phạm.(1)

1.2.2.2 Hành vi gây ra thiệt hại là hành vi trái pháp luật bảo vệ môi

trường.

Hành vi trái pháp luật được hiểu là các hành vi không tuân theo các quyđịnh của pháp luật bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, sự cốmôi trường, xâm phạm các quyền của công dân được pháp luật bảo vệ nhưquyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản

Những hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường rất đa dạng phongphú Có thể liệt kê ra ở đây một số loại hành vi tương đối phổ biến:

- Những hành vi vi phạm điều cấm của Luật Bảo vệ môi trường 2005.Điều 7 Luật Bảo vệ môi trường 2005 liệt kê 15 hành vi bị nghiêm cấm

- Vi phạm các quy định về đánh giá tác động môi trường hoặc các yêu cầughi tại phiếu thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường

- Vi phạm các quy định về bảo về nguồn tài nguyên thiên nhiên như cácquy định về bảo vệ rừng, khai thác, kinh doanh động vật, thực vật quý hiếm; bảo

vệ nguồn đất, bảo vệ đất; vi phạm các quy định về đa dạng sinh học và bảo tồnthiên nhiên…

1 1 Giáo trình Luật dân sự tập 2-trường Đại học Luật Hà Nội-trang 262

Trang 16

- Vi phạm các quy định về vệ sinh công cộng như quy định về vận chuyển

và xử lý chất thải, rác thải; quy định về tiếng ồn, độ rung…

- Vi phạm các quy định về bảo quản và sử dụng các chất dễ gây ô nhiễm;

vi phạm các quy định về phòng, chống sự cố môi trường trường trong tìm kiếm,thăm dò, khai thác vận chuyển

Như vậy, điểm đặc biệt của yếu tố này trong trách nhiệm bồi thường thiệthại về môi trường là ở chỗ: Hành vi gây thiệt hại xâm hại trực tiếp các yếu tốcủa môi trường Tuy nhiên, không phải mọi hành vi gây thiệt hại cho môi trườngđều là hành vi vi phạm pháp luật môi trường Thiệt hại đối với môi trường có thể

là do sự cố và hành vi bất cẩn trong sử dụng các phương tiện nguy hiểm cao độ

và gây ra sự cố môi trường Không phải bất cứ hành vi vi phạm pháp luật môitrường nào cũng phát sinh TNBTTH Chỉ khi hậu quả của hành vi biểu hiện trênthực tế, gây hại đến các hệ sinh thái, yếu tố môi trường và chủ thể khác thìTNBTTH mới phát sinh

1.2.2.3 Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra.

Thiệt hại thực tế xảy ra là kết quả của hành vi vi phạm pháp luật hay nóimột cách khác, hành vi vi phạm pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra.Nhưng đối với các vụ việc bồi thường thiệt hại về môi trường thì việc xác địnhmối quan hệ trên không hề đơn giản Một thiệt hại về môi trường có thể do hành

vi gây ô nhiễm, suy thoái hoặc do yếu tố thiên nhiên Nếu hai yếu tố này xảy rađồng thời thì rất khó để xác định thiệt hại nào là do các hành vi gây tổn hại tớimôi trường Hoặc trường hợp các hành vi gây thiệt hại tới môi trường đã xảy ra

từ rất lâu, đến thời điểm thu thập chứng cứ thì thiệt hại không còn nghiêm trọngnhư mức độ ban đầu nên việc xác định nguyên nhân gây ra là rất khó Hoặctrường hợp một hành vi gây ra nhiều loại thiệt hại khác nhau và ở các mức độkhác nhau Ví dụ, hành vi của cơ sở sản xuất X thải nước không qua hệ thống xử

lý (có những thông số vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép) vào hồ làm cho

Trang 17

môi trường nước trong hồ bị ô nhiễm, gây chết tôm, cá, từ đó gây thiệt hại đếnsản lượng thuỷ sản trong hồ đó; hoặc hành vi thải khí có các thông số CO,SO2, vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép làm chết lúa, ngô   trong khu vựcđược xác định từ đó làm giảm sản lượng hoa màu của nhân dân.

Đặc điểm này về mặt lý luận đặt ra yêu cầu: trong xác định thiệt hại vàmối quan hệ trên, các quy định của pháp luật môi trường phải kết hợp tính chấtpháp lý và tính chất kỹ thuật chuyên ngành Bên cạnh đó, trong những trườnghợp khó xác định được mối quan hệ nhân quả trên thì phải tìm ra được nguyênnhân trực tiếp nhất hoặc có tính quyết định nhất đối với thiệt hại xảy ra

1.2.2.4 Lỗi của người gây thiệt hại

Khi xem xét các yếu tố cấu thành TNBTTH thì không thể không xem xéttới yếu tố lỗi Điều 308 và điều 604 Bộ luật dân sự 2005 đã thừa nhận hai hìnhthức lỗi trong TNBTTH là lỗi cố ý và lỗi vô ý Do đó, có thể phân tích cáctrường hợp lỗi trong TNBTTH do ô nhiễm, suy thoái môi trường như sau:

* Lỗi trong ô nhiễm, suy thoái môi trường do hành vi của con người:

- Các tổ chức, cá nhân thải các chất độc hại vào môi trường hoặc cố ýkhai thác quá mức các thành phần của môi trường, vi phạm các quy định củapháp luật môi trường Họ nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại tới môitrường, người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong

muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra Đó là lỗi cố ý (khoản 2 điều 308 Bộ

luật dân sự 2005)

- Các tổ chức, cá nhân bất cẩn trong quá trình sử dụng các phương tiệntiềm ẩn rủi ro Ví dụ: anh A điều hành tổ máy hóa chất E của nhà máy Z Dokhông theo dõi thời gian và công suất vận hành của tổ máy liên tục nên đãkhông phát hiện ra tổ máy E gặp sự cố kỹ thuật Tổ máy E bị nổ, hóa chất tràn ravùng ao nuôi thủy sản bên cạnh gây ô nhiễm nguồn nước và hệ sinh thái Trường hợp này, các cá nhân, tổ chức không thấy trước hành vi của mình có khả

Trang 18

năng gây ra thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy rahoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại nhưng cho rằng thiệt

hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được Đó là lỗi vô ý (khoản 2 điều

308 Bộ luật dân sự 2005)

* Lỗi trong ô nhiễm, suy thoái môi trường do sự cố môi trường bắt nguồn

từ tác động của con người:

Như đã phân tích tại mục 1.2.1.2, sự tác động của con người trong sự cố

môi trường thể hiện ở hai khía cạnh là: cơ sở vật chất con người tạo ra để nghiêncứu vốn là những nguồn nguy hiểm cao độ luôn tiềm ẩn rủi ro hoặc trong quátrình hoạt động tại những nguồn nguy hiểm cao độ, con người có những sai sót

về mặt kĩ thuật gây ra sự cố không thể lường trước Vậy việc xem xét lỗi trongtrường hợp này sẽ như thế nào? Theo TS Phùng Trung Tập thì những sự cố môitrường như vậy sẽ được gọi là sự biến pháp lý tương đối mà sự biến pháp lýtương đối là sự biến do con người tác động, còn sự thay đổi và chấm dứt của nócon người không kiểm soát được Như vậy, hành vi tạo ra sự biến pháp lý tươngđối là hành vi có lỗi và là hành vi trái pháp luật.(1) Nếu xét theo quan điểm trênthì lỗi trong ô nhiễm, suy thoái môi trường do sự cố bắt nguồn từ tác động củacon người luôn là lỗi vô ý Khóa luận cũng đồng ý với quan điểm này

Trở lại với khoản 3 Điều 623 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

“Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”

Cụm từ “phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi” không thực

sự chính xác Vì khi chủ sở hữu hoàn toàn không có lỗi thì không thể bắt họ phải

1 1 Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng- http://vietnamese-law-consultancy.com

Trang 19

bồi thường Còn nếu mục đích của điều luật là nâng cao ý thức trách nhiệm củachủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ thì không thể quy định như trên vì điều đólàm quy định pháp luật không rõ ràng và tối nghĩa Như vậy, nên hiểu quy định

trên theo hướng trách nhiệm bồi thường luôn đặt ra ngay cả khi không căn cứ

vào yếu tố lỗi (không căn cứ vào yếu tố lỗi chứ không phải yếu tố lỗi không tồn tại), trừ trường hợp người bị hại có lỗi hoặc sự cố là thiên tai, địch họa, hiểm

họa bất ngờ và cấp thiết (sét đánh làm cháy nhà máy hóa chất, lũ tràn về làmngập đồng ruộng)

Điều 624 Bộ luật dân sự 2005 quy định:“Cá nhân, pháp nhân và các chủ

thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi”.

Nếu hiểu một cách thống nhất về lỗi trong TNBTTH do ô nhiễm, suy thoái môitrường gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý thì trường hợp người gây ô nhiễm môi trườngkhông có lỗi tại Điều 624 là các trường hợp tại điểm a, b khoản 3 Điều 623 Bộluật dân sự

Phân tích như trên để khẳng định lỗi là một căn cứ độc lập khi xem xétTNBTTH do ô nhiễm, suy thoái môi trường

Tại Việt Nam, thiệt hại cho môi trường từ nguồn nguy hiểm cao độthường liên quan tới tàu chở dầu, kho chứa dầu Sự cố xảy ra có thể do bảnthân nguồn nguy hiểm cao độ hoặc do lỗi của người có trách nhiệm Tuy nhiên,

từ phương diện áp dụng TNBTTH thì chỉ cần xác định thiệt hại xảy ra là hậuquả của vi phạm pháp luật mà không cần đến các yếu tố khác.(1) Đây là điểm đặcthù trong áp dụng TNBTTH do ô nhiễm, suy thoái môi trường

Kết luận: Các yếu tố cấu thành TNBTTH do ô nhiễm, suy thoái môi

trường nói trên là các điều kiện cần và đủ Tuy nhiên, trong mỗi 1 tình huốngthực tế thì sự có mặt và vai trò của từng yếu tố là khác nhau Vấn đề đặt ra làphải áp dụng một cách linh hoạt từ lý luận đến thực tiễn

1 1.Luận án tiến sĩ luật học “Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Việt Nam” – trang 63 - giảng viên Vũ Thu Hạnh - Đại học Luật Hà nội

Trang 20

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO Ô NHIỄM,

SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG

2.1 Thực trạng các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại

do ô nhiễm, suy thoái môi trường.

Luật Bảo vệ môi trường 1993 lần đầu tiên đã quy định về TNBTTH do ônhiễm, suy thoái môi trường Tuy nhiên lại chỉ có 1 điều luật quy định về vấn đềnày: các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật môi trường ngoài việc bị

xử lý TNHS và TNHC thì có thể còn phải khắc phục hậu quả bồi thường thiệthại theo quy định của pháp luật (Điều 52) Mặc dù vậy, đó vẫn là cơ sở pháp lýquan trọng, cụ thể để phát sinh quyền yêu cầu đòi BTTH do ô nhiễm, suy thoáimôi trường

Luật Dầu khí 1993, sửa đổi bổ sung 2000 quy định trách nhiệm của các

tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động khai thác dầu khí gây thiệt hại đối vớitài nguyên dầu khí, tài nguyên thiên nhiên khác, môi trường hoặc tài sản của nhànước, của tổ chức, của cá nhân thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định củapháp luật Việt Nam (Điều 44) Luật dầu khí sửa đổi, bổ sung năm 2000 còn yêucầu các tổ chức tiến hành hoạt động khai thác dầu khí phải đóng bảo hiểm vềmôi trường Một số luật chuyên ngành khác như Luật khoáng sản 2005, sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật khoáng sản năm 1996; Luật thủy sản 2003; Luậtbảo vệ và phát triển rừng 2004 cũng có thể hiện quy định về bồi thường thiệt hạinhưng chỉ quy định ngắn gọn và xen kẽ trong các điều luật về quyền và nghĩa vụcủa các chủ thể khai thác và sử dụng tài nguyên

Trang 21

Do sự thiếu các quy định cụ thể về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suythoái môi trường, về xác định thiệt hại, phương pháp xác định thiệt hại, cáchthức bồi thường tại Luật Bảo vệ môi trường 1993 nên Bộ luật dân sự 1995được hiểu như là một sơ sở pháp lý chung để giải quyết mọi vấn đề liên quanđến TNBTTH ngoài hợp đồng, trong đó có TNBTTH do ô nhiễm, suy thoái môitrường.

Trong Bộ luật Dân sự 1995 trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vilàm ô nhiễm môi trường đã được đề cập Trước hết, đó là Điều 628 với quy

định: cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt

hại, thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, trừ trường hợp người bị thiệt hại có lỗi Tại Điều 268 cũng có quy định: Khi sử dụng, bảo quản, từ bỏ tài sản của mình, chủ sở hữu phải tuân theo các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường, nếu làm ô nhiễm môi trường thì chủ

sở hữu có trách nhiệm chấm dứt hành vi gây ô nhiễm, thực hiện các biện pháp

để khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại.

Tuy nhiên, như đã trình bày về lý luận ở trên, thiệt hại do ô nhiễm, suythoái môi trường luôn gồm thiệt hại về môi trường tự nhiên và thiệt hại tới tínhmạng, sức khỏe, tài sản của con người Luật Bảo vệ môi trường 1993 không xácđịnh điều này trong khi Bộ Luật dân sự không có quy định riêng về thiệt hại môitrường (bởi nó vốn chỉ là đặc trưng của luật chuyên ngành)

Đây chính là điểm trống của pháp luật về bảo vệ môi trường trước 2005,dẫn đến sự lúng túng trong thực tiễn giải quyết, không đảm bảo được quyền vàlợi ích hợp pháp của nhà nước và của con người khi phải sống trong vùng môitrường ô nhiễm

Bộ luật dân sự 2005 được ban hành với một số điểm mới về TNBTTHngoài hợp đồng Về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường, Điều 624

quy định: “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường

gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp

Trang 22

người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi” Về mặt từ ngữ, điều luật này quy

định khác hơn so với điều 628 Bộ luật dân sự 1995 Tuy nhiên, không nên hiểumột cách máy móc mà cần xác định rõ tinh thần của điều 624 Bộ luật dân sự

2005 là: người làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại luôn phải chịu trách nhiệmbồi thường trừ trường hợp người bị thiệt hại có lỗi hoặc nguyên nhân dẫn đến ônhiễm môi trường là do thiên tai

Cùng thời điểm đó, Luật Bảo vệ môi trường 2005 ra đời đã tạo ra cơ sởpháp lý rõ ràng và phù hợp với lý luận về thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môitrường

Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã dành hẳn mục 2 chương XIV để quyđịnh chi tiết về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường với cácđiều luật về thiệt hại, xác định thiệt hại, giám định thiệt hại, cách thức giải quyếtbồi thường Các quy định này định hướng rõ ràng cho quá trình thực hiện bồithường thiệt hại trên thực tế So với Luật Bảo vệ môi trường 1993, điểm quantrọng nhất của Luật bảo vệ môi trường 2005 là chỉ ra 2 loại thiệt hại do ô nhiễm,suy thoái môi trường Thiệt hại về môi trường tự nhiên được xác định theo LuậtBảo vệ môi trường 2005, còn thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản được thựchiện theo các quy định của pháp luật dân sự mà quan trọng nhất là Bộ luật dân

sự 2005 Luật Bảo vệ môi trường 2005 còn đề cập đến việc giám định thiệt hại

do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường Việc giám định thiệt hạiđược thực hiện theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc cơ quan giảiquyết bồi thường thiệt hại về môi trưòng Việc lựa chọn cơ quan giám định phảiđược sự đồng thuận của bên đòi bồi thường và bên bồi thường, nếu các bênkhông thống nhất được thì việc chọn tổ chức giám định do cơ quan được giaotrách nhiệm giải quyết việc bồi thường thiệt hại quyết định Quy định pháp luậtnày là sự cụ thể hoá nguyên tắc tham vấn chuyên gia trong quá trình giải quyếttranh chấp môi trường nói chung và giải quyết bồi thường thiệt hại do ô nhiễm,suy thoái môi trường nói riêng

Trang 23

Về sự cố môi trường, hiện nay đang có hai văn bản dưới luật còn hiệu lựcđiều chỉnh, đó là Thông tư của Bộ Khoa học, Công nghệ và môi trường số2262/TT-MTg ngày 29/12/1995 của Bộ trưởng Bộ khoa học, Công nghệ và Môitrường về khắc phục sự cố tràn dầu và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số103/2005/QĐ-TTg ban hành quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu Do sự

cố môi trường chủ yếu là sự cố tràn dầu nên hai văn bản này được xem như cơ

sở pháp lý chủ yếu trong quá trình giải quyết bồi thường thiệt hại So với Thông

tư 2262, Quyết định 103 có rất nhiều điểm mới như đã đưa ra các khái niệm rõràng về sự cố tràn dầu, sự cố tràn dầu đặc biệt nghiêm trọng, ứng phó sự cố tràndầu, khắc phục sự cố tràn dầu; quy định về tổ chức ứng phó sự cố tràn dầu mộtcách chi tiết, cụ thể như tiếp nhận thông tin, xử lý thông tin, phân cấp ứng phó

sự cố; quy định về giải quyết sự cố tràn dầu như xác định thiệt hại bồi thường,kinh phí giải quyết bồi thường; quy định về trách nhiệm của các tổ chức, cánhân đối với sự cố tràn dầu Bên cạnh đó, Thông tư 2262 vẫn chứa những quyđịnh quan trọng như nguyên tắc bồi thường thiệt hại do sự cố tràn dầu; thủ tục

và hồ sơ pháp lý đòi bồi thường Hai văn bản này do hai chủ thể khác nhau banhành nên chúng vẫn còn hiệu lực song song

Sự hoàn thiện từng bước của các quy định pháp luật đã phần nào thíchứng được với thực tiễn bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường.Tuy nhiên, sau hơn 2 năm thực hiện Luật Bảo vệ môi trường 2005, chúng ta đãnhận thấy thực trạng pháp luật vẫn tồn tại một số điểm còn vướng mắc, bất cậptrong các quy định về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường

2.1.1 Về xác định thiệt hại

*Thứ nhất: Quy định pháp luật hiện hành chưa xác định thiệt hại từng

thành phần của môi trường

Điều 131 Luật bảo vệ môi trường 2005 quy định chi tiết về xác định thiệthại, cụ thể:

Trang 24

- Xác định 3 mức độ thiệt hại là: có suy giảm, suy giảm nghiêm trọng, suygiảm đặc biệt nghiêm trọng

- Xác định giới hạn, diện tích của khu vực, vùng bị thiệt hại: vùng lõi bịsuy giảm nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, vùng đệm trực tiếp bị suygiảm, vùng khác bị ảnh hưởng từ vùng lõi và vùng đệm

- Xác định thành phần môi trường bị suy giảm: số lượng thành phần môitrường bị thiệt hại, mức độ thiệt hại của từng thành phần

Đây là điều luật đầu tiên quy định về xác định thiệt hại do ô nhiễm, suythoái môi trường, áp dụng chung trong xác định thiệt hại tới các nguồn tàinguyên sinh vật Tuy nhiên, hiện tại pháp luật chưa có các quy định để lượnghóa các mức độ suy thoái môi trường nên việc xác định mức độ suy giảm chứcnăng, tính hữu ích của môi trường do môi trường bị suy thoái mới chỉ dừng lại ởcác mức định tính Trên thực tế, quy định trên dường như chỉ đơn thuần mangtính định hướng, giúp nhận biết có thiệt hại về môi trường và khoanh vùng bịthiệt hại Quy định pháp luật chỉ nêu chung chung rằng phải xác định từng thànhphần môi trường bị thiệt hại, mức độ suy giảm từng thành phần mà không chỉ rõcác thành phần môi trường phải xác định là những thành phần môi trường nào

Vì vậy, quy định pháp luật cần có hướng dẫn cụ thể về các thành phần môitrường bị thiệt hại được xem xét, đánh giá

Thiệt hại là yếu tố quan trọng bậc nhất để xác định và tính mức bồithường Do vậy, phải xác định và tính toán cụ thể sự thiệt hại của từng thànhphần môi trường Mặt khác, mỗi thành phần của môi trường lại có tính chất khácnhau nên cách xác định thiệt hại cũng khác nhau, không thể dựa vào vào 1 quyđịnh chung như trên để xem xét Chỉ khi căn cứ vào một số liệu tính toán chínhxác thì mới giải quyết được yêu cầu bồi thường hợp lý

Trong khi đó, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và lợi ích hợp phápcủa các tổ chức, cá nhân lại dựa trên cơ sở dữ liệu thiệt hại về các thành phầncủa môi trường nên việc xác định thiệt hại tới các thành phần của môi trường là

Trang 25

việc làm đầu tiên của mỗi vụ việc giải quyết bồi thường thiệt hại do ô nhiễm,suy thoái môi trường Như vậy điều 131 Luật bảo vệ môi trường 2005 chưa đápứng được yêu cầu này.

* Thứ hai: Luật bảo vệ môi trường 2005 tuy đã nêu ra 2 loại thiệt hại

nhưng lại không chỉ ra tiêu chí phân loại chúng Điều này dẫn đến khó xác địnhđược thiệt hại suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường và thiệt hại vềtài sản của cá nhân, tổ chức

Ví dụ, nhà máy A thải các chất gây ô nhiễm ra sông, gây ô nhiễm nguồnnước, do đó các loài tôm cá bị chết và không thể sinh sản được Trong khi đó,các loại tôm cá này là nguồn sống hàng ngày của người dân cư trú quanh sôngthông qua hoạt động đánh bắt Vậy sự suy giảm về số lượng các loài sinh vậttrên sẽ là thiệt hại về môi trường hay thiệt hại về tài sản của cư dân vùng sôngnước ?

2.1.2 Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường

* Thứ nhất: Việc quy định áp dụng song song 2 hình thức TNBTTH và

Trách nhiệm thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng môi trường bị ônhiễm là 1 biểu hiện đặc thù của pháp luật môi trường Người làm ô nhiễm, suythoái môi trường gây thiệt hại phải thực hiện đồng thời cả hai biện pháp Tuynhiên, tác dụng của hai biện pháp này là khác nhau nên việc áp dụng chúng phảihài hòa để giải quyết bồi thường hợp lý Tác dụng của bồi thường thiệt hại là bùđắp những tổn thất về giá trị sinh thái, người, tài sản Còn tác dụng của khắcphục ô nhiễm, suy thoái là hạn chế, ngăn chặn phạm vi ảnh hưởng lây lan ônhiễm đồng thời làm giảm nhẹ những thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trườnggây ra

Nếu tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái đã phục hồi hoàn toàn và

kịp thời, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận thì không phải bồi

thường thiệt hại nữa Nếu tổ chức, cá nhân đó vừa tiến hành cả hai biện pháp

Trang 26

một cách chủ động và tích cực thì trách nhiệm đối với từng biện pháp cần đượcxem xét thỏa đáng Tuy nhiên, pháp luật môi trường hiện hành lại chưa quy địnhvấn đề này.

* Thứ hai: Nguyên tắc xác định TNBTTH do ô nhiễm, suy thoái môi

trường không được quy định trong Luật bảo vệ môi trường 2005

Còn tại Điều 605 Bộ luật dân sự 2005 thì quy định rằng thiệt hại phải

được bồi thường toàn bộ, kịp thời và Điều 616 Bộ luật dân sự quy định :“Trong

trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường thiệt hại cho người bị hại Trách nhiệm bồi thường của từng người gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người, nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.”

Tuy nhiên nếu áp dụng Điều 616 để xác định trách nhiệm của mỗi tổ chứcgây ô nhiễm, suy thoái môi trường thì không phù hợp Bởi lẽ, thiệt hại là yếu tốquyết định để xác định mức bồi thường, các doanh nghiệp có hành vi xả thải vớicùng mức độ lỗi nhưng số lượng xả thải có thể rất khác nhau, nồng độ gây ônhiễm trong chất thải của từng doanh nghiệp cũng khác nhau Vì vậy không thểquy trách nhiệm bồi thường theo phần bằng nhau giữa các tổ chức gây ô nhiễm.Việc xác định trách nhiệm của từng tổ chức là hết sức cần thiết tại thời điểmhiện nay và cần có cơ sở pháp lý cụ thể điều chỉnh

Trong thực tế có thể nêu ra một số ví dụ về việc nhiều tổ chức cùng gây ônhiễm như sau:

Ví dụ: Một trường hợp điển hình là vụ khói lò gạch xã Việt Thống, huyệnQuế Võ gây thiệt hại cho vụ chiêm xuân năm 1994 của thôn Trung Đồng, xãVân Trung, huyện Việt Tiến (Tỉnh Hà Bắc cũ) Xã Việt Thống có gần 100 lògạch các loại từ 3-5 vạn viên/lò nằm ở bãi bồi nam sông Cầu, khói lò gạch (chủyếu là khí CO,CO2, SO2, SO3, H2S ) theo gió Đông nam tạt sang cánh đồng gần

Ngày đăng: 10/03/2018, 17:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w