Bên cạnh con đường lây nhiễm từ mẹ sang con, đa số xảy ra trong thời kỳ chu sinh hay những tháng đầu sau sinh,lây nhiễm qua đường tình dục không an toàn thì viêm gan B còn lây nhiễm khi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI VIỆN ĐÀO TẠO RĂNG HÀM MẶT
NGUYỄN THỊ TÂM
NHẬN XÉT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI VỀ DỰ PHÒNG BỆNH VIÊM GAN B Ở SINH VIÊN RĂNG HÀM MẶT NĂM THỨ 6 TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA
KHÓA 2009 - 2015
HÀ NỘI – 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI VIỆN ĐÀO TẠO RĂNG HÀM MẶT
NGUYỄN THỊ TÂM
NHẬN XÉT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI VỀ DỰ PHÒNG BỆNH VIÊM GAN B Ở SINH VIÊN RĂNG HÀM MẶT NĂM THỨ 6 TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA
KHÓA 2009 - 2015
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Ths.LỘC THỊ THANH HIỀN
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này, em
đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình từ các thầy cô giáo và các bạn bè đồng khóa
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ths Lộc Thị Thanh Hiền, người cô đã tận tình hướng dẫn, dạy dỗ và dìu dắt em những bước đi đầu tiên trên con đường nghiên cứu khoa học, nhiệt tình chỉ bảo em trong quá trình học tập và làm khóa luận
Em xin được tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đào Thị Dung, PGS.TS.Võ Trương Như Ngọc, Ths.Nguyễn Anh Tuấn là những người thầy, người cô đã tận tình hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu giúp
em hoàn thành khóa luận này
Em xin gửi lời cám ơn chân thành tới Viện Đào Tạo Răng Hàm Mặt trường đại học Y Hà Nội, Khoa Quốc Tế trường đại học Quốc Gia Hà Nội, Khoa Răng trường đại học Nantes và toàn thể các quý thầy cô đã tận tình chỉ bảo, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập và tìm hiểu đề tài này
Xin gửi lời cảm ơn tới các bạn sinh viên răng hàm mặt năm thứ sáu đã nhiệt tình tham gia nghiên cứu, giúp đỡ để em có thể hoàn thành được khóa luận này
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, người thân, đã luôn động viên và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận này
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2015
Sv Nguyễn Thị Tâm
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả thu được trong khóa luận này hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2015
Sv Nguyễn Thị Tâm
Trang 5Răng hàm mặt Nhân viên y tế Cộng sự
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đại cương về bệnh viêm gan B 3
1.1.1 Định nghĩa 3
1.1.2 Dịch tễ học 3
1.1.3 Virus viêm gan B 4
1.1.4 Cách thức lây nhiễm virus viêm gan B 5
1.1.5 Diễn biến và triệu chứng lâm sàng của nhiễm virus viêm gan B 6
1.1.6 Điều trị bệnh viêm gan B 8
1.1.7 Biện pháp phòng ngừa bệnh viêm gan B 9
1.2 Một số nghiên cứu về thái độ, cách phòng ngừa bệnh viêm gan B ở nhân viên y tế ở Việt Nam và trên thế giới 12
1.2.1 Tình hình thế giới 12
1.2.2 Tình hình ở Việt Nam 13
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 15
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu: 15
Viện đào tạo RHM, đại học Y Hà Nội, Hà Nội 15
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 15
2.2 Đối tượng nghiên cứu 15
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 15
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ 15
2.3 Phương pháp nghiên cứu 15
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 15
2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 15
2.3.3 Phương pháp chọn mẫu 16
2.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 16
2.5 Phương pháp thu thập thông tin 17
2.5.1 Một số thông tin về sinh viên RHM năm thứ 6, viện đào tạo RHM, đại học Y Hà Nội 17
Kiến thức về bệnh viêm gan B 17
Thái độ về bệnh viêm gan B 17
Hành vi phòng ngừa bệnh viêm gan B 17
2.5.2 Công cụ thu thập số liệu 19
Trang 72.5.3 Các bước tiến hành 21
2.6 Sai số và khống chế sai số 21
2.7 Xử lý số liệu 21
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 22
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu 23
3.2 Kiến thức, thái độ và hành vi phòng ngừa bệnh viêm gan B 24
3.3 Mối liên hệ giữa kiến thức, thái độ, hành vi phòng ngừa bệnh viêm gan B và giới tính sinh viên RHM năm 6 đại học Y Hà Nội 31
3.4 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, hành vi dự phòng bệnh viêm gan B của sinh viên RHM năm 6 đại học Y Hà Nội 1
Chương 4: BÀN LUẬN 2
4.1 Đánh giá về kiến thức, thái độ và hành vi dự phòng bệnh VGB 2
4.1.1 Kiến thức về bệnh VGB 3
4.1.2 Thái độ về bệnh VGB 4
4.1.3 Hành vi dự phòng về bệnh VGB 4
4.2 Mối liên hệ giữa kiến thức, thái độ, hành vi phòng ngừa bệnh viêm gan B và giới tính sinh viên RHM năm 6 đại học Y Hà Nội 7
4.3 Mối liên hệ giữa kiến thức, thái độ và hành vi phòng ngừa về bệnh VGB 7
4.3.1 Mối liên hệ giữa kiến thức và hành vi dự phòng bệnh VGB 7
4.3.2 Mối liên hệ giữa thái độ và hành vi dự phòng về bệnh VGB 8
KẾT LUẬN 9
KIẾN NGHỊ 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phiếu điều tra
Danh sách sinh viên tham gia nghiên cứu
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Danh mục vắc xin ngừa bệnh VGB tại trung tâm tiêm chủng 131
Lò Đúc - Hà Nội, áp dụng từ ngày 27/03/2012 đến tháng 20/01/2015 11 Bảng 3.1.1 Bảng phân bố tình trạng sức khỏe của mẫu nghiên cứu 23 Bảng 3.2.1 Kiến thức, thái độ và hành vi phòng bệnh VGB ở sinh viên RHM năm 6 đại học Y Hà Nội 24 Bảng 3.2.2 Mức độ kiến thức liên quan đến bệnh VGB ở sinh viên RHM năm
6 đại học Y Hà Nội 26 Bảng 3.2.3 Thái độ về bệnh VGB ở sinh viên RHM năm 6 đại học Y Hà Nội 27 Bảng 3.2.4 Hành vi phòng ngừa bệnh VGB ở sinh viên RHM năm 6 đại học
Y Hà Nội 27 Bảng 3.2.5 Số lượng và tỷ lệ phần trăm phân bố của mỗi câu hỏi liên quan đến hành vi phòng ngừa bệnh VGB của các sinh viên RHM năm thứ 6 đại học
Y Hà Nội (128 mẫu) 28 Bảng 3.2.6 Số lượng và tỷ lệ phần trăm phân bố của mỗi câu hỏi liên quan đến hành vi phòng ngừa bệnh VGB của các sinh viên RHM năm thứ 6 đại học
Y Hà Nội 30 Bảng 3.3.1 Mối liên hệ giữa kiến thức, thái độ, hành vi phòng ngừa bệnh viêm gan B và giới tính sinh viên RHM năm 6, viện đào tạo RHM, đại học Y Hà Nội 24 Bảng 3.3.1 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, hành vi dự phòng bệnh viêm gan B của sinh viên RHM năm 6 đại học Y Hà Nội 1
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Phân bố mẫu nghiên cứu theo giới……….53
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm gan B là một bệnh truyền nhiễm phổ biến và nguy hiểm, gây bệnh cho hàng triệu người ở mọi vùng địa lý và đang là mối quan tâm của y tế toàn cầu Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2009, có hơn 2 tỷ người nhiễm virus viêm gan B trên thế giới, trong đó gần 360 triệu người mang virus viêm gan B mạn tính, và đứng trước nguy cơ diễn tiến bệnh trầm trọng,
tử vong do xơ gan, ung thư gan [1] Kết quả nghiên cứu năm 2000 người ta ước tính hằng năm có khoảng 600 000 người chết do những bệnh lý liên quan đến nhiễm virus viêm gan B[2]
Việt Nam là nước thuộc vùng có tỷ lệ lưu hành bệnh viêm gan B cao; theo số liệu thống kê được WHO đưa ra năm 2014, có khoảng 8,6 triệu người nhiễm vi rút viêm gan B Tỷ lệ nhiễm bệnh viêm gan B mạn tính ước tính khoảng 8,8% ở phụ nữ và 12,3% ở nam giới [3] Người nhiễm bệnh viêm gan
B mạn tính hầu như sẽ mang HBV suốt đời, trong số này có khoảng 2-3 triệu người diễn tiến thành biến chứng nguy hiểm là xơ gan và ung thư gan [4] Theo nghiên cứu năm 2012, tỷ lệ bệnh ở Hà Nội vào khoảng 10,2% [5]
Virus viêm gan B rất dễ lây, khả năng lây nhiễm cao hơn HIV từ 50 đến
100 lần Bên cạnh con đường lây nhiễm từ mẹ sang con, đa số xảy ra trong thời kỳ chu sinh hay những tháng đầu sau sinh,lây nhiễm qua đường tình dục không an toàn thì viêm gan B còn lây nhiễm khi tiếp xúc với máu, các vật phẩm của máu hay dịch tiết của người bị nhiễm HBV [6] Bởi thế cho nên nhân viên y tế bao gồm cả sinh viên nha khoa là đối tượng luôn phải đối mặt với nguy cơ cao bị nhiễm HBV do tai nạn thương tích trong nghề nghiệp như tổn thương do vật sắc nhọn [7]
Trang 11Chính vì vậy, vai trò của sự hiểu biết, thái độ và hành vi phòng ngừa bệnh viêm gan B là rất quan trọng, đặc biệt là ở sinh viên nha khoa năm 6 – những sinh viên sắp ra trường làm việc, cần thiết một sự chuẩn bị phòng ngừa trước những nguy cơ lây nhiễm cao như virus viêm gan B
Hiện nay trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ, ứng xử đối với bệnh VGB ở nhân viên y tế nói chung và ở sinh viên y khoa nói riêng Tuy nhiên, ở Việt Nam, các nghiên cứu chuyên về viêm gan B trong đối tượng nhân viên y tế là chưa nhiều mà đặc biệt trên đối tượng sinh viên y khoa thì chưa có
Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa trên chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Nhận xét kiến thức, thái độ và hành vi về dự phòng bệnh viêm
gan B ở sinh viên răng hàm mặt năm thứ 6, trường đại học Y Hà Nội năm 2015” với các mục tiêu
Mục tiêu tổng quát
Xác định các yếu tố về hành vi liên quan đến bệnh viêm gan B trong sinh viên nha khoa năm thứ 6 của khoa răng hàm mặt đại học Y Hà Nội
Mục tiêu cụ thể
B của đối tượng trên
bệnh viêm gan B của đối tượng trên
Trang 12Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương về bệnh viêm gan B
1.1.1 Định nghĩa
Viêm gan virus là bệnh truyền nhiễm thường gặp Bệnh do một số virus
có ái tính với tế bào gan, tuy có các đặc điểm sinh học, đường xâm nhập khác nhau (như đường tiêu hóa, đường máu), nhưng đều gây viêm và tổn thương tại
tế bào gan là tế bào đích Cho tới nay, nhiều loại virus gây bệnh viêm gan ở người đã xác định như virus A, B, C, D, E, G [8]
Viêm gan B là bệnh nhiễm trùng do nhiễm virus viêm gan B (HBV) Khi
bị nhiễm virus lần đầu, một người có thể phát triển nhiễm trùng "cấp tính", có thể dao động trong mức độ từ bệnh nhẹ với ít hoặc không có triệu chứng cho đến một tình trạng nghiêm trọng đòi hỏi phải nhập viện Viêm gan B cấp tính diễn biến trong 6 tháng đầu sau khi người bệnh phơi nhiễm với virus viêm gan
B Một số người có khả năng chống chọi với sự lây nhiễm và tiêu diệt virus Đối với những người khác, tình trạng cấp tính chuyển sang mạn tính.Theo thời gian, các nhiễm trùng có thể gây ra vấn đề sức khỏe nghiêm trọng [6]
1.1.2 Dịch tễ học
Việt Nam thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương – vùng dịch lưu hành cao, mặc dù khu vực này chỉ chiếm 28% dân số thế giới, nhưng nó tập trung gần một nửa trong số 360 triệu người nhiễm HBV mạn tính Ngoại trừ Australia, Nhật Bản và New Zealand, nơi mà tỷ lệ nhiễm HBV mãn tính là ít hơn 2%, thì ước tính tỷ lệ mắc bệnh trong các nước thuộc khu vực này là 8% hoặc nhiều hơn Có khoảng 160 triệu người nhiễm HBV mạn tính và hơn
360000 trường hợp tử vong liên quan đến vi rút này xảy ra mỗi năm, 890 người chết mỗi ngày Người ta xác định số ca ung thư gan trong khu vực Tây
Trang 13Thái Bình Dương chiếm gần 60% tổng số ca ung thư gan của thế giới Hơn nữa, trong các loại ung thư gây tử vong, ung thư gan xếp ở vị trí số 2 [9]
1.1.3 Virus viêm gan B
a Cấu trúc virus viêm gan B
Năm 1970, Dane mô tả tiểu thể virus HBV hoàn chỉnh gồm 1 lớp vỏ nucleocapsid, bộ gen là một chuỗi xoắn kép ADN và ARN polymerase
Về cấu trúc, HBV hình cầu, đường kính là 42nm Cấu tạo gồm 3 lớp bao gồm lớp vỏ có bề dày 7nm, có kháng nguyên bề mặt HbsAg; lớp nucleocapsid
có chứa 2 kháng nguyên là HbcAg và HbeAg; nhân có chứa gen là ADN và ARN polymerase [8]
b Sức đề kháng của virus viêm gan B
Virus viêm gan B có sức đề kháng cao, virus này có thể tồn tại ở nhiệt độ phòng trong vòng 6 tháng, ở nhiệt độ 100oC trong 20 phút, ở 58oC trong 24 giờ Kháng nguyên bề mặt của virus viêm gan B (HbsAg) rất bền vững, có thể tồn tại 20 năm ở -20oC Virus viêm gan B bị bất hoạt bởi Fomalin 5% sau 12 giờ Muốn giết chết virus viêm gan B hoặc HbsAg phải khử trùng rất kỹ bằng cách đun sôi 30 phút hoặc sấy khô, hoặc hấp ướt[10]
c Khả năng gây bệnh của virus viêm gan B
Virus viêm gan B có tính lây nhiễm cao, chỉ với 0,01-0,001ml huyết thanh nhiễm HBV đã có thể lây được bệnh HBV là tác nhân quan trọng gây viêm gan virus Trên thế giới hiện có khoảng 360 triệu người nhiễm HBV mãn tính, trong đó 10% có triệu chứng viêm gan cấp, 90% nhiễm virus không
có triệu chứng Nguy cơ mắc ung thư gan ở người mang HBV mãn tính cao gấp 100 lần so với những người không mang HBV Nhiễm phối hợp virus
Trang 14viêm gan B và C có nguy cơ dẫn đến xơ gan và ung thư gan cao hơn gấp nhiều lần so với nhiễm một loại virus [10]
1.1.4 Cách thức lây nhiễm virus viêm gan B
Virus VGB được lây truyền qua da (vết trợt da) hoặc niêm mạc (vết trợt niêm mạc) tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết của người nhiễm virus VGB Virus
có tính lây nhiễm cao, đối với người không có miễn dịch (chưa được tiêm vắc-xin chống virus VGB), nó có khả năng lây bệnh từ một tiếp xúc trực tiếp
do kim đâm từ một bệnh nhân có HbeAg(+) cao hơn 100 lần so với lây nhiễm
từ người có HIV(+) [11] Các con đường lây nhiễm HBV
a, Lây nhiễm theo chiều dọc (truyền nhiễm chu sinh)
Là lây nhiễm từ mẹ sang con, đa số xảy ra trong thời kỳ chu sinh hay những tháng đầu sau sinh, không lây nhiễm qua nhau thai Sự truyền nhiễm diễn ra vào lúc sinh hơn là khi mang thai dẫn đến việc cần thiết phải tiêm chủng bằng vắc xin và có thể cả globulin miễn dịch VGB (HBIG) ngay sau khi bé chào đời [12] Trẻ sinh ra từ mẹ có đồng thời HbsAg (+) và HbeAg (+) thì tỷ lệ truyền virus viêm gan B cho con trên 90% [8]
HBsAg có trong sữa mẹ với nồng độ rất thấp do đó lây truyền chủ yếu là
do trẻ bú cắn vào vú mẹ gây trầy sướt [13]
b, Lây nhiễm theo chiều ngang
Có hai kiểu lây nhiễm theo chiều ngang chính là lây nhiễm qua đường tình dục và lây nhiễm khi tiếp xúc với máu, các vật phẩm của máu hay dịch tiết của người bị nhiễm HBV
Lây truyền do tiếp xúc tình dục đồng tính hoặc dị tính luyến ái đã được chứng minh và thường gặp ở các nước phát triển, nhất là trong nhóm đồng
Trang 15tính luyến ái Tuy nhiên đường lây truyền này không quan trọng bằng đường lây truyền do phơi nhiễm
Nhiễm virus HBV do tiếp xúc trực tiếp với máu nhiễm virus do truyền máu hoặc từ huyết thanh được dùng như dung môi trong vắc xin hay thuốc Việc sàng lọc máu hoặc các chế phẩm máu để loại HbsAg và không dùng dung môi là huyết thanh cho vắc xin hầu như đã loại bỏ nguyên nhân này ở các nước phát triển
Tiếp xúc trực tiếp với máu qua kim tiêm nhiễm virus là con đường thường gặp nhất trong truyền nhiễm giữa những người sử dụng chung kim tiêm (nghiện ma túy, hình thức châm cứu, xăm mình, ) hoặc giữa những nhân viên y tế và nhân viên an ninh công cộng bị tai nạn kim tiêm [12]
Lây truyền VGB do dụng cụ y tế Bất cứ loại dụng cụ y tế nào làm tổn thương da và niêm mạc người bệnh hoặc người mang HbsAg sau đó lại làm tổn thương da và niêm mạc người khác mà không được khử trùng cẩn thận đều có thể truyền nhiều loại virus viêm gan, đặc biệt là HBV [14]
1.1.5 Diễn biến và triệu chứng lâm sàng của nhiễm virus viêm gan B
Viêm gan virus là một bệnh truyền nhiễm thường gặp, với đặc trưng là tổn thương viêm lan tỏa và hoại tử tế bào gan Nhiễm virus VGB có thể tiến triển từ cấp tính sang mạn tính và dần tới xơ gan, ung thư tế bào gan Trong các trường hợp nhiễm VGB, có khoảng 90% không có triệu chứng lâm sàng, chỉ khoảng 10% có triệu chứng viêm gan cấp [8]
1.1.5.1 Dấu hiệu và triệu chứng bệnh viêm gan B cấp
Thể điển hình của bệnh viêm gan B cấp là thể vàng da thông thường với đầy đủ các thời kì và triệu chứng, diễn biến cấp tính và khỏi trong vòng 1-2 tháng
Trang 16Thời kì ủ bệnh: từ 30-180 ngày và hầu như không có triệu chứng lâm
sàng
Thời kì khởi phát: từ 5-15 ngày với biểu hiện lâm sàng rất đa dạng như
rối loạn tiêu hóa (chán ăn, buồn nôn, hoặc nôn, táo bón hoặc ỉa chảy), viêm khớp, viêm xuất tiết, suy nhược thần kinh hoặc hỗn hợp Kèm theo đó là tình trạng sốt nhẹ hoặc vừa kéo dài 1 ngày đến 1 tuần và đau tức vùng hạ sườn phải Mệt mỏi mâu thuẫn với tình trạng nhiễm khuẩn toàn thân không rõ rệt Tiểu ít, nước tiểu sẫm màu
Thời kì toàn phát: Vàng da, vàng mắt tăng dần Bắt đầu vào thời kì này
bệnh nhân thường hết sốt Với tình trạng bệnh nhẹ và vừa thì vào thời kì này bệnh nhân thấy dễ chịu hẳn lên, ăn được, hết đau khớp… Nhưng với tình trạng bệnh nặng thì vào thời kì toàn phát, các triệu chứng phát triển nặng lên như gan to, đau, một số trường hợp có lách to, chán ăn, mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa, phân bạc màu, nước tiểu ít và sậm màu
Thời kì lui bệnh: Các triệu chứng thuyên giảm dần Viêm gan cấp thường
khỏi sau 4-6 tuần Mở đầu thời kì lui bệnh bằng một đợt đi giải nhiều, nước tiểu trong, vàng da hết dần
1.1.5.2 Dấu hiệu và triệu chứng bệnh viêm gan B mạn
VGB mạn tính là hiện tượng viêm và hoại tử ở gan kéo dài ít nhất 6 tháng Viêm gan mạn thường là hậu quả của viêm gan cấp, tuy nhiên nhiều trường hợp bệnh tiến triển âm thầm và chỉ biểu hiện ở giai đoạn mạn tính Tiến triển của viêm gan mạn có thể ổn định nhưng trường hợp nặng có thể dẫn đến xơ gan và ung thư gan [12]
Dựa vào tổn thương tế bào gan người ta chia làm 2 thể viêm gan mạn tính là viêm gan mạn tồn tại và viêm gan mạn hoạt động
Trang 17Viêm gan mạn tồn tại
Thường không có triệu chứng lâm sàng, có thể kèm theo mệt mỏi, chán
ăn, đau tức nhẹ vùng hạ sườn phải, khám gan có thể hơi to Cấu trúc gan còn bình thường, quá trình viêm còn khu trú ở khoảng cửa, không có hiện tượng
xơ hóa Tiên lượng nói chung tốt với thể tồn tại không tiến triển, tuy nhiên có thể tiến triển thành viêm gan mạn hoạt động nếu có sự nhân lên của virus[8]
Viêm gan mạn hoạt động
Các biểu hiện lâm sàng gồm mệt mỏi, đau hạ sườn phải, vàng da và ngứa khi có tắc mật Các biểu hiện của tang áp lực tĩnh mạch cửa: cổ chướng, xuất huyết tiêu hóa… xuất hiện ngay cả khi chưa có xơ gan Khám thấy gan to vừa, hạch to, đôi khi có thể thấy lách to Tiến triển theo xu hướng nặng hoặc thành từng đợt, tiến tới xơ gan – ung thư gan sau nhiều năm tiến triển[8]
1.1.6 Điều trị bệnh viêm gan B
Bệnh viêm gan B cấp
Chế độ ăn giàu đạm, đường, vitamin, giảm mỡ động vật và sử dụng thuốc điều trị triệu chứng khi cần
Bệnh viêm gan B mạn thể hoạt động
Mục tiêu cao nhất trong điều trị là loại trừ virus ra khỏi cơ thể, hồi phục các tổn thương ở gan và hết các triệu chứng lâm sàng Tuy nhiên cho tới nay các biện pháp điều trị viêm gan mạn do virus nói chung và do HBV nói riêng vẫn còn là vấn đề khó khăn Do vậy, mục tiêu thực tế là làm giảm hoặc ngừng quá trình phát triển, nhân lên của HBV, giảm quá trình viêm trong gan, ngăn chặn hoại tử tế bào gan, ngăn quá trình tiến tới xơ gan và ung thư hóa
Trang 18Các thuốc điều trị được sử dụng phổ biến hiện nay như Interferon (IFN), Lamivudin, Adefovir, Entecavir, thuốc nguồn gốc thực vật (phyllantus, Haina…) và các thuốc kích thích miễn dịch
1.1.7 Biện pháp phòng ngừa bệnh viêm gan B
Phòng bệnh chung: Phòng các nguy cơ lây nhiễm
Sàng lọc máu và các chế phẩm của máu trước khi truyền
Đảm bảo môi trường chăm sóc, thực hiện tốt khâu vô trùng và tiệt trùng, không dùng chung bơm kim tiêm, hạn chế các thủ thuật qua da
Thực hiện tình dục an toàn [8]
Phòng bệnh chủ động
a Tiêm vắc xin phòng viêm gan B
Vắc xin viêm gan B là biện pháp phòng bệnh VGB hiệu quả nhất
Chỉ định : Tiêm phòng phổ cập toàn cộng đồng , tiêm bắp
Đặc biệt là trẻ sơ sinh, trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi, nhóm người có nguy cơ lây nhiễm cao
Nhóm người có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm
o Những người thường xuyên cần truyền máu hoặc các sản phẩm của máu, bệnh nhân lọc máu, người nhận ghép tạng;
o Tù nhân;
o Người tiêm chích ma túy;
o Người có tiếp xúc với những thành viên gia đình và quan hệ tình dục với những người bị nhiễm virus viêm gan B mạn tính;
Trang 19o Nhân viên y tế và những người có thể phơi nhiễm với máu và các sản phẩm của máu trong khi làm việc;
o Du khách chưa hoàn thành liệu trình tiêm chủng vắc xin viêm gan B cũng cần được tiêm vắc xin trước khi đến vùng có dịch lưu hành [15]
Vắc-xin viêm gan B
Thế hệ 1: Có nguồn gốc từ huyết tương
Thế hệ 2: Vacxin được sản xuất thông qua ADN tái tổ hợp từ Saccharomyces cerevisiae và tế bào động vật
Thế hệ 3: Được cải tiến từ thế hệ thứ 2, sử dụng các chủng vi sinh vật khác có hiệu quả hơn [16]
Hiện có 2 loại vắc-xin chống VGB là vắc-xin đơn giá (như r-Hbvax của Việt Nam, hoặc ENGERIX-B của Bỉ) và vắc-xin phối hợp (TWINRIX 1ml Bỉ phối hợp chống VGB và viêm gan C; INFANRIX HEXA – Bỉ phối hợp chống 6 bệnh )
Lịch tiêm phòng vắc-xin chống virus VGB theo khuyến cáo
Đối với trẻ em và thiếu niên
- Trẻ em: 3 liều tiêm được khuyến cáo là vào 2 tháng tuổi, 4 tháng tuồi và trong 16-18 tháng tuổi
- Trẻ từ 11-15 tuổi: Nên đi tiêm các mũi nhắc lại, 3 mũi theo khoảng cách
0, 1, 6 tháng hoặc 2 mũi thì khoảng cách giữa 2 mũi phải là 6 tháng và theo vắc-xin chỉ định (Engrix 20mcg chẳng hạn), Engerix 10mcg không được chấp nhận
Đối với đối tượng có nguy cơ lây nhiễm cao
Trang 20 Trẻ có mẹ với HbsAg (+): 0, 1, 6 tháng tuổi; sau này vào lúc 16-18 tuổi nên tiêm 3 mũi nhắc lại theo khoảng cách 0, 1, 6 tháng
Người lớn: 3 mũi tiêm với khoảng cách 0, 1, 6 tháng [17]
Bảng 1.1: Danh mục vắc xin ngừa bệnh VGB tại trung tâm tiêm chủng 131 Lò Đúc - Hà Nội, áp dụng từ ngày 27/03/2012 đến tháng 20/01/2015 [18]
ván; bại liệt; viêm gan B; viêm màng
não mủ, viêm phổi, viêm mũi họng
do HIB (6 trong 1)
INFANRIX HEXA - BỈ 680.000
Huyết thanh kháng viêm gan B IMMUNO HBs
Hiệu quả của vắc-xin phòng bệnh viêm gan B
Các loại vắc-xin viêm gan B tái tổ hợp có 95% hiệu quả trong việc gây huyết thanh miễn dịch [19]
b Gamma globulin
Ngoài các Gamma globulin thông thường, hiện nay có Gamma globulin đặc hiệu với virus viêm gan B (HBIG) được điều chế từ huyết tương người có HBsAg dương tính Trong những trường hợp phơi nhiễm với virus viêm gan
B, HBIG có nồng độ kháng thể anti HBs cao nên sẽ trung hòa ngay HBsAg
Trang 21đang lưu hành trong hệ tuần hoàn, trong khi chờ hiệu quả của vaccine viêm gan B
Chỉ định: Người phơi nhiễm với viêm gan B nhưng chưa tiêm vaccine
dự phòng
- Đối với trẻ sơ sinh có mẹ mang HBsAg (+): tiêm bắp ngay sau khi sinh một liều duy nhất HBIG liều 0,5ml Sau đó, nếu trẻ trên 2000g tiêm vaccin 3 mũi theo lịch 0,1, 6 tháng Nếu trẻ dưới 2000g, tiêm vaccine 4 mũi theo lịch 0,1,2,6 tháng, do khả năng tạo miễn dịch kém
- Đối với người phơi nhiễm chưa tiêm vaccin: Tiêm bắp một liều duy nhất HBIG liều 0,06ml/kg, sau đó tiêm vaccine 3 mũi theo lịch 0,1,6 tháng
Có thể tiêm vaccin và Gamma globulin cùng một thời điểm, nhưng ở các
vị trí khác nhau Không dùng cho người có Anti HBs hoặc phòng viêm gan B sau truyền máu Khả năng bảo vệ đầy đủ ít nhất 5-15 năm, và hiện nay chưa
có khuyến cáo tiêm nhắc lại, trừ các trường hợp mắc bệnh suy giảm miễn dịch
và chạy thận nhân tạo[8]
1.2 Một số nghiên cứu về thái độ, cách phòng ngừa bệnh viêm gan B ở nhân viên y tế ở Việt Nam và trên thế giới
Trang 22ít nhất một lần tổn thương do kim tiêm hoặc vật sắc nhọn, trong đó có 2 trường hợp dương tính với HIV và 4 trường hợp dương tính với HBV [20]
Ở Brazil, vào năm 2013 Marina Sena Lopes da Silva Sacchetto và cs đã nghiên cứu về “Viêm gan siêu vi B: Kiến thức, tình trạng tiêm vắc-xin và chuyển đổi huyết thanh của sinh viên khoa răng ở một trường đại học công” trên cỡ mẫu thực tế 179 sinh viên cho kết quả 58,1% biết về mức độ nguy hiểm của HBV, 87,4% biết họ nên tiêm đủ 3 liều vắc-xin, 99,4% sinh viên luôn mang găng tay, khẩu trang và mũ y tế [21]
Nghiên cứu của Betul Rahman và cs vào năm 2013 về “ thái độ và thực hành kiểm soát lây nhiễm ở các sinh viên trường nha, đại học Sharjah ở tiểu vương quốc Ả Rập” thực hiện trên số mẫu 119 sinh viên đã cho kết quả là 64,6% sinh viên đã tiêm đủ 3 liều vaccin phòng bệnh VGB, 100% sinh viên luôn mang găng tay, khẩu trang trong suốt thời gian làm việc trên lâm sàng [22]
Ở Thái Lan, một nghiên cứu năm 2001 của Siti Nur Anisah về “hành vi phòng ngừa bệnh VGB ở sinh viên RHM, khoa RHM, đại học Mahidol, Băng Cốc, Thái Lan” cho thấy kiến thức, thái độ và hành vi phòng ngừa bệnh VGB
ở các sinh viên đều đạt mức độ tốt 94,3% sinh viên được hỏi đều đã tiêm phòng VGB đầy đủ, 97,8% sinh viên luôn mang khẩu trang, 99,1% luôn mang găng tay, áo blouse trong suốt quá trình điều trị [23]
1.2.2 Tình hình ở Việt Nam
Dư Hồng Đức, Nguyễn Thúy Quỳnh và cs đã điều tra về “mối liên hệ giữa chấn thương do vật sắc nhọn và bệnh VGB nghề nghiệp trong NVYT” năm 2008 tại 13 cơ sở y tế ở Nam Định và Hà Nội với cỡ mẫu 232 người cho kết quả tỷ lệ cao (96,8% ở nhóm bệnh, 88,2% ở nhóm chứng) NVYT từng bị thương do vật sắc nhọn trong quá trình làm việc Sau khi bị chấn thương, chỉ
Trang 23có 43,4% trả lời có tiêm phòng, 55,2% không sử dụng găng tay khi thực hiện các thao tác tiêm truyền [7]
Để “Đánh giá tình hình nhiễm virus VGB và một số yếu tố liên quan của nhân viên y tế tại bệnh viện tỉnh Gia Lai và Kon Tum, 2010-2011” Ngô Thị Hải Vân, Phạm Thị Thúy Hoa và cs đã điều tra trên 342 NVYT để đưa ra kết luận tỷ lệ nhiễm HBV chung là 35,0%, nhóm NVYT bị sự cố nghề nghiệp có
tỷ lệ nhiễm HBV (47,7%) cao hơn so với nhóm NVYT không bị sự cố (20,6%); tỷ lệ NVYT thường xuyên làm công việc rửa dụng cụ (35,0%), chích thuốc, lấy máu (39,4%) có tỷ lệ nhiễm HBV cao hơn nhóm không làm công việc này (16,3%) [24]
Năm 1994, khi làm xét nghiệm cho 4619 NVYT ở thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện tỉ lệ HbsAg (+) vào khoảng 15,2% Tại Trung tâm Bệnh Nhiệt Đới, xét nghiệm cho 500 người và tỷ lệ HbsAg (+) là 16,8% Tỉ lệ này tăng cao ở người công tác trên 5 năm (80%) hoặc làm việc tịa phòng cấp cứu (25,6%) hoặc các khoa chăm sóc bệnh nhân viêm gan (30,4%) [25]
Trang 24Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu:
Viện đào tạo RHM, đại học Y Hà Nội, Hà Nội
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 02/2015 đến tháng 03/2015
2.2 Đối tượng nghiên cứu
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Là sinh viên RHM năm thứ 6 của viện đào tạo RHM trường đại học Y Hà Nội
- Tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Không là sinh viên RHM năm thứ 6 của viện đào tạo RHM trường đại học Y
Hà Nội
- Không tự nguyện tham gia nghiên cứu
- Là người không có mặt vào lúc điều tra
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Là nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên tổng số toàn bộ sinh viên RHM năm thứ
6, người đang học tập và thực tập lâm sàng ở viện đào tạo RHM, trường đại học y Hà Nội, Hà Nội, Việt Nam năm học 2014-2015
Trang 252.3.3 Phương pháp chọn mẫu
Chúng tôi lựa chọn mẫu thuận tiện, bao gồm toàn bộ sinh viên RHM năm thứ 6 (128 sinh viên) của viện đào tạo RHM, trường đại học Y Hà Nội
2.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Biến số không phụ thuộc
Dấu hiệu và triệu chứng
Cách phòng ngừa bệnh viêm gan B
- Thái độ
Thái độ về bệnh viêm gan B
Biến số phụ thuộc
- Hành vi phòng ngừa viêm gan B
Thực hiện các biện pháp tự bảo vệ
Thực hiện việc sử dụng kiểm soát nhiễm khuẩn trong phòng khám nha khoa
Trang 262.5 Phương pháp thu thập thông tin
2.5.1 Một số thông tin về sinh viên RHM năm thứ 6, viện đào tạo RHM, đại học Y Hà Nội
Sinh viên RHM năm 6 đại học Y Hà Nội
Là những sinh viên năm cuối, đang học tập và thực tập tại các bệnh viện trực thuộc hoặc có liên kết với viện đào tạo RHM, trường đại học Y Hà Nội,
Hà Nội
Kiến thức về bệnh viêm gan B
Kiến thức liên quan đến sự hiểu biết về các khái niệm của VGB trong mối quan hệ về tác nhân gây bệnh, thời kì ủ bệnh, dấu hiệu và triệu chứng bệnh, cách thức lây truyền và phòng ngừa VGB
Thái độ về bệnh viêm gan B
Thái độ liên quan đến ý kiến và ý định của sinh viên RHM năm 6, viện đào tạo RHM, đại học Y Hà Nội về kiến thức về bệnh VGB
Hành vi phòng ngừa bệnh viêm gan B
Thái độ quyết định hành vi Hành vi phòng ngừa VGB được xác định qua bảng câu hỏi tự điền và gồm có 2 phần
1) Thực hiện các biện pháp tự bảo vệ
Tạo miễn dịch: Tất cả sinh viên nên tiêm phòng vắc xin chống HBV
Vệ sinh cá nhân
Đội mũ phẫu thuật
Rửa tay với xà phòng chống vi khuẩn trước khi mang gang
Không mang nhẫn, đồng hồ đeo tay, vòng tay trong suốt quá trình điều trị
Trang 27 Các biện pháp phòng ngừa khác
Mang găng tay, khẩu trang, kính bảo hộ mắt/mặt và áo blouse là yêu cầu cho tất cả quá trình điều trị
Găng tay cần được thay ngay khi bị thủng
Mang găng tay trong khi cọ rửa, lau chùi dụng cụ đã qua sử dụng [26] 2) Thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn trong phòng khám nha khoa: những việc làm giảm nguy cơ lây truyền VGB trong môi trường răng miệng giữa bệnh nhân, từ bệnh nhân tới sinh viên răng
Gương khám, dao mổ, kim tiêm, dụng cụ phẫu thuật, dụng cụ cắt, dụng
cụ trong nha khoa phục hồi nên được tiệt trùng theo 2 cách sau
o Tiệt trùng bằng nhiệt
Nước sôi ở 100oC trong 20-30 phút
Lò hấp khô dưới áp suất 0,35kg/cm2 ở 120oC trong 30 phút
Lò hấp ướt autoclave ở 160oC trong 1 giờ
o Tiệt trùng bằng hóa học
Lau rửa bởi cồn 70%
Glutaraldehyde (C5H8O2) 2% trong ít nhất 3 giờ
Phân loại rác thải nha khoa
Trang 28 Tất cả đồ sắc nhọn như kim tiêm, dao mổ hay bất kì cốc vỡ đều cần được để cẩn thận trong hộp cứng và được xử lí thông qua một bộ phận
xử lí thích hợp
Những rác thải khác như găng đã qua sử dụng, bông cotton và gạc đã dùng cần được để trong túi rác màu vàng, bọc cẩn thận, ở ngoài luôn ghi chữ “rác lây nhiễm”
Rác thải dung dịch nên được đổ cẩn thận vào cống/thoát nước thích hợp [27]
2.5.2 Công cụ thu thập số liệu
Số liệu được thu thập thông qua phiếu điều tra tự điền Phiếu được thiết
kế dựa trên mẫu phiếu điều tra về đề tài tương tự ở luận văn thạc sĩ của Siti Nur Anisah [23] Phiếu điều tra này được dùng để đánh giá mức độ hiểu biết, thái độ và hành vi phòng ngừa viêm gan B trong sinh viên nha khoa năm thứ
6, khoa RHM, đại học Y Hà Nội Bảng câu hỏi bao gồm 4 phần như sau
o Kiến thức tốt : ≥ 80% tổng số điểm
o Kiến thức trung bình : 60 - 79% tổng số điểm
o Kiến thức thấp : < 60% tổng số điểm
Trang 29Phần 3 Thái độ về bệnh viêm gan B
Những thông tin về thái độ về viêm gan B liên quan đến cách lây truyền bệnh, dấu hiệu và triệu chứng bệnh, thực hiện các phương pháp tự bảo vệ và việc sử dụng kiểm soát nhiễm khuẩn trong phòng khám nha khoa Nó bao gồm 12 câu hỏi và câu trả lời theo thang đo Likert với câu trả lời diễn tả theo
5 phân loại: hoàn toàn đồng ý, đồng ý, không chắc chắn, không đồng ý và hoàn toàn không đồng ý [28] Với những câu hỏi tích cực được đánh số 1, 2,
4, 6, 7, 10, 11, 12, điểm số được đưa ra là 5 đối với hoàn toàn đồng ý, 4 cho đồng ý, 3 cho không chắc chắn, 2 cho không đồng ý và 1 cho hoàn toàn không đồng ý Với những câu hỏi tiêu cực được đánh số 3, 5, 8, 9, điểm số được đưa ra là 1 cho hoàn toàn đồng ý, 2 cho đồng ý, 3 cho không chắc chắn,
4 cho không đồng ý và 5 cho hoàn toàn không đồng ý Mức độ về thái độ về viêm gan B được phân loại theo 3 nhóm:
o Thái độ tốt : ≥ 80% tổng số điểm
o Thái độ trung bình: 60 - 79% tổng số điểm
o Thái độ thấp : < 60% tổng số điểm
Hành vi phòng ngừa viêm gan B liên quan đến việc thực hiện các biện pháp tự bảo vệ và việc sử dụng kiểm soát nhiễm khuẩn trong phòng khám nha khoa Có 18 câu hỏi được đưa ra và những câu trả lời là luôn luôn, thỉnh thoảng và không bao giờ cho các câu hỏi số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 13, 14, 15,
16, điểm số là 1 cho câu trả lời có (luôn luôn) và 0 cho câu trả lời không (thỉnh thoảng và không bao giờ); câu trả lời cho câu hỏi số 10, 11, 12, 17, 18 bằng cách chọn câu trả lời đúng, điểm số được đưa ra là 1 cho câu trả lời đúng
và 0 cho câu trả lời sai Mức độ thực hiện các hành vi phòng ngừa được chia làm 3 nhóm:
o Hành vi phòng ngừa cao : ≥ 80% tổng số điểm
o Hành vi phòng ngừa trung bình : 60 - 79% tổng số điểm
o Hành vi phòng ngừa thấp : < 60% tổng số điểm
Trang 302.5.3 Các bước tiến hành
- Bước 1: Liên hệ với giáo viên chủ nhiệm và lớp trưởng lớp nha năm 6, khoa RHM để lấy danh sách số đối tượng điều tra
- Bước 2: Thiết kế phiếu điều tra về các thông tin cần thu thập
- Bước 3: Phát phiếu điều tra cho các đối tượng điều tra
- Bước 4: Thu phiếu điều tra
2.6 Sai số và khống chế sai số
Sai số do đối tượng điều tra
Chất lượng các thông tin thu thập bằng phiếu điều tra phụ thuộc vào khả năng hiểu rõ câu hỏi của đối tượng nghiên cứu
Cách khắc phục: Thiết kế bộ câu hỏi phỏng vấn có nội dung đơn giản, dễ hiểu, dễ trả lời, phù hợp Tiến hành điều tra thử ở một nhóm nhỏ sinh viên RHM năm thứ 6 và điều chỉnh bộ câu hỏi cho phù hợp
Sai số trong quá trình thu thập số liệu, nhập liệu, phân tích số liệu
Đối với sai số trong quá trình thu thập số liệu: Giám sát và kiểm tra số liệu thực địa bởi các giám sát viên
Đối với sai số trong quá trình làm sạch số liệu và nhập liệu: Đọc phiếu
và làm sạch trước khi nhập liệu, tạo các tệp check của phần mềm nhập liệu nhằm hạn chế sai số trong quá trình nhập liệu
Làm sạch các số liệu bị thiếu và số liệu vô lý trước khi phân tích
Trang 31- Phân thống kê phân tích: Tương quan Pearson và t-test được sử dụng
để tìm hiểu mối liên quan
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được sự chấp thuận của viện đào tạo RHM, đại học Y Hà Nội
Tất cả các đối tượng nghiên cứu được giới thiệu rõ mục đích nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành với sự tự nguyện hoàn toàn của sinh viên RHM năm thứ 6, viện đào tạo RHM, đại học Y Hà Nội Khi đối tượng nghiên cứu không muốn tham gia có thể từ chối
Những đối tượng tham gia nghiên cứu sẽ được tư vấn về kiến thức liên quan đến bệnh viêm gan B về dấu hiệu, triệu chứng, cách thức lây nhiễm, cách thức phòng ngừa bệnh
Mọi thông tin thu thập được đều được giữ bí mật và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu
Trang 32Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện trên tổng số 128 sinh viên RHM năm thứ 6, viện đào tạo RHM, trường đại học Y Hà Nội, Hà Nội năm học 2014-2015
3.1 Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu
44.5 55.5
Nam Nữ
Biểu đồ 3.1: Phân bố mẫu nghiên cứu theo giới Nhận xét: Theo biểu đồ 3.1 thì có 55,5% sinh viên là nữ giới và 44,5% sinh viên là nam
Bảng 3.1.1 Bảng phân bố tình trạng sức khỏe của mẫu nghiên cứu