Nhận xét hiệu quả của bài tập thở chúm môi, thở hoành, ho có kiểm soát ở bệnh nhân đợt cấp BPTNMT .... Trong đó vật lý trị liệu rất quan trọng gồm nhiều biện pháp như: tập thở cơ hoành,
Trang 1*****_*****
ĐINH THỊ LƯ
“Nhận xét hiệu quả của phương pháp tập thởhoành, thở chúm môi và ho có kiểm soát ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điều trị tại
Trung tâm Hô hấp bệnh viện Bạch Mai”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHÓA 2011 - 2015
HÀ NỘI - 2015
HÀ NỘI – 2015
Trang 2Nhân dịp hoàn thành khóa luận, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc đến các thầy cô:
GS.TS Ngô Quý Châu – Phó giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Giám đốc
Trung tâm Hô Hấp bệnh viện Bạch Mai, chủ nhiệm bộ môn Nội tổng hợp trường đại học Y Hà Nội – giảng viên trường Đại học Y Hà Nội
ThS Nguyễn Thanh Thủy – giảng viên bộ môn nội trường Đại học Y
Hà Nội, bác sĩ Trung tâm Hô Hấp Bệnh viện Bạch Mai
Đã tận tình dạy dỗ, hướng dẫn, giúp đỡ không chỉ về kiến thức mà còn
về phương pháp nghiên cứu khoa học trong suốt quá trình triển khai khóa luận
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Ban giám hiệu trường Đại học Y Hà Nội
Phòng đào tạo Đại học
Bộ môn Nội tổng hợp Trường Đại học Y Hà Nội
Cùng các thầy cô, bác sĩ và các anh chị điều dưỡng trong Trung tâm
Hô Hấp bệnh viện Bạch Mai đã hết lòng dạy dỗ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi học tập và thực hiện khóa luận
Cuối cùng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cha mẹ, những người thân, bạn bè đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi có được thành quả này
Hà Nội, ngày 22 tháng 5 năm 2015
Sinh viên Đinh Thị Lư
Trang 3Kính gửi:
Phòng đào tạo Đại học – Trường Đại học Y Hà Nội
Bộ môn Nội – Hô Hấp, trường Đại học Y Hà Nội
Hội đồng chấm thi tốt nghiệp khóa luận Cử nhân Điều dưỡng – Trường Đại học Y Hà Nội
Tôi xin cam đoan các kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2015
Sinh viên Đinh Thị Lư
Trang 4
6 ERS Hiệp hội Hô hấp châu Âu
7 FEV1 Thể tích thở ra tối đa trong 1 giây đầu tiên
11 mMRC Modified Medical Research Council
12 PaCO2 Phân áp CO2 trong máu động mạch
13 PaO2 Phân áp oxy trong máu động mạch
14 PHCNHH Phục hồi chức năng hô hấp
15 PQ Phế quản
16 RV Thể tích khí cặn
17 SpO2 Độ bão hòa oxy qua mao mạch
18 SGRQ Saint George Respiratory Questionnaire
19 VPQMT Viêm phế quản mạn tính
20 WHO Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ 10
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 3
1.1.1 Định nghĩa 3
1.1.2 Dịch tễ học 3
1.2 Đợt cấp BPTNMT 4
1.2.1 Định nghĩa 4
1.2.2 Nguyên nhân 5
1.2.3 Sinh lí bệnh đợt cấp BPTNMT 5
1.2.4 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng đợt cấp BPTNMT 6
1.2.5 Chẩn đoán và phân loại mức độ nặng của đợt cấp BPTNMT 9
1.3.Vai trò của các phương pháp thở hoành, thở chúm môi, ho có kiểm soát 10
1.3.1 Các phương pháp phục hồi chức năng hô hấp 10
1.3.2 Vai trò của các phương pháp thở hoành, thở chúm môi, ho có kiểm soát 17
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân 20
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 21
2.2.2 Cách chọn mẫu 21
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 21
Trang 62.3.2 Các bước tiến hành 24
2.4 Phân tích và xử lý số liệu 25
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 27
3.1.1 Đặc điểm phân bố về tuổi 27
3.1.2 Đặc điểm phân bố về giới 28
3.1.3 Tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào, tiếp xúc khói bụi độc hại 28
3.1.4 Tiền sử các bệnh đồng mắc 29
3.1.5 Triệu chứng lúc vào viện 30
3.1.6 Phân loại đợt cấp BPTNMT theo Anthonisen của bệnh nhân nghiên cứu 30
3.1.7 Kiến thức của bệnh nhân về bài tập thở chúm môi, thở hoành, ho có kiểm soát 31
3.2 Nhận xét hiệu quả của bài tập thở chúm môi, thở hoành, ho có kiểm soát ở bệnh nhân đợt cấp BPTNMT 31
3.2.1 Hiệu quả đối với các triệu chứng lâm sàng 31
3.2.2 Hiệu quả trên kết quả khí máu 36
3.2.3 Hiệu quả của thở chúm môi, thở hoành, ho có kiểm soát trên điểm khó thở MRC 36
3.2.4 Đánh giá hiệu quả của bài thở chúm môi,thở hoành, ho có kiểm soát trên thang điểm CAT 37
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 39
4.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu 39
4.1.1 Tuổi và giới 39
4.1.2 Tiền sử bản thân 39
Trang 7cứu 41 4.1.5 Sự hiểu biết của bệnh nhân về bài tập thở chúm môi, thở hoành, ho
có kiểm soát 41 4.2 Hiệu quả của bài tập thở chúm môi, thở hoành, ho có kiểm soát đối với bệnh nhân đợt cấp BPTNMT 42 4.2.1 Hiệu quả về lâm sàng 42 4.2.2 Hiệu quả trên khí máu 44 4.2.3 Bàn luận về hiệu quả của thở chúm môi, thở hoành, ho có kiểm soát dựa trên thang đo MRC 45 4.2.4 Bàn luận về hiệu quả của thở chúm môi, thở hoành, ho có kiểm soát bằng thang điểm CAT 47
KẾT LUẬN 50 KIẾN NGHỊ 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 3.1: Tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào, tiếp xúc khói bụi độc hại 28
Bảng 3.2: Thời gian hút thuốc và số bao thuốc trung bình/năm 29
Bảng 3.3: Phân bố bệnh nhân theo triệu chứng vào viện 30
Bảng 3.4: Phân loại đợt cấp BPTNMT theo Anthonisen của bệnh nhân nghiên cứu 30
Bảng 3.5: Tỷ lệ hiểu biết của bệnh nhân theo nghề nghiệp 31
Bảng 3.6: Sự thay đổi ý thức ngày vào viện và ra viện 32
Bảng 3.7: Sự thay đổi đối với lời nói ngày vào viện và ra viện 34
Bảng 3.8: Sự thay đổi về mạch, nhịp thở, huyết áp, SpO2 ngày vào viện và ra viện 35
Bảng 3.9: Sự thay đổi về kết quả khí máu ngày vào viện và ra viện 36
Bảng 3.10: Sự thay đổi từng thành phần của thang điểm CAT 38
Trang 9Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh nhân theo tuổi 27
Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân theo giới 28
Biểu đồ 3.3: Tiền sử các bệnh đồng mắc 29
Biểu đồ 3.4: Sự thay đổi mức độ khó thở ngày vào viện và ra viện 32
Biểu đồ 3.5: Sự thay đổi triệu chứng tím môi, đầu chi và co kéo cơ hô hấp 35
Biểu đồ 3.6: Sự thay đổi điểm khó thở MRC 36
Biểu đồ 3.7: Sự thay đổi phân bố CAT 37
Trang 10Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là bệnh thường gặp có thể dự phòng và điều trị được, đặc trưng bởi tắc nghẽn đường thở, tiến triển nặng dần, liên quan đến phản ứng viêm bất thường của phổi bởi các phân tử và khí độc hại
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đã và đang là một thách thức lớn với toàn cầu bởi tỉ lệ tử vong và tàn phế do bệnh ngày càng cao
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trên toàn thế giới hiện nay đã có khoảng hơn 600 triệu người mắc BPTNMT[1] BPTNMT đang là nguyên nhân gây tàn phế đứng hàng thứ 12, dự đoán sẽ vươn lên đứng hàng thứ 5 và
là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3vào năm 2020 [2], [3]
Ở Việt Nam, BPTNMT chiếm 6,7% dân số Tại bệnh viện Bạch Mai, BPTNMT chiếm 25,1% số bệnh nhân nằm điều trị tại Trung tâm Hô hấp [4]
và 32,6% trong các nguyên nhân gây tử vong tại khoa Hồi sức cấp cứu bệnh viện Bạch Mai [5]
Trong vấn đề điều trị BPTNMT, ngoài việc dùng thuốc, phục hồi chức năng hô hấp (PHCNHH) đã được nhấn mạnh và đánh giá cao bởi Hiệp hội lồng ngực Mỹ (ATS), Hội hô hấp châu Âu (ERS) Theo hướng dẫn của GOLD (chiến lược toàn cầu về chẩn đoán và điều trị BPTNMT), PHCNHH là một trong những phương pháp điều trị không dùng thuốc bao gồm: giáo dục sức khỏe, vật lí trị liệu hô hấp, hỗ trợ tâm lí và tái hòa nhập xã hội Trong đó vật lý trị liệu rất quan trọng gồm nhiều biện pháp như: tập thở cơ hoành, thở chúm môi, ho có điều khiển, các bài tập vận động,…Các biện pháp PHCNHH này giúp cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân BPTNMT
Ở nước ta đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng tập thở đối với sức khỏe nói chung và bệnh hô hấp nói riêng trong đó có BPTNMT
Trang 11Tuy nhiên, việc áp dụng PHCNHH vào điều trị vẫn còn nhiều hạn chế, phạm
vi áp dụng còn hẹp PHCNHH có thể áp dụng cả trong giai đoạn ổn định và cấp tính của bệnh nhưng đa số vẫn tập trung vào giai đoạn ổn định của bệnh, trong khi một số bài PHCNHH thấy cũng có hiệu quả ở giai đoạn cấp tính Trong đợt cấp BPTNMT, người bệnh sẽ có những biểu hiện lâm sàng như: ho tăng, khó thở tăng, khạc đờm tăng hay sự thay đổi màu sắc đờm.Vì vậy, PHCNHH bằng bài tập thở cơ hoành, thở chúm môi, ho có kiểm soát là sự lựa chọn tốt giúp người bệnh tống đờm và chất tiết ra ngoài, khắc phục tình trạng khó thở, góp phần làm giảm số ngày nằm viện và tiết kiệm chi phí điều trị Do
vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nhận xét hiệu quả của phương pháp tập thởhoành, thở chúm môi và ho có kiểm soát ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điều trị tại Trung tâm Hô hấp bệnh viện Bạch Mai”, với mục tiêu:
Nhận xét hiệu quả của phương pháp tập thở hoành, thở chúm môi và
ho có kiểm soát ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điều trị tại Trung tâm Hô hấp bệnh viện Bạch Mai, từ tháng 10/2014 đến tháng 5/2015
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
1.1.1 Định nghĩa
Theo GOLD (2011): BPTNMT là bệnh thường gặp có thể dự phòng và
điều trị được, đặc trưng bởi tắc nghẽn đường thở, tiến triển nặng dần, liên quan đến phản ứng viêm bất thường của phổi bởi các phân tử và khí độc hại [6]
Theo Hiệp hội Lồng ngực Mỹ: BPTNMT là một bệnh lý của viêm phế
quản mạn hoặc khí phế thũng có tắc nghẽn lưu lượng không khí trong đường
hô hấp Sự tắc nghẽn này xảy ra từ từ khi có tăng phản ứng phế quản và không hồi phục hoặc hồi phục một phần nhỏ mà thôi [5]
1.1.2 Dịch tễ học
Tình hình thế giới:
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trên toàn thế giới hiện nay đã có khoảng hơn 600 triệu người mắc BPTNMT Tỷ lệ mắc ước tính khoảng 9,34/1000 ở nam giới và 7,33/1000 ở nữ giới [1]
Năm 1990, trên thế giới có 2,2 triệu người chết do BPTNMT, đứng hàng thứ 6 trong nguyên nhân gây tử vong, con số này lên đến 2,7 triệu người chết vào năm 2000 [7] Hiện nay, BPTNMT đang là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 5 và đến năm 2020 sẽ vươn lên đứng hàng thứ 3 với 2,9 triệu người chết mỗi năm [2], [3]
Từ năm 1982-1995, chỉ tính riêng ở Mỹ số lượng người bị mắc BPTNMT tăng lên 41,1% và vào năm 1995 số người mắc bệnh này đã là 14 triệu Tổng số bệnh nhân bị mắc BPTNMT ở vương quốc Anh khoảng 3,4 triệu người với tỷ lệ khoảng 4% nam và 2% nữ ở lứa tuổi > 45 Nước láng giềng của Anh là Pháp tình hình cũng không mấy khả quan, hiện nay có 2,5 triệu người mắc BPTNMT, tỷ lệ mắc trong dân chúng là 5% [8]
Trang 13Ở 11 nước thuộc hiệp hội bệnh hô hấp châu Á Thái Bình Dương, tỷ lệ mắc BPTNMT là 6,2% Trong đó, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là nước
có tỷ lệ mắc BPTNMT cao nhất so với các vùng khác trong khu vực [9], [10]
Tình hình tại Việt Nam:
Theo Nguyễn Đình Hường (1994), BPTNMT là bệnh hay gặp nhất
trong các bệnh phổi mạn tính ở người lớn, tỷ lệ mắc từ 4-5% [11]
Theo một số thống kê ở bệnh viện Bạch Mai từ năm 1982-1984,có tới 12,1% bệnh nhân được chẩn đoán BPTNMT trong tổng số bệnh nhân nhập viện tại Trung tâm Hô hấp Trong 3606 bệnh nhân vào điều trị tại trung tâm từ 1996-2000, tỷ lệ bệnh nhân được chẩn đoán BPTNMT lúc ra viện chiếm 25,1%, đứng hàng đầu trong các bệnh lý về phổi [4]
Nguyễn Quỳnh Loan (2002), tỷ lệ mắc BPTNMT ở cộng đồng người lớn hơn 35 tuổi tại phường Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội là 1,53% [12] Ngô Quý Châu và cộng sự (2005) nghiên cứu dịch tễ học BPTNMT trong cộng đồng dân cư có độ tuổi từ 40 trở lên của thành phố Hà Nội thấy tỷ lệ mắc chung cho cả 2 giới là 2% Tỷ lệ mắc bệnh ở nam là 3,4 %, ở nữ là 0,7%,
tỷ lệ mắc VPQMT là 4,8% [13]
1.2 Đợt cấp BPTNMT
1.2.1 Định nghĩa
*Theo Anthonise (1987):”Đợt cấp BPTNMT được biểu thị bằng ba
triệu chứng chính khó thở tăng, số lượng đờm tăng, đờm nhầy mủ” [14]
*Theo ATS/ERS (2005) :"Đợt cấp BPTNMT là sự thay đổi cấp tính các
triệu chứng cơ bản: ho, khó thở, và /hoặc khạc đờm ngoài những diễn biến hàng ngày và đòi hỏi phải thay đổi trị liệu thường quy dối với bệnh nhân” [15]
*Theo GOLD(2010): ”Đợt cấp BPTNMT là một sự kiện trong diễn
biến tự nhiên của bệnh được đặc trưng bởi sự thay đổi các triệu chứng cơ
Trang 14bản: ho, khó thở, và khạc đờm ngoài những diễn biến hàng ngày, khởi phát cấp tính đòi hỏi thay đổi trị liệu thường quy đối với bệnh nhân”[6]
1.2.2 Nguyên nhân
Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên:
+ Viêm phế quản cấp tính là một nguyên nhân hay gặp nhất Viêm phổi chiếm 20% các đợt cấp, do nó làm tăng tiết đờm, giảm khả năng đào thải
đờm, tăng sự co thắt phế quản, làm tăng công hô hấp [16]
+ Vi khuẩn thường gặp S.Pneumoniae và H.Influenza chiếm 80% số vi khuẩn gây bệnh [13] , [17], [18], ngoài ra còn gặp Moraxella catarrhalis và
các virus khác
Bệnh nhân yếu cơ không khạc đờm được gặp ở bệnh nhân suy dinh
dưỡng, đặc biệt trong ngoại khoa: vết thương ổ bụng, chấn thương ngực…
Tắc mạch phổi: rất hay gặp, đặc biệt trong nhồi máu cơ tim, đái tháo đường gặp tới 20% ở bệnh nhân đợt cấp BPTNMT Tuy nhiên, nó cũng có thể
là thứ phát sau đợt cấp BPTNMT
Không kiểm soát được tình trạng oxy máu của bệnh nhân, thiếu oxy máu làm đợt cấp BPTNMT dễ bùng phát Ngược lại, nồng độ oxy khí thở vào
quá cao làm đợt cấp BPTNMT nặng lên
Nguyên nhân khác: tràn khí màng phổi, nhiễm khuẩn ngoài phổi Rối loạn nước điện giải, suy tim trái, lạm dụng an thần, hút thuốc, ô nhiễm môi
Trang 15Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên chủ yếu là do nhiễm khuẩn phế quản-phổi Ngoài ra, tình trạng suy dinh dưỡng dẫn tới cung cấp năng lượng thiếu cho cơ hoạt động; phẫu thuật ổ bụng, lồng ngực hạn chế sự hoạt động của cơ hô hấp, sử dụng thuốc an thần gây ức chế hô hấp
Sự co thắt phế quản, tắc nghẽn đường thở, khí ứ đọng lại trong phế nang làm cho auto-PEEP phát sinh và tăng dần lên Theo tác giả Tobin và Mando mức auto-PEEP này có thể cao hơn 10 cmH2O hoặc xấp xỉ bằng 9 ± 2 cmH2O [21], [22]
Để khắc phục auto-PEEP, cơ thể tăng tần số thở, cùng với sự gắng sức của cơ hô hấp trong khi thiếu năng lượng làm nhanh chóng mệt cơ hô hấp
Hậu quả bệnh nhân khó thở tăng lên, suy tim phải nặng lên, tình trạng tắc nghẽn làm ứ đọng CO2 nhiều dẫn đến toan hóa máu diễn ra nhanh chóng
và cuối cùng là bệnh nhân tử vong
1.2.4 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng đợt cấp BPTNMT
1.2.4.1 Đặc điểm lâm sàng
Triệu chứng cơ năng
Biểu hiện lâm sàng đợt cấp bao gồm những triệu chứng chính:
Trong đợt cấp BPTNMT, khó thở là triệu chứng hay gặp nhất Sự tăng
số lượng đờm và đặc biệt là sự hóa mủ của đờm là một trong những chỉ điểm của bội nhiễm và được chỉ định dùng kháng sinh
Trang 16 Lồng ngực hình thùng, xương sườn nằm ngang, khoang liên sườn giãn
Phần dưới lồng ngực co vào trong thì hít vào, nhịp thở lúc nghỉ thường
> 20 lần/phút, thở nông Bệnh nhân phải chúm môi khi thở ra, thì thở ra kéo dài, sử dụng cơ hô hấp phụ, co rút khoang liên sườn
Gõ ngực vang, vùng đục gan thay đổi
Nghe có thể thấy rì rào phế nang giảm, ran rít, ran ngáy, ran ẩm, ran nổ
Có thể thấy mạch nghịch đảo, chênh lệch huyết áp tâm trương giữa thì thở ra và hít vào ≥ 10 mmHg Ở bệnh nhân BPTNMT, huyết áp tâm thu
có thể giảm từ 15-20 mmHg lúc hít vào gắng sức
Tím môi, đầu chi hoặc toàn thân
Ứ trệ tuần hoàn ngoại vi khi suy tim phải
Giai đoạn cuối của BPTNMT thường hay có các biến chứng:
Trang 171.2.4.2 Đặc điểm cận lâm sàng
Chức năng hô hấp (CNHH)
Đo CNHH giúp đánh giá khách quan sự tắc nghẽn, tuy nhiên đôi khi không đo được do bệnh nhân suy hô hấp nặng Những thay đổi CNHH như sau:
Mức giảm FEV1 tùy mức độ bệnh
Dung tích thở mạnh FVC giai đoạn đầu có thể bình thường nhưng sẽ giảm khi bệnh tiến triển nặng
Tỷ số FEV1/FVC < 70%
Đo thể tích khí cặn: trong BPTNMT nhiều bệnh nhân dung tích toàn phần phổi tăng do khí phế thũng chiếm ưu thế nên thể tích khí cặn RV tăng
Khí máu động mạch: thay đổi theo tiến triển bệnh, rất cần thiết cho việc đánh giá mức độ nặng của đợt kịch phát Thông thường PaO2 giảm từ giai đoạn đầu, PaCO2 chỉ tăng ở giai đoạn nặng
X-quang phổi chuẩn: Có giá trị định hướng chẩn đoán và phân biệt BPTNMT với bệnh tương tự, để theo dõi và chẩn đoán các biến chứng của BPTNMT Hình ảnh hay gặp là:
Tăng đậm các nhánh phế huyết quản, hình ảnh “phổi bẩn”
Dấu hiệu của giãn phế nang: lồng ngực giãn, tăng khoảng sáng trước sau tim, trường phổi quá sáng, xương sườn nằm ngang, khoang liên sườn giãn rộng, cơ hoành hai bên hạ thấp, có hình bậc thang
Mạch máu ngoại vi thưa thớt, bóng khí
Cung động mạch phổi nổi Có thể thấy nhánh động mạch thùy dưới phổi phải có đường kính > 16mm
Tim không to hoặc hơi to, tim dài và thõng, giai đoạn cuối tim to toàn bộ
Trang 18 Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực:
Dấu hiệu khí phế thũng (KPT): có ba tuýp giải phẫu của KPT riêng biệt hoặc kết hợp nhau dựa trên dấu hiệu hình thái học trên chụp cắt lớp vi tính
KPT trung tâm tiểu thùy
KPT đa tiểu thùy
KPT cạnh vách
Các dấu hiệu tổn thương khác: thâm nhiễm nhu mô, tổn thương phổi
kẽ, tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi, dày dính màng phổi
Xét nghiệm khác: công thức máu có thể có đa hồng cầu (Hct >55%), bạch cầu tăng (>10 G/L) Cấy đờm, kháng sinh đồ rất cần thiết xác định nguyên nhân gây nhiễm trùng, đặc biệt trong tường hợp nhiễm trùng của đợt cấp không đáp ứng với liệu pháp kháng sinh ban đầu
Hóa sinh máu chỉ ra những rối loạn thường gặp trong đợt cấp như rối loạn điện giải, suy dinh dưỡng (protein máu hạ thấp) và rối loạn chuyển hóa kiềm-toan khác
1.2.5 Chẩn đoán và phân loại mức độ nặng của đợt cấp BPTNMT
+ Thay đổi màu sắc của đờm
+ Có hoặc không các triệu chứng thay đổi toàn thân khác (sốt, loạn nhịp, rối loạn ý thức )
Trang 19 Phân loại mức độ nặng của đợt cấp BPTNMT:
Hiện nay có nhiều cách phân loại đợt cấp BPTNMT nhưng vẫn chủ yếu
sử dụng cách phân loại của Anthonisen và cộng sự[23]:
I: Nặng
Có tất cả các triệu chứng cơ năng chính:
+ Tăng khó thở + Tăng số lượng đờm + Đờm mủ
II: Trung bình Có 2 trong 3 triệu chứng cơ năng chính
+ Tăng ho + Tăng tần số hô hấp hay nhịp tim >20% tần số so
lúc bệnh nhân ổn định
1.3 Vai trò của các phương pháp thở hoành, thở chúm môi, ho có kiểm soát
1.3.1 Các phương pháp phục hồi chức năng hô hấp
Phục hồi chức năng hô hấp trong BPTNMT được Hội Lồng ngực Mỹ
và Châu Âu đánh giá cao và được đưa ra khuyến cáo như một phương pháp điều trị hiệu quả dựa trên các bằng chứng Phương pháp này có thể áp dụng cho tất cả các bệnh nhân có bệnh mạn tính đường hô hấp gây giảm sút các hoạt động của bệnh nhân trong sinh hoạt hàng ngày
Trang 20PHCNHH giúp làm giảm các triệu chứng khó thở, cải thiện chất lượng cuộc sống, tăng khả năng gắng sức, giúp ổn định hoặc cải thiện bệnh, giảm số đợt kịch phát phải nhập viện điều trị, giảm số ngày nằm viện, tiết kiệm chi phí điều trị
PHCNHH là một lĩnh vực rất rộng, bao gồm 3 nội dung chính là:
Giáo dục sức khỏe: Người bệnh được tư vấn cai thuốc lá, kiến thức về
bệnh, hướng dẫn sử dụng thuốc, thở oxy đúng cách, kỹ năng dùng ống bơm xịt, bình hít hay máy khí dung, các phương pháp ho khạc đờm, tập thở Bên cạnh
đó, bệnh nhân cũng được tư vấn để có chế độ dinh dưỡng hợp lý nhằm cải thiện tình trạng gầy yếu, sút cân, suy dinh dưỡng thường đi kèm với BPTNMT
Vật lý trị liệu hô hấp: Bệnh nhân được hướng dẫn và thực hành các kỹ
thuật cải thiện thông khí, ho khạc đờm, học các bài tập thể dục và vận động để tăng cường thể chất và khắc phục hậu quả căn bệnh Các bài tập cần được thiết kế phù hợp với mỗi bệnh nhân
Hỗ trợ tâm lý và tái hòa nhập xã hội: Rối loạn tâm thần kiểu trầm
cảm thường đi kèm với BPTNMT Nếu bệnh nhân được tư vấn và hỗ trợ tâm
lý sẽ cải thiện được tình trạng này
Tuy nhiên, trong đợt cấp của BPTNMT thường sẽ ưu tiên hơn với các phương pháp nhằm thông đờm, làm sạch đường thở, duy trì chức năng hô hấp như: ho có kiểm soát, tập thở chúm môi, thở cơ hoành, vỗ và rung lồng ngực
1.3.1.1 Ho có kiểm soát
Ho thông thường: là một phản xạ bảo vệ của cơ thể nhằm tống những vật “lạ” ra ngoài Khi các phế quản bám đầy đờm nhớt, gây phản xạ muốn ho Cơn ho xảy đến do các kích thích ở cổ họng nhưng luồng khí không đủ để đẩy đờm di chuyển Đối với bệnh nhân BPTNMT, ho thường làm người bệnh mệt, khó thở tăng lên, gây lo lắng và đôi khi làm cho bệnh nhân ngại ngùng ở nơi công cộng
Trang 21Để thay thế những cơn ho thông thường dễ gây mệt, gây khó thở cần hướng dẫn bệnh nhân sử dụng kỹ thuật ho có kiểm soát:
Ho có kiểm soát là động tác ho hữu ích giúp tống đờm ra ngoài, làm sạch đường thở và không làm cho người bệnh mệt, khó thở…
Mục đích của ho có kiểm soát không phải để tránh ho mà lợi dụng động tác ho để làm sạch đường thở
Ở bệnh nhân BPTNMT cần có một luồng khí đủ mạnh tích lũy phía sau chỗ ứ đọng đờm để đẩy đờm di chuyển ra ngoài
Kĩ thuật ho có kiểm soát
Bước 1: Ngồi trên giường hoặc ghế thư giãn, thoải mái
Bước 2: Hít vào chậm và thật sâu, nín thở trong vài giây rồi thở ra
Bước 3: Lặp lại một lần nữa
Bước 4: Hít vào chậm và sâu, sau đó ho mạnh 2 lần, lần đầu để long đờm, lần sau để đẩy đờm ra ngoài
Bước 5: Hít vào chậm và nhẹ nhàng Thở chúm môi vài lần trước khi lặp lại động tác ho
Trang 22Bước 2: Nín thở trong vài giây
Bước 3: Thở ra mạnh và kéo dài
Bước 4: Hít vào nhẹ nhàng Hít thở đều vài lần trước khi lặp lại
Lưu ý: Để hỗ trợ thông đờm có hiệu quả cần phải
Uống đủ nước hàng ngày, trung bình từ 1lít – 1,5lít nước, nhất là những bệnh nhân có thở oxy, thời tiết nóng bức
Chỉ nên dùng các loại thuốc long đờm, loãng đờm, không nên dùng các thuốc có tác dụng ức chế ho
1.3.1.2 Bảo tồn và duy trì chức năng hô hấp
Mục đích:
Hướng dẫn các bài tập thở để khắc phục sự ứ khí trong phổi
Hướng dẫn các biện pháp đối phó với tình trạng khó thở
Ở bệnh nhân BPTNMT nhất là ở nhóm VPQMT thường có tình trạng tắc nghẽn các đường đẫn khí do đờm nhớt hay viêm nhiễm phù nề gây hẹp lòng phế quản Còn ở nhóm khí phế thũng, các phế nang thường bị phá hủy, mất tính đàn hồi Dẫn đến hậu quả không khí thường bị ứ đọng trong phổi, gây thiếu oxy cho nhu cầu cơ thể
Các bài tập thở là các kỹ thuật nhằm khắc phục tình trạng ứ khí trong phổi và tăng cường cử động hô hấp của lồng ngực
Trang 23Bước thực hiện:
Tư thế ngồi thoải mái Thả lỏng cổ và vai Hít vào chậm qua mũi
Môi chúm lại như đang huýt sáo, thở ra bằng miệng chậm sao cho thời gian thở ra gấp đôi thời gian hít vào
Lưu ý:
Nên lặp lại động tác thở chúm môi nhiều lần cho đến khi hết khó thở
Tập đi tập lại nhiều lần cho nhuần nhuyễn và trở thành thói quen
Nên dùng kỹ thuật thở chúm môi bất cứ lúc nào cảm thấy khó thở, như khi leo cầu thang, tắm rửa, tập thể dục…
Trang 24Bước tiến hành:
Ngồi ở tư thế thoải mái Thả lỏng cổ và vai
Đặt 1 bàn tay lên bụng và đặt bàn tay còn lại lên ngực
Hít vào chậm qua mũi sao cho bàn tay trên bụng có cảm giác bụng phình lên Lồng ngực không di chuyển
Hóp bụng lại và thở ra chậm qua miệng với thời gian thở ra gấp đôi thời gian hít vào và bàn tay trên bụng có cảm giác bụng lõm xuống
Thở hoành ở tư thế nằm
Hít vào
Thở ra
Trang 25Thở hoành ở tư thế ngồi
Trang 261.3.2 Vai trò của các phương pháp thở hoành, thở chúm môi, ho có kiểm soát
Nguyên tắc điều trị đợt cấp BPTNMT bao gồm: Oxy liệu pháp khi giảm oxy máu, thuốc giãn phế quản, liệu pháp corticosteroids, kháng sinh, tập PHCNHH ngay sau khi đợt cấp bắt đầu trở nên ổn định, thông khí nhân tạo xâm nhập và không xâm nhập trong đợt cấp BPTNMT nặng
Vai trò của các bài tập thở, không phải ngày nay mới được biết đến mà từ rất lâu đã được coi là một phương pháp cải thiện chức năng hô hấp và ngăn ngừa biến chứng trong một số bệnh Ngay từ thời Hypocrat, người ta đã biết được tác dụng của tập thở trong các bệnh mạn tính hô hấp [24] Hiện nay, các bài tập thở cổ truyền vẫn tiếp tục được nhiều quốc gia trên thế giới nghiên cứu và áp dụng như: Yoga (Ấn Độ), Thái cực quyền (Trung Quốc)
Không chỉ riêng các nước phương Đông, các bài tập thở cũng được nghiên cứu rất chuyên sâu và áp dụng rộng rãi tại các nước phương Tây Tại
Mỹ, tập thở lần đầu tiên được đề xướng cách đây hơn 40 năm bởi Alvan Baranch và William F.M
Các nghiên cứu của các tác giả Raymon Auge (1981), Carolix Dinayca (Nga) khi nghiên cứu về PHCN hô hấp bằng tập thở cho bệnh nhân mắc bệnh phổi và màng phổi cho thấy phương pháp tập thở hoành kết hợp với tạo áp lực dương đường thở bằng thở chúm môi cho hiệu quả hơn hẳn là thở hoành đơn thuần [24]
Theo nghiên cứu của Valenza MC và cộng sự (2014): các bài tập thở có kiểm soát trong đợt cấp không chỉ cải thiện tình trạng có thở, khả năng vận động mà còn giúp cải thiện sự lo âu và trầm cảm ở bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp [25]
Puhan MA và cộng sự đã tiến hành thử nghiệm ngẫu nhiên so sánh hiệu quả của PHCNHH và chăm sóc thông thường khi nhập viện, chất lượng sức
Trang 27khỏe cuộc sống, khả năng gắng sức và tử vong ở 230 bệnh nhân BPTNMT sau đợt cấp Kết quả thu được cho thấy PHCNHH giảm nguy cơ nhập viện và
tử vong, cải thiện khả năng gắng sức, chất lượng cuộc sống [26]
Một nghiên cứu của Revitt O về khóa PHCNHH ngắn hạn cho bệnh nhân trong đợt cấp BPTNMT đã cho thấy PHCNHH thực sự có hiệu quả giúp cải thiện các thông số trong test đi bộ 6 phút, khả năng gắng sức, thể tích thở
ra giây đầu tiên(FEV1) [27]
Một nghiên cứu gần đây của Đại học Y Tongji Trung Quốc cũng cho những khẳng định tương tự về vai trò của PHCNHH trong đợt cấp BPTNMT [28]
Ở Việt Nam,TuệTĩnh (thế kỉ XIV), Hải Thượng Lãn Ông (thế kỉ XVIII)
đã thấy được giá trị của tập thở với sức khỏe đặc biệt là phòng ngừa và điều trị một số bệnh mạn tính đường hô hấp [29]
Từ những năm 70, phương pháp thở hoành đã được đưa vào áp dụng nhưmột phương pháp điều trị quan trọng tại Viện phổi Trung ương và đã tạo được nhiều thành quả tốt đáng ghi nhận trong cải thiện chức năng hô hấp cho bệnh nhân [24]
Cho đến nay, nước ta có nhiều chương trình nghiên cứu về các bài tập thở đối với bệnh mạn tính như: Phạm Quốc Khánh (1987) [24], Trần Thị Dung (1994) [30] đã áp dụng biện pháp tập thở để PHCNHH cho bệnh nhân dày dính màng phổi, Nguyễn Thị Chỉnh (1991) [31] đã ứng dụng tập thở hoành cho bệnh nhân VPQMT, Nguyễn Phương Sinh (2001) [32] đã ứng dụng tập thở có điều khiển cho bệnh nhân BPTNMT, Vũ Sơn Hà(2014) [33],
Đỗ Tường Oanh (2007) [34] tiến hành PHCNHH cho bệnh nhân BPTNMT
PHCNHH được tiến hành trễ đến hai tháng sau khi đợt cấp BPTNMT xảy ra Sau đợt cấp, ngay cả với điều trị nội khoa tối ưu, phải mất một thời gian đáng kể cho bệnh nhân BPTNMT để phục hồi khả năng cơ bản, thực
Trang 28hiện các hoạt động thể chất thường xuyên Mặc dù PHCNHH từ lâu được coi
là một liệu pháp không dùng thuốc hữu hiệu trong giai đoạn ổn định, đã có chỉ một vài nghiên cứu trên thế giới về tác động của PHCNHH trong và/ hoặc ngay sau đợt cấp Chỉ đến gần đây một số tài liệu đã chứng minh tính khả thi
và hiệu quả của PHCNHH sớm ở đợt cấp BPTNMT [35] Tuy nhiên, tại Việt Nam thì các nghiên cứu vẫn còn tập trung vào PHCNHH ở giai đoạn ổn định
Trang 29CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
40 bệnh nhân được chẩn đoán đợt cấp BPTNMT điều trị nội trú tại trung tâm Hô hấp bệnh viện Bạch Mai từ 01 – 03– 2015 đến 30 – 04– 2015
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
*Tiêu chuẩn chẩn đoán BPTNMT theo GOLD 2011 [6]
Lâm sàng:
Có tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào, ho, khạc đờm nhiều năm, khó thở tăng dần, hay có nhiễm khuẩn hô hấp tái diễn
Lâm sàng: nghe phổi có rì rào phế nang giảm, có ran rít, ran ngáy, ran
nổ Lồng ngực căng giãn, gõ vang
quản)
*Tiêu chuẩn chẩn đoán đợt cấp BPTNMTtheo Anthonisen (1987)
Type 1 (Nặng): Tăng khó thở, tăng lượng đờm, tăng đờm mủ
Type 2 (Trung bình): Có hai trong ba triệu chứng trên
Type 3 (Nhẹ): Có một trong ba triệu chứng trên và có một trong các triệu chứng phụ sau:
+ Nhiễm trùng hô hấp > 5 ngày trước
Trang 30+ Sốt không do nguyên nhân khác
+ Tăng ho hoặc khò khè
+ Tăng số lượng các ran rít
+ Tăng nhịp tim hay nhịp thở 20% so với bình thường
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Chúng tôi không đưa vào nghiên cứu những đối tượng sau:
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia vào nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu, can thiệp không đối chứng
2.2.2 Cách chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
Tất cả số liệu thu thập được theo một mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất, thông tin được lấy từ hồ sơ bệnh án
Trang 312.3 Nội dung nghiên cứu
Khi đi chậm ở trong phòng Khi nghỉ Khó thở dữ dội thậm chí thở
ngáp Lời nói Bình thường Từng câu Từng từ Không nói được
Tri giác thường Bình
Có thể kích thích
Thường kích thích
Ngủ gà, lẫn lộn, hôn mê Nhịp thở Bình thường Lần/ phút 20 - 25
25 - 30 lần/ phút
>30 lần/ phút hoặc nhịp chậm, ngừng thở
Co kéo cơ hô hấp
và hõm ức Không có Thường có Co kéo rõ
Chuyển động ngực – bụng nghịch thường + Thay đổi màu
Có 3 trong 4 điểm này
Có thể có cả 4 điểm này nhưng thường bệnh nhân không ho khạc nữa
Mạch(ck/phút) 60 - 100 100 - 120 > 120 Chậm, rối loạn
SpO2 % > 90% 88 - 90% 85 - 88% < 85% PaO2 mmHg > 60 50 - 60 40 - 50 < 40
PaCO2 mmHg < 45 45 - 54 55 - 65 > 65
pH máu 7,37 - 7,42 7,31- 7,36 7,25 -7,30 < 7,25
Trang 32Chú ý:Chỉ cần có 2 tiêu chuẩn của mức độ nặng trở lên tở mỗi mức độ là đủ tiêu chuẩn xếp bệnh nhân vào mức độ nặng đó
*Thang điểm khó thởmMRC (Modified Medical Research Counsil)
*Thang điểm CAT ( COPD assessment test)
Với 8 câu hỏi, điểm tối đa là 40 Trong đó, tổng điểm:
+ ≤ 10: BPTNMT không ảnh hưởng sức khỏe
+ từ 11 – 20 điểm: bệnh gây ảnh hưởng nhẹ
+ từ 21 – 30 điểm: bệnh gây ảnh hưởng mức độ trung bình
+ từ 31 – 40 điểm: bệnh gây ảnh hưởng nặng
Độ 0 Khó thở khi hoạt động gắng sức
Độ 1 Khó thở khi đi nhanh hoặc leo dốc
Độ2 Đi chậm hơn hoặc phải dừng lại để thở khi đi cạnh người
cùng tuổi
Độ 3 Phải dừng lại để thở sau khi đi 100m
Độ 4 Rất khó thở khi ra khỏi nhà hoặc thay quần áo
Tôi hoàn toàn không ho 0 1 2 3 4 5 Tôi ho thường xuyên Tôi không khạc đờm,
không có cảm giác có đờm 0 1 2 3 4 5
Tôi khạc nhiều đờm, cảm giác luôn có đờm trong ngực Tôi không có cảm giác
nặng ngực 0 1 2 3 4 5 Tôi rất nặng ngực Không khó thở khi leo dốc
hoặc cầu thang 0 1 2 3 4 5
Rất khó thở khi leo dốc hoặc
cầu thang Tôi không bị giới hạn khi
làm việc nhà 0 1 2 3 4 5
Tôi bị giới hạn khi làm việc
nhà nhiều Tôi rất tự tin khi ra khỏi
nhà bất chấp bệnh phổi 0 1 2 3 4 5
Tôi không hề tự tin khi ra khỏi nhà vì bệnh phổi Tôi ngủ rất yên giấc 0 1 2 3 4 5 Tôi ngủ không yên giấc vì
bệnh phổi
Trang 332.3.2 Các bước tiến hành
2.3.2.1 Bước 1: Các đối tượng nghiên cứu được ghi nhận các thông tin sau:
Tuổi, giới, nghề nghiệp
Tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào, tiếp xúc khói bụi độc hại
Thời gian mắc bệnh
Các bệnh đồng mắc
2.3.2.2 Bước 2: Đánh giá tình trạng lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân
tại thời điểm vào viện
Ý thức
Lời nói
Tình trạng khó thở: co kéo cơ hô hấp, tím môi, đầu chi, tần số thở,…
Mạch, huyết áp
Xét nghiệm cận lâm sàng: đo SpO2, khí máu động mạch
Bệnh nhân tự đánh giá theo bộ câu hỏi MRC và CAT tại thời điểm vào viện
2.3.2.3 Bước 3: Hướng dẫn bệnh nhân, người nhà bệnh nhân ho có kiểm
soát, tập thở chúm môi và thở hoành Theo dõi sự thực hiện của bệnh nhân hàng ngày trong quá trình điều trị nội trú Kiểm tra bệnh nhân bằng cách yêu cầu họ thực hiện kĩ thuật Cần hướng dẫn lại những trường hợp bệnh nhân làm chưa đúng kĩ thuật
Kỹ thuật ho có kiểm soát
Bước 1: Ngồi trên giường hoặc ghế thư giãn, thoải mái
Bước 2: Hít vào chậm và thật sâu, nín thở trong vài giây rồi thở ra
Bước 3: Lặp lại một lần nữa
Bước 4: Ho mạnh 2 lần, lần đầu để long đờm, lần sau để đẩy đờm ra ngoài Tôi cảm thấy rất khỏe 0 1 2 3 4 5 Tôi cảm thấy không còn chút
sức lực nào
Trang 34Bước 5: Hít vào chậm và nhẹ nhàng Thở chúm môi vài lần trước khi lặp lại động tác ho
Ngồi ở tư thế thoải mái Thả lỏng cổ và vai
Đặt 1 bàn tay lên bụng và đặt bàn tay còn lại lên ngực
Hít vào chậm qua mũi sao cho bàn tay trên bụng có cảm giác bụng phình lên Lồng ngực không di chuyển
Hóp bụng lại và thở ra chậm qua miệng với thời gian thở ra gấp đôi thời gian hít vào và bàn tay trên bụng có cảm giác bụng lõm xuống
2.3.2.4 Bước 4: Đánh giá lạibệnh nhân về lâm sàng, cận lâm sàng tại thời
Trang 35Sơ đồ nghiên cứu
Tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào
Thời gian mắc bệnh
Các bệnh đồng mắc
Hiểu biết về PHCNHH Bước 2: Ghi nhận
Không hợp tác
Không thực hiện được
Ra viện vì lí do cá nhân
Suy hô hấp nặng lên
Không thu thập đủ