1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khóa luận tốt nghiệp pháp luật bảo vệ môi trường trong nhập khẩu hàng hóa

68 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 441,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Chúng ta đang sống trong thời kỳ mà quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra với tốc độ hết sức nhanh chóng. Toàn cầu hóa được coi là một xu thế tất yếu khách quan, xuất phát từ bản thân quá trình phát triển của thế giới với những yếu tố tác động cơ bản là sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học công nghệ và kinh tế thị trường. Nó tạo nên quan hệ gắn kết và phụ thuộc, sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các nước trên thế giới. Quá trình này đòi hỏi các quốc gia phải hội nhập hơn nữa với nền kinh tế thế giới, phải chấp nhận cạnh tranh và chủ động mở cửa thị trường trong nước của mình. Cùng với trào lưu chung đó, trong vòng một thập kỷ qua, Việt Nam đã thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế với phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ kinh tế quốc tế, từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực. Một trong những hoạt động thương mại giúp chúng ta mở rộng quan hệ với các nước, đồng thời thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển là hoạt động nhập khẩu hàng hóa. Bên cạnh đó, một vấn đề được đặt ra và cần phải quan tâm trong mọi hoạt động thương mại nói chung và trong hoạt động nhập khẩu hàng hóa nói riêng là vấn đề bảo vệ môi trường. Trong thời gian qua, hoạt động nhập khẩu hàng hóa đã có những tác động tích cực tới nền kinh tế nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường. Môi trường bị ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái… có thể do nhiều lý do khác nhau, trong đó có nguyên nhân do hoạt động nhập khẩu hàng hóa mang lại. Dù kinh tế có phát triển đến đâu thì con người cũng không thể sống thiếu môi trường. Con người có quyền được sống trong một môi trường trong lành nhưng cũng có nghĩa vụ xây dựng, giữ gìn, bảo vệ môi trường trong lành đó cho chính bản thân và cho thế hệ con cháu tương lai. Chính vì vậy, trong mọi hoạt động kinh tế, con người luôn phải đặt cạnh các lợi ích về môi trường, coi bảo vệ môi trường là một nhiệm vụ đi đôi với phát triển kinh tế. Bảo vệ môi trường đã, đang và sẽ luôn luôn là mối quan tâm của toàn nhân loại. Vì những lý do trên mà em đã chọn đề tài: “Pháp luật bảo vệ môi trường trong nhập khẩu hàng hóa” cho khóa luận tốt nghiệp của mình. Vấn đề này được quy định tại các Điều 42, Điều 43 Luật Bảo vệ môi trường 2005. Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này chỉ bao gồm phạm vi tại Điều 42 Luật Bảo vệ môi trường 2005: “Bảo vệ môi trường trong nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa” mà không bao gồm phạm vi của Điều 43 Luật Bảo vệ môi trường: “Bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu”. Nội dung của đề tài bao gồm: Chương I. Khái quát chung về nhập khẩu hàng hóa và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường trong nhập khẩu hàng hóa. Chương II. Pháp luật bảo vệ môi trường đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa và thực trạng của những quy định này. Chương III. Định hướng và kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật môi trường về nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam. Với khả năng nghiên cứu cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn chế, khóa luận này chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận có thể hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Chúng ta đang sống trong thời kỳ mà quá trình toàn cầu hóa đang diễn ravới tốc độ hết sức nhanh chóng Toàn cầu hóa được coi là một xu thế tất yếukhách quan, xuất phát từ bản thân quá trình phát triển của thế giới với những yếu

tố tác động cơ bản là sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học côngnghệ và kinh tế thị trường Nó tạo nên quan hệ gắn kết và phụ thuộc, sự tác độngqua lại lẫn nhau giữa các nước trên thế giới Quá trình này đòi hỏi các quốc giaphải hội nhập hơn nữa với nền kinh tế thế giới, phải chấp nhận cạnh tranh vàchủ động mở cửa thị trường trong nước của mình

Cùng với trào lưu chung đó, trong vòng một thập kỷ qua, Việt Nam đãthực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế với phương châm đa phương hóa, đadạng hóa trong quan hệ kinh tế quốc tế, từng bước hội nhập với nền kinh tế thếgiới và khu vực Một trong những hoạt động thương mại giúp chúng ta mở rộngquan hệ với các nước, đồng thời thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển làhoạt động nhập khẩu hàng hóa Bên cạnh đó, một vấn đề được đặt ra và cần phảiquan tâm trong mọi hoạt động thương mại nói chung và trong hoạt động nhậpkhẩu hàng hóa nói riêng là vấn đề bảo vệ môi trường Trong thời gian qua, hoạtđộng nhập khẩu hàng hóa đã có những tác động tích cực tới nền kinh tế nhưngcũng ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường Môi trường bị ô nhiễm, mất cânbằng sinh thái… có thể do nhiều lý do khác nhau, trong đó có nguyên nhân dohoạt động nhập khẩu hàng hóa mang lại

Dù kinh tế có phát triển đến đâu thì con người cũng không thể sống thiếumôi trường Con người có quyền được sống trong một môi trường trong lànhnhưng cũng có nghĩa vụ xây dựng, giữ gìn, bảo vệ môi trường trong lành đó chochính bản thân và cho thế hệ con cháu tương lai Chính vì vậy, trong mọi hoạtđộng kinh tế, con người luôn phải đặt cạnh các lợi ích về môi trường, coi bảo vệmôi trường là một nhiệm vụ đi đôi với phát triển kinh tế Bảo vệ môi trường đã,đang và sẽ luôn luôn là mối quan tâm của toàn nhân loại

Vì những lý do trên mà em đã chọn đề tài: “Pháp luật bảo vệ môi trườngtrong nhập khẩu hàng hóa” cho khóa luận tốt nghiệp của mình Vấn đề này được

Trang 2

quy định tại các Điều 42, Điều 43 Luật Bảo vệ môi trường 2005 Tuy nhiên,trong phạm vi đề tài này chỉ bao gồm phạm vi tại Điều 42 Luật Bảo vệ môitrường 2005: “Bảo vệ môi trường trong nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa” màkhông bao gồm phạm vi của Điều 43 Luật Bảo vệ môi trường: “Bảo vệ môitrường trong nhập khẩu phế liệu”

Nội dung của đề tài bao gồm:

Chương I Khái quát chung về nhập khẩu hàng hóa và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường trong nhập khẩu hàng hóa.

Chương II Pháp luật bảo vệ môi trường đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa và thực trạng của những quy định này.

Chương III Định hướng và kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật môi trường về nhập khẩu hàng hóa ở Việt Nam.

Với khả năng nghiên cứu cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn chế,khóa luận này chắc chắn còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được sự đónggóp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận có thể hoànthiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHẬP KHẨU HÀNG HÓA VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG NHẬP

KHẨU HÀNG HÓA1.1 Khái niệm, thực trạng hoạt động nhập khẩu hàng hóa và tác động của hoạt động nhập khẩu hàng hóa đối với môi trường

1.1.1 Khái niệm, thực trạng hoạt động nhập khẩu hàng hóa

* Khái niệm hoạt động nhập khẩu hàng hóa

Sự phát triển của xã hội loài người gắn liền với sự phát triển của nền sảnxuất Sản xuất càng phát triển thì các mối quan hệ kinh tế giữa người sản xuấtvới người sản xuất, người sản xuất với người tiêu dùng và giữa những người tiêudùng với nhau ngày càng phát triển và diễn ra ngày càng phức tạp Khi sản xuất

xã hội phát triển đến trình độ nhất định, các mối quan hệ kinh tế phát triểnkhông chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn vươn ra bên ngoài, tạo nên cácmối quan hệ kinh tế đối ngoại và kinh tế quốc tế

Hoạt động nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của thương mại quốc

tế, tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống trongnước Nhờ có hoạt động nhập khẩu mà hàng hóa trong nước chưa sản xuất đượchoặc sản xuất không đáp ứng được yêu cầu được bổ sung, nâng cao trình độ vàchất lượng cuộc sống của nhân dân, làm cho sản xuất và tiêu dùng trong nướcngày càng đa dạng Nhập khẩu còn để thay thế cho những hàng hóa mà sản xuấtkhông có lợi bằng nhập khẩu Hai mặt nhập khẩu bổ sung và nhập khẩu thay thếtác động tích cực đến sự phát triển cân đối của nền kinh tế quốc dân Với tácđộng đó, nhập khẩu được coi là một phương pháp sản xuất gián tiếp, qua đó tạođiều kiện thúc đẩy nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa

Xu thế toàn cầu hóa xuất hiện và phát triển như một tất yếu khách quan do

sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, sự đổi mới nhanh chóng về côngnghệ, công cụ sản xuất và năng suất lao động tăng ngày càng cao hơn Sự phát

Trang 4

triển đó đã phá vỡ khuôn khổ chật hẹp của nền sản xuất khép kín từng vùng,từng nước, làm cho sản xuất và tiêu dùng của các nước mang tính chất quốc tế.

Đó cũng chính là nguyên nhân làm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.Hàng nhập khẩu cạnh tranh trên thị trường nội địa sẽ kích thích các nhà sản xuấttrong nước cải tiến công nghệ và các sản phẩm để tạo chỗ đứng vững chắc trênthị trường

Hoạt động nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh cơ cấu kinh tế theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Công nghiệp hóa là quá trìnhchuyển đổi nền kinh tế một cách cơ bản từ lao động thủ công sang lao động cơkhí ngày càng hiện đại hơn Tăng cường nhập khẩu công nghệ, thiết bị máy móclàm rút ngắn khoảng cách về trình độ kỹ thuật của Việt Nam so với thế giới

Theo Khoản 2 Điều 28 Luật Thương mại 2005 thì: “Nhập khẩu hàng hóa

là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vựcđặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theoquy định của pháp luật”

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật Hải quan 2001, được sửa đổi, bổsung 2006; Khoản 2 Điều 21 Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra,giám sát hải quan; Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 149/2005 ngày 8/12/2005 quyđịnh chi tiết thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì khu vực hải quanriêng gồm: khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, kho ngoại quan,khu thương mại đặc biệt, khu thương mại – công nghiệp và khu vực kinh tế khácđược thành lập theo quyết định của thủ tướng Chính phủ, có quan hệ mua bán,trao đổi hàng hóa giữa khu này với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu.Như vậy, hoạt động nhập khẩu không chỉ là việc đưa hàng hóa từ nước ngoàivào Việt Nam mà còn gồm hoạt động đưa hàng hóa từ những khu vực có quychế đặc biệt trên lãnh thổ Việt Nam ra bên ngoài khu vực này vào thị trường nộiđịa của Việt Nam, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân Qua đó, tácđộng tích cực đến việc mở rộng hợp tác giữa Việt Nam với nước ngoài, thúc đẩyquá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 5

* Thực trạng hoạt động nhập khẩu hàng hóa

Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, hàng hóanhập khẩu có ba loại là: máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng được nhập khẩu

để đổi mới kỹ thuật, công nghệ, nhằm nâng cao năng suất, tăng sức cạnh tranh;loại thứ hai là các nguyên liệu, nhiên vật liệu mà trong nước không sản xuấtđược hoặc sản xuất được nhưng không đủ hoặc không có hiệu quả bằng nhậpkhẩu; loại thứ ba là các loại hàng hóa tiêu dùng để đáp ứng nhu cầu tăng nhanh

về số lượng, đa dạng, phong phú về chủng loại, mẫu mã và cao hơn về chấtlượng

Trong năm 2008, tính chung kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 8 tháng đầunăm ước tính 59,3 tỷ USD, tăng 54,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, khuvực kinh tế trong nước 40,1 tỷ USD, tăng 65,4%; khu vực có vốn đầu tư nướcngoài 19,2 tỷ USD, tăng 41,3% Nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùngvẫn đạt kim ngạch cao nhất với 9,6 tỷ USD, tăng 41,6% so với cùng kỳ nămtrước; xăng dầu 9,1 tỷ USD, tăng 94,3%; sắt thép 5,5 tỷ USD, tăng 81,3%, trong

đó phôi thép 1,5 tỷ USD, tăng 118,1%; vải 3 tỷ USD, tăng 18,2%; điện tử máytính và linh kiện 2,3 tỷ USD, tăng 32,5%; chất dẻo 2,1 tỷ USD, tăng 40,3%; ô tônguyên chiếc 44,3 nghìn chiếc, tương đương 843 triệu USD, tăng 223,6% vềlượng và tăng 206,3% về kim ngạch Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 8 thángtăng so với cùng kỳ năm trước một mặt do lượng nhập khẩu tăng, mặt khác dogiá nhập khẩu tăng; nếu loại trừ yếu tố tăng giá của 5 mặt hàng gồm xăng dầu,sắt thép, phân bón, chất dẻo và giấy thì kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 8 thángđầu năm ước tính 53,2 tỷ USD, tăng 38,3% so với cùng kỳ năm 2007 [37]

Đến tháng 12/2008, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu của tháng này ướctính đạt 5,4 tỷ USD, tăng 16,1% so với tháng trước do một số mặt hàng nhậpkhẩu tháng này tăng mạnh là: Máy móc thiết bị tăng 272 triệu USD; xăng dầutăng 78 triệu USD; thức ăn gia súc tăng 53 triệu USD; sắt, thép tăng 182 triệuUSD So với tháng 12/2007, kim ngạch nhập khẩu tháng 12/2008 giảm 25%.Tính chung cả năm 2008, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính 80,4 tỷ USD,tăng 28,3% so với năm 2007, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 51,8 tỷ

Trang 6

USD, tăng 26,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 28,6 tỷ USD, tăng31,7% Trong tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2008, tư liệu sản xuấtchiếm 88,8%; hàng tiêu dùng chiếm 7,8%; vàng chiếm 3,4% (năm 2007, tỷtrọng của 3 nhóm hàng này tương ứng là: 90,4%; 7,5%; 2,1%) Nếu loại trừ yếu

tố tăng giá của một số mặt hàng thì kim ngạch nhập khẩu năm nay chỉ tăng21,4% so với năm 2007

Nhìn chung, các mặt hàng nhập khẩu chủ lực nhằm đáp ứng nhu cầu pháttriển sản xuất trong nước đều tăng so với năm 2007 Tuy nhiên, nhập khẩunguyên liệu cho sản xuất những tháng cuối năm có xu hướng giảm nhiều, đây làmột trong những dấu hiệu của sự chững lại trong đầu tư và sản xuất Trong khi

đó, kim ngạch nhập khẩu hàng tiêu dùng đang có xu hướng tăng vào các thángcuối năm cho thấy hàng tiêu dùng nước ngoài đang tạo sức ép lên hàng tiêudùng Việt Nam ngay tại thị trường trong nước Nhập khẩu ô tô năm 2008 đạtmức cao kỷ lục với 2,4 tỷ USD, trong đó ô tô nguyên chiếc đạt 1 tỷ USD với50,4 nghìn chiếc Nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng khác (trừ ô tô và máytính, điện tử) ước tính đạt 13,7 tỷ USD, tăng 23,3% so với năm 2007 Nhập khẩuxăng dầu đạt 12,9 triệu tấn, tăng 0,1% so với năm trước, tương ứng với kimngạch 10,9 tỷ USD, tăng 41,2% Sắt thép đạt 6,6 tỷ USD, tăng 28,5% Vải vànguyên phụ liệu dệt may là những mặt hàng phục vụ chủ yếu cho sản xuất hàngxuất khẩu vẫn đạt kim ngạch cao với 6,8 tỷ USD, tăng 11,5% so với năm 2007.Hàng điện tử máy tính và linh kiện đạt 3,7 tỷ USD, tăng 25,8% so với nămtrước, đây là nhóm hàng không chỉ gắn với tiêu dùng trong nước mà còn liênquan đến gia công, lắp ráp để xuất khẩu [48]

Trang 7

THỐNG KÊ SƠ BỘ NHẬP KHẨU NĂM 2008

(Theo www.hptrade.com.vn)Đến tháng 1/2009, kim ngạch nhập khẩu ước tính đạt 4,1 tỷ USD, giảm27,6% so với tháng trước và giảm 44,8% so với cùng kỳ năm 2008 Kim ngạchnhập khẩu của hầu hết các mặt hàng phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nướccủa tháng 1/2009 nhìn chung đều giảm so với cùng kỳ năm 2008, trong đó máymóc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 1 tỷ USD, giảm 19,5%; xăng dầu đạt 244triệu USD, giảm 75,2%; vải đạt 230 triệu USD, giảm 20,6%; hàng điện tử, máytính và linh kiện đạt 200 triệu USD, giảm 45,1%; sắt thép đạt 155 triệu USD,giảm 82,3% Nguyên nhân chủ yếu tác động đến kim ngạch hàng hóa nhập khẩutháng 1 năm nay giảm là do giá nhiều mặt hàng trên thị trường thế giới giảmmạnh so với cùng kỳ năm 2008; trong đó giá xăng dầu giảm 56,2%; giá chất dẻogiảm 33,7%; sợi dệt giảm 29,2%; sắt thép giảm 9,4% [39]

Do giá thế giới giảm mạnh, nhiều mặt hàng sản xuất trong nước đã dầnthay thế được hàng nhập khẩu, tiêu thụ trong nước chậm nên dự báo kim ngạchnhập khẩu hàng hóa của cả nước trong năm 2009 có thể sẽ giảm khoảng 5% sovới năm 2008, xuống còn 76 tỷ USD

Tuy nhiên, do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chínhtoàn cầu khiến giá hàng hóa, vật tư, máy móc, thiết bị giảm mạnh Vì vậy, cácdoanh nghiệp ở trong nước sẽ tranh thủ cơ hội này để gia tăng lượng hàng nhập

về với giá rẻ Điều này sẽ khiến khối lượng nhập khẩu ở một số mặt hàng tăng

Mặt hàng Đơn vị tính Số lượng Trị giá

Ô tô nguyên chiếc Chiếc 50.395 1.036

Trang 8

cao, nhất là ở nhóm hàng máy móc, thiết bị [49] Một vấn đề đáng chú ý là cómột phần đáng kể máy móc, thiết bị được nhập khẩu từ một số nước khôngthuộc công nghệ nguồn, thậm chí là máy móc, thiết bị, công nghệ cũ, hoặc đangtrong quá trình thải loại của nước xuất khẩu Việc nhập khẩu những hàng hóanày sẽ gây tác động rất xấu tới môi trường Do đó, cần tăng cao hơn nữa tỷ trọngnhập khẩu máy móc, thiết bị, đồng thời cần lựa chọn trình độ kỹ thuật – côngnghệ tiên tiến để tránh thiệt hại “kép”: vừa tốn ngoại tệ, vừa biến Việt Nam trởthành bãi rác công nghệ của thế giới.

Qua các phân tích trên, có thể khẳng định nhập khẩu hàng hóa là hoạtđộng thuộc lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân, đảm nhận chứcnăng lưu thông hàng hóa, dịch vụ trong và ngoài nước, nhằm mục đích đẩymạnh sản xuất hàng hóa phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và từng bước nângcao đời sống của nhân dân Hoạt động nhập khẩu là hoạt động kinh tế đối ngoạiđem lại hiệu quả kinh tế rất cao, đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triểnkinh tế của đất nước

1.1.2 Tác động của hoạt động nhập khẩu hàng hóa đối với môi trường

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà các quan hệ kinh tế quốc tế đãphát triển tới mức không một quốc gia nào dù thuộc hệ thống kinh tế - xã hộinào, có thể tồn tại và phát triển mà không chịu sự tác động qua lại của các mốiquan hệ Toàn cầu hóa được coi là một xu thế khách quan, xuất phát từ bản thânquá trình phát triển của thế giới với những yếu tố tác động cơ bản là sự pháttriển của lực lượng sản xuất, của khoa học công nghệ và kinh tế thị trường Nótạo nên sự gắn kết và phụ thuộc, sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các nước trênthế giới Từ những con số thống kê về tình hình nhập khẩu hàng hóa ở trên chothấy hoạt động nhập khẩu hàng hóa của nước ta đã, đang và sẽ còn vận độngmạnh mẽ, hòa nhập vào nền kinh tế thế giới Hoạt động này tác động tới môitrường ở cả hai mặt: tích cực và tiêu cực

* Tác động tích cực

Thông qua hoạt động nhập khẩu, chúng ta có cơ hội tiếp thu với côngnghệ cao, công nghệ sạch và công nghệ ít hoặc không sản sinh chất thải Hiện

Trang 9

nay, sản phẩm dầu thực vật ở Việt Nam được sản xuất từ nguyên liệu trong nước

là các loại hạt có dầu (lạc, vừng, dừa, đậu tương, hướng dương…) qua các côngđoạn trích ly dầu thô từ nguyên liệu và tinh luyện Tuy nhiên, do nguồn nguyênliệu trong nước còn hạn chế nên một lượng lớn sản phẩm được sản xuất chỉ quacông đoạn tinh luyện bằng nguồn nguyên liệu là dầu thô nhập khẩu Các cơ sởsản xuất chế biến dầu có công suất lớn hoặc mới được đầu tư ở Việt Nam đều sửdụng công nghệ và thiết bị hiện đại được nhập từ những nước có trình độ chế tạo

cơ khí tiên tiến Nhà máy ép dầu cám của liên doanh COLOFIC tại Cần Thơ đã

sử dụng công nghệ trích ly bằng dung môi tiên tiến, sản xuất ra dầu cám chấtlượng cao phục vụ xuất khẩu Các công ty có quy mô lớn thuộc ngành dầu nước

ta, như: Công ty cổ phần dầu Tường An, Tân Bình, Công ty TNHH Bình An,Liên doanh Cái Lân – CALOFIC (Quảng Ninh) hiện đang áp dụng công nghệtinh luyện dầu thực vật theo phương pháp vật lý hiện đại nhất hiện nay của thếgiới Đây là công nghệ có nhiều ưu việt hơn so với tinh luyện bằng phương pháphóa học, như: sản phẩm có chất lượng cao hơn, giảm tốn kém hóa chất và giảm

ô nhiễm môi trường [38]

Trong những năm qua, nhiều dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đãđem theo những công nghệ tiên tiến, ít gây ô nhiễm, sử dụng nguyên liệu hiệuquả hơn, là điều kiện để phát triển phân công lao động và chuyên môn hóa sảnxuất Các doanh nghiệp nước ngoài, nhất là các tập đoàn đa quốc gia có côngnghệ sạch, áp dụng những tiêu chuẩn môi trường cao hơn so với yêu cầu củanước chủ nhà, do vậy có khả năng góp phần vào quá trình phát triển bền vữngmôi trường của nước chủ nhà Theo thống kê của Bộ TN&MT cho thấy, đã có

20 tỉnh và thành phố của nước ta đã bị ảnh hưởng dầu tràn Lượng dầu thu gomđược mới chỉ vào khoảng 1,721 tấn (xử lý được 1.440 tấn) Chính phủ Việt Nam

đã kêu gọi các tập đoàn nước ngoài đưa vào Việt Nam những công nghệ mớinhằm giúp xử lý những sự cố trên Do vậy, tập đoàn Marcon đã đưa công nghệDCR (xử lý về phản ứng hóa học) vào Việt Nam Đại diện Marcon tại Việt Namcho biết, công nghệ DCR do công ty Tasmani, một thành viên của tập đoànMarcon, nắm giữ giấy phép độc quyền về thiết kế và thực hiện Công nghệ này

Trang 10

đã được hai bang Alaska và California của Hoa Kỳ sử dụng độc quyền trongviệc sử dụng đất, xử lý chất cặn và các ứng dụng về nhựa và axit DCR bao gồmcác lĩnh vực về hữu cơ, vô cơ, hạt nhân và các ứng dụng khử halogen, khắc phụccác vấn đề môi trường Công nghệ đã được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giớivới các dự án đáng chú ý như: sự cố tràn dầu, xử lý rác thải lâu năm nguyhiểm… Đây là một lò phản ứng di động, nơi nào có ô nhiễm là có thể di chuyển

lò phản ứng tới khá dễ dàng Khi đó lò phản ứng sẽ thu gom các chất ô nhiễmtrong đất và nước ngầm (cặn dầu, cặn dầu đã phân tích trước khi xử lý, chấtESP, chất thải gây ô nhiễm và chất thải ở rãnh, cống) và xử lý Trong quá trình

xử lý, công nghệ tự phân tách luôn các chất thải thành các chất hữu dụng trongnông nghiệp cũng như công nghiệp, như: chất thải đó trộn vào phân bón, trộnvào làm các khối tấm xi măng hoặc làm các nhiên liệu thay thế nhựa đường…

Do đó, không phải chôn và đốt rác thải mà hàng trăm năm sau khi chôn vẫn cònnguyên vẹn [38]

Hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa thương mại, chúng ta có điều kiện thunhận thông tin, kiến thức về bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ môi trườngtrong hoạt động nhập khẩu nói riêng; học hỏi được các kinh nghiệm quốc tếtrong việc xử lý hài hòa giữa lợi ích kinh tế trong việc nhập khẩu hàng hóa vàbảo vệ môi trường, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững

Cùng với quá trình phát triển kinh tế, một thách thức lớn được đặt ra là xử

lý ô nhiễm môi trường Những năm gần đây, số lượng các khu công nghiệp, khuchế xuất tăng rất nhanh nhưng chỉ có một số hệ thống xử lý chất thải tại doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Hiện tại, phần lớn các chất thải công nghiệp,chất thải y tế và rác thải sinh hoạt được thu gom, xử lý bằng phương pháp chônlấp, gây ô nhiễm môi trường Thành phố Hồ Chí Minh đang phải đối mặt vớitình trạng rất cấp bách về địa điểm chôn lấp rác; năm 2006, một trong hai bãi ráclớn của thành phố phải đóng cửa vì đã vượt khối lượng cho phép Vào thời điểm

đó, công ty xử lý chất thải rắn VN-VWS đã đưa vào công nghệ POSI-SHELL(công nghệ mới, tiên tiến nhất được sử dụng tại Hoa Kỳ trong 2 năm qua và lầnđầu tiên được áp dụng tại châu Á) để xây dựng khu xử lý chất thải rắn Đa

Trang 11

Phước Ngày 1/11/2007, khu liên hợp bắt đầu đi vào hoạt động với công suất3.100 tấn/ngày và có thể tiếp nhận rác trong thời gian 21 năm Ông DavidDương, Giám đốc công ty cho biết, đây là công nghệ được sử dụng chất phụ giakeo được trộn chung với xi măng và bột vôi (được nhập khẩu từ nước ngoài) vàphun lên bề mặt của rác Hàng ngày, rác được tiếp nhận đến đâu sẽ phun xịt đến

đó Máy POSI-SHELL có thể sử dụng liên tục với hiệu quả cao trong mọi thờitiết khắc nghiệt, kể cả trong điều kiện mưa gió Công nghệ phun xịt này đem lạihiệu quả tối ưu hơn so với phương pháp thông thường là sử dụng đất và bạt Lớpphủ được rải và nén chặt có tác dụng giảm tối đa mùi hôi, ngăn nước rỉ rác thẩmthấu vào tầng nước mặt, diệt côn trùng và phòng ngừa hỏa hoạn xảy ra trong bãichôn lấp Công nghệ này còn giúp tách nước mưa ra khỏi bãi rác, giảm bớt tổnglượng nước phải xử lý Mùi phát sinh từ rác còn được khống chế bằng máy phunsương khử mùi được xịt hàng ngày [47] Như vậy, với công nghệ nhập khẩu từnước ngoài, chúng ta có thể xử lý ô nhiễm môi trường một cách có hiệu quả,đảm bảo môi trường sống trong lành

* Tác động tiêu cực

Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước hết phải đổi mới côngnghệ, bởi vì, trình độ công nghệ có vai trò quyết định đến việc khai thác và sửdụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, đồng thời cũngquyết định cả năng suất lao động và hiệu quả kinh tế Hiện nay, công nghệ đang

sử dụng ở Việt Nam chủ yếu là nhập từ nước ngoài Bởi vậy, chuyển giao côngnghệ luôn là một nhu cầu cấp bách, thiết thực của quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa Song, vì là một nước nghèo, nguồn vốn eo hẹp, cho nên, trongchuyển giao công nghệ, dù là trực tiếp hay gián tiếp, chúng ta cũng rất khó cóthể nhận được các thiết bị công nghệ tiên tiến nhất, mà thường chỉ nhận đượccác thiết bị loại trung bình, thậm chí, trong nhiều trường hợp còn phải nhận cảcác thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, đã bị loại bỏ ở các nước phát triển

Nhập khẩu từ các nước châu Á chiếm tới 75% kim ngạch nhập khẩu củaViệt Nam Lý do là công nghệ của các nước phương Tây thường có giá thànhcao Trong khi công nghệ và trình độ kỹ thuật của doanh nghiệp Việt Nam còn

Trang 12

thấp, thêm vào đó là trình độ của cán bộ quản lý còn hạn chế, chúng ta khó cóthể đưa ra được những quy định có lợi cho môi trường và kiểm soát tác độngmôi trường của hoạt động nhập khẩu và hoạt động đầu tư Do đó, Việt Nam cóthể sẽ phải gánh chịu những hậu quả môi trường nghiêm trọng do bên ngoài dunhập vào Đã có trường hợp nhập vào cả những công nghệ lạc hậu mà nhữngnước bán hàng cho ta không còn sử dụng Ngoài ra, có trường hợp các tập đoànđầu tư đa quốc gia đưa các dây chuyền sản xuất ô nhiễm hoặc chuyển giao cáccông nghệ lạc hậu tới nước ta, mà những công nghệ này không được chấp nhậntại nước đầu tư

Đặc biệt nghiêm trọng là nạn xuất khẩu ô nhiễm môi trường từ các nướcphát triển trên thế giới đang ngày càng gia tăng Có hiện tượng chuyển cácngành gây ô nhiễm nặng nề từ các nước phát triển sang các nước đang phát triểnthông qua FDI Việc xuất khẩu ô nhiễm mang lại cho các tập đoàn đa quốc giamột lợi thế cạnh tranh mới nhờ giảm chi phí sản xuất Nguyên nhân của tìnhtrạng này là do chi phí để khắc phục ô nhiễm môi trường tại các nước phát triển

là rất cao Vì vậy, doanh nghiệp của các nước này buộc phải tìm đến giải phápchuyển lĩnh vực sản xuất gây ô nhiễm của họ ra nước ngoài Ví dụ: các nướcphát triển như: Đức, Áo, Bỉ… đang đánh thuế mạnh vào các ngành gây ô nhiễm,trong khi đó các nước đang phát triển lại có mức thuế thấp hơn nhiều do khátvốn và vì vậy, họ trở thành những nước có mức nhập khẩu ô nhiễm cao (TrungQuốc, Ấn Độ, Việt Nam…) Lợi nhuận thương mại và áp lực cạnh tranh của thịtrường cũng là yếu tố khuyến khích các nhà đầu tư sử dụng các quy trình sảnxuất, nhập khẩu các thiết bị, công nghệ không thân thiện với môi trường để giảmtối đa chi phí sản xuất

Tự do hóa thương mại làm tăng nguy cơ lưu thông những sản phẩm cóảnh hưởng tới môi trường Khi các biện pháp quản lý nhập khẩu bị hạn chế ápdụng thì nguy cơ nhập khẩu tràn lan các sản phẩm tiềm ẩn, nguy cơ ảnh hưởngxấu đến môi trường là không tránh khỏi [17]

Việc nhập khẩu hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm khôngđúng quy chuẩn đã gây ảnh hưởng lớn đến môi trường và sức khỏe con người

Trang 13

Việc di nhập các loài sinh vật lạ, những sản phẩm biến đổi gen có thể làm xuấthiện những nguy cơ đối với môi trường, tác động tiêu cực đến đời sống của một

số loài sinh vật trong nước, ảnh hưởng đến cân bằng sinh thái

Từ những phân tích ở trên có thể thấy, môi trường và kinh tế có mối liên

hệ mật thiết với nhau trong việc góp phần vào lợi ích của con người Vì vậy,việc quản lý môi trường phải trở thành một phần không thể thiếu khi hoạch địnhchính sách kinh tế

1.2 Sự cần thiết phải bảo vệ môi trường trong nhập khẩu hàng hóa

Sự phát triển của xã hội có nhiều mục đích, nhưng mục đích của mọi mụcđích là vì sự sống, sự tự do phát triển toàn diện của con người Với tư cách làmột thực thể sinh học - xã hội, sự sống của con người không chỉ phụ thuộc vàonhững điều kiện xã hội, mà còn gắn bó chặt chẽ với những điều kiện của môitrường tự nhiên Vì vậy, để duy trì và phát triển sự sống của chính mình, conngười không thể không thực thi các biện pháp giữ gìn và bảo vệ môi trường.Ngày nay hơn lúc nào hết, sự phát triển của xã hội chỉ được coi là sự phát triển,

sự tiến bộ đích thực khi có sự kết hợp hài hòa giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêusinh thái

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển của thương mạiluôn đi liền với những thách thức về môi trường Trong những năm qua, ViệtNam đã hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, đạt được những thànhtựu to lớn về thương mại và đầu tư Tuy nhiên, tiến trình hội nhập kinh tế quốc

tế và sự phát triển thương mại lại nảy sinh những thách thức không nhỏ về môitrường Việc nhập khẩu thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu, hàng hóa kém chất lượng,không đảm bảo các quy chuẩn môi trường tạo nên nguy cơ gây ô nhiễm môitrường rất lớn Việc nhập khẩu hàng hóa, vật tư nếu không được kiểm tra, giámsát sẽ dẫn đến nguy cơ nước ta trở thành bãi chứa các thiết bị, công nghệ lạchậu, nơi tiêu thụ những hàng hóa kém chất lượng làm ảnh hưởng đến sức khỏecủa người tiêu dùng, dẫn đến sự suy thoái môi trường, phá vỡ cân bằng sinhthái

Trang 14

Hội nhập kinh tế, thương mại làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường

từ bên ngoài hay ô nhiễm môi trường xuyên quốc gia Vấn đề đặt ra đối với ViệtNam là làm thế nào để ngăn ngừa và quản lý tốt việc nhập khẩu những sảnphẩm, hàng hóa có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trong quá trình nước ta mởcửa thị trường, nới lỏng các quy chế quản lý xuất nhập khẩu Chính sách thươngmại phải được xây dựng sao cho vừa phù hợp với pháp luật quốc tế vừa bảo vệ

và giải quyết được các vấn đề môi trường hiện nay của Việt Nam Trong quátrình phát triển kinh tế - xã hội, cần phải cân nhắc, tính toán tới vấn đề môitrường tương xứng với vị trí và vai trò của nó, cần nhận thức một cách sâu sắc

và đúng đắn bản chất, vai trò của môi trường đối với sự phát triển nói chung.Thiếu quan tâm hoặc quan tâm không đầy đủ đến các vấn đề môi trường thìchúng ta sẽ phải trả giá, phải chịu sự “trả thù” ghê gớm của môi trường

Qua các phân tích trên có thể thấy, môi trường đóng vai trò hết sức quantrọng trong các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội Phát triển kinh tế khôngnhững tác động trực tiếp đến môi trường mà còn có thể gây ra những tác độnggián tiếp thông qua việc nảy sinh các hiện tượng xã hội không thân thiện vớimôi trường Chính vì vậy, công tác bảo vệ môi trường không những được thựchiện song song với các hoạt động kinh tế - xã hội mà được đặt ra ngay từ giaiđoạn đầu, giai đoạn hoạch định các chính sách phát triển

Điều đó được thể hiện trước hết trong các văn kiện của Đảng Nghị quyếtĐại hội IX của Đảng đã nêu rõ “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăngtrưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môitrường” Theo tinh thần đó, Nghị quyết số 41/NQ-TW của Bộ chính trị đã khẳngđịnh quan điểm chỉ đạo xuyên suốt về bảo vệ môi trường, theo đó, bảo vệ môitrường phải được gắn kết chặt chẽ, hài hòa với phát triển kinh tế và bảo đảmcông bằng xã hội

Trong xã hội, nhận thức về bảo vệ môi trường cũng ngày càng được nângcao Đặc biệt là trong bối cảnh môi trường đã trở thành vấn đề toàn cầu và thực

tế trong nước cho thấy không thể không bảo vệ môi trường, nếu muốn đượcsống trong một môi trường trong lành và có được sự phát triển bền vững

Trang 15

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CỦA PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU HÀNG HÓA

2.1 Vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa

Trang 16

Thực tế đã chứng minh, con người có thể vì lợi ích trước mắt về kinh tế

mà bỏ qua những lợi ích về môi trường Họ có thể nhận thức được mối nguyhiểm cho môi trường trong khi cố gắng để đạt được lợi nhuận tối đa nhưng họvẫn bỏ qua lợi ích môi trường Trong khi đó, tình trạng xấu đi của môi trường sẽtác động không nhỏ tới lợi ích của chính họ và của các chủ thể khác Pháp luậtmôi trường ra đời nhằm bảo đảm hài hòa giữa các lợi ích khi bảo vệ môi trườngđược coi là một vấn đề tất yếu khách quan Vai trò của pháp luật bảo vệ môitrường trong hoạt động nhập khẩu hàng hóa được thể hiện ở một vài khía cạnhsau:

- Pháp luật môi trường đã thể chế hóa đường lối, chính sách của Nhà nước

về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững Thông qua việc xây dựng các quyđịnh phù hợp với nguyện vọng, ý chí của nhân dân trong việc bảo vệ môitrường, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật về môi trường để ngănchặn, hạn chế hoặc loại trừ các yếu tố có khả năng gây ô nhiễm môi trườngtrong hoạt động nhập khẩu hàng hóa, đảm bảo quyền được sống trong môitrường trong lành của người dân

- Pháp luật môi trường góp phần đảm bảo lợi ích kinh tế cho các chủ thểthực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hóa Khi nhu cầu về nguyên, nhiên liệu,hàng hóa, thiết bị, dây chuyền công nghệ để phục vụ cho sản xuất cũng như đểđáp ứng nhu cầu của người dân tăng cao, hàng hóa trong nước không đáp ứngđược thì phải thông qua hoạt động nhập khẩu Với việc thỏa mãn các điều kiệncủa pháp luật, trong đó có pháp luật môi trường, các chủ thể đó sẽ được phépthực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hóa Như vậy, pháp luật môi trường đảmbảo lợi ích kinh tế cho các chủ thể nhập khẩu, tạo cơ hội tăng trưởng kinh tế,nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

- Pháp luật môi trường góp phần bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên.Nhờ hoạt động nhập khẩu, chúng ta có điều kiện nhập khẩu những nguồnnguyên liệu với giá rẻ hơn những nguồn nguyên liệu được khai thác từ nguồn tàinguyên thiên nhiên trong nước Qua đó, các nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể

Trang 17

được bảo vệ trước sức ép của nhu cầu khai thác làm nguyên liệu để phục vụ chosản xuất.

- Pháp luật bảo vệ môi trường giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cácchủ thể thực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hóa cũng như cho người tiêu dùng.Bằng việc quy định các điều kiện đối với chủ thể nhập khẩu hàng hóa, điều kiện

về môi trường đối với hàng hóa được phép nhập khẩu, các biện pháp xử lý khi

có hành vi vi phạm pháp luật môi trường…, pháp luật môi trường đã tạo cơ sởpháp lý cho các chủ thể điều chỉnh hành vi cho phù hợp, tránh những hành vigây ô nhiễm môi trường trong quá trình thực hiện hoạt động nhập khẩu hànghóa

- Pháp luật môi trường là phương tiện để đảm bảo phát triển bền vững Sựkết hợp giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu môi trường đã trở thành một nguyêntắc cơ bản của phát triển lâu bền Hoạt động nhập khẩu hàng hóa tạo ra nhữnglợi ích về kinh tế, góp phần vào quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đạihóa của đất nước Đồng thời hoạt động này cũng có những tác động tới môitrường sinh thái Pháp luật môi trường đã gắn kết mục tiêu kinh tế với mục tiêumôi trường, tăng cường chất lượng môi trường sống

2.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật môi trường về nhập khẩu hàng hóa và việc thực hiện các quy định này trên thực tế

2.2.1 Những loại hàng hóa được phép nhập khẩu theo quy định của pháp luật

Tất cả những hàng hóa không thuộc danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu

do pháp luật quy định đều được phép nhập khẩu Bên cạnh đó, tại Khoản 2 Điều

1 Nghị định số 12/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành LuậtThương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lýmua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài thì: “Hàng hóa là tàisản di chuyển, hàng hóa phục vụ nhu cầu của cá nhân có thân phận ngoại giao

và hành lý cá nhân theo quy định của pháp luật, thực hiện theo quy định riêngcủa Thủ tướng Chính phủ” Như vậy, hàng hóa trong hoạt động nhập khẩu được

đề cập trong phạm vi đề tài này là những loại hàng hóa không thuộc Khoản 2

Trang 18

Điều 1 Nghị định số 12/2006/NĐ-CP và không thuộc danh mục hàng hóa cấmnhập khẩu.

Khoản 2 Điều 42 Luật BVMT 2005 quy định:

2 Cấm nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện, nguyên liệu, nhiên liệu,hóa chất, hàng hóa sau đây:

a Máy móc, thiết bị, phương tiện không đạt tiêu chuẩn môi trường;

b Máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải đã qua sử dụng đểphá dỡ;

c Nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hóa chất thuộc danh mục hàng hóacấm nhập khẩu;

d Máy móc, thiết bị, phương tiện bị nhiễm chất phóng xạ, vi trùng gâybệnh, chất độc khác chưa được tẩy rửa hoặc không có khả năng làmsạch;

đ Thực phẩm, thuốc y tế, thuốc bảo vệ động vật, thực vật đã hết hạn sửdụng hoặc không đạt tiêu chuẩn về chất lượng vệ sinh an toàn thựcphẩm

Các quy định về hàng hóa cấm nhập khẩu còn tiếp tục được quy định tạiNghị định số 12/2006/NĐ-CP, Pháp lệnh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật2001… Song việc thực hiện các quy định này trên thực tế vẫn chưa nghiêm túc,nhiều hàng hóa thuộc danh mục cấm nhập khẩu vẫn được nhập khẩu vào ViệtNam dưới nhiều hình thức

Tình trạng nhập khẩu máy móc cũ, công nghệ lạc hậu diễn ra khá phổbiến với những thủ đoạn tinh vi, như “tạm nhập, tái xuất” qua cảng biển, khi bịphát hiện thì khai là “gửi nhầm hàng” và xin được chuyển trả lại…

Một loại hàng hóa thuộc diện cấm nhập khẩu là các thiết bị thông tin đãqua sử dụng Tại Việt Nam, trong khoảng 10 năm gần đây, lượng máy tính đãqua sử dụng được nhập khẩu ngày càng tăng dần Bên cạnh tác động tích cực làtạo điều kiện cho học sinh, sinh viên và những người có thu nhập thấp tiếp cậnvới công nghệ thông tin, thu hẹp khoảng cách số; đồng thời là nguồn cung cấplinh kiện thay thế quan trọng khi các nhà sản xuất chỉ quan tâm đến các sản

Trang 19

phẩm công nghệ mới thì rất cần chú ý đến tác hại của rác thải điện tử Việc nhậpkhẩu tràn lan máy tính cũ đã qua sử dụng ẩn chứa nhiều hiểm họa khó lường.Cấu trúc bên trong máy tính có chứa nhiều kim loại nặng như chì, cadmium,thủy ngân… là những kim loại rất nguy hiểm đối với sức khỏe con người Chính

vì vậy, Nghị định số 12/2006/NĐ-CP đã đưa hàng hóa là sản phẩm công nghệthông tin đã qua sử dụng vào danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu

Nhưng những số liệu từ các nhà sản xuất máy tính Việt Nam cho thấyđang có những đợt nhập khẩu khá ồ ạt các thiết bị này Theo ước tính, mỗi tháng

có thể có từ 40-60 container các loại màn hình và máy tính đã qua sử dụng đủcác nhãn hiệu được nhập vào và bán trên thị trường Hiện nay, Việt Nam cókhoảng 1.216 công ty trong nước và 187 công ty có vốn nước ngoài sản xuấtphần cứng Các công ty trong nước chiếm 75% thị trường máy tính cả nước,80% kim ngạch nhập khẩu linh kiện máy tính theo đường chính ngạch Tuynhiên, số lượng thiết bị công nghệ thông tin đã qua sử dụng được nhập về hằngnăm là không thể thống kê được nhưng chắc chắn là một con số lớn [41]

Các thiết bị công nghệ thông tin nhập về Việt Nam thường là công nghệquá cũ, đã qua sử dụng từ một đến vài năm được thu hồi từ các công sở, trườnghọc, thậm chí cả bãi rác hoặc cũng có thể là những hàng bị lỗi trong quá trìnhsản xuất đáng lẽ phải hủy bỏ Việc nhập khẩu những thiết bị này gây ảnh hưởngxấu tới môi trường cũng như sức khỏe con người Song, các doanh nghiệp nhậpkhẩu đặt lợi nhuận lên trên hết Mục tiêu cao nhất của các doanh nghiệp là lợinhuận nên để có lợi nhuận, họ đã bằng mọi cách nhập vào trong nước cả nhữnghàng hóa mà họ biết chắc là bị cấm Khi hàng đã được nhập về, những bộ linhkiện còn dùng được sẽ được chọn để bán, số còn lại bị quẳng ra bãi rác Cứ nhưvậy, trong một thời gian dài, nước ta có cả “núi” rác thải công nghiệp

Một hoạt động cũng gây rất nhiều tranh cãi trong thời gian qua và cònnhiều vi phạm trong quá trình thực hiện luật là hoạt động nhập khẩu tàu cũ đểphá dỡ Xét về góc độ kinh tế và về mặt xã hội, hoạt động nhập khẩu, phá dỡ tàu

cũ thời gian qua đã tạo việc làm và thu nhập thường xuyên cho hàng ngàn laođộng, góp phần tăng thêm nguồn thu cho ngân sách, tăng doanh thu đáng kể cho

Trang 20

doanh nghiệp; góp phần giảm áp lực nguồn nguyên liệu đầu vào cho ngành sảnxuất thép trong nước; tạo ra nguồn linh kiện quan trọng để hình thành mạng lướicác cơ sở dịch vụ sửa chữa tàu thủy, làm tiền đề cho sự phát triển các cơ sở côngnghiệp sửa chữa và đóng mới tàu thủy Bên cạnh đó, hoạt động nhập khẩu tàu cũ

để phá dỡ thời gian qua đã tạo không ít khó khăn cho công tác bảo vệ môitrường, nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước bởi dầu mỡ, kim loạinặng tại các khu vực phá dỡ ngày càng trầm trọng Như vậy, công nghiệp phá dỡtàu cũ có thể mang lại lợi nhuận cho một số doanh nghiệp và cung cấp một phầnnguyên liệu cho ngành công nghiệp thép; tuy nhiên trong quá trình phá dỡ tàu sẽlàm phát sinh rất nhiều chất thải nguy hại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môitrường và sức khỏe con người

Theo Công ước Basel, việc nhập khẩu các loại tàu cũ để phá dỡ thực chất

là một hình thức nhập chất thải vào nước nhập khẩu Hơn nữa, chất thải ở đây là

“chất thải kim loại độc hại” Chính vì vậy, ngay từ 1/1/1998, Công ước Basel đãcấm xuất khẩu từ các nước EU đến các nước không thuộc Tổ chức hợp tác pháttriển kinh tế (OECD) những loại tàu để phá dỡ trong đó có chứa amiăng, asen,PCBs, kim loại nặng và sơn có chứa TBT Ở các nước công nghiệp phát triểncũng có rất nhiều quy định, hướng dẫn cụ thể và nghiêm ngặt đối với hoạt độngnhập khẩu tàu cũ để phá dỡ Chẳng hạn như ở Đức, khi tàu nhập vào để phá dỡphải tuân thủ nghiêm ngặt Luật về kiểm soát khí thải, Luật về đánh giá tác độngmôi trường Các nước trong khu vực châu Á là thành viên của Công ước Baselđều có các yêu cầu trong các quy định luật pháp của mình về việc phải tuân thủnghiêm ngặt các điều khoản của Công ước Tuy nhiên có một thực tế là trongkhu vực này, hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường cũng như các văn bản phápquy liên quan đến việc quản lý các chất thải nguy hại nói chung và công nghiệpphá dỡ tàu nói riêng còn chưa hoàn chỉnh, có nhiều lỗ hổng, do đó đã bị các nhàđầu tư nước ngoài lợi dụng, nhập khẩu các loại tàu có chứa các chất độc hại vàocác nước trong khu vực để phá dỡ [12]

Trang 21

Là thành viên của Công ước Basel đồng thời nhận thức được hiểm họa ônhiễm môi trường do hoạt động phá dỡ tàu, Việt Nam cũng có những quy định

về vấn đề này trong pháp luật môi trường

Năm 2002, Bộ Khoa học – Công nghệ và Môi trường đã có công văn số1122/BKHCNMT-MTg ngày 3/5/2002 gửi Thủ tướng Chính phủ báo cáo cụ thể

về tình hình nhập khẩu tàu cũ để phá dỡ, kiến nghị không nên cho phép nhậpkhẩu tàu cũ để phá dỡ mà chỉ phá dỡ tàu cũ ở trong nước Thủ tướng Chính phủ

đã chỉ đạo đình chỉ hoạt động gia công phá dỡ tàu cũ cho nước ngoài hoặc nhậptàu cũ để phá dỡ lấy thép phế liệu tái xuất thông qua Công văn số 3880/VPCP-

KG ngày 15/7/2002 của Văn phòng Chính phủ Vậy mà bằng hình thức này hayhình thức khác, doanh nghiệp vẫn cứ tiếp tục nhập khẩu tàu cũ để phá dỡ, gâyảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường và sức khỏe con người

Đến khi ban hành Luật BVMT 2005, tại điểm b, Khoản 2 Điều 42 cũngquy định cấm nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải đãqua sử dụng để phá dỡ Như vậy, một lần nữa, hoạt động nhập khẩu tàu cũ đểphá dỡ lại bị cấm thực hiện theo quy định của pháp luật môi trường

Tuy nhiên, theo quy định của Luật Thương mại 2005 và Nghị định số59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 quy định chung về hàng hóa, dịch vụ cấm kinhdoanh; hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ kinh doanh cóđiều kiện thì hoạt động nhập khẩu tàu cũ để phá dỡ không bị cấm trên lãnh thổViệt Nam nhưng phải tuân thủ các quy định về nhập khẩu hàng hóa Theo đó, tạiNghị định số 12/2006/NĐ-CP quy định về danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu,cấm nhập khẩu thì tàu cũ không thuộc danh mục này Tuy nhiên, tại Khoản 2Điều 23 Nghị định số 49/2006/NĐ-CP ngày 18/5/2006 về đăng ký và mua, bántàu biển lại có quy định về điều kiện nhập khẩu tàu biển để phá dỡ Như vậy,theo các quy định này thì hoạt động nhập khẩu tàu biển để phá dỡ không bị phápluật thương mại cấm

Từ những phân tích trên có thể thấy về cùng một vấn đề nhập khẩu tàu cũ

để phá dỡ đã có sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa pháp luật thương mại và phápluật môi trường Chính điều này đã gây nên sự tranh cãi giữa các doanh nghiệp

Trang 22

thực hiện hoạt động này Vậy, họ sẽ phải thực hiện theo quy định nào và hoạtđộng nhập khẩu tàu cũ để phá dỡ có bị cấm hay không?

Như đã biết, thương mại và môi trường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Mục đích bảo vệ môi trường cũng là một trong những căn cứ để Nhà nước cấmthực hiện hành vi nhập khẩu một số loại hàng hóa nhất định thông qua các quyđịnh của pháp luật thương mại Do đó, các tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạtđộng nhập khẩu hàng hóa, bên cạnh việc phải thực hiện các quy định của phápluật thương mại còn đồng thời phải thực hiện các quy định về bảo vệ môi trườngtheo Luật BVMT 2005 Khi không tuân thủ các quy định của Luật BVMT thìcác cá nhân, tổ chức không được phép thực hiện hoạt động đó

Luật Thương mại 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2006, trong khi

đó, Luật BVMT 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2006 Đồng thời, LuậtBVMT 2005 cũng có hiệu lực pháp lý cao hơn các văn bản quy định không cấmnhập khẩu hoặc nhập khẩu có điều kiện tàu cũ để phá dỡ của pháp luật thươngmại (Nghị định số 12/2006/NĐ-CP, Nghị định số 49/2006/NĐ-CP) Theo Điều

80 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 1997 thì nếu các văn bản quyphạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản

có hiệu lực pháp lý cao hơn; nếu các văn bản quy phạm pháp luật về cùng mộtvấn đề do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau thì áp dụngquy định của văn bản được ban hành sau Như vậy, kể từ ngày Luật BVMT

2005 có hiệu lực (1/7/2006) thì hoạt động nhập khẩu tàu cũ phải tuân theo cácquy định của luật này Theo đó, hoạt động nhập khẩu tàu cũ để phá dỡ bị cấmtheo điểm b, Khoản 2 Điều 42 Luật BVMT 2005 [14] Ngày 30/10/2006, BộTN&MT có công văn báo cáo Thủ tướng Chính phủ một số vấn đề liên quanđến nhập khẩu, phá dỡ tàu biển cũ Ngày 10/11/2006, Thủ tướng Chính phủ raCông văn số 1844/TTg-KG đồng ý với các đề xuất của Bộ TN&MT về việcnhập khẩu tàu cũ để phá dỡ đều phải tuân thủ theo Luật BVMT 2005 TheoQuyết định số 12/2006/QĐ-BTNMT cho phép nhập khẩu vỏ tàu cũ đã tháo gỡ,loại bỏ dầu, mỡ, cao su, amiăng và các thành phần phi kim loại tại nước xuấtkhẩu

Trang 23

Có thể thấy rằng trên thế giới, ở các khu vực và các quốc gia, các quyđịnh của pháp luật về bảo vệ môi trường trong việc nhập khẩu tàu cũ để phá dỡ

đã được ban hành và đang phát huy tác dụng Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều bất cậptrong các quy định này, đặc biệt là tính hệ thống của pháp luật và tính hiệu quảthực thi của chúng

Hiện nay trên thế giới đang có xu hướng di chuyển dịch vụ phá dỡ tàu từcác nước phát triển sang các nước nghèo Đây chính là hình thức vận chuyển cácchất thải nguy hại trên quy mô toàn cầu, và hậu quả là các nước nghèo sẽ nhậnđược ngày càng nhiều chất thải, đặc biệt là chất thải nguy hại Đây là hành vi viphạm Công ước Basel Một điều đáng lo ngại khác là các doanh nghiệp kinhdoanh dịch vụ phá dỡ tàu luôn tìm cách vi phạm các quy định pháp luật của cácquốc gia nhập khẩu tàu để phá dỡ Chủ tàu, các cơ quan chức năng, doanhnghiệp phá dỡ tàu và đôi khi cả Chính phủ các nước nhập tàu vì quyền lợi kinh

tế trước mắt mà đã quên đi nguyên tắc vàng trong vấn đề bảo vệ môi trường là:Tái sử dụng, tái sản xuất, tái chế càng nhiều càng tốt và xử lý, tiêu hủy các chấtthải nguy hại phải trong khả năng môi trường cho phép, đảm bảo an toàn và vệsinh môi trường

Với lợi thế về giao thông đường thủy, phát triển vận tải biển tại HảiPhòng là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của vùng kinh tếtrọng điểm Bắc Bộ Bên cạnh đó, những năm gần đây, ngành công nghiệp đóngmới và sửa chữa tàu biển của Hải Phòng cũng phát triển nhanh Trong đó có sựđóng góp quan trọng của hoạt động nhập khẩu tàu cũ để phá dỡ mà Hải Phònggần như là địa phương duy nhất trong cả nước có hoạt động này Thực hiện ýkiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 1844/TTg-KG ngày10/11/2006 về Xử lý nhập khẩu tàu biển cũ để phá dỡ, Bộ trưởng Bộ TN&MT

đã ban hành Quyết định số 473/QĐ-BTNMT và Quyết định số 474/QĐ-BTNMTthành lập đoàn thanh tra, kiểm tra 12 cơ sở phá dỡ tàu cũ tại thành phố HảiPhòng Nội dung thanh tra chủ yếu tập trung vào việc tuân thủ các quy định củapháp luật về bảo vệ môi trường từ việc nhập khẩu, phá dỡ tàu cũ của các cơ sởthực hiện hoạt động này và công tác quản lý về bảo vệ môi trường đối với hoạt

Trang 24

động nhập khẩu và quá trình phá dỡ, đặc biệt là sau thời điểm Luật BVMT 2005

có hiệu lực (1/7/2006) Kết quả thanh tra cho thấy, từ vài doanh nghiệp thựchiện hoạt động này lúc đầu (năm 1994), đến thời điểm gần tháng 7/2006 đã cóhàng trăm cơ sở tham gia hoạt động nhập khẩu và phá dỡ tàu cũ với những tàulớn hàng ngàn tấn Sau thời điểm tháng 7/2006 (Luật BVMT 2005 có hiệu lực),

do yêu cầu bảo vệ môi trường đối với hoạt động phá dỡ tàu cũ, các quy định vềbảo vệ môi trường đối với hoạt động nhập khẩu, phá dỡ tàu cũ ngày càng chặtchẽ, quản lý xuất nhập khẩu được tăng cường, nhiều doanh nghiệp đã tự chuyểnđổi sang ngành nghề khác

Sau khi kết thúc thanh tra có thể thấy, công tác quản lý nhập khẩu và phá

dỡ tàu cũ đã được phối hợp và triển khai tương đối đồng bộ giữa các ngành: Hảiquan, Tài nguyên và môi trường, Công an… nên việc kiểm tra, giám sát, tiêuđộc, khử trùng trước khi làm thủ tục thông quan được thực hiện nghiêm túc Doquy định của Luật BVMT hết sức chặt chẽ, công tác quản lý, kiểm tra, giám sáthoạt động nhập khẩu thân, vỏ tàu cũ để phá dỡ được thực hiện nghiêm túc, quyếtliệt nên các cơ sở không đáp ứng được điều kiện quy định tại Điều 42 và 43 LuậtBVMT 2005 đã tự động dừng hoạt động nhập khẩu thân, vỏ tàu cũ để phá dỡ.Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần giải quyết như: Việc kiểm tra trước khithông quan chủ yếu là quan sát, kể cả cơ quan giám định cũng chỉ bằng phươngpháp quan sát phụ thuộc vào chủ quan của người kiểm tra, nên có trường hợpthân, vỏ tàu cũ được thông quan trong khi máy móc tàu chưa được tháo dỡ vàlàm sạch hoàn toàn dầu, mỡ; các thành phần phi kim loại chưa được loại bỏtrước khi nhập là chưa phù hợp với Quyết định số 12/2006/QĐ-BTNMT ngày8/9/2006 của Bộ trưởng Bộ TN&MT về việc ban hành danh mục phế liệu đượcphép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất [10]

Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp với khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm.Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nhưng cũng rất thuậnlợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng Do vậy,việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh, bảo vệ mùamàng và giữ vững an ninh lương thực vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ

Trang 25

yếu Do các loại thuốc bảo vệ thực vật thường là các chất hóa học có độc tínhcao nên mặt trái của thuốc bảo vệ thực vật là rất độc hại với sức khỏe cộng đồng

và là một đối tượng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường sinh thái nếu khôngđược quản lý chặt chẽ và sử dụng đúng cách “Thuốc bảo vệ thực vật là hànghóa hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện Nhà nước thống nhất quản lýviệc sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, bảo quản, dự trữ, vận chuyển, buôn bán và

sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo quy định của pháp luật” (Điều 28 Pháp lệnhbảo vệ và kiểm dịch thực vật 2001)

Hầu hết các loại thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trong nông nghiệp ở ViệtNam đều được nhập từ nước ngoài Vì vậy, Luật BVMT 2005 (Khoản 2 Điều43) đã quy định cấm nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật đã hết hạn sử dụng hoặckhông đạt tiêu chuẩn về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Đồng thời, tạiPhụ lục số 03 về Danh mục hàng hóa thuộc diện quản lý chuyên ngành vànguyên tắc quản lý, ban hành kèm theo Nghị định số 12/2006/NĐ-CP của Chínhphủ thì thuốc bảo vệ thực vật và nguyên liệu sản xuất thuốc bảo vệ thực vậtngoài danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam hay thuộc danh mục hạn chế

sử dụng muốn nhập khẩu vào Việt Nam thì đều phải được Bộ Nông nghiệp vàphát triển nông thôn cấp giấy phép nhập khẩu, quy định rõ điều kiện, số lượng

và thủ tục cấp giấy phép

Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, trung bình hàng năm, cảnước sản xuất và nhập khẩu một lượng thuốc bảo vệ thực vật khoảng 36.000 –40.000 tấn Ước tính khoảng 30-35% lượng thuốc bảo vệ thực vật được nhậpkhẩu trái phép qua đường tiểu ngạch Hiện tượng nhập lậu các loại thuốc bảo vệthực vật (bao gồm cả thuốc cấm, thuốc ngoài danh mục, thuốc hạn chế sử dụng)đang là vấn đề chưa thể kiểm soát nổi Một số loại thuốc bảo vệ thực vật đượcnhập vào Việt Nam, thuộc danh mục bị cấm như: Linda, Methammidopos,Monocrotophos… [6] Tình trạng các thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng không sửdụng, nhập lậu bị thu giữ đang ngày càng tăng lên cả về số lượng và chủng loại.Điều đáng lo ngại là hầu hết các loại thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng này đượclưu giữ trong các kho chứa tồi tàn hoặc bị chôn vùi dưới đất không đúng kỹ

Trang 26

thuật nên nguy cơ thấm và rò rỉ vào môi trường là rất đáng báo động Cùng vớithuốc bảo vệ thực vật tồn đọng, các loại thuốc và bao bì, đồ đựng thuốc bảo vệthực vật đang là nguy cơ đe dọa sức khỏe cộng đồng và gây ô nhiễm môi trườngnếu không áp dụng ngay các biện pháp khẩn cấp Vì vậy, hoạt động kiểm soátnhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật cần thực hiện có hiệu quả hơn nữa.

Một loại hàng hóa được nhập khẩu với mục đích phát triển kinh tế, xóađói giảm nghèo, đó là các sinh vật lạ Tuy nhiên, mặt trái của hoạt động này làcác loài lạ có nguy cơ xâm nhập vào môi trường và từ đó tiêu diệt dần các loàibản địa là một trong những nguy cơ đối với đa dạng sinh học và cân bằng sinhthái Sự xâm nhập các loài lạ có nguy cơ không chỉ gây tổn thất về giá trị đadạng sinh học (mất các loài, các nguồn gen và hệ sinh thái bản địa), mà còn gâytổn thất không nhỏ về kinh tế, nhiều khi rất tốn kém và mất rất nhiều thời gian

Vì vậy, để hạn chế và kiểm soát được những tác hại có thể xảy ra của các loàisinh vật lạ được nhập vào Việt Nam, Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật

2001 đã quy định nghiêm cấm việc đưa vào Việt Nam hoặc làm lây lan giữa cácvùng trong nước sinh vật gây hại lạ (Khoản 2 Điều 27) “Sinh vật có ích, tàinguyên thực vật nhập nội để làm giống hoặc có thể được sử dụng làm giống phảiđược cơ quan nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ và kiểm dịch thực vật kiểm tra,giám sát và theo dõi chặt chẽ theo quy định của pháp luật về bảo vệ và kiểmdịch thực vật” (Khoản 1 Điều 19)

Trên thực tế, một số loài thủy sinh lạ sau khi vào Việt Nam có giá trị kinh

tế cao, như: cá rô phi, cá chép, cá chim trắng Tuy nhiên, do chưa kiểm định kỹ,nên khá nhiều sinh vật lạ đã chứng tỏ là loài xâm hại với khả năng phát tánnhanh, cạnh tranh nơi cư trú và thức ăn với loài bản địa, phá hoại mùa màng,làm mất cân bằng sinh thái Một số loài bản địa trở nên khan hiếm do khả năngcạnh tranh thức ăn và nơi ở kém hơn các loài nhập nội như: cá mè trắng ViệtNam, cá trôi, cá chép Việt Một số loài sinh vật lạ xâm hại vào nước ta đã sinhsôi trên diện rộng, điển hình là ốc bươu vàng Ốc bươu vàng vốn có nguồn gốc

từ châu Mỹ, được nhập khẩu vào Việt Nam từ năm 1989 rồi được một số tổchức tư nhân phát tán với mục tiêu phát triển kinh tế hộ gia đình Với khả năng

Trang 27

sinh sản rất nhanh và thức ăn chủ yếu là lá lúa nên đã gây nên đại dịch phá hoạilúa ở nhiều tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, phát triển dần ra các tỉnh miềnTrung, miền Bắc Ốc bươu vàng đã gây nguy hại lớn trong hệ sinh thái đồngruộng, ao hồ của một số tỉnh phía Nam và việc tiêu diệt chúng triệt để là việckhông thể dù Nhà nước đã tốn hàng tỷ đồng Một loài khác là sáo đá xanh vốn

có nguồn gốc ở vùng Bắc Á, châu Âu và Bắc Phi Loài chim này hầu như ănmọi thứ và làm giảm đáng kể các loài côn trùng bản địa, phá hoại mùa màng.Sáo đá xanh có tính cạnh tranh cao và đã tiêu diệt nhiều loài chim bản địa,chiếm cứ nơi làm tổ, làm biến đổi tính đa dạng sinh học ở nhiều vùng Chúngtừng xuất hiện ở Hải Dương, Hưng Yên từ mùa đông năm 1975 – 1976 Tương

tự như vậy, bèo Nhật Bản (bèo Tây) nhập vào Việt Nam từ những năm 30 củathế kỷ trước theo đường biển, đã lan tràn hầu hết các ao hồ nước ngọt của ta, gâysuy thoái đa dạng sinh học nghiêm trọng

Theo các nhà khoa học, nguyên nhân một số loài sinh vật có hại nhưngvẫn được nhập vào Việt Nam là do cơ quan chức năng không tìm hiểu kỹ trướckhi cấp phép Ngoài ra, tình trạng nhập lậu, du nhập tự nhiên qua đường vậnchuyển hàng hóa, thông thương… cũng dẫn đến tình trạng phát sinh sinh vậtngoại lai [51]

Ở nhiều nước trên thế giới, việc quản lý sinh vật ngoại lai rất chặt chẽ.Khi nhập về một sinh vật lạ, họ đều nghiên cứu rất kỹ lưỡng về đặc tính củachúng vì các sinh vật ngoại lai không chỉ ăn thịt các loài khác, cạnh tranh thức

ăn, nơi sống với sinh vật bản địa mà còn truyền bệnh và ký sinh trùng… Ở nước

ta, cho tới nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu đầy đủ nào về sinh vật lạxâm hại, thống kê hiện trạng cũng như tác hại của chúng Chúng ta đã có cácvăn bản pháp quy quy định về việc nhập khẩu các loài sinh vật lạ nhưng cònthiếu hệ thống và thiếu các văn bản hướng dẫn Hiện nay, có hệ thống cơ quanquản lý sinh vật lạ, như: Bộ TN&MT, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn,Tổng cục Hải quan nhưng hệ thống này thực chất chưa thiết lập được cơ chếphối hợp, sự phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các bên, chưa có một cơ quanđầu mối đứng ra lo về việc này [50] Việc di nhập cây mai dương là một ví dụ

Trang 28

Xét về góc độ Việt Nam tham gia công ước quốc tế, đây là trách nhiệm của BộTN&MT, nhưng nói về sự gây hại thì Cục bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp vàphát triển nông thôn) phải chung vai gánh vác bởi để nó bùng phát rộng Vấn đềquản lý các sinh vật lạ là trách nhiệm của nhiều cấp nhiều ngành nhưng cầnnghiên cứu đề xuất giao cho một cơ quan đầu mối hoặc một hội đồng liên ngành

về quản lý sinh vật lạ Chúng ta cũng chưa có một Hội đồng chính thức để côngnhận một loài sinh vật được coi là “sinh vật lạ” Thiếu nghiên cứu đầy đủ về mặtkhoa học trước khi ra quyết định, thiếu hệ thống thị trường về sinh vật lạ ở trongnước, quốc tế… là nguyên nhân dẫn đến việc chưa có được biện pháp xử lý kịpthời và hiệu quả khi xảy ra sự cố do sinh vật lạ

Sự xâm lấn của sinh vật lạ không chỉ gây nên những tác hại về mặt môitrường và sức khỏe con người mà còn đe dọa gây tổn hại lớn đến kinh tế vàthương mại Điều đáng nói là hoạt động thương mại chính là con đường “lýtưởng” để truyền nhiễm các sinh vật gây nguy hiểm Để ngăn ngừa những nguy

cơ của sinh vật lạ xâm hại, các nước phát triển đã áp dụng một số giải pháp,như: Australia và New Zealand xây dựng danh sách các sinh vật không an toàn,cấm không được nhập khẩu… Theo các nhà nghiên cứu thì Việt Nam cũng cóthể học tập kinh nghiệm này; đồng thời tăng cường quản lý và kiểm soát chặtchẽ các sinh vật lạ xâm lấn và du nhập vào nước ta như biện pháp kiểm dịchđộng vật, thực vật khi nhập khẩu Trước khi nhập khẩu bất cứ một sinh vật nàovới bất cứ mục đích gì cũng cần tìm hiểu kỹ đặc tính sinh học của chúng, yêucầu bên xuất khẩu cung cấp hồ sơ về đặc tính sinh học và kết quả phát triển củachúng ở quốc gia đó; nuôi thử nghiệm trong phạm vi kiểm soát nhất định, đánhgiá rủi ro, khi có đầy đủ các tiêu chí bảo đảm an toàn mới được phép nhân rộngđại trà Khi xuất hiện các đặc tính không mong muốn và có nguy cơ phát triểnnhanh cần nhanh chóng khoanh vùng và tiêu diệt sớm để tránh tốn kém và thờigian xử lý như vụ ốc bươu vàng… Đồng thời cần sớm xây dựng một quy chếmang đầy đủ ý nghĩa khoa học và thực tiễn để quản lý, kiểm soát việc xâm nhậpcác loài sinh vật lạ Việc làm này không chỉ thực hiện ở các cơ quan Trung ương

mà điều quan trọng là ở các địa phương, đặc biệt ở các cửa khẩu [51], [52]

Trang 29

Từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát các loài sinh vật lạxâm hại, Quốc hội đã ban hành Luật Đa dạng sinh học, có hiệu lực thi hành từngày 1/7/2009 Tại Mục 3, từ Điều 50 đến hết Điều 54 có quy định về kiểm soátloài ngoại lai xâm hại Theo đó, loài ngoại lai xâm hại bao gồm loài ngoại laixâm hại đã biết và loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại (Khoản 1 Điều 50) Tráchnhiệm kiểm soát việc nhập khẩu loài ngoại lai xâm hại, sự xâm nhập từ bênngoài của loài ngoại lai được quy định như sau: Cơ quan hải quan chủ trì phốihợp với các cơ quan có thẩm quyền tại cửa khẩu kiểm tra, phát hiện và xử lý viphạm trong việc nhập khẩu loài thuộc Danh mục loài ngoại lai xâm hại; Ủy bannhân dân cấp tỉnh phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tổ chức kiểm tra,đánh giá khả năng xâm nhập của loài ngoại lai từ bên ngoài để có biện phápphòng ngừa, kiểm soát loài ngoại lai xâm hại (Điều 51) Cơ quan hải quan vàcác cơ quan có thẩm quyền tại cửa khẩu có trách nhiệm niêm yết Danh mục loàingoại lai xâm hại tại cửa khẩu Việc nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâmhại chỉ được tiến hành sau khi có kết quả khảo nghiệm loài ngoại lai đó không

có nguy cơ xâm hại đối với đa dạng sinh học và được Ủy ban nhân dân cấp tỉnhcấp phép Với các quy định mới này, sự xâm nhập của các loài ngoại lai xâm hạichắc chắn sẽ được kiểm soát chặt chẽ hơn để không dẫn đến những hậu quảđáng tiếc như trên

2.2.2 Những điều kiện về môi trường đối với hàng hóa nhập khẩu

Theo Khoản 1 Điều 42 Luật BVMT 2005 thì: “Máy móc, thiết bị, phươngtiện, nguyên liệu, nhiên liệu, hóa chất, hàng hóa nhập khẩu phải đáp ứng tiêuchuẩn môi trường” “Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông

số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễmtrong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ đểquản lý và bảo vệ môi trường” (Khoản 5 Điều 3 Luật BVMT 2005)

Như vậy, tất cả những hàng hóa muốn nhập khẩu vào Việt Nam phải đápứng các tiêu chuẩn về môi trường (nay gọi là quy chuẩn kỹ thuật về môi trường).Quy chuẩn kỹ thuật về môi trường là một trong những công cụ quản lý quantrọng nhằm thực hiện các mục tiêu, yêu cầu đặt ra trong từng giai đoạn của công

Trang 30

tác quản lý nhà nước về môi trường Hệ thống Quy chuẩn kỹ thuật về môitrường của Việt Nam phải đáp ứng được yêu cầu hài hòa với tiêu chuẩn của cácnước trong khu vực và trên thế giới, phù hợp với các công ước quốc tế mà ViệtNam tham gia; đáp ứng được vấn đề bảo vệ quyền lợi hợp pháp của quốc gianhưng không gây cản trở cho các hoạt động thương mại, đầu tư.

Luật BVMT 2005 đã dành hẳn một chương để quy định về Quy chuẩn kỹthuật môi trường (Chương II, từ Điều 8 đến Điều 13) Ngoài ra, Quy chuẩn kỹthuật môi trường còn phải đáp ứng các quy định của Luật Tiêu chuẩn và Quychuẩn kỹ thuật mà cụ thể phải tuân thủ các quy định đối với quy chuẩn áp dụngcho Tiêu chuẩn chất lượng môi trường và Tiêu chuẩn thải Luật Tiêu chuẩn vàQuy chuẩn kỹ thuật 2006 đề cập đến hai khái niệm là: tiêu chuẩn và quy chuẩn

kỹ thuật Theo đó, tiêu chuẩn môi trường do Bộ khoa học và công nghệ công bốchỉ mang tính định hướng, tự nguyện áp dụng còn Quy chuẩn kỹ thuật về môitrường do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản ápdụng bắt buộc Tại Nghị định số 21/2008/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày28/2/2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CPquy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BVMT 2005 thìcác tiêu chuẩn về chất lượng môi trường xung quanh và các tiêu chuẩn về chấtthải do nhà nước công bố bắt buộc áp dụng được chuyển đổi tương ứng thànhquy chuẩn kỹ thuật về chất lượng môi trường xung quanh và quy chuẩn kỹ thuật

về chất thải Việc chuyển đổi các tiêu chuẩn quốc gia về môi trường đã ban hànhtrước thời điểm Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 2006 có hiệu lực(1/1/2007) sẽ do Bộ TN&MT thực hiện theo quy định của Luật tiêu chuẩn và kỹthuật 2006 Trong thời gian chuyển đổi, các tiêu chuẩn Việt Nam về môi trườngvẫn giữ nguyên hiệu lực, là điều kiện bắt buộc phải tuân thủ đối với máy móc,thiết bị nhập khẩu vào nước ta và tạo cơ sở pháp lý phục vụ tốt cho công táckiểm soát ô nhiễm, thanh tra môi trường

Như vậy, hàng hóa muốn nhập khẩu vào Việt Nam phải đáp ứng được cácquy chuẩn kỹ thuật về môi trường gồm: Quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng môitrường xung quanh và quy chuẩn kỹ thuật về chất thải Trong đó, quy chuẩn kỹ

Trang 31

thuật về chất lượng môi trường xung quanh gồm các nhóm quy chuẩn kỹ thuậtmôi trường đối với đất; nước mặt và nước dưới đất; nước biển ven bờ; khôngkhí ở vùng đô thị, vùng dân cư nông thôn; âm thanh, ánh sáng, bức xạ trong cáckhu vực dân cư, công cộng Quy chuẩn này quy định giới hạn giá trị cho phépcủa các thông số môi trường phù hợp với mục đích sử dụng thành phần môitrường.

Quy chuẩn kỹ thuật về chất thải quy định cụ thể giá trị tối đa các thông số

ô nhiễm của chất thải bảo đảm không gây hại cho con người và sinh vật Thông

số này được xác định căn cứ vào tính chất độc hại, khối lượng chất thải phátsinh và sức chịu tải của môi trường tiếp nhận chất thải

Các thông số môi trường quy định trong quy chuẩn kỹ thuật về chất lượngmôi trường, thông số ô nhiễm trong quy chuẩn kỹ thuật về chất thải phải có chỉdẫn cụ thể các phương pháp chuẩn về lấy mẫu, đo đạc và phân tích để xác địnhthông số đó

Trong quá trình áp dụng các quy chuẩn này, có thể thấy: Hệ thống quychuẩn kỹ thuật chất lượng môi trường xung quanh và quy chuẩn kỹ thuật về chấtthải đã thực sự là căn cứ, chuẩn mực phục vụ cho công tác đánh giá tác độngmôi trường, kiểm soát ô nhiễm, thanh tra môi trường…; số lượng các thông sốđược quy định trong quy chuẩn kỹ thuật chất lượng môi trường xung quanh đãbao gồm hầu hết các chất ô nhiễm có trong môi trường xung quanh Song, vớitình hình kinh tế - xã hội ngày một phát triển như hiện nay thì cần phải rà soát,điều chỉnh hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường xung quanh cho phù hợp,hòa nhập với thế giới Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật về chất thải mặc dù đã được

cụ thể hóa một bước bằng cách ban hành tiêu chuẩn thải 2001 của Bộ Khoa học– Công nghệ và Môi trường (trước đây) nhưng vẫn còn chung cho tất cả cácngành sản xuất, trong khi mỗi một lĩnh vực sản xuất lại có thành phần chất thải

và thải lượng khác nhau Vì vậy, cần phải có quy chuẩn kỹ thuật về chất thảiriêng cho từng lĩnh vực sản xuất đặc thù [9]

Quy chuẩn kỹ thuật về môi trường trong hoạt động nhập khẩu còn baogồm các danh mục cụ thể về các sản phẩm bị cấm nhập khẩu (các sản phẩm có

Trang 32

ảnh hưởng xấu đến môi trường) ở thị trường Việt Nam Trên cơ sở danh mụcnày, các doanh nghiệp nhập khẩu sẽ có sự điều chỉnh hoạt động sản xuất, kinhdoanh của mình để hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật bảo vệ môi trườngtrong hoạt động nhập khẩu.

Hiện nay, nước ta đang từng bước xây dựng được hệ thống quy chuẩn kỹthuật về môi trường trong hoạt động nhập khẩu hàng hóa Ngoài các quy chuẩntrong hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường quốc gia, Nhà nước đã ban hànhcác văn bản pháp luật quy định cụ thể các loại hàng hóa cấm nhập khẩu (Nghịđịnh số 12/2006/NĐ-CP; Quyết định số 20/2006/QĐ-BBCVT của Bộ trưởng BộBưu chính viễn thông về việc ban hành danh mục sản phẩm công nghệ thông tin

đã qua sử dụng cấm nhập khẩu…) [2, tr.379]

Việc xây dựng hệ thống quy chuẩn kỹ thuật về môi trường trong hoạtđộng nhập khẩu là hết sức cần thiết đối với công tác kiểm soát ô nhiễm tronghoạt động nhập khẩu Vì vậy, cần phải hoàn thiện hơn nữa hệ thống quy chuẩnnày để làm căn cứ cho Nhà nước xác định được các hành vi vi phạm pháp luậtbảo vệ môi trường trong quá trình quản lý hoạt động nhập khẩu hàng hóa; đồngthời giúp các doanh nghiệp có căn cứ để thực hiện trách nhiệm bảo vệ môitrường của mình khi thực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hóa

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 12/2006/NĐ-CP thì hànghóa nhập khẩu phải bảo đảm các quy định liên quan về kiểm dịch động thực vật,

an toàn vệ sinh thực phẩm và tiêu chuẩn, chất lượng, phải chịu sự kiểm tra củacác cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành trước khi thông quan Căn cứ vàoPháp lệnh số 18/1999/PL-UBTVQH10 ngày 24/12/1999 của Ủy ban thường vụQuốc hội quy định về chất lượng hàng hóa thì: “Tiêu chuẩn chất lượng bao gồmcác quy định về chỉ tiêu, yêu cầu kỹ thuật, phương pháp thử nghiệm, bao gói,ghi nhãn, vận chuyển, bảo quản hàng hóa; về hệ thống quản lý chất lượng và cácvấn đề khác liên quan đến chất lượng hàng hóa” (Điều 9) Theo Nghị định số179/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định quản lý nhà nước về chất lượng sảnphẩm hàng hóa: “Tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm hàng hóa do thủ trưởng các

cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành theo thủ tục xác định Tiêu chuẩn

Trang 33

được xây dựng dựa trên thành tựu khoa học, công nghệ và tham khảo tiêu chuẩnquốc tế, khu vực nước ngoài, có tính đến điều kiện kinh tế - xã hội thực tế củaViệt Nam” (Khoản 2 Điều 4) Việc ban hành TCVN về chất lượng hàng hóa; sửdụng tiêu chuẩn nước ngoài, tiêu chuẩn quốc tế tại Việt Nam sẽ do Chính phủquy định Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, thủ trưởng cơ quan thuộcChính phủ ban hành tiêu chuẩn ngành về chất lượng hàng hóa để áp dụng trongphạm vi ngành, lĩnh vực được phân công quản lý theo quy định của Chính phủ.Ngoài ra, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sẽ công bố tiêu chuẩn cơ sở vềchất lượng hàng hóa để áp dụng trong cơ sở của mình và chịu trách nhiệm vềtiêu chuẩn chất lượng hàng hóa do mình công bố.

Theo Điều 12 của Pháp lệnh số 18/1999/PL-UBTVQH10 về chất lượnghàng hóa thì những hàng hóa liên quan đến thực phẩm, an toàn, vệ sinh, sứckhỏe con người, môi trường và các đối tượng khác được pháp luật quy địnhthuộc diện phải áp dụng TCVN Việc ban hành danh mục những loại hàng hóaphải áp dụng TCVN do Chính phủ quy định Ngoài danh mục hàng hóa phải ápdụng TCVN thì căn cứ vào yêu cầu quản lý chất lượng hàng hóa trong từng thời

kỳ, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ sẽ quyđịnh hàng hóa trong phạm vi ngành, lĩnh vực được phân công quản lý phải ápdụng tiêu chuẩn ngành hoặc tiêu chuẩn khác “Sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu đểtiêu thụ tại Việt Nam phải tuân thủ các quy định chất lượng sản phẩm, hàng hóalưu thông trong nước Trường hợp sản phẩm, hàng hóa lưu thông trên thị trường

và nhập khẩu không phù hợp với quy định, cơ quan quản lý nhà nước về chấtlượng sản phẩm, hàng hóa quy định tại chương V của nghị định này có quyềnđình chỉ việc lưu thông sản phẩm, hàng hóa đó trên thị trường và xử lý theo quyđịnh của pháp luật” (Khoản 2 Điều 27 Nghị định số 179/2004/NĐ-CP) Tuynhiên, hàng hóa nhập khẩu sẽ được miễn hoặc giảm kiểm tra chất lượng sảnphẩm nếu có giấy chứng nhận hoặc dấu phù hợp tiêu chuẩn của nước xuất khẩuđược Việt Nam thừa nhận theo hiệp định hoặc thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau vềtiêu chuẩn và sự phù hợp mà Việt Nam tham gia ký kết Những hàng hóa nàyvẫn có thể bị kiểm tra đột xuất, bị hủy bỏ hoặc tiếp tục việc miễn, giảm đối với

Trang 34

sản phẩm hàng hóa đó nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật về quản lýchất lượng sản phẩm, hàng hóa.

2.2.3 Những điều kiện về chủ thể nhập khẩu hàng hóa

Theo Điều 2 Nghị định số 12/2006/NĐ-CP thì thương nhân Việt Nam;các tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại quy định tạiLuật Thương mại đều được phép thực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hóa.Thương nhân Việt Nam bao gồm: Các Doanh nghiệp Nhà nước, các Doanhnghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã; Các hộ kinhdoanh cá thể được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 2/4/2004 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh (Thông tư của BộThương mại số 04/2006/TT-BTM hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghịđịnh số 12/2006/NĐ-CP)

Như vậy, phạm vi chủ thể được quyền kinh doanh nhập khẩu rất rộng, baogồm cả thương nhân Việt Nam không có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vàthương nhân có vốn đầu tư nước ngoài, công ty, chi nhánh công ty nước ngoàitại Việt Nam Đối với thương nhân Việt Nam không có vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài được nhập khẩu hàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề đăng kýkinh doanh, trừ hàng hóa thuộc danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhậpkhẩu; chi nhánh thương nhân được nhập khẩu theo ủy quyền của thương nhân.Đối với thương nhân có vốn đầu tư nước ngoài, công ty, chi nhánh công ty nướcngoài tại Việt Nam thì khi tiến hành các hoạt động thương mại phải tuân theocác quy định của pháp luật Việt Nam và các cam kết của Việt Nam trong cácđiều ước quốc tế mà Việt Nam là một bên ký kết hoặc gia nhập

2.2.4 Nghĩa vụ bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hóa

Các tổ chức, cá nhân này khi thực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hóaphải thực hiện nghĩa vụ về bảo vệ môi trường trong hoạt động của mình vớinhững nội dung cơ bản sau [2, tr.385]:

Thứ nhất: Không được thực hiện các hành vi nhập khẩu có khả năng gây

ảnh hưởng xấu đến môi trường đã bị pháp luật nghiêm cấm Các hành vi này

Ngày đăng: 10/03/2018, 17:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w