Tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương tiến hành phác đồ điều trị hóa chất bổ trợ trước phẫu thuật ở một số trường hợp bệnh nhân UTBMBT giai đoạn muộn có phẫu thuật trước đó rất khó khăn hoặc
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư buồng trứng (UTBT) là một trong những loại ung thư phụ khoa hay gặp ở phụ nữ Việt Nam cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới, chỉ sau ung thư vú và ung thư cổ tử cung Tại Mỹ, tỷ lệ ung thư biểu mô buồng trứng (UTBMBT) đứng hàng thứ năm và chiếm 53% tổng số tử vong do ung thư phụ khoa gây nên [1] Tại Việt Nam tỷ lệ mắc UTBT năm 2000 là 4,4/100.000 phụ nữ [2]
Các ung thư buồng trứng có rất nhiều thể mô bệnh học, nhưng người ta chia làm ba nhóm chính: Ung thư biểu mô, u tế bào mầm ác tính và các u đệm dây sinh dục Trong đó ung thư biểu mô buồng trứng chiếm tới 80-90 %, u tế bào mầm ác tính chiếm khoảng 10-15%, u đệm dây sinh dục chiếm 5% [3] Triệu trứng của ung thư biểu mô buồng trứng trong giai đoạn sớm thường âm thầm, mờ nhạt hoặc không có triệu chứng, do vậy phần lớn các trường hợp ung thư biểu mô buồng trứng khi được phát hiện thì đã ở giai đoạn muộn [4] Ngược lại ung thư buồng trứng loại tế bào mầm thường có triệu chứng đau do căng xoắn nang khi u còn khu trú ở buồng trứng, loại u đệm – dây sinh dục có thêm các triệu chứng tăng tiết quá mức estrogen hoặc androgen [5]
Điều trị ung thư buồng trứng nói chung cũng như ung thư buồng trứng loại biểu mô thì phẫu thuật đóng vai trò chủ đạo, hóa chất có vai trò bổ trợ cho phẫu thuật Trong khi tiến hành phẫu thuật nên cố gắng lấy u tối đa, Kích thước u còn lại liên quan chặt chẽ tới thời gian sống thêm cho bệnh nhân [6] Đối UTBMBT giai đoạn muộn với đặc điểm u lan tràn ổ bụng, xâm lấn các
cơ quan xung quanh, phẫu thuật cắt bỏ u khó khăn hoặc không thể phẫu thuật được, nhiều biến chứng nặng sau phẫu thuật và chỉ thực hiện được ở những
Trang 2trung tâm lớn Vì vậy việc điều trị hóa chất bổ trợ trước phẫu thuật đã được đặt ra với mục đích tạo điều kiện cho phẫu thuật dễ dàng hơn hoặc chuyển từ không phẫu thuật được thành có thể phẫu thuật Tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương tiến hành phác đồ điều trị hóa chất bổ trợ trước phẫu thuật ở một số trường hợp bệnh nhân UTBMBT giai đoạn muộn có phẫu thuật trước đó rất khó khăn hoặc không thể phẫu thuật được Kết quả bước đầu cho thấy một số bệnh nhân UTBMBT giai đoạn muộn đáp ứng tốt với điều trị hóa chất, chuyển từ khó hoặc không phẫu thuật được thành phẫu thuật thuận lợi
Tuy nhiên trong nước chưa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề đánh giá hiệu quả điều trị hóa chất trước phẫu thuật của UTBMBT giai đoạn muộn
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với 2 mục tiêu:
1 Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ung thư biểu
mô buồng trứng giai đoạn muộn
2 Đánh giá hiệu quả điều trị hóa chất trước phẫu thuật UTBMBT giai đoạn muộn
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Phôi thai học, giải phẫu học và mô học của buồng trứng
1.1.1 Phôi thai học
Buồng trứng phát triển qua hai giai đoạn trong thời kỳ phôi thai: Giai đoạn trung tính và giai đoạn biệt hóa Có ba thành phần chủ yếu hình thành buồng trứng, đó là biểu mô khoang cơ thể của mầm niệu dục (Biểu
mô mầm), các tế bào mầm nguyên thủy và tổ chức trung mô nằm dưới biểu mô mầm
- Giai đoạn trung tính:
Biểu mô mầm tăng sinh mạnh, dầy lên từ tuần phôi thứ tư,bên cạnh đó lớp trung mô bên dưới cũng phát triển mạnh, hình thành các mào sinh dục Các tế bào mầm nguyên thuỷ lúc đầu nằm lẫn với các tế bào nội bì phía cuối túi noãn hoàng, sau đó di cư dọc theo phía sau mạc treo ruột cuối để chui vào mào sinh dục, thời điểm này sảy ra vào tuần phôi thứ 8 Trong quá trình phát triển, biểu mô nằm kết hợp với trung mô phía dưới để hình thành nên các dây sinh dục Mặc dù giới tính được hình thành ngay từ lúc thụ tinh, nhưng ở giai đoạn này, cơ quan sinh dục không phân biệt được là buồng trứng hay là tinh hoàn
- Giai đoạn biệt hóa:
Trong giai đoạn này có sự thoái hóa của các dây sinh dục ở vùng trung tâm và tăng sinh các dây vùng vỏ của mầm sinh dục để bao lấy các tế bào mầm nguyên thủy đã di cư đến Tại đây các tế bào mầm nguyên thủy xảy ra quá trình biệt hóa để trở thành tế bào dòng noãn Quá trình này bắt đầu xảy ra
từ cuối tuần phôi thứ 8
Trang 4Biểu mô khoang cơ thể phủ mầm sinh dục trở thành biểu mô buồng trứng và chiếm một vai trò rất quan trọng về phương diện phát sinh ung thư
1.1.2 Giải phẫu học buồng trứng
Hình 1.1 Giải phẫu học buồng trứng
1.1.2.1 Buồng trứng là tuyến sinh dục có 2 chức năng là nội tiết và ngoại tiết:
- Chức năng nội tiết: Buồng trứng sản xuất ra hai hormon là Estrogen và Progesterone, hai hormon này chi phối quá trình hình thành các đặc điểm giới tính ở phụ nữ cũng như chi phối quá trình phát triển của nang noãn
- Chức năng ngoại tiết là: Buồng trứng sản sinh ra noãn là giao tử cái trong quá trình thụ tinh
1.1.2.2.Vị trí: Mỗi buồng trứng của phụ nữ chưa đẻ nằm ở 1 bên tử cung, phía
sau và dưới phần ngoài của vòi tử cung, trong hố buồng trứng ở thành bên
Trang 5chậu hông bé Buồng trứng bị lệch sau lần có thai đầu tiên và thường không bao giờ trở về vị trí ban đầu
1.1.2.3 Hình thể ngoài: Buồng trứng có hình hạt đậu dẹt Có màu hồng xám,
mặt nhẵn khi chưa sảy ra rụng trứng, sau đó các mặt buồng trứng bị méo đi do
sự hóa sẹo kế tiếp nhau của các thể vàng
1.1.2.4 Kích thước: Buồng trứng có kích thước thay đổi theo từng giai đoạn
phát triển của cơ thể: Ở trẻ sơ sinh là 0,25 cm x 0,5 cm x1,5 cm nặng khoảng 0,3 đến 0,4 gram ở tuổi dậy thì là 1,2 cm x 1,8 cm x 3 cm ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 1,5 cm x 2 cm x 3 cm ở tuổi mãn kinh buồng trứng teo nhỏ là 0,5 cm x 1,5 cm x2 cm
- Buồng trứng có hai bờ là bờ tự do ở sau và bờ mạc treo ở trước:Bờ mạc treo được gắn với mặt sau của dây chằng rộng bởi mạc treo buồng trứng
Bờ tự do hướng ra sau, liên quan với các quai ruột
- Buồng trứng có hai đầu là đầu vòi ở trên và đầu tử cung ở dưới: Đầu vòi là nơi bám của dây chằng treo buồng trứng và tua buồng trứng của vòi
tử cung Đầu tử cung được buộc vào sừng tử cung bằng dây chằng riêng buồng trứng
Trang 61.1.2.6 Các phương tiện giữ buồng trứng tại chỗ: Gồm có bốn dây chằng giữ
buồng trứng tại chỗ một cách tương đối
- Mạc treo buồng trứng: Là một nếp phúc mạc ngắn nối mặt sau dây chằng rộng với bờ mạc treo buồng trứng của buồng trứng
- Dây chằng treo buồng trứng (Dây chằng thắt lưng buồng trứng): Đi từ đầu vòi của buồng trứng tới thành bên chậu hông, chứa các mạch máu và thần kinh của buồng trứng
- Dây chằng riêng buồng trứng (Dây chằng tử cung buồng trứng): Đi từ đầu tử cung của buồng trứng tới sừng tử cung Dây chằng này nằm trong dây chằng rộng và chứa một số sợi cơ trơn
- Dây chằng vòi buồng trứng: Là một dây đi từ loa vòi tới đầu trên của buồng trứng Có một tua của loa dính vào dây chằng gọi là tua buồng trứng
1.1.2.7 Mạch máu của buồng trứng:
Động mạch buồng trứng: Buồng trứng có 2 nguồn cung cấp máu đó
là: Động mạch buồng trứng và động mạch tử cung
- Động mạch buồng trứng: Tách ở động mạch chủ bụng.Sau khi bắt chéo qua động mạch chậu ngoài, động mạch buồng trứng chia ra làm ba nhánh ở đầu trên của buồng trứng: Nhánh vòi, nhánh buồng trứng và nhánh nối
- Động mạch tử cung: Tách ra nhánh buồng trứng và nhánh nối (Nối với nhánh nối của động mạch buồng trứng)
Trang 71.1.3 Mô học
Buồng trứng được chia lảm 2 vùng: Vùng trung tâm hẹp gọi là vùng tủy
và vùng ngoại vi rộng hơn gọi là vùng vỏ
1.1.3.1 Vùng tủy: Cấu tạo bởi mô liên kết thưa, chứa những sợi chun, những
sợi cơ trơn, những động mạch xoắn và những cuộn tĩnh mạch Những thành phần này tạo thành mô cương của buồng trứng
1.1.3.2 Vùng vỏ
- Mặt ngoài của vùng vỏ buồng trứng được phủ bởi một biểu mô đơn Ở phụ nữ còn trẻ, biểu mô là biểu mô vuông đơn về sau nó dẹt lại ở một số nơi, trừ những nơi có khe rãnh thấy trên mặt buồng trứng
- Dưới biểu mô là mô kẽ cấu tạo bởi những tế bào hình thoi xếp theo nhiều hướng khác nhau, làm cho vùng vỏ buồng trứng có những hình xoáy đặc biệt
- Giáp với biểu mô buồng trứng, mô liên kết chứa ít mạch máu, nhiều sợi liên kết và nhiều chất gian bào Những tế bào sợi xếp theo hướng ít nhiều song song với mặt buồng trứng Mô liên kết ấy tạo thành một lớp mỏng gọi là màng trắng
- Mô liên kết vùng vỏ buồng trứng chứa những khối hình cầu gọi là nang trứng Mỗi nang trứng là một cái túi đựng noãn Ở buồng trứng của thai, trẻ
em và cô gái trước tuổi dậy thì, những nang trứng này gọi là nang trứng nguyên thủy Chúng là những nang trứng chưa phát triển, rất nhỏ, có kích thước giống nhau và chỉ nhìn thấy qua kính hiển vi Trong đời sống sinh dục của người phụ nữ, những nang trứng nguyên thủy tiến triển qua các giai đoạn khác nhau và cứ 14 ngày trước khi hành kinh có một hoặc vài nang trứng nguyên thủy tiến triển tới mức chín, vỡ ra và phóng noãn Phần còn lại của nang trứng đã mất noãn tạo thành một thể màu vàng gọi là hoàng thể Trong
Trang 8suốt đời sống tình dục của người phụ nữ, chỉ một số rất nhỏ nang trứng tiến triển tới mức phóng noãn, còn tuyệt đại đa số nang trứng sẽ thoái triển [4]
1.2 Dịch tễ học ung thư buồng trứng
Ung thư buồng trứng chiếm 20% số ca ung thư cơ quan sinh dục nữ, tỷ
lệ mắc bệnh trung bình vào khoảng 15/100.000 phụ nữ hàng năm Đã có thông báo về sự gia tăng mạnh mẽ tỷ lệ mắc bệnh và tử vong đối ung thư buồng trứng ở Sigapore, Nhật bản, Anh và Tây ban nha [10]
Theo số liệu nước ngoài UTBMBT chiếm 85% trong tổng số UTBT, có
tỷ lệ mắc bệnh tăng từ 1,4/ 100.000 phụ nữ ở độ tuổi dưới 40 lên đến 38/10.000 phụ nữ trên 60 tuổi UTBT loại không biểu mô hay gặp ở tuổi trẻ, thường được chẩn đoán ở độ tuổi dưới 20 [1]
Tỷ lệ sống thêm của bệnh nhân UTBMBT có sự khác biệt theo tuổi và theo giai đoạn Sống thêm 5 năm ở 45 tuổi là 70 %, ở 75 tuổi là 20 % [11]
Ở Việt nam UTBT đứng hàng thứ năm trong các loại ung thư ở phụ nữ Tính trung bình cứ 100.000 dân thì có 4 đến 5 người mắc UTBT [2]
1.3 Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ
Cho đến nay, người ta chưa biết rõ nguyên nhân của UTBMBT, tuy nhiên có một số yếu tố nguy cơ sau được xác định là có liên quan tới UTBT
1.3.1 Tiền sử gia đình
Có khoảng 5-10% u buồng trứng có tính chất gia đình Nguy cơ mắc ung thư buồng trứng tăng lên khi có mẹ hoặc chị em gái mắc UTBT hoặc ung thư vú, đặc biệt mắc ở tuổi trẻ em
1.3.2 Tiền sử bệnh tật
Phụ nữ có tiền sử mắc ung thư nội mạc tử cung, ung thư dạ dày, ung thư đại tràng có nguy cơ cao mắc ung thư buồng trứng
Trang 91.3.3 Tiền sử sinh sản
Phụ nữ chửa đẻ nhiều lần giảm được nguy cơ ung thư buồng trứng 30%
so với phụ nữ không chửa đẻ Thời gian cho con bú càng dài, nguy cơ mắc ung thư buồng trứng càng giảm, do không có sự phóng noãn trong thời gian cho con bú ở một số phụ nữ
1.3.4 Tiền sử nội tiết
- Hormon ngoại sinh:
Sử dụng thuốc tránh thai với thời gian dài giảm nguy cơ mắc bệnh Người ta cho rằng nếu dùng thuốc tránh thai năm năm làm giảm nguy cơ mắc ung thư buồng trứng ở người không chửa đẻ xuống còn như người đã đẻ, nếu dùng 10 năm làm giảm nguy cơ mắc ung thư buồng trứng ở người có tiền sử gia đình bị ung thư buồng trứng xuống còn như người không có tiền sử gia đình bị ung thư buồng trứng Ở những người dùng hormone thay thế, nguy cơ ung thư buồng trứng cũng giảm đi
Dùng thuốc kích thích rụng trứng như clomiphen citrate làm tăng nguy
cơ 2-3 lần nếu dùng trên 12 chu kỳ
- Hormon nội sinh:
Nồng độ Androgen cao, FSH và LH thấp làm tăng nguy cơ ung thư buồng trứng
Trang 10và nhu động ruột, các tế bào này sẽ di chuyển theo dịch phúc mạc qua rãnh đại tràng hai bên lên đến vòm hoành, đi khắp ổ phúc mạc Trên đường di chuyển chúng sẽ cấy lại và phát triển thành các u ở khắp ổ phúc mạc
- Mạc nối lớn cũng là nơi dễ bị tổ chức ung thư gieo rắc và phát triển do
có bề mặt rộng và luôn di chuyển khắp ổ bụng
1.4.2 Theo đường bạch huyết
- Theo các đường dẫn lưu bạch huyết của buồng trứng, các tế bào ung thư di chuyển đổ vào các hạch chủ bụng, hạch bịt, hạch chậu, theo dây chằng tròn để ra hạch bẹn
- Di căn có liên quan mật thiết đến giai đoạn bệnh Ở giai đoạn sớm (I
và II) có 10 - 20% di căn hạch, tỷ lệ này tăng lên 60 - 70% ở giai đoạn muộn (III và IV)
1.4.3 Theo đường máu
Ung thư buồng trứng còn di căn xa theo đường máu trong đó hay gặp nhất là di căn gan, phổi, màng phổi, xương…
Trang 11 Triệu chứng cơ năng:
- Ung thư biểu mô buồng trứng thường tiến triển âm thầm và không có dấu hiệu đặc trưng chính vì vậy phần lớn (trên 70%) khi được phát hiện bệnh
đã ở giai đoạn muộn UTBMBT thường có thời gian tiến triển dài và hay gặp
ở nhóm người trẻ Nhiều trường hợp chẩn đoán tình cờ sau khi cắt khối u buồng trứng lớn đơn độc trong ổ bụng mà không có tổn thương nào khác
- Giai đoạn sớm bệnh nhân có thể không có triệu chứng hoặc chỉ có các dấu hiệu không đặc hiệu như: Cảm giác đầy tức bụng mơ hồ, đau bụng ở nhiều mức độ khác nhau nhưng cũng không đặc hiệu, đái buốt đái rắt…
- Giai đoạn muộn: Các triệu chứng thường rầm rộ, tiến triển nhanh như: + Thấy bụng to nhanh, gầy sút, kém ăn, nhiều trường hợp bệnh nhân tự
sờ thấy u
+ Kèm theo là các dấu hiệu do khối u chèn ép, xâm lấn các cơ quan lân cận như:
Rối loạn kinh nguyệt, ra máu âm đạo sau mãn kinh
Các biến chứng tiêu hóa như: Buồn nôn, ăn cảm giác không ngon, ăn chóng no, táo bón, các dấu hiệu của tắc ruột…
Đau bụng do xoắn, vỡ u
Khó thở do: Cổ trướng, tràn dịch màng phổi, tràn dịch đa màng
Trang 12- Ở giai đoạn cuối bệnh nhân có biểu hiện suy dinh dưỡng nặng, rối loạn nước điện giải Hình ảnh lâm sàng điển hình là bụng căng to, người chỉ còn da bọc xương, mất hết tổ chức mỡ ở mặt làm cho bệnh nhân luôn như cười mỉa mai, mắt trũng Hình ảnh đó gọi là bộ mặt buồng trứng
* Khác với ung thư biểu mô buồng trứng:
- Các ung thư buồng trứng thuộc loại tế bào mầm thường có triệu chứng đau do căng và xoắn dây chằng rộng ngay khi u còn khu trú ở buồng trứng và 70% bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn I của bệnh Một số trường hợp đau dữ dội do chảy máu u, vỡ u
- Ung thư buồng trứng loại u đệm - dây sinh dục có thêm các triệu chứng của tăng tiết quá mức estrogen hoặc androgen như: Mất kinh, rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ còn kinh, ra máu âm đạo ở những phụ nữ đã mãn kinh, những biểu hiện nam hóa, dậy thì sớm
Triệu chứng thực thể
- Thăm khám kỹ vùng tiểu khung bao gồm cả thăm âm đạo, thăm trực tràng: Để đánh giá được vị trí, kích thước, thể tích, mật độ, mức độ xâm lấn của khối u Có thể khối u buồng trứng to sờ thấy qua thăm khám ngoài ổ bụng, có thể khối u nằm sâu trong tiểu khung, u thường chắc, có thể cố định, đôi khi kèm nhiều khối u nhỏ vùng túi cùng
- Khám kỹ vùng bụng: Phát hiện dịch ổ bụng, u xâm lấn, phát triển dính thành mảng vào ruột, mạc nối lớn, di căn gan hay không
- Thăm khám toàn thân: Đánh giá tình trạng hạch ngoại vi (hạch bẹn, hạch thượng đòn), thiếu máu, suy kiệt, tình trạng gan, thận trực tràng, dịch cổ trướng, tràn dịch màng phổi…
Trang 131.5.1.2 Các xét nghiệm cận lâm sàng
Siêu âm ổ bụng
- Khi sờ thấy khối u vùng khung chậu nên tiến hành kiểm tra bằng siêu
âm cho bệnh nhân, kết hợp siêu âm bằng đầu dò đường bụng và siêu âm đầu
dò âm đạo có thể phân biệt khối u buồng trứng với các khối u khác vùng chậu, hình thái khối u (nang, đặc, bì, nhú ), kích thước khối u, tình trạng buồng trứng bên đối diện và dịch cổ chướng, sự di căn xa tới các cơ quan khác trong ổ bụng
- Siêu âm thường được sử dụng để đánh giá hình thái, tính chất các khối
u buồng trứng: Ở những khối u ác tính trên hình ảnh siêu âm hay gặp những dấu hiệu sau:
+ Có bờ không đều, đậm độ âm khác nhau, có nhú trong u
+ Siêu âm Dopper màu đánh giá được mạch máu của khối u, có thể phát hiện được những mạch máu tân sản bất thường gợi ý u lành hay u ác tính [14],[15],[16],[17]
Chụp cắt lớp vi tính (CT scanner) hoặc chụp cộng hưởng từ ( IMR) ổ bụng:
- Giúp đánh giá mức độ xâm lấn và trình trạng di căn của khối u
- Giúp đánh giá đáp ứng điều trị hóa trị và xác định tái phát, di căn sau điều trị
X- quang phổi:
- Tìm khối u di căn phổi vì đây là vị trí di căn thường gặp trong UTBMBT
- Tìm tràn dịch màng phổi
Xét nghiệm tế bào học dịch ổ bụng: Chọc hút, ly tâm dịch ổ bụng tìm
tế bào ung thư
Trang 14 Xét nghiệm chất chỉ điểm khối u
- CA 125:
+ Nồng độ CA 125 tăng cao ở hơn 80% UTBMBT, nhưng cũng có thể tăng trong một số tình trạng lành tính hoặc một số u ngoài buồng trứng Tuy nhiên ở những phụ nữ sau mãn kinh có khối u hỗn hợp vùng tiểu khung hoặc có nhiều u nang đơn thuần kết hợp CA 125 cao nên tiến hành phẫu thuật ngay
+ Hàm lượng CA 125 có giá trị trong việc theo dõi sự tiến triển hay thoái triển của bệnh, phát hiện sớm tái phát, di căn hơn là trong vai trò chẩn đoán xác định
- Alpha FP và HCG giúp phân biệt bản chất khối u (Thường áp dụng cho
U tế bào mầm và u nguồn gốc đệm sinh dục)
Các thăm dò khác: Được chỉ định để góp phần đánh giá tình trạng
toàn thân của người bệnh trước khi điều trị
- Các thăm dò đường tiêu hóa: Chụp khung đại tràng, soi dạ dày…
- Soi bàng quang và các xét nghiệm đánh giá chức năng thận
Trang 151.5.2 Chẩn đoán mô bệnh học
Năm 1999, Tổ chức Y tế Thế giới đã công bố bảng phân loại mới các khối u buồng trứng [18] Sau đây là bảng phân loại các u biểu mô - mô đệm của buồng trứng:
* U xơ tuyến, u xơ tuyến nang 9014/0
Ác tính giáp biên( tiềm năng ác tính thấp)
* Ung thư biểu mô tuyến nhú bề mặt 8461/3
* U xơ UTBM tuyến, U xơ UTBM tuyến nang 9014/3 (u xơ tuyến ác tính; u xơ tuyến nang ác tính)
Trang 161.5.2.2.Các u nhầy, giống nội mạc tử cung và típ ruột
Lành tính
* Lành tính:
* U tuyến nang 8740/0
* U xơ tuyến, u xơ tuyến nang 9015/0
Ác tính giáp biên ( tiềm năng ác tính thấp)
* U tuyến nang với biệt hóa vảy 9015/0
* U xơ tuyến, u xơ tuyến nang 8381/0
* U xơ tuyến; U xơ tuyến nang với biệt hóa vảy 8381/0
Ác tính giáp biên( tiền năng ác tính thấp)
* U nang 8380/1
* U nang với biệt hóa vảy 8380/1
Trang 17* U xơ tuyến, u xơ tuyến nang 8381/1
* U xơ tuyến, u xơ tuyến nang với biệt hóa vảy 8381/1
Ác tính:
* Ung thư biểu mô tuyến 8380/3 Ung thư biểu mô tuyến nang 8380/3
* UTBM tuyến u nang với biệt hóa vảy 8570/3
* U xơ UTBM tuyến, U xơ UTBM tuyến nang 8381/3 (u xơ tuyến ác tính; u xơ tuyến nang ác tính)
* U xơ UTBM tuyến; U xơ UTBM tuyến u nang với biệt hóa vảy ( u xơ tuyến ác tính; u xơ UTBM tuyến u nang với biệt hóa vảy) 8381/3
Các u biểu mô - đệm và mô đệm
* Sarcom u tuyến, đồng loại, dị loại 8933/3
* U hỗn hợp (muller) trung bì ác tính (carcino- sarcom)
* U xơ tuyến; U xơ tuyến nang 8373/0
Ác tính giáp biên ( tiềm năng ác tính thấp)
* U nang 8310/1
* U xơ tuyến, U xơ tuyến nang 8313/1
Ác tính
* Ung thư biểu mô tuyến 8310/3
* U xơ UTBM tuyến; U xơ UTBM tuyến u nang 8313/3 (U xơ tuyến ác tính; U xơ UTBM tuyến nang)
Trang 181.5.2.5.Các u tế bào chuyển tiếp
1.5.2.8 Ung thư biểu mô không biệt hóa 8020/3
1.5.3 Chẩn đoán giai đoạn theo TNM (UICC 2010) và FIGO 2014
Dựa vào quan sát và kết quả sinh thiết nhiều vị trí trong ổ bụng trong mổ cũng như dựa vào các xét nghiệm tìm di căn xa Đánh giá giai đoạn có vai trò đặc biệt quan trọng trong điều trị ung thư buồng trứng
Phân loại TNM và FIGO, cả hai hệ thống được đưa vào để so sánh [19]
Các qui luật phân loại
Phải có xác định mô học của bệnh và phân chia các trường hợp theo typ
mô học Mức độ biệt hóa (độ) phải được ghi nhận
Đánh giá giai đoạn theo FIGO dựa : Lâm sàng và xét nghiệm khi phẫu thuật Các phương pháp đánh giá T, N, M gồm: Khám lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh, soi ổ bụng và/ hoặc mổ thăm dò
Các hạch bạch huyết vùng gồm: Hạ vị, chậu chung, chậu ngoài cùng bên, cạnh động mạch chủ và hạch bẹn
Trang 19Phân loại lâm sàng TNM
T1a IA U giới hạn ở một buồng trứng, vỏ nguyên
vẹn, không có u trên bề mặt buồng trứng, không có tế bào trong dịch cổ chướng hoặc dịch rửa phúc mạc
T1b IB U giới hạn ở hai buồng trứng, vỏ nguyên
vẹn, không có u trên bề mặt buồng trứng, không có tế bào trong dịch cổ chướng hoặc dịch rửa phúc mạc
T1c IC U giới hạn ở một hoặc hai buồng trứng
-IC1: Làm vỡ u khi phẫu thuật -IC2: U bị vỡ trước khi phẫu thuật cắt bỏ, u trên bề mặt buồng trứng
-IC3: Có các tế bào ác tính trong dịch cổ chướng hoặc dịch rửa phúc mạc
T2 II U ở một hoặc cả hai buồng trứng với sự lan
tràn vào khung chậu T2a IIA U lan tràn và hoặc cấy ghép trên tử cung và
hoặc vòi trứng T2b IIB U lan tràn tới phúc mạc và các tổ chức khác
của chậu hông
Trang 20T3a và hoặc
N1
IIIA Hạch sau phúc mạc dương tính và/ hoặc có
tổn thương vi thể ngoài tiểu khung IIIA1 Hạch sau phúc mạc dương tính
+ IIIA1(i) Kích thước hạch di căn< 10 mm +IIIA1(ii) Kích thước hạch di căn > 10 mm IIIA2 Tổn thương vi thể ngoài tiểu khung, xâm
lấn phúc mạc ± có hạch sau phúc mạc T3b và hoặc
N1
IIIB Di căn phúc mạc đại thể ngoài tiểu khung
với kích thước lớn nhất ≤ 2 cm ± có hạch
sau phúc mạc T3c và hoặc
N1
IIIC Di căn phúc mạc ngoài tiểu khung với kích
thước lớn nhất trên 2 cm ± hạch sau phúc mạc, bao gồm tổn thương lan tỏa bề mặt gan và lách
M1 IV Di căn xa vượt quá di căn phúc mạc
IVA: Di căn tới màng phổi với tế bào dịch màng phổi (+)
IVB: Tổn thương di căn tới nhu mô gan và hoặc lách, di căn tới tổ chức ngoài ổ bụng (Bao gồm hạch vùng bẹn và hạch ngoài khoang ổ bụng)
N- Các hạch bạch huyết vùng:
Nx: Các hạch bạch huyết vùng không đánh giá được
N0: Không có di căn hạch bạch huyết vùng
Trang 21G1 Biệt hóa cao
G2 Biệt hóa vừa
G3- 4 Biệt hóa kém hoặc không biệt hóa
1.6 Điều trị UTBMBT
Phẫu thuật là ưu tiên hàng đầu trong điều trị UTBMBT trừ khi bệnh ở
giai đoạn IV
Phẫu thuật cắt tử cung toàn bộ kết hợp với cắt buồng trứng hai bên và cắt mạc nối lớn thường được tiến hành trong phẫu thuật điều trị UTBMBT, đây cũng là cách thức phẫu thuật giúp đánh giá giai đoạn sau phẫu thuật một cách chính xác, qua đó cân nhắc phương pháp điều trị bổ trợ tiếp theo Trong trường hợp không còn khả năng phẫu thuật triệt để, người ta tiến hành phẫu thuật lấy
tổ chức u tối đa và lấy các nhân di căn ổ bụng được càng nhiều càng tốt, đặc biệt các nhân di căn có kích thước lớn hơn 1 cm Đây là phẫu thuật nhằm mục đích giảm khối lượng u và tạo tiền đề cho điều trị bằng hóa chất và tia xạ
Trang 221.6.1 Điều trị UTBMBT giai đoạn I
Một số bệnh nhân giai đoạn này không cần thiết điều trị bổ trợ sau khi đã được phẫu thuật cắt bỏ Bệnh nhân UTBMBT giai đoạn IA và IB thể giải phẫu bệnh từ rất biệt hóa đến biệt hóa trung bình có tỷ lệ sống năm năm lớn hơn 90% khi điều trị bằng phẫu thuật đơn thuần Ở một số ít trường hợp, khi người bệnh còn trẻ và mong muốn có con nếu phân độ ác tính u ở độ I, có thể cân nhắc cắt buồng trứng ở một bên đơn thuần Giai đoạn IC hoặc phân độ ác tính độ 3 có thể lựa chọn một trong các cách sau: Xạ trị toàn ổ bụng và vùng chậu, hóa trị bổ trợ
1.6.2 Điều trị UTBMBT giai đoạn II
Phương pháp điều trị chính là phẫu thuật cắt tử cung toàn bộ, cắt buồng trứng hai bên, lấy u tối đa Bệnh nhân nên được điều trị bổ trợ bằng hóa chất một cách có hệ thống
1.6.3 Điều trị UTBMBT giai đoạn III
- Phẫu thuật tối đa là tiêu chí ban đầu điều trị UTBMBT giai đoạn này Trong khi tiến hành phẫu thuật nên cố gắng lấy hết tất cả các nhân có kích thước trên 1 cm Kích thước u còn lại liên quan liên quan chặt chẽ tới thời gian sống thêm cho bệnh nhân Hóa trị bổ trợ nhất thiết phải được chỉ định
sau phẫu thuật
- Phẫu thuật thăm dò đánh giá lại (second look) (Mổ mở hoặc nội soi):
Là phẫu thuật nhằm mục đích đánh giá đáp ứng của các tổn thương trong ổ bụng sau một số đợt hóa trị mà các tổn thương này không còn thấy được bằng các phương pháp đánh giá thường qui trên lâm sàng
Trang 231.6.4 Điều trị UTBMBT giai đoạn IV
Hóa trị là chủ yếu, không nên phẫu thuật ở bệnh nhân có nhân di căn tới nhu mô gan, hạch sau đùi, hạch thượng đòn, trung thất và nhu mô phổi
1.6.5 Điều trị UTBMBT tái phát
* Có tới 80-90% bệnh nhân giai đoạn III-IV sẽ tái phát về sau Tùy tình huống cụ thể, có thể lựa chọn các phương pháp
* Hóa trị liệu trong bệnh tái phát:
- Khi bệnh tái phát trong vòng 6 tháng sau điều trị ban đầu có platin được coi là bệnh kháng với platin, những trường hợp còn lại được gọi là nhạy cảm với platin
- Những trường hợp bệnh nhạy cảm với platin có thể điều trị nhắc lại phác đồ có platin Có tới 70% bệnh nhân tái phát trên 2 năm sau điều trị ban đầu có đáp ứng với điều trị platin nhắc lại
- Đối với các trường hợp tái phát trong vòng 6-12 tháng được coi là ở khoảng giáp ranh, thường được điều trị như bệnh kháng với platin
Trang 241.6.6.Các nguyên tắc hóa trị liệu trong ung thư
Hóa trị hay hóa trị liệu là phương pháp sử dụng các thuốc gây độc tế bào nhằm tiêu diệt các tế bào ác tính trong cơ thể người bệnh ung thư
1.6.6.1 Cơ chế tác dụng của hóa trị
Quá trình phát triển và sinh sản của các tế bào ở người gồm 4 giai đoạn hay 4 pha:
- Pha S: Giai đoạn tổng hợp axit nucleic
- Pha M: giai đoạn phân chia tế bào
- Pha G1 và G2: Các hoạt động về sinh hóa học nhưng tế bào không thay đổi về mặt hình thái học
- Pha G0: Tế bào không tham gia vào quá trình phân chia
Các thuốc hóa trị có thể tác động vào các pha khác nhau của tế bào làm
tế bào bị tổn thương và chết
1.6.6.2.Phân loại thuốc theo cơ chế tác dụng
* Nhóm Alkyl hóa: Tác dụng độc tế bào trên AND: Cisplatin, carboplatin, cyclophosphamid (Endoxan)
* Nhóm chống chuyển hóa: Methotrexate…
* Các kháng sinh chống u: Doxorubicin, bleomycin…
* Alcaloid dừa cạn: Vincristin…
* Các Taxane: Paclitaxel (Mitotax, taxol)
* Các chất ức men tháo chuỗi AND (topoisomerase I):
* Các chất ức chế men sao chép AND (topoisomerase II): Etoposide…
* Các thuốc khác:
Trang 25- Phác đồ Docetaxel:
Docetaxel 100mg/m2, TM, ngày 1
Chu kỳ 21 ngày
Trang 26- Các tác dụng không mong muốn thường gặp:
+ Buồn nôn và nôn: là hai biểu hiện hay gặp nhất đối với độc tính của thuốc đối với đường tiêu hóa
+ Rụng tóc: Là do sự tạm ngừng phát triển nang lông
+ Giảm bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu: Là do ức chế tủy xương Nếu suy tủy nặng, bệnh nhân có thể bị nhiễm trùng, chảy máu
+ Tổn thương tế bào gan, giảm chức năng gan
Trang 27Do đó việc sử dụng kháng sinh, thuốc chống nôn, truyền máu và các sản phẩm của máu đóng vai trò quan trọng trong hóa trị
- Một số thuốc có những độc tính đặc trưng như:
+ Viêm bàng quang chảy máu của cyclophosphamide
+ Bệnh thần kinh ngoại vi của cisplatin, paclitaxel…
1.6.6.5 Khả năng của hóa trị:
Thuốc hóa trị có tác dụng chống lại hầu hết các loại ung thư nhưng hoạt tính không đồng nhất Mỗi loại ung thư nhạy cảm với hóa trị riêng biệt và ngay cả trong một thể mô bệnh học của một loại ung thư nào đó, không phải mọi bệnh nhân đều có kết quả điều trị như nhau Người ta chia ra 4 nhóm về hiệu quả điều trị của thuốc hóa trị như sau:
- Nhóm 1: Các ung thư mà hóa trị có thể chữa khỏi ở hầu hết các bệnh nhân Các bệnh điển hình trong nhóm này là: Ung thư nguyên bào nuôi, U tế bào mầm buồng trứng
- Nhóm 2: Các ung thư mà hóa trị cải thiện thời gian sống như: Ung thư biểu mô tuyến vú, ung thư biểu mô buồng trứng, u quái tinh hoàn
- Nhóm 3: Các ung thư ít nhạy cảm hơn với hóa trị Thời gian sống ở một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân được kéo dài Các bệnh trong nhóm này là: Ung thư tiền liệt tuyến, ung thư cổ tử cung, các sarcom phần mềm
- Nhóm 4: Gồm các ung thư rất ít nhạy cảm với hóa trị Bệnh điển hình là: Ung thư hắc tố
Sự phát triển không ngừng các thuốc với khả năng tiêu diệt tế bào u mạnh mẽ có thể làm các bệnh ít nhạy cảm với hóa trị trong thời gian này trở thành những bệnh rất nhạy cảm với thuốc trong tươg lai ví dụ: Ung thư đại
Trang 28trực tràng, ung thư phổi không phải tế bào nhỏ trước đây được đưa vào nhóm
4 nay đã có thể đưa vào nhóm 3
1.6.6.6 Nguyên tắc điều tri hóa trị:
* Lựa chọn thuốc thích hợp: Cần lựa chọn các loại thuốc thích hợp nhất cho mỗi tình huống lâm sàng cụ thể Người thầy thuốc chuyên khoa cần nắm vững dược động học, cơ chế tác dụng, liều lượng, cách dùng, tác dụng không mong muốn của thuốc
* Liều và liệu trình điều trị:
- Liều và liệu trình hóa trị có ảnh hưởng sâu sắc đến kết quả điều trị Mặt trái của thuốc chống ung thư là độc tính của chúng, đặc biệt tiêu diệt cả tế bào lành đang phân chia của cơ thể Các nghiên cứu thực nghiệm lâm sàng cho thấy việc sử dụng hóa trị liều thấp liên tục không hiệu quả bằng điều trị liều cao ngắt quãng với khoảng thời gian thích hợp cho các tổ chức lành hồi phục Khi điều trị liều thấp, nồng độ thuốc sẽ không đủ cao để thâm nhập vào vùng sâu vùng xa trong khối u dẫn đến hiện tượng kháng thuốc
- Để một khối u có thể phát hiện được trên lâm sàng, u cần phải có kích thước 109-1010 tế bào Nếu sau điều trị, u chỉ còn dưới 109-1010 tế bào thì không thể phát hiện được và coi là đáp ứng hoàn toàn Như vậy dù đáp ứng hoàn toàn cũng không đảm bảo được rằng tế bào u đã được loại bỏ hoàn toàn Trong thực tế nhiều ung thư vẫn tái phát sau điều trị triệt để bởi vẫn còn một
số tế bào u sống sót
* Phối hợp hóa trị:
Việc phối hợp các thuốc có cơ chế khác nhau có thể làm tăng kết quả điều trị Các nguyên tắc chung cho phối hợp hóa trị được đưa ra như sau:
Trang 29- Mỗi thuốc trong phác đồ phối hợp đã được chứng minh có tác dụng chống ung thư khi dùng đơn thuần
- Không nên phối hợp các thuốc có cùng cơ chế tác dụng
- Các độc tính chủ yếu của thuốc phối hợp càng khác nhau càng tốt Một số trường hợp ngoại lệ là thêm thuốc thứ 2 để giảm sự đào thải hoặc làm thay đổi độc tính của thuốc thứ nhất Ví dụ: dùng Acid folinic cùng với methotrexate nhằm mục đích phòng ngừa độc tính quá mức của methotrexate
Để hạn chế tác dụng phụ trong phác đồ điều trị phối hợp có thể dùng liều thấp hơn khi dùng đơn độc
1.6.6.7 Các phương pháp hóa trị:
* Hóa trị bổ trợ trước: Là phương pháp hóa trị cho các bệnh nhân UTBMBT trước khi phẫu thuật
- Nhằm mục đích làm nhỏ bớt khối u, giảm giai đoạn
- Hóa trị bổ trợ trước: Bệnh nhân dễ dung nạp điều trị hơn là thực hiện sau phẫu thuật
* Điều trị hóa trị liều cao:
Là phương pháp sử dụng các hóa trị với liều cao hơn liều thông dùng để tiêu diệt nhiều tế bào ác tính hơn
Trang 301.7 Tiên lượng
Các yếu tố tiên lượng tốt trong UTBMBT bao gồm thể giải phẫu bệnh là loại tế bào sáng, độ ác tính thấp, triệu trứng ẩn trên lâm sàng, toàn trạng tốt, tuổi trẻ, giai đoạn sớm và không có dịch cổ trướng Thời gian gian sống thêm trung bình ở nhóm bệnh nhân thuộc typ mô bệnh học là UTBMBT tuyến nhày tốt hơn so với các nhóm thuộc typ khác
Tỷ lệ sống sau 5 năm ở giai đoạn I là 73%, giai đoạn II là 46%, giai đoạn III là 19 % và giai đoạn IV là 5%
U tế bào mầm ác tính tiên lượng khác nhau rất lớn giữa các thể mô bệnh học U quái trưởng thành có thời gian sống không bệnh khá dài,U túi noãn hoàng rất ác tính với hơn 50 % bệnh nhân tử vong trong vòng một năm sau chẩn đoán…
U đệm dây sinh dục, tiên lượng phụ thuộc thể mô bệnh học, giai đoạn bệnh, tuổi bệnh nhân, kích thước u, tình trạng vỏ nguyên vẹn hay đã vỡ [6],[20]
1.8 Một số nghiên cứu trong nước và nước ngoài về chẩn đoán và điều trị
ung thư buồng trứng
1.8.1 Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài tập trung nghiên cứu về ý nghĩa của các yếu tố tiên lượng và kết quả điều trị bệnh
Nghiên cứu của Chen và CS (1994) trên các bệnh nhân ung thư buồng trứng được điều trị tai Bệnh viện Trường Đại học tổng hợp quốc gia Đài loan cho thấy thời gian sống thêm của bệnh nhân ung thư buồng trứng phụ thuộc vào giai đoạn lâm sàng và typ mô học Thời gian sống thêm 5 năm ở giai đoạn I là 73,6%, giai đoạn II là 59,9%, giai đoạn III là 9,1% và giai đoạn IV
là 4,3% Cách điều trị chủ yếu là phẫu thuật kết hợp điều trị hóa chất [21]
Trang 31Nghiên cứu hồi cứu 106 trường hợp ung thư biểu mô dạng nội mạc buồng trứng được điều trị tại viện ung thư quốc gia Milan (Italia) của Grosso
và CS cho thấy giai đoạn bệnh của FIGO ảnh hưởng có ý nghĩa đến thời gian sống thêm của bệnh nhân [22]
Nghiên cứu của Allen và Coult (1999) về sống thêm của bệnh nhân UTBMBT cho thấy tỷ lệ sống thêm 5 năm ở giai đoạn I là 75%, giai đoạn II
là 55%, giai đoạn III là 24% và giai đoạn IV là 21%
Nghiên cứu của Brun và CS (2000) cho thấy tỷ lệ sống thêm 5 năm đối giai đoạn I là 76%, giai đoạn II là 42%, giai đoạn III là 21% và giai đoạn IV
là 6% [23]
1.8.2 Nghiên cứu của các tác giả trong nước
- Trần Văn Qui và Đinh Xuân Tửu (1971) nghiên cứu các ung thư buồng trứng tại Viện Bảo vệ Bà mẹ và trẻ sơ sinh có nhận xét ung thư buồng trứng chiếm 14,1% tổng số khối u buồng trứng, bệnh thường được chẩn đoán muộn
do đó tỷ lệ chết tại viện là 17,8% [24]
- Vũ Bá Quyết (1995) đã công bố về kết quả điều trị ung thư buồng trứng bằng phẫu thuật kết hợp với điều trị hóa chất cyclphospamide và cisplatin, có 37/ 58 bệnh nhân được phẫu thuật cắt tử cung, 2 phần phụ và mạc nối lớn kết hợp với điều trị hóa chất, 6 trong số 13 bệnh nhân được theo dõi trong 2 năm
đã tử vong [25]
- Nghiên cứu kết quả điều trị ung thư buồng trứng ở bệnh viện Từ Dũ của Trần Chánh Thuận và cộng sự cho thấy loại ung thư biểu mô chiếm 79%, 14% ở giai đoạn muộn [26]
- Nghiên cứu tại bệnh viện K của Nguyễn Văn Định và cộng sự cho thấy ung thư buồng trứng gặp nhiều ở độ tuổi 40 – 49, 62% bệnh nhân ở giai đoạn III và IV, 81,4% số trường hợp là typ biểu mô, 41,8% số bệnh nhân không đủ điều kiện điều trị triệt để, tỷ lệ sống trên 3 năm là 20% [13]
Trang 32- Nghiên cứu của Lê Hồng Quang (2000) tại bệnh viện K cho thấy 73,8% Bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn III và IV, ung thư biểu mô chiếm 69% [5]
- Nghiên cứu của Nguyễn Đức Phúc (2003) tại bệnh viện K cho thấy điều trị UTBMBT giai đoạn III bằng phẫu thuật đơn thuần có kết quả hạn chế hơn điều trị bằng phẫu thuật kết hợp hóa trị liệu [20]
- Nghiên cứu của Trần Thị Tuyết Lan (2004) tại bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy tỷ lệ mắc UTBMBT chiếm tỷ lệ cao nhất (56,4%), sau
đó là u tế bào mầm (23%), U dây đệm sinh dục chiếm (9,3%) [27]
Nhìn chung nghiên cứu của các tác giả trong nước chủ yếu đề cập đến khía cạnh chẩn đoán điều trị ung thư buồng trứng nói chung và điều trị UTBMBT bằng phẫu thuật và phẫu thuật kết hợp hóa chất, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của UTBMBT giai đoạn muộn và chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của điều trị hóa chất trước khi phẫu thuật của UTBMBT trong giai đoạn muộn
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân nghiên cứu
- Những BN được chẩn đoán UTBMBT GĐ muộn gồm:
+ Phẫu thuật nhưng không triệt căn được vì giai đoạn muộn
+ Không thể phẫu thuật được ngay vì giai đoạn muộn, XN dịch ổ bụng hay khối u có tế bào ác tính
- Bệnh nhân phải có điều trị hóa chất trước khi phẫu thuật
- Trong hồ sơ bệnh án ghi chép đầy đủ thông tin cần nghiên cứu
- Không bị mắc ung thư khác kèm theo
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
UTBMBT thứ phát
UTBMBT nguyên phát giai đoạn I,II
+ Bệnh nhân không phẫu thuật sau điều trị hóa chất
+ Hồ sơ bệnh án không đầy đủ
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chọn mẫu và tính toán cỡ mẫu
- Phương pháp chọn mẫu: Mẫu thuận tiện
- Cỡ mẫu:Tất cả các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ ở trên
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu mô tả
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu được thu thập từ bệnh án của bệnh nhân UTBMBT nguyên phát giai đoạn muộn tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 1/ 2010 đến tháng 12/ 2014
Trang 34Xây dựng bộ công cụ thu thập số liệu nhằm thu thập mọi thông tin cần thiết cho nghiên cứu
2.3 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Nhóm biến số Biến cụ thể Chỉ số/phân loại
- Các triệu chứng cơ năng của đường tiết niệu
- Các triệu chứng cơ năng của hệ tiêu hóa
< 40, 40-49, 50-59, ≥ 60
- Chưa đẻ, 1-2 con, > 2 con
- Chưa có kinh, đang có kinh, mãn kinh
- To bụng, đau tức bụng, sút cân, Ra máu âm đạo sau mãn kinh, rối loạn kinh nguyệt, tự
sờ thấy u, phát hiện ngẫu nhiên khi đi khám phụ khoa hoặc siêu âm
- Đái máu, đái rắt, đái buốt, đái khó: Có, không
- Buồn nôn, nôn, ăn khó tiêu, táo bón, đại tiện khó, rối loạn tiêu hóa, đầy bụng: Có, không
- Các biểu hiện khác
- Thăm khám thực thể xác định: sự bố tổn thương u theo vị trí
- Sốt, mệt mỏi, mất ngủ, khó thở, ho , đau lưng
- Phải, trái, hai bên, dính
Trang 35Nhóm biến số Biến cụ thể Chỉ số/phân loại
buồng trứng, khối u buồng trứng dính tạo thành khối không rõ u ở bên nào
- Tình trạng dịch ổ bụng
- Đánh giá kích thước khối u buồng trứng và khối u di căn trên siêu
âm CT, IMR
- Đánh giá hình ảnh cấu trúc u trên Siêu âm, IMR, CT scanner
- Kết quả xét nghiệm tìm tế bào ung thư trong dịch ổ bụng, dịch khối u hoặc phần bệnh phẩm lấy được khi phẫu thuật trước điều trị hóa chất
- Xét nghiệm CA 125
- Kết quả phẫu thuật của những bệnh nhân trước điều trị hóa chât
- Phân loại bệnh theo nhóm u
Có, không, nhiều, ít
- < 5 cm, 5-10 cm, > 10 cm Khối u di căn( có, không)
- Không âm vang, thưa âm, đậm âm, âm hỗn hợp
- Có, không
- Bình thường, tăng
- Chỉ Cắt được: Một buồng trứng hoặc tử cung hoặc chỉ sinh thiết được mạc nối lớn
- U Thanh dịch, nhầy, nội mạc,
tế bào sáng, tế bào chuyển tiếp,
Trang 36Nhóm biến số Biến cụ thể Chỉ số/phân loại
biểu mô vảy, hỗn hợp, không biệt hóa
2.Hiệu quả điều
trị hóa chất - Phác đồ điều trị hóa
+ Nồng độ CA 125 trong máu
+ Dịch ổ bụng + Khi phẫu thuật: Cắt
bỏ được những gì + Kết quả GPBL tìm tế bào K trong bệnh phẩm lấy được khi phẫu thuật
+ Đơn độc 1 loại hóa chất + Có kết hợp
- 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12
+ Giảm, không giảm, không còn
+ Giảm, không giảm
+ Có, không, nhiều, ít + Tử cung, buồng trứng + Có, không
2.4 Xử lý số liệu
- Các thông tin được mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0
2.5 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 1 / 2010 – 12/ 2014
Trang 372.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành sau khi được sự đồng ý của hội đồng chấm
đề cương của Trường đại học Y Hà Nội
Nghiên cứu với tinh thần trung thực, khác quan trong thu thập, đánh và
xử lý số liệu
Đảm bảo giữ bí mật các thông tin trong hồ sơ bệnh án
Trang 38Phác đồ xử trí với K BT giai đoạn III-IV tại BVPSTW
UTBMBT
UTBMBT không
PT được
UTBMBT PT thăm dò
Điều trị hóa chất
Phẫu thuật
Điều trị hóa chất sau PT
Số đợt điều trị hóa chất (3-6 đợt)
Số đợt điều trị hóa chất
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Nhận xét đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của BN UTBMBT
3.1.1 Phân bố bệnh UTBMBT theo tuổi của bệnh nhân:
Bảng 3.1 Phân bố bệnh theo tuổi BN
Nhận xét: Ung thư biểu mô buồng trứng gặp ở mọi lứa tuổi, chủ yếu là lứa
tuổi >50 Tuổi trung bình là 51,8 ± 10,4, trong đó lớn nhất là 68 tuổi và có 2 trường hợp tuổi rất trẻ là 17 và 19 tuổi
3.1.2 Tiền sử sản khoa của các BN UTBMBT
Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh UTBMBT theo số lần đẻ
Nhận xét: Có 7 bệnh nhân chưa đẻ lần nào chiếm 15,2% và tỷ lệ đẻ nhiều
hơn 2 lần là 41,3%
0 10 20 30 40 50
Trang 403.1.3.Tình trạng kinh nguyệt của bệnh nhân UTBMBT
Nhận xét: Tỷ lệ mắc UTBMBT cao ở độ tuổi sinh đẻ chiếm 65,2%
3.1.4 Các biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân UTBMBT
Bảng 3.3 Các triệu chứng cơ năng thường gặp
Phát hiện ngẫu nhiên khi khám
Nhận xét:Đối UTBMBT giai đoạn muộn thì tuyệt đại đa số (41 BN/ 46 BN) đều có triệu chứng cơ năng gợi ý liên quan đến ổ bụng (Bụng to ra, đau tức bụng dưới, tự sờ thấy u) chiếm 89% Trong đó triệu chứng đau tức bụng dưới
là thường gặp nhất: 54,3%
Có 3 BN là không có triệu chứng (6,5%)